1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao người việt

76 701 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao người Việt
Tác giả Lê Thị Thuý Hiền
Người hướng dẫn TS. Lê Đình Tường
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 247 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ ngữ chỉ phục trang là một trong những nhóm từ thuộc vốn từ vựng cơ bản của hệ thống ngôn ngữ, đợc nhận thức sớm hơn so với các nhóm từ khác do trong quá trình sinh sống và phát triển

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh

-& -Lê Thị Thuý Hiền

Từ ngữ chỉ phục trang nữ giới

trong ca dao ngời Việt

Chuyên ngành: lý luận ngôn ngữ

Luận văn thạc sĩ ngữ văn

Vinh, 2007

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh

-& -Lê Thị Thuý Hiền

Từ ngữ chỉ phục trang nữ giới

trong ca dao ngời Việt

Trang 3

Lời cảm ơn

Xin đợc chân thành cảm ơn thầy giáo - Tiến sỹ Lê Đình Tờng

và các thầy cô giáo trong Tổ Ngôn ngữ đã hớng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp chúng tôi hoàn thành luận văn này.

Trong quá trình thực hiện luận văn, ngời viết đã nỗ lực, cố gắng rất nhiều Nhng, do sự hạn chế về trình độ, sự hạn hẹp về thời gian, sự khó khăn về tài liệu nên luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, tác giả luận văn rất mong nhận đợc sự quan tâm góp ý của quý thầy cô và các bạn.

Vinh, ngày 10 tháng 12 năm 2007

Học viên

Lê Thị Thuý Hiền

Trang 4

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

Chơng 1 : Một số vấn đề chung

1.1 Ca dao 71.2 Những vấn đề lý thuyết về ngôn ngữ xung quanh đề tài 91.3 Phục trang truyền thống của ngời phụ nữ Việt Nam 21

Chơng 2 : Đặc điểm cấu tạo và đặc điểm định danh

của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao ngời Việt

2.1 Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại 262.2 Đặc điểm cấu tạo của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong

ca dao ngời Việt 29

2.3 Đặc điểm định danh của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới

trong ca dao ngời Việt 37

Chơng 3: Đặc trng ngữ nghĩa - văn hoá của từ ngữ

chỉ phục trang nữ giới trong ca dao ngời Việt

3.1 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá 473.2 Nghĩa biểu trng của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao

ngời Việt

3.3 Đặc trng văn hoá Việt Nam qua từ ngữ chỉ phục trang

nữ giới trong ca dao ngời Việt

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 5

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Muốn hiểu thấu cuộc sống cũng nh tâm tình của ngời dân Việt Nam nói chung, của phụ nữ Việt Nam nói riêng, chúng ta hãy tìm đến ca dao Bởi trong sinh hoạt hàng ngày, nhân dân lao động đã cảm xúc bằng ca dao, suy nghĩ bằng ca dao, phát ngôn bằng ca dao Ca dao là hơi thở, là máu thịt của quần chúng Qua đây, chúng ta thấy đợc hình ảnh đất nớc lu dấu từ ngàn đời với biết bao truyền thống tốt đẹp, thấy đợc cuộc sống lao động, sinh hoạt cũng nh những tâm t tình cảm với đầy đủ các sắc màu, cung bậc của quần chúng nhân dân Ca dao đã len lỏi vào biết bao tâm hồn, làm thao thức trăn trở biết bao con tim, khơi dậy đắm say, thổi bùng khí thế, đánh thức bao kỷ niệm ở đây có xao xuyến băn khoăn, có yêu đơng tha thiết, có nhớ nhung mong ớc, có lu luyến bâng khuâng lẫn oán trách, hờn giận, mỉa mai, căm phẫn và cả nỗi thơng thân tủi phận, lo âu phiền não, tất cả đều rất gần gũi với đời sống tình cảm của mỗi chúng ta Chúng ta yêu quý, gìn giữ ca dao bởi đó là di sản tinh thần vô giá, là tấm gơng soi rọi tâm hồn quần chúng, là thành trì bảo tồn nền văn hóa dân tộc

Ca dao còn là một kho tàng ngôn ngữ của dân tộc với vốn từ ngữ vô cùng phong phú, đa dạng mà chúng ta cần khám phá Đó là cơ sở để chúng tôi chọn ca dao làm nguồn t liệu nghiên cứu về từ ngữ chỉ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam

1.2 Từ ngữ chỉ phục trang là một trong những nhóm từ thuộc vốn từ vựng cơ bản của hệ thống ngôn ngữ, đợc nhận thức sớm hơn so với các nhóm từ khác

do trong quá trình sinh sống và phát triển của loài ngời, trang phục là một nhu cầu quan trọng và không thể thiếu Thông qua lớp từ ngữ này, chúng ta sẽ thấy

đợc những nét đặc trng về văn hoá phục trang của cha ông ta Nguồn t liệu dễ tìm nhất chính là ca dao vì đó là nơi kết tinh những sáng tạo của nhân dân lao

Trang 6

động Cho nên, chúng tôi chọn để tài này với mục đích nghiên cứu đặc trng văn hoá - dân tộc qua ngôn ngữ, cụ thể là qua từ ngữ chỉ phục trang.

1.3 Ngôn ngữ và văn hoá luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Ngôn ngữ là phơng tiện của văn hoá, văn hoá đi vào ngôn ngữ làm thành các giá trị cho ngôn ngữ Muốn hiểu ngôn ngữ thì phải có tri thức về văn hoá và ngợc lại Vì thế, tìm hiểu đặc trng văn hoá - dân tộc qua ngôn ngữ là một hớng nghiên cứu mở và đầy tiềm năng Chúng tôi chọn từ ngữ chỉ phục trang của ngời phụ nữ trong ca dao làm đối tợng nghiên cứu chính là đi theo hớng này Bởi trang phục là một thành tố văn hoá, thể hiện những đặc trng văn hoá dân tộc và ngôn ngữ là phơng tiện chuyên chở những đặc trng đó

1.4 Trong các kết quả nghiên cứu về văn học dân gian nói chung, về ca dao nói riêng, phải kể đến những thành tựu của ngành ngôn ngữ học Cùng với văn học, văn hoá học, thi pháp học, folklore học , các nhà ngôn ngữ học đã góp phần khám phá và phát hiện vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ của ca dao về mặt ngôn ngữ, giúp chúng ta có cái nhìn khá toàn diện về thế giới nghệ thuật này Lựa chọn và thực hiện đề tài luận văn theo hớng này, chúng tôi mong muốn sẽ góp một phần nhỏ bé vào thành tựu nghiên cứu chung về ngôn ngữ ca dao

1.5 Từ góc độ văn hoá, đã có một số công trình tìm hiểu về trang phục truyền thống Việt Nam khá công phu và đầy đủ, còn nghiên cứu về phục trang nói chung, phục trang nữ giới nói riêng dới góc độ ngôn ngữ thì hầu nh cha có công trình nào

Đó là những lý do để chúng tôi chọn vấn đề “Từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao ngời Việt” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 7

Nội dung đề tài là nghiên cứu về hệ thống từ ngữ chỉ phục trang của ngời phụ nữ trong ca dao Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh và đặc trng ngữ nghĩa - văn hoá của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao, qua đó khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ và văn hoá, thấy đợc đặc trng văn hoá của dân tộc qua một lớp từ ngữ.

3 Lịch sử vấn đề

Về ca dao, có thể nói, đây là mảnh đất vô cùng màu mỡ để các nhà nghiên cứu thuộc nhiều ngành khoa học khai thác Vô số công trình nghiên cứu lớn nhỏ thuộc văn hoá học, văn học, ngôn ngữ học, thi pháp học đã khám phá thế giới nghệ thuật ca dao từ nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Riêng đối với ngành ngôn ngữ học, ca dao là cả một kho tàng ngữ liệu phong phú Các nhà ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học, ngữ dụng học đều có thể dễ dàng tìm thấy ở

đây những đề tài mới mẻ Hàng loạt công trình nghiên cứu, luận án, luận văn, khoá luận đợc thực hiện trên cứ liệu này Hầu nh các đặc trng chung nhất của ca dao đã đợc nghiên cứu Tuy nhiên, đi vào cụ thể, còn rất nhiều vấn đề để chúng

ta tìm hiểu Từ ngữ chỉ trang phục nữ giới trong ca dao là một vấn đề nh thế

Về trang phục Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, đã có một số công trình nghiên cứu công phu Trong cuốn “Cơ sở văn hoá Việt Nam”, Nxb Giáo dục, Hà Nội của Trần Ngọc Thêm (1999); “Văn hoá Việt Nam thờng thức”, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội do Nguyễn Tiến Dũng chủ biên (2005), các tác giả đã dành một dung lợng đáng kể để nói về văn hoá trang phục truyền thống của dân tộc Việt Nam; Các công trình “Văn hoá trang phục từ truyền thống

đến hiện đại”, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Đức

(1998); “Trang phục Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại”, Nxb Lao động,

Hà Nội do Nguyễn Thu Phơng biên soạn (2005); “Tìm hiểu trang phục Việt Nam”, Nxb Văn hoá, Hà Nội của Đoàn Thị Tình (1987) đều chỉ ra đợc những

nét văn hoá đặc trng của ngời dân Việt Nam trong lối phục trang, giúp ngời đọc

Trang 8

nhận diện trang phục truyền thống qua các giai đoạn lịch sử, thấy đợc thị hiếu cũng nh quan niệm của nhân dân ta về trang phục Các công trình này đã đem lại cho ngời đọc cái nhìn tổng quan về trang phục truyền thống Việt Nam Ngoài ra còn có những công trình nh: “Trang phục”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, nhà nghiên cứu văn hoá Ngô Đức Thịnh (1994); “Lối phục sức của ta từ sau hồi Âu hoá”, Tạp chí Tri Tân, số 8 của tác giả Hoa Bằng (1943) Những công trình này là kết quả của quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khá đầy đủ, toàn diện về văn hoá Việt Nam nói chung, văn hoá trang phục nói riêng Nhng đó

đều là thành tự của ngành văn hoá học Đây là những tri thức “nền” để chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Về hớng tiếp cận ngôn ngữ - văn hoá, một hớng nghiên cứu đợc giới ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây, có thể kể ra một số công trình tiêu biểu, có nhiều đóng góp về mặt lý luận cũng nh phơng pháp: “Tìm

hiểu đặc trng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và t duy ở ngời Việt (Trong sự

so sánh với những dân tộc khác)”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội của PGS.TS

Nguyễn Đức Tồn (2002); “Đặc trng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục

ngữ trong ca dao”, Nxb Văn hoá thông tin của GS Nguyễn Nhã Bản (2005);

hàng loạt bài viết của Lý Toàn Thắng nh: “Bản sắc văn hoá - Thử nhìn từ góc

độ tâm lý ngôn ngữ ,” “Vấn đề ngôn ngữ và t duy”, “Ngôn ngữ và sự tri nhận

không gian” lần lợt đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ Những công trình nghiên cứu

trên đã cung cấp cho chúng tôi phơng pháp tiếp cận, phân tích, tìm hiểu từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao

Về việc tìm hiểu từ ngữ chỉ phục trang, chúng tôi tìm thấy bài viết Đặc thù“

định danh của từ tên gọi trang phục trong tiếng Nga và Việt trên bình diện so sánh” của tác giả Phạm Thị Hồng trên website: http://www.ud.edu.vn Lấy ngữ liệu trong từ điển, bài viết so sánh từ tên gọi trang phục của tiếng Việt và tiếng Nga, thấy đợc sự khác nhau cơ bản giữa hai ngôn ngữ này trong cách định danh

Trang 9

Còn nghiên cứu về từ ngữ chỉ phục trang trong ca dao thì chúng tôi cha tìm đợc công trình nào.

Vậy là, trong phạm vi t liệu mà chúng tôi tập hợp đợc, cha có công trình nào đề cập đến từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao Vì thế, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài này

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tợng nghiên cứu

Trong kho tàng ca dao Việt Nam, từ ngữ chỉ phục trang nữ giới xuất hiện với tần số lớn, hoàn toàn có cơ sở để trở thành một đề tài nghiên cứu khoa học

Từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao gồm hai đơn vị là từ và cụm từ Đây

là đối tợng chính đợc chúng tôi tìm hiểu trong luận văn này

4.2 Phạm vi t liệu

Có rất nhiều công trình su tầm, biên soạn về ca dao Việt Nam của các nhà nghiên cứu văn học dân gian có uy tín nh Đinh Gia Khánh, Vũ Ngọc Phan, Ninh Viết Giao, Nguyễn Văn Ngọ, Nguyễn Xuân Kính Chúng tôi chọn công trình “Kho tàng ca dao ngời Việt” (2 tập) do Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên (tái bản có bổ sung sửa chữa, Nxb Văn hoá thong tin, H,2001) làm t liệu chính để khảo sát, thống kê Đây là một công trình lớn đợc thực hiện trong 20 năm (từ 1974 đến cuối 1994) Dung lợng của nó tơng đơng với số liệu

về ca dao của tất cả 40 cuốn sách (gồm 49 tập) đợc biên soạn từ cuối thế kỷ XVIII đến năm 1975 Công trình này tập hợp đợc 12.487 đơn vị ca dao Có thể nói, đây là công trình bao quát tơng đối đầy đủ và toàn diện về kho t ng ca daoàngời Việt

Về hỡnh thức trỡnh bày, Nguyễn Xuõn Kớnh, Phan Đăng Nhật sắp xếp cỏc đơn vị ca dao theo trật tự chữ cỏi của tiếng đầu và đỏnh số thứ tự trước mỗi

Trang 10

đơn vị, sau đú lập bảng tra cứu ca dao theo chủ đề dựa vào chữ cỏi đầu và số thứ tự đú

5 Phơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phơng pháp,

có thể kể ra một số phơng pháp chủ yếu sau:

5.1 Phơng pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Khảo sát, thống kê

những lời ca dao chứa từ ngữ chỉ phục trang truyền thống của dân tộc Việt Nam trong số 12.487 lời ca dao thuộc “Kho tàng ca dao ngời Việt”, từ đó phân loại

và chọn ra những lời ca dao chứa từ ngữ chỉ phục trang nữ giới - đối tợng nghiên cứu chính của luận văn

5.2 Phơng pháp hệ thống: Xem xét các đối tợng trong sự liên kết, quan

hệ qua lại lẫn nhau

5.3 Phơng pháp so sánh - đối chiếu: So sánh - đối chiếu từ ngữ chỉ các

bộ phận phục trang nữ giới trong ca dao để thấy đợc sự giống và khác nhau trong cấu tạo, tần số xuất hiện, khả năng biểu đạt ý nghĩa

5.4 Phơng pháp phân tích - miêu tả: Phân tách, chia nhỏ kết hợp miêu

tả để thấy đợc một cách cụ thể đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa về các từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao, từ đó có cái nhìn rõ rang hơn về đối tợng nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn này hệ thống hóa từ ngữ chỉ phục trang của ngời phụ nữ trong ca dao, từ đó tìm hiểu cách cấu tạo và định danh của ngời Việt đối với lớp từ này cũng nh làm rõ những nét đặc sắc trong văn hoá phục trang của ngời phụ nữ Việt Nam truyền thống dới góc độ ngôn ngữ - văn hoá

7 Cấu trúc luận văn

Trang 11

Ngoài phần “Mở đầu” và “Kết luận”, nội dung chính của luận văn gồm 3 chơng:

Chơng 1: Một số vấn đề chung

Chơng 2: Đặc điểm cấu tạo và định danh của từ ngữ chỉ phục trang ngời

phụ nữ trong ca dao ngời Việt

Chơng 3: Đặc trng ngữ nghĩa - văn hoá của từ ngữ chỉ phục trang ngời phụ

nữ trong ca dao ngời Việt

Cuối cùng là phần Tài liệu tham khảo

Chơng 1: Một số vấn đề chung

1.1 ca dao

Trang 12

Ca dao (còn gọi là phong dao) là danh từ chung chỉ toàn bộ những bài hát

lu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu

Ca dao ra đời, tồn tại và đợc diễn xớng dới hình thức những lời hát trong các sinh hoạt dân ca, trong đó các loại đối đáp là sinh hoạt trọng yếu và phổ biến nhất, mặt khác ca dao cũng phần nào đợc hình thành

từ xu hớng cấu tạo những lời nói có vần, có nhịp trong sinh hoạt dân gian, do đó vẫn thờng đợc dùng trong lời nói hàng ngày Nh vậy cả trong hai lĩnh vực ca hát và lời nói hàng ngày, ca dao đều có xu hớng

đợc dùng nh một ngôn ngữ trao đổi trực tiếp Đặc điểm về chức năng trên đây của ca dao cổ truyền sẽ chi phối nhiều đặc điểm khác về cấu

tứ và cấu trúc hình thức của ca dao [2, 47]

Ca dao là loại văn chơng truyền khẩu, đợc sáng tác và diễn xớng trong môi trờng lao động và sinh hoạt tập thể Ta không thể tìm đợc tác giả của từng đơn

vị ca dao Có thể ban đầu chỉ do một ngời sáng tác nên nhng trong qua trình lu truyền bằng miệng từ ngời này sang ngời khác, từ thế hệ ày sang thế hệ khác,

nó trở thành sản phẩm của cả cộng đồng Ca dao là “cây đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng”, biểu hiện nhiều mặt sinh hoạt của nhân dân, nhất là tâm t tình cảm Thế giới tâm hồn tình cảm của nhân dân lao động đợc phản ánh trong ca dao vô cùng phong phú, nhiều cung bậc, sắc thái Ta có thể “sống” với tất cả các nỗi niềm, tâm trạng, cảm xúc của con ngời trong ca dao Đó là những lời -

ớm hỏi tình tứ, những câu trao duyên tế nhị, những lời xe kết diết da, những câu thề nguyền gắn bó, những lời than thở nhớ nhung, cả những câu trách móc ai oán, những nỗi niềm tủi nhục, những số phận đắng cay Ca dao còn là tấm g… -

ơng bức xạ hiện thực khách quan của dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phong tục tập quán riêng Hình ảnh về thiên nhiên, cuộc sống, về truyền thống dân tộc, quan hệ xã hội đợc phạm trù hóa theo những cách khác nhau, bằng những hình thức ngôn ngữ khác nhau Nghiên cứu về ca dao Việt Nam không chỉ cho thấy những nét đẹp văn hóa của dân tộc mà còn làm nổi bật lên

Trang 13

đời sống tinh thần phong của quần chúng nhân dân Ca dao dân ca là kết tinh thuần tuý của tinh thần dân tộc, là nét đẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam Lấy nguồn cảm hứng từ thực tế cuộc sống, ca dao là lời ăn, tiếng nói của

ông cha ta tích lũy từ ngàn đời Với nội dung truyền tải rất đa dạng và phong phú đời sống xã hội cho nên ở mỗi chủ đề, mỗi một lĩnh vực chúng ta có thể thấy vô vàn những câu nói, lối nói rất mộc mạc, dễ hiểu Ca dao là một kho từ vựng vô cùng phong phú, đa dạng với vô số các trờng từ vựng, trong đó có từ ngữ chỉ phục trang ngời phụ nữ Hệ thống từ vựng bao gồm các tiểu hệ thống từ

và cụm từ, từ ngữ chỉ phục trang ngời phụ nữ cũng bao gồm hai tiểu hệ thống

đó Cho nên, tìm hiểu trờng từ vựng này, chúng ta không thể không đề cập đến

và sử dụng chứ không phải lâm thời đợc tạo nên trong quá trình giao tiếp Nhà,

xe, xe đạp, hoa hồng là tên gọi các sự vật, tính chất tồn tại sẵn trong óc của

từng ngời bản ngữ; khi cần sử dụng, chỉ việc lựa chọn và nhặt ra Chúng khác với những tổ hợp tự do nh ngôi nhà rất đẹp ấy, cô ấy hiền là những đơn vị

lâm thời đợc tạo nên trong lúc nói năng và sẽ bị tháo rời ngay sau khi giao tiếp kết thúc Còn nói chỉnh thể gồm hai mặt của từ là muốn nhấn mạnh tính hoàn chỉnh của nó về cấu trúc hình thái và ý nghĩa cho dù nó có cấu tạo nội bộ Nói theo Đỗ Hữu Châu, đó là một đơn vị mang tính cố định, bắt buộc Ví dụ, trong

Trang 14

tiếng Việt, dùng âm [ban2] để biểu thị từ bàn với nghĩa “đồ vật có mặt phẳng và chân đứng, dùng để bày đồ đạc, để làm việc” là một điều bắt buộc, đợc toàn xã hội chấp nhận và sử dụng trong phạm vi các biến thể của nó, không ai có thể tự

ý thay đổi âm ấy với nội dung ấy

Từ là đơn vị nhỏ nhất để tạo câu Hình vị cũng là đơn vị nhỏ nhất có âm,

có nghĩa nhng không đợc sử dụng độc lập để tạo câu, chúng chỉ là các đơn vị

đ-ợc dùng để cấu tạo nên từ Các thành ngữ, quán ngữ nh “nớc đổ lá khoai, chuột chạy cùng sào, mẹ tròn con vuông, ” cũng có tính độc lập, sẵn có, cũng có tính bắt buộc, tính hoàn chỉnh hai mặt (âm - nghĩa), cũng có thể tham gia trực tiếp tạo câu nh từ nhng lại do các từ cấu tạo nên; vì vậy chúng đợc coi là các đơn vị tơng đơng với từ chứ không phải là từ

Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, của ngôn ngữ Từ vựng là tập hợp toàn bộ các từ và các đơn vị tơng đơng nh thành ngữ, quán ngữ, mà thành ngữ, quán ngữ cũng do các từ cấu tạo nên từ là đơn vị cơ bản của từ vựng Để tạo nên các câu nói, lời nói, ngời ta phải lựa chọn, kết hợp các đơn vị từ vựng, trong đó từ là đơn

vị cơ bản nên từ cũng là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ

Tóm lại, từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, của ngôn ngữ, có chức năng định danh; là chỉnh thể gồm hai mặt (âm và nghĩa), có tính cố định, sẵn có; là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa và độc lập, có khả năng hoạt động tự do để tạo câu

* Cấu tạo từ

Tiếng Việt là một trong những ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập (monosyllabic languages) Từ trong các ngôn ngữ này không biến đổi hình thái, nguyên khối, nhất dạng ở mọi chốn mọi nơi Đơn vị cấu trúc cơ bản của các ngôn ngữ này là hình vị (morpheme) - đơn vị ngôn ngữ có nghĩa nhỏ nhất nhng không đợc dùng độc lập Tiếng Việt gọi là “âm tiết” hoặc “tiếng” Việc phân loại từ đợc căn cứ vào các tiêu chí khác nhau Dựa vào tiêu chí cấu tạo, ta có các

hệ thống từ đơn, từ ghép, từ láy Dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa, ta có thể nói đến các nhóm từ đồng nghĩa, trái nghĩa hoặc đồng âm Dựa vào nguồn gốc, ta có từ

Trang 15

thuần Việt và từ vay mợn Dựa vào từ loại, ta có danh từ, động từ, tính từ, số từ,

đại từ, quan hệ từ ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến các dạng thức của từ tiếng Việt xét về mặt cấu tạo

Căn cứ vào số tiếng và phơng thức tổ chức các hình vị, ngời ta phân chia từ tiếng Việt thành các loại sau:

- Từ đơn: đó là các từ chỉ do một tiếng tạo thành; không ai có thể phân xuất nó thành các yếu tố vừa có âm vừa có nghĩa nhỏ hơn

- Từ ghép là đơn vị do hai tiếng trở lên câu tạo thành, giữa các tiếng (thành

tố cấu tạo) đó có quan hệ với nhau về nghĩa Dựa vào tính chất của mối quan hệ

về nghĩa giữa các thành tố cấu tạo, từ ghép tiếng Việt đợc phân thành hai loại: Từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ Từ ghép đẳng lập là những từ mà các thành

tố cấu tạo có quan hệ bình đẳng với nhau về nghĩa So với nghĩa của các tiếng cấu tạo nên nó, từ ghép đẳng lập có nghĩa khái quát hơn Ví dụ: Yếu tố “quần” chỉ “đồ mặc phía dới của cơ thể”; yêú tố “áo” chỉ “đồ mặc phía trên của cơ thể”, khi ghép hai yếu tố đó với nhau thành từ ghép “quần áo” thì nghĩa của nó là “đồ mặc trên cơ thể” nói chung Từ ghép chính phụ là những từ mà thành tố cấu tạo này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia, trong đó có một thành tố chính, một thành tố phụ Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hoá và sắc thái hoá cho thành tố chính Và nghĩa của từ ghép chính phụ hẹp hơn so với nghĩa của tiếng chính tạo ra nó

- Từ láy là đơn vị đợc cấu tạo từ hai tiếng trở lên, giữa các tiếng có quan hệ

với nhau về mặt ngữ âm Từ láy đợc hình thành trên cơ sở hoà phối ngữ âm giữa các tiếng Một từ sẽ đợc coi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm đợc lặp lại; nhng vừa có lặp (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi (còn gọi là đối) Đối tợng mà chúng tôi quan tâm trong luận văn này là từ đơn

và từ ghép nên việc nhắc đến từ láy chỉ là để đảm bảo tính hệ thống

* Nghĩa của từ :

Trang 16

Từ bao gồm hai mặt: âm và nghĩa

Ta đã biết, từ là một loại kí hiệu đặc biệt, chứa trong nó nhiều mối quan hệ hơn tất cả các loại kí hiệu lấy âm thanh làm cái biểu đạt Do vậy nghĩa của từ, cái đợc biểu đạt trong từ là một phức thể, có đợc nhờ sự tổng hợp các mối liên

hệ của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài ngôn ngữ Nhân tố bên trong là toàn

bộ những quan hệ về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp diễn ra trong lòng hệ thống ngôn ngữ Nhân tố bên ngoài là toàn bộ sự vật hiện tợng của thế giới khách quan, kể cả thế giới nội tâm của con ngời nh t duy, ý niệm hay khái niệm Đỗ Hữu Châu quan niệm (Dẫn theo “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”):

( ) Nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phơng diện hình thức lập thành một thể thống nhất gọi là từ Các thực thể tinh thần đó hình thành từ một số nhân tố, không đồng nhất với những nhân tố đó nhng không có những nhân tố này thì không có nghĩa của từ Các nhân tố tự mình cha phải là nghĩa, ở bên ngoài nghĩa nhng để lại những dấu vết trong nghĩa, góp phần nhào nặn nên nghĩa của từ Nói một cách khác, nghĩa của từ là hợp điểm, là kết quả của những nhân

tố và tác động giữa những nhân tố tạo nên nghĩa Trong số những nhân tố đó, có những nhân tố ngoài ngôn ngữ và có những nhân tố nằm trong ngôn ngữ [15, 166]

Từ không phải là một đơn vị biệt lập, nghĩa của từ không phải là một khối

đơn nhất Nghĩa của từ là một phức thể gồm nhiều thành tố, có thành tố nằm trong nội bộ từ , có thành tố nằm trong nhiều mối quan hệ phức tạp của hoạt

động ngôn ngữ Mối liên hệ giữa tín hiệu từ và sự vật mà nó gọi tên làm nên nghĩa biểu vật của từ; mối liên hệ giữa tín hiệu từ với t duy làm nên nghĩa biểu niệm của từ; mối liên hệ giữa tín hiệu từ với hệ thống từ vựng, với các từ khác trên hình tuyến làm nên nghĩa cấu trúc của từ; mối liên hệ giữa tín hiệu từ với ngời dùng nó làm nên nghĩa ngữ dụng của từ Các thành phần nghĩa của từ nói

Trang 17

trên không hiện hữu nh nhau trong các từ loại khác nhau của một ngôn ngữ và

đợc bộc lộ rất khác nhau trong hoạt động

Nghĩa của từ không tồn tại trong ý thức, trong bộ óc của con ngời Trong ý thức, trong t duy của con ngời chỉ có những hoạt động nhận thức, hoạt động tduy, mà thôi Tức là trong ý thức, trong bộ óc trí tuệ của con ngời chỉ tồn tại

sự hiểu biết về nghĩa của từ chứ không phải là nghĩa của từ

Từ có liên hệ với nhiều nhân tố, nhiều hiện tợng Bởi thế nghĩa của từ cũng không phải chỉ có một thành phần, một kiểu loại Khi nói về nghĩa của từ, ngời

ta thờng phân biệt các thành phần nghĩa sau đây:

Nghĩa biểu vật (denotative meaning): Là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc

hiện tợng, thuộc tính, hành động, ) mà nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiện tợng, thuộc tính, hành động, đó, ngời ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật (denotat) Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất vật chất hoặc phi vật chất Ví dụ: đất, trời, ma, nắng, nóng, lạnh, ma, quỷ,

thánh, thàn, thiên đờng, địa ngục,

Nghĩa biểu niệm (significative meaning): Là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý

nghĩa, ý niệm - signification - nếu chúng ta không cần phân biệt nghiêm ngặt mấy tên gọi này) Cái ý đó ngời ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản

ánh các thuộc tính của biểu vật vào trong ý thức của con ngời)

Ngoài hai thành phần nghĩa trên đây, khi xác định nghĩa của từ, ngời ta còn phân biệt hai thành phần nghĩa nữa Đó là nghĩa ngữ dụng và nghĩa cấu trúc

Nghĩa ngữ dụng (pragmatical meaning), còn đợc gọi là nghĩa biểu thái,

nghĩa hàm chỉ (connotative meaning), là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của ngời nói

Nghĩa cấu trúc (structural meaning) là mối quan hệ giữa từ với các từ

khác trong hệ thống từ vựng Quan hệ giữa từ này với từ khác thể hiện trên hai trục: trục đối vị (paradigmatical axis) và trục ngữ đoạn (syntagmatical axis)

Trang 18

Quan hệ trên trục đối vị cho ta xác định đợc giá trị của từ, khu biệt từ này với từ khác, còn quan hệ trên trục ngữ đoạn cho ta xác định đợc ngữ trị (valence) - khả năng kết hợp - của từ.

Khi từ đi vào hoạt động ngôn ngữ, nghĩa của nó đợc hiện thực hoá, cụ thể hoá và đợc xác định Lúc đó, các thành phần nghĩa trong cơ cấu nghĩa của từ sẽ giảm dần tính trừu tợng và khái quát đến mức tổi thiểu để đạt tới tính xác định, tính cụ thể ở mức tối đa Mặt khác, cũng trong hoạt động ngôn ngữ, đồng thời với sự giảm thiểu tính khái quát thì từ lại có thể đợc gia tăng những sắc thái mới, nội dung mới do chính sự vật mà nó biểu thị đem lại Cái gọi là các nghĩa ngữ cảnh của từ đã đợc xây dựng và nảy sinh trong những điều kiện nh vậy Và cái gọi là các phép ẩn dụ, hoán dụ tu từ học cũng đợc thực hiện trên cơ sở đó Trong giao tiếp, nhiều khi nghĩa ngữ cảnh, nghĩa lâm thời, nghĩa đợc hiểu ngầm, hiểu lại, nhờ các thủ pháp tu từ, mới chính là cái quan trọng hàng đầu, nhất là trong khi xây dựng, tiếp nhận và phân tích các diễn từ, các văn bản nghệ thuật

Về cơ cấu nghĩa, một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa, nhng đó không phải là những tổ chức lộn xộn mà giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Dựa vào mối liên hệ định danh giữa từ với đối tợng chia thành hai loại nghĩa, đó

là nghĩa trực tiếp (nghĩa đen) và nghĩa gián tiếp (nghĩa bóng, nghĩa biểu trng) Nếu một nghĩa trực tiếp phản ánh đối tợng, làm cho từ gọi tên sự vật một cách trực tiếp, thì ngời ta gọi đó là nghĩa trực tiếp Nếu một nghĩa gián tiếp phản ánh

đối tợng, làm cho từ gọi tên sự vật một cách gián tiếp (thờng thông qua hình ợng hoặc nét đặc thù của nó), thì đó là nghĩa chuyển tiếp

Để xây dựng, phát triển thêm nghĩa của các từ, trong ngôn ngữ có nhiều cách Tuy nhiên, có hai cách quan trọng nhất thờng gặp trong các ngôn ngữ là: chuyển nghĩa ẩn dụ (metaphor) và chuyển nghĩa hoán dụ (metonymy) ẩn dụ là một phơng thức chuyển tên gọi dựa trên sự liên tởng, so sánh những mặt, những thuộc tính, giống nhau giữa các đối tợng đợc gọi tên Hoán dụ là một phơng

Trang 19

thức chuyển tên gọi dựa trên mối liên hệ logic giữa các đối tợng đợc gọi tên Trong ca dao, đây là hai phơng thức cơ bản để tạo nên nghĩa biểu trng cho các

từ ngữ, các hình ảnh

1.2.1.2 Cụm từ và cụm danh từ

Cụm từ là đơn vị lớn hơn từ nhng nhỏ hơn câu Nó đợc cấu tạo bằng một tổ hợp hai từ trở lên nhng nó khác từ ghép ở chỗ, sự kết hợp các thành tố của cụm

từ là sự kết hợp lỏng, có thể chêm xen, còn quan hệ giữa các tiếng trong tờ ghép rất chặt chẽ Ví dụ: “đạp xe” và “xe đạp” là hai đơn vị có vẻ không khác nhau

về cấu tạo (cùng có hai tiếng và quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng là quan hệ chính phụ) nhng chúng lại hoàn toàn khác nhau do một đơn vị là cụm từ (có thể chêm xen: “đạp cái xe” chẳng hạn), một đơn vị là từ ghép Còn có những trờng hợp vỏ ngữ âm giống nhau nhng khi là từ, khi là cụm từ phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp Ví dụ: “áo dài” là từ trong “chiếc áo dài đẹp quá” nhng lại là cụm từ trong “áo dài quá”

Trong cụm từ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp gọi

là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là thành tố phụ Thành tố chính của từ có thể là danh từ (tạo cụm danh từ), động từ (tạo cụm

động từ), tính từ (tạo cụm tính từ)

Cụm từ là đơn vị tơng đơng với từ trong hệ thống ngôn ngữ nên cũng mang những đặc điểm của từ Nó là phơng tiện định danh, biểu thị sự vật và là thành phần cấu tạo câu

Cụm từ đợc phân chia thành ba loại: Cụm từ đẳng lập, cụm từ chủ vị và cụm từ chính phụ Cụm từ đẳng lập là cụm từ đợc cấu tạo từ hai từ trở lên, giữa chúng có quan hệ bình đẳng không phụ thuộc vào nhau Chúng cùng giữ chức

vụ cú pháp và có quan hệ nh nhau với các yếu tố bên ngoài nó Ví dụ: Cha và

mẹ đi vắng Cụm từ chủ vị là cụm từ có hai từ trở lên đều là thực từ, quan hệ

giữa chúng là quan hệ chủ – vị, hay còn gọi là quan hệ tờng thuật nhng cha

Trang 20

thành câu Ví dụ: Mẹ về khiến tôi vui Cụm từ chính phụ là cụm từ gồm hai từ trở lên, trong đó có một thành tố làm trung tâm, ngoài ra có một hoặc một số thành tố phụ khác đi trớc và sau nhằm bổ sung ý nghĩa cho thành tố trung tâm

đó Có ba loại cụm từ chính phụ: Cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ Xét

về mặt từ loại, tất cả từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao ngời Việt đều là danh từ nên ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến cụm danh từ là khái niệm liên quan

đến đề tài nghiên cứu

Cụm danh từ là cụm từ chính phụ do danh từ làm thành tố chính Cấu tạo

đầy đủ của cụm danh từ gồm ba phần: phần trung tâm, phần phụ trớc và phần phụ sau Phần trung tâm bao gồm danh từ, từ chỉ loại và từ chỉ đơn vị Phần phụ trớc gồm có: từ chỉ loại, từ chỉ lợng và từ chỉ tổng thể Phần phụ sau gồm từ chỉ

định và định ngữ

Lý thuyết về từ và cụm từ trên đây sẽ là cơ sở để chúng tôi tìm hiểu về đặc

điểm cấu tạo và đặc điểm định danh của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao ngời Việt

Tìm hiểu về lớp từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao là tìm hiểu một

hệ thống từ vựng trong vốn từ tiếng Việt, qua đó thấy đợc đặc trng ngữ nghĩa - văn hoá mà chúng biểu thị Vì thế, chúng ta cần nắm rõ khái niệm của trờng từ vựng - ngữ nghĩa “Trờng từ vựng là một loạt các từ đợc liên kết lại nhờ sự đồng nhất của một nét nghĩa” [49,327] Theo Đỗ Hữu Châu, khi chúng ta đứng trớc hay nghĩ tới một thực tế nào đó (thực tế đợc gọi tên bằng một từ ngữ) thì nhờ kinh nghiệm sống, nó sẽ gợi lại những sự vật, những sự kiện có liên quan tới nó (và theo đó là các tên gọi thích hợp) Nh thế là qua thực tế mà các từ ngữ trong một trờng liên tởng cùng một mạch Cùng với các sự vật, hiện tợng và các từ ngữ đợc phát động, những hồi ức, những hiểu biết và những tình cảm của chúng

ta về chúng cũng đợc phát động theo Đó là căn cứ để chúng tôi tìm hiểu ngữ nghĩa - văn hoá của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao ngời Việt

1.2.2 Biểu tợng và sự tri nhận thế giới

Trang 21

Một vấn đề nữa chúng tôi cho rằng có liên quan đến hớng nghiên cứu của

đề tài, đó là lý thuyết về sự tri nhận Đây là cơ sở để ta lý giải mối quan hệ giữa văn hoá - ngôn ngữ - t duy, điều mà chúng tôi muốn hớng tới khi thực hiện đề tài này

Khái niệm “tri nhận” (cognition) biểu hiện một quá trình nhận thức hoặc là tổng thể những quá trình tâm lý (tinh thần, t duy) - tri giác, phạm trù hoá, t duy, lời nói phục vụ cho việc xử lý và chế biến thông tin Nó bao gồm cả sự nhận thức và đánh giá bản thân mình trong thế giới xung quanh và xây dựng bức tranh thế giới

( ) Hoạt động tri nhận (cognition) là một quá trình thiết định giá trị (nghĩa) của một biểu thức ngôn ngữ, nghĩa là tính thông tin của nó Nói rộng ra, hoạt động tri nhận tạo cho con ngời khả năng đi đến một quyết định và/ hoặc một sự hiểu biết nhất định, tóm lại, đó là hoạt

động t duy dẫn đến chỗ thông hiểu (thuyết giải) một cái gì đó Kết quả của hoạt động tri nhận là sự tạo ra một hệ thống ý niệm giúp con ngời hiểu biết, giả định, suy nghĩ và/ hoặc tởng tợng về các đối tợng của thế giới khả dĩ Điều đó thuộc về hệ thống ý niệm của con ngời [18, 3]

Các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng có sự tồn tại của ba thế giới: 1/ Thế giới thực tại khách quan (tồn tại ngoài con ngời, hữu hình, vừa hữu hạn vừa vô hạn, có thể tri nhận đợc); 2/ Thế giới ý niệm (nhận thức và tâm linh) thuộc ý thức, nằm trong đầu óc con ngời, vô hình, vô hạn và bất khả tri, nó phản ánh nhận thức của con ngời về thế giới; 3/ Thế giới biểu tợng: từ ý niệm có một số mặt con ngời tìm cách biểu đạt qua giao tiếp Có nhiều cách giao tiếp, trong đó ngôn ngữ là một phơng thức Khi thế giới ý niệm biểu hiện qua ngôn ngữ thờng thông qua các biểu tợng Cho nên, ngôn ngữ mang tính biểu trng, thể hiện ở ngữ nghĩa của các từ ngữ Biểu tợng là cầu nối giữa t duy và ngôn ngữ

Trang 22

Biểu tợng là cái gì ngoài ý nghĩa vốn có của nó còn hàm chứa một ý nghĩa khác, tức là ngoài nghĩa đen còn có nghĩa bóng Đó là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan, thể hiện quan niệm thẩm mỹ, t tởng của từng nhóm tác giả, từng thời đại, từng dân tộc và từng khu vực c trú Nghiên cứu về biểu tợng

là lĩnh vực đã và đang đợc các nhà khoa học thuộc nhiều ngành khác nhau quan tâm Các biểu tợng góp phần làm nên bộ mặt của một nền văn hóa ở những đ-ờng nét cơ bản nhất Những ý nghĩa hàm ẩn mà biểu tợng khơi gợi ra nh một quy ớc thẩm mỹ của cộng đồng “Dẫu ta có nhận biết hay không, đêm ngày, trong hành ngôn, trong các cử chỉ, hay trong các giấc mơ của mình, mỗi chúng

ta đều sử dụng các biểu tợng” [14, 12] Trong tác phẩm văn học, biểu tợng đợc nhận diện thông qua nghĩa biểu cảm, nghĩa bóng của từ

Biểu tợng nghệ thuật trong văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng là những kí hiệu ngôn ngữ đợc lặp đi lặp lại nhiều lần, có khả năng biểu hiện những ý nghĩa sâu xa; là những hình ảnh đã đợc dân gian chọn lọc trong sử dụng và đợc thử thách qua nhiều năm tháng, thể hiện đậm nét những đặc trng truyền thống của văn học dân gian

Trầu, cau, mai, trúc, cây đa, giếng nớc, sân đình là những biểu tợng quen thuộc trong ca dao Chỉ khi đợc đặt trong hệ thống của nó, ta mới thấy hết

đợc ý nghĩa của biểu tợng này Vì thế từ bao đời nay những hình ảnh này vẫn tồn tại bên nhau trong các làng quê Việt Nam

Tuy nhiên, cần lu ý rằng, có những trờng hợp, các hình ảnh không đứng trong trờng biểu đạt vẫn đợc xem là biểu tợng Trong văn học dân gian, mỗi biểu tợng nhiều khi không chỉ có một nghĩa Trong quá trình lu truyền, các tác giả dân gian không ngừng mở rộng đối tợng nhận thức qua các biểu tợng, vì vậy, các tín hiệu thẩm mỹ này thờng mang tính đa nghĩa Khi xây dựng biểu t-ợng, nghệ nhân dân gian đã qua sự chọn lựa, sàng lọc từ sự vật một hoặc một số khả năng gợi liên tởng nào đó, tạo ra cho sự vật những ý nghĩa mới Những nét nghĩa này đợc sử dụng nhiều lần, đợc tập thể công nhận và trở thành nghĩa biểu

Trang 23

tợng Khi ấy, ngời ta hiểu ý nghĩa của biểu tợng theo một thứ phản xạ đợc xây dựng bằng thói quen, bằng quy ớc văn hóa của cộng đồng

Chẳng hạn, ngày xa các cô thôn nữ dùng yếm để che ngực Nó trở thành biểu tợng nữ tính:

Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi

(Y 3)

Hình ảnh chiếc cầu trong ca dao đợc nhắc đến rất nhiều: cầu tre, cầu ván, cầu đá, cầu xây, cầu mùng tơi, cầu sợi chỉ, cầu cành hồng Nhng có lẽ chiếc chiếc cầu đẹp nhất, nên thơ và gợi cảm nhất là cầu dải yếm Nhân vật trữ tình trong lời ca dao này chắc chắn là của một ngời con gái ở độ tuổi mời tám, đôi mơi với tình yêu vừa chớm nở Ngời con gái nghĩ ra chiếc cầu này là để "bắc" riêng cho một ngời "sang chơi" ý nghĩ đó thật táo bạo, tinh nghịch nhng cũng rất đằm thắm và đầy nữ tính, thể hiện ớc muốn đợc gặp ngời mình thơng Ngời con gái đã nghĩ thật và nói thật, nhng là cái thật của ớc mơ, khát vọng chứ không phải là cái thật trong hiện thực cuộc đời Trong trờng hợp này, chiếc yếm trở thành biểu tợng cho khát vọng tình yêu mãnh liệt của những chàng trai, cô gái lao động trong xã hội xa

Trang 24

Yếm là mảnh vải hình vuông (hoặc hình thoi) đeo trớc ngực, phía trên khoét tròn làm cổ, hai góc bên đính với dải để buộc sau lng Khi trời nóng bức, ngời ta mặc váy yếm, hai tay và lng để trần Yếm có nhiều mầu sắc: yếm nâu mặc đi làm đồng, yếm trắng mặc thờng ngày Yếm thắm, yếm đỏ, yếm hồng, yếm đào mặc trong dịp lễ hội Trang phục lễ hội cổ truyền, ngời thiếu nữ không thể không có hình ảnh cái yếm.

Nh vậy, chiếc yếm đã trở thành một biểu tợng kép: vừa là biểu tợng nữ tính, vừa là biểu tợng cho một khát vọng tình yêu, may mắn, hạnh phúc

Muốn hiểu đợc đầy đủ, trọn vẹn ý nghĩa của biểu tợng, cần có vốn sống, vốn văn hóa, vì mỗi biểu tợng đều có một tầng nền lịch sử - xã hội - văn hóa riêng của nó Vì thế, tìm hiểu về từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao, chúng ta phải dựa vào truyền thống phục trang của ngời phụ nữ Việt

1.3 Phục trang truyền thống của ngời phụ nữ Việt Nam

Trang phục là một nhu cầu vật chất quan trọng trong đời sống của nhân dân ta Chức năng cơ bản trớc nhất của nó là bảo vệ con ngời trớc tác động của môi trờng tự nhiên Bên cạnh đó, một chức năng không kém phần quan trọng là làm đẹp cho con ngời, cùng với sự phát triển của xã hội loài ngời, chức năng này ngày càng đợc đề cao, và văn hoá phục trang hình thành

Phục trang giúp con ngời khắc phục những nhợc điểm về cơ thể, tuổi tác Trang phục là đối tợng của thị giác nên nó phải biểu hiện đợc những chuẩn mực cho sự nhìn Để đáp ứng yêu cầu này, trong suốt quá trình lịch sử, trang phục ngời Việt đã có sự chọn lọc về hình dáng, kiểu thức, màu sắc, hoa văn trang trí, chất liệu Nhng quan sát trang phục của ngời Việt từ đầu thế kỷ XX trở về trớc, chúng ta thấy rõ ngoài việc đáp ứng yêu cầu nhìn, còn có cả nghe, mùi vị và tất nhiên dẫn đến cả xúc cảm nữa Bên cạnh tầng lớp giàu sang, quý phái biết sử dụng các loại hơng liệu đắt tiền để ớp quần áo, nhân dân thờng dùng những thứ phổ biến nh: hạt mùi để bọc áo khăn; lá mùi, lá sả để gội đầu, hoa bởi, hoa

Trang 25

nhài để cài tóc Việc chọn lựa các chất để nhuộm màu cũng tạo cho áo quần những mùi vị nhất định.

Trang phục ngời Việt còn đợc lu ý dới góc độ sử liệu Qua áo quần có chúng ta thể xác định thời gian (gọi là niên đại tơng đối) và chúng ta có thể ghi nhận đợc nhiều dấu ấn của các thời đại lịch sử

Trang phục là một nhu cầu vật chất nhng đồng thời còn là một hiện tợng

về văn hóa Mỗi dân tộc có một cách ăn mặc và trang sức riêng Mặc đã trở thành một khía cạnh đặc trng của văn hóa mỗi dân tộc Hầu hết các dân tộc trên thế giới đều có phục trang riêng mang đậm bản sắc truyền thống của dân tộc mình Dân tộc Việt Nam bao gồm nhiều dân tộc, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa độc đáo Do đó trang phục nói chung và của từng tộc ngời nói riêng thật phong phú đa dạng và biến đổi qua từng thời kỳ của lịch sử Trang phục ngời Việt là những đặc trng chỉ định sự khác biệt giữa ngời Việt và các dân tộc anh em trên đất nớc ta, phân biệt đợc một số mặt nh nghề nghiệp, giới tính, thị hiếu thẩm mỹ của từng vùng Đứng ở góc độ tinh thần, trang phục còn có ý nghĩa về ý thức chính trị, về đạo đức con ngời, về quan niệm thẩm mỹ

Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chỉ giới thiệu về phục trang của ngời phụ nữ Việt Nam truyền thống bằng cách tổng hợp, sắp xếp các tài liệu về trang phục đã dẫn ở trên

Phục trang truyền thống của ngời phụ nữ Việt bao gồm: váy đen, yếm trắng, áo tứ thân, đầu chít khăn mỏ quạ, thắt lng hoa lý Bộ lễ phục gồm ba chiếc áo, ngoài cùng là chiếc áo tứ thân bằng the thâm hay màu nâu non, kế đến

là chiếc áo màu mỡ gà và trong cùng là chiếc áo màu cánh sen Khi mặc, cả ba chiếc áo chỉ cài khuy bên sờn, phần từ ngực đến cổ lật chéo để lộ ba màu áo Trong cùng là chiếc yếm thắm Cách ăn mặc truyền thống này đã mang đến cho ngời phụ nữ Việt một vẻ đẹp đằm thắm, dịu dàng, thớt tha

Trang 26

Về trang sức, phụ nữ thờng xâu tai, đeo vòng tai, chuỗi hạt, vòng, nhẫn, trên đầu cài trâm, thoa Phụ trang thì có quạt cầm tay; giày, dép đi chân; khăn cầm tay, quàng cổ; nón đội đầu

Phục trang truyền thống của ngời phụ nữ Việt qua từng thời kỳ có những nét khác biệt, tạo nên tính đa dạng, phong phú Thời Hùng Vơng, phụ nữ mặc

áo ngắn đến bụng, xẻ ngực, bó sát vào ngời, phía trong mặc yếm kín ngực, chiếc yếm cổ tròn sát cổ, có trang trí những hình tấm hạt gạo Cũng có những loại áo cánh ngắn, cổ vuông, để hở một phần vai và ngực hoặc kín ngực, hở một phần vai và trên lng Trên áo đều có hoa văn trang trí Thắt lng có ba hàng chấm trang trí cách đều nhau quấn ngang bụng Đàn bà mặc váy (váy kín "váy chui"

và váy mở "váy ngắn”) Họ đều xâu lỗ tai và đeo đồ trang sức Các loại vòng tai phổ biến là hình tròn, hình vành khăn, hình khối đặc biệt là loại vòng hoa tai gắn quả nhạc hay đôi hoa tai bằng đá, hình con thú Những chuỗi hạt thờng thấy gồm các loại hạt hình trụ, trái xoan, hình cầu Còn vòng tay với nhiều hình khác nhau nh: tròn, vuông, chữ nhật, lòng máng, sóng trâu có trang trí hoa văn hình lông chim hay bông lúa, ngoài ra còn nhiều nhẫn bằng đồng đeo ở ngón tay cũng gắn quả nhạc dài xinh xắn

Trong thời kỳ đất nớc Âu Lạc bị Triệu Đà xâm lợc, cai trị, cộng với ba lần bị phong kiến phơng Bắc thống trị hơn một ngàn năm, nghề trồng dâu nuôi tằm đã phổ biến và còn sản xuất đợc các loại vải bông thô, vải đay, vải gai, vải cát bá loại mịn, lụa Phụ nữ đã biết dùng tơ tre, tơ chuối dệt thành vải Vải dệt

từ tơ chuối có tên gọi là vải Giao Chỉ Khăn bông đợc thêu thùa rất đẹp gọi là bạch diệp Ngoài ra, còn làm nhiều đồ trang sức bằng vàng bạc (vòng tay, nhẫn, hoa tai, trâm), bằng ngọc (vòng, nhẫn), bằng hổ phách, bằng thủy tinh (chuỗi hạt)

Thời Lý, có lệnh cấm ngời dân mặc áo màu vàng Phụ nữ thờng đeo khuyên bạc

Trang 27

Thời Trần, phụ nữ thờng mặc áo tứ thân màu đen, trong lót vải trắng để may viền vào cổ áo, rộng khoảng 13cm, cắt tóc để lại chừng 10cm rồi buộc túm lên đỉnh đầu, xong uốn cong đuôi tóc và buộc lại lần nữa hình giống nh cây bút, không để tóc mai, không búi tóc phía sau đầu, không đeo vòng khuyên Những ngời giàu thì cài trâm đồi mồi, còn thì cài trâm bằng xơng hoặc sừng, không dùng phấn sáp hay xoa dầu Tuyệt đại đa số nhân dân đều đi chân đất và mặc áo

tứ thân quen thuộc Màu vải đen là màu phổ biến

Thời nhà Hồ, đàn bà lấy chồng làm quan, khăn áo phải theo đúng thể lệ quy định Ngời nào lấy chồng là thờng dân thì mặc áo rộng, váy dài, phải búi tóc, chum khăn lụa đen, tram thoa, khuyên mấm tuỳ nghi sử dụng, còn giày dép làm bằng vải hay bằng da Cấm dùng các màu huyền, vàng, tía, không đợc cắt tóc, phải mặc áo ngắn, mặc quần dài, theo phong tục phơng Bắc

Thời Lê, một thời kỳ, nhân dân đi việc công hay mặc áo màu thâm (chuy y) ở thôn quê mặc áo vải trắng thô Đến giai đoạn sau thờng mặc áo thanh cát

áo có màu hoả minh (màu xanh đậm), màu vi minh và màu quì, tục gọi là màu sừng Màu quì đợc a chuộng hơn cả Còn hai màu trên, về sau ở thành thị ai cũng cho là màu quê mùa nên ít dùng

Phụ nữ lao động thờng mặc yếm cổ xây, cánh tay để trần, mặc váy ngắn, thắt lng thả múi phía trớc Đầu thờng dùng khăn lợt để cuốn tóc, lúc yết kiến bậc tôn trởng lại xoã tóc xuống để tỏ ra kính lễ ở thời Lê có nhiều loại nón: ở quê dùng nón sọ nhỏ; thành thị dùng nón lá sen, trẻ con đội nón nhỏ khuôn, già cả đội nón Tam Giang

Đến thời nhà Nguyễn - vơng triều phong kiếncuối cùng ở Việt Nam - các cô gái Bắc Ninh thờng mặc áo mớ ba, yếm hồng xẻ cổ nhạn, váy năm bức Các

bà thì mớ ba, mớ bảy; áo the quần lĩnh, đội nón quai thao, đi dép cong Phụ nữ lao động ở miền Bắc thích màu nâu thì Trung, Nam bộ thích áo cánh màu đen,

Trang 28

cài cúc giữa không túi Phụ nữ miền Nam còn có áo bà ba xuất hiện cuối đời Tự

Đức

Năm 1935, áo dài "Le Mur" xuất hiện nh là mốt tân tiến nhất: áo dài vai bồng, tay manchette hay tay thun Cổ áo vai khoét sâu xuống ngực, viền đăng ten, kiểu lá sen tròn, lá sen cài vắt chéo Gấu áo cắt hình sóng lợn Năm 1939

"Le Mur" cải tiến: "cổ áo đứng cao 4-6 cm, may liền, tay thẳng, cổ tay hẹp, viền nhỏ Ban đầu áo "Le Mur" với những chi tiết gần nh vay mợn kiểu áo, váy châu Âu thời bấy giờ Sau, với cuộc đấu tranh về quan điểm bảo vệ thẩm mỹ văn hóa dân tộc, giản dị, thanh nhã và qua nhiều biến đổi, ngày nay chúng ta

đã có chiếc áo dài truyền thống duyên dáng, thùy mị của phụ nữ Việt Nam

Nh vậy, từ việc tìm hiểu trang phục của những ngời Việt cổ đến trang phục dân tộc Việt ngày nay và trang phục của các tổ chức chung trong xã hội Việt Nam, chúng ta thấy rõ sự tiếp nối vững vàng giữa các giai đoạn, tạo nên sự thống nhất trong văn hoá trang phục của dân tộc Đồng thời, trải qua quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, phục trang của ngời phụ nữ Việt Nam cũng có những biến đổi phù hợp với từng giai đoạn, mỗi giai đoạn đều có những nét đặc trng riêng trong sự thống nhất đó Đây là cơ sở của sự ra đời hệ thống từ ngữ chỉ phục trang hết sức phong phú mà chúng tôi sẽ tìm hiểu sau đây thông qua cứ liệu là kho tàng ca dao ngời Việt

Trang 29

Chơng 2: Đặc điểm cấu tạo và định danh của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao ngời Việt

2.1 Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại

Theo từ điển tiếng Việt, “phục trang là quần áo và trang sức của diễn viên khi đóng vai” [34, 64] Định nghĩa nh vậy e đã thu hẹp phạm vi ngữ nghĩa của

từ này Theo chúng tôi, nghĩa của từ “phục trang” bao hàm tất cả những gì có trên các bộ phận cơ thể con ngời, đó là quần áo, phục sức, đồ trang sức Vì thế, chúng tôi chọn dùng thuật ngữ này, chứ “trang phục” hay “y phục” thì mới chỉ

đề cập đến đồ mặc che cơ thể nh áo, quần, yếm, váy chứ cha bao hàm các phục sức nh khăn, mũ, quạt, dép, giày và đồ trang sức Ngời phụ nữ truyền thống còn làm đẹp bằng cách nhuộm răng đen, tô má hồng, vấn tóc nhng chúng thuộc vào hình thức điểm trang chứ không phải là phục trang nên chúng tôi không đa những từ ngữ chỉ các hoạt động này vào diện khảo sát và nghiên cứu

Dựa vào chủng loại và chức năng, phục trang của ngời Việt nói chung gồm có đồ mặc phía trên, đồ mặc phía dới, phụ trang và đồ trang sức Đồ mặc phía trên của phụ nữ ổn định nhất qua các thời đại là áo và yếm Đồ mặc phía dới tiêu biểu hơn cả, ổn định hơn cả của ngời phụ nữ Việt Nam qua các thời

đại là váy (xống) và quần Bên cạnh hai bộ phận cơ bản là đồ mặc trên và dới

Trang 30

(quần áo), phục trang Việt Nam còn có những phụ trang không kém điển hình

nh thắt lng, khăn, dép, hài, giày, nón, mũ, quạt và đồ trang sức nh vòng (vòng tai, vòng cổ, vòng tay), nhẫn, trâm, thoa

Cùng với sự ra đời và phát triển của văn hoá phục trang, các từ ngữ gọi tên trang phục cũng lần lợt ra đời và phát triển Chúng thuộc hạt nhân của hệ thống

từ vựng trong mỗi ngôn ngữ, đợc ngời bản ngữ nhận thức sớm nhất và sử dụng trong giao tiếp Kho tàng ca dao ngời Việt là nơi thể hiện sự phong phú, đa dạng của lớp từ ngữ chỉ phục trang truyền thống của ngời Việt nói chung, ngời phụ nữ Việt Nam nói riêng Khảo sát 12.478 đơn vị ca dao thuộc “Kho tàng ca dao ngời Việt”, chúng tôi tìm đợc 515 đơn vị chứa từ ngữ chỉ phục trang, trong đó

có 381 đơn vị chứa từ ngữ chỉ phục trang nữ giới, chiếm 74% Nh vậy, từ ngữ chỉ phục trang nữ giới chiếm đa phần trong hệ thống từ ngữ chỉ phục trang trong

ca dao Cụ thể: “Áo” xuất hiện trong 89 đơn vị, “yếm” xuất hiện trong 37 đơn vị,

“quần” xuất hiện trong 7 đơn vị, “váy” xuất hiện trong 3 đơn vị, “nón” xuất hiện trong 52 đơn vị, “khăn” xuất hiện trong 48 đơn vị, “quạt” xuất hiện trong

14 đơn vị,“giày, dép, hài” xuất hiện trong 7 đơn vị, “thắt lng” xuất hiện trong 9

đơn vị, “nhẫn” xuất hiện trong 5 đơn vị, “vòng” xuất hiện trong 7 đơn vị, “trâm, thoa” xuất hiện trong 2 đơn vị 101 đơn vị ca dao còn lại chứa nhiều từ ngữ chỉ các loại phục trang khác nhau Chúng tôi lập bảng nh sau:

Các bộ phận

phục trang Từ ngữ gọi tên

Đơn vị ca dao chứa từ ngữ chỉ phục trang nữ giới

Trang 31

Vòng 7

Những đơn vị ca dao chứa nhiều từ ngữ

chỉ các bộ phận khác nhau của phục trang 101

Bảng 1: Đơn vị ca dao chứa từ ngữ chỉ phục trang nữ giới

Theo kết quả khảo sát của chúng tôi ở bảng trên, có 101 đơn vị ca dao chứa nhiều từ ngữ chỉ các bộ phận khác nhau của phục trang Ví dụ:

Khăn nhung vấn tóc cho vừa

Đi giày mõm nhái, đeo hoa cánh bèoQuần thâm lĩnh Bởi cạp điềuHột vàng quấn cổ ra chiều giàu sang (K 47)Mặt khác, có những từ ngữ chỉ một loại phục trang xuất hiện nhiều lần trong một đơn vị ca dao nh:

Nón em chẳng đáng mấy đồngChàng mà giật lấy ra lòng chàng thamNón em nón bạc quai vàngThì em mới dám cho chàng cầm tayNón em nón lá quai mâyNên em chẳng dám trao tay chàng cầm (N 961)Cho nên, tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới chắc chắn nhiều hơn số đơn vị ca dao chứa các từ ngữ này Theo kết quả khảo sát, số lần xuất hiện của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong 368 đơn vị ca dao là 562 lần,

Trang 32

Bảng 2: Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao

ở bảng này, chúng tôi thống kê số lần xuất hiện của từ ngữ chỉ từng loại phục trang nữ giới trong ca dao Còn trong việc tìm hiểu về đặc điểm cấu tạo và

định danh sau đây, chúng tôi sẽ tập hợp các từ ngữ này thành một hệ thống và phân chia theo các tiêu chí lựa chọn

2.2 Đặc điểm cấu tạo của từ ngữ chỉ phục trang ngời phụ nữ trong ca dao ngời Việt

Xét về mặt cấu tạo, từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao ngời Việt

đ-ợc phân thành hai bộ phận: Từ và cụm từ Số liệu đđ-ợc lập thành bảng nh sau:Các bộ phận

phục trang

Tần số xuất hiện

Bảng 3: Phân loại từ ngữ chỉ phục trang nữ giới về mặt cấu tạo

Từ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao ngời Việt gồm có 133 từ đơn và 309

từ ghép Khảo sát 133 từ đơn chỉ phục trang xuất hiện trong ca dao, chúng tôi thấy hầu hết các từ đều đi kèm với một động từ, có thể đứng trớc hoặc đứng sau

Ví dụ:

Nào khi anh dỗ chẳng ngheBây giờ xách nón, chèo ghe đi tìm

Trang 33

mà đây lại là đối tợng chính của luận văn này Cho nên chúng tôi xem xét chúng với t cách là từ đơn Còn khi đứng trớc động từ, các từ chỉ phục trang

đóng vai trò chủ ngữ trong kết cấu chủ vị

Điều thú vị mà chúng tôi nhận thấy ở đây là mỗi từ chỉ loại phục trang khác nhau chỉ kết hợp với một hoặc một số động từ nhất định Cụ thể:

Nón: đứng sau các động từ “xách, nghiêng, cắp, ghé, đội, sắm, mua, ngả,

trao”, đứng trớc động từ “che, treo”

Ví dụ:

Cô kia đội nón đi đâuTôi là phận gái làm dâu mới về

Mẹ chồng ác nghiệt thấy ghêTôi ở chẳng đợc tôi về nhà tôi

(C 1724)

Nón che tay ngoắt chơi vơiLòng anh thơng cảm bố trời đều hay (N 957)

Trang 34

áo: Đứng sau các động từ “cởi, may, thay, ớt, để, bận, đắp, vò, ôm, giặt,

kéo ; ” đứng trớc động từ “đơm, vá, gài, dải

Ví dụ:

Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóngMay áo chàng cùng sóng áo emChữ tình cùng với chữ duyênXinh đừng thay áo mà quên lời nguyền

Em khoe em đẹp em giònAnh xem nhan sắc thấy còn đang xuân

(C 100)

Nhẫn: đứng sau động từ đeo, cho, tháo“ ”

Ví dụ:

Dù ai cho bạc cho vàngChẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay

Dù ai cho nhẫn cầm tayCẳng bằng trông thấy mặt ngay bây giờ

(D 147)

Khăn: đứng sau động từ ‘gửi, cài, lấy”; đứng trớc động từ “mở, lau, chít”

Ví dụ:

Trang 35

Ước gì anh hoá ra hoa

Bảng 4: Khả năng kết hợp với động từ của từ đơn chỉ phục trang

Sự kết hợp đó dựa vào tơng quan về nghĩa giữa động từ và từ chỉ phục trang mà theo chúng tôi, chính nghĩa của từ chỉ phục trang quy định động từ đi kèm nó Ví dụ: áo đợc hiểu chung là “loại đồ mặc phía trên cơ thể” Muốn tạo thành áo thì ngời ta phải thông qua “hoạt động tác động lên tấm vải, chia tách

nó ra theo một kích thớc, hình dáng định sẵn, rồi kết hợp các mảnh rời lại” gọi

là may Khi ta sử dụng áo thì phải thực hiện hành động măc, bận, khi không sử dụng thì cởi, thay và ôm trên tay hoặc để đâu đó Khi gặp nớc thì áo bị ớt, khi

Trang 36

bẩn thì phải giặt, khi giặt thì phải vò Đó là cả một trờng từ vựng động từ liên quan đến loại đồ mặc phía trên cơ thể này Giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ

và quy định lẫn nhau Còn với từ nón, ngời ta không thể dùng động từ mặc hay

cởi đợc vì đây lại chỉ “đồ vật đội trên đầu, có chóp nhọn, có quai” nên nó chỉ

thích hợp với những động từ nh cầm, treo, cắp Với những từ khác cũng tơng

tự Có một số động từ có thể kết hợp với tất cả các từ chỉ trang phục nh mua, sắm , bên cạnh đó, có những động từ khả năng kết hợp hẹp hơn nh ngả (nón),

đeo (vòng, nhẫn) Tất cả đều là kết quả của sự tri nhận, t duy của ngời Việt về

các sự vật trong thế giới khách quan

Trong 309 từ ghép chúng tôi khảo sát đợc, có 8 từ ghép đẳng lập Các tiếng cấu thành những từ này có quan hệ bình đẳng với nhau, tạo nghĩa khái quát cho từ

Ví dụ:

Làm thân con gái chẳng loNgủ tra đứng buổi, dậy đo mặt trời

Quần áo thì rách tả tơiLấy rơm mà túm, mỗi nơi mỗi đùm

Trang 37

Loại từ + Danh từ: có 33 cụm, chiếm 27,5% (cái quạt, cái cổ yếm, cái

áo, manh áo, tấm lĩnh, dải yếm, cây quạt, cái khăn, cái nón ba tầm )

Ví dụ:

Tiền buộc dải yếm bo bo

Đa cho thầy bói thêm lo và mình

(T 1084)

Tởng lấy anh cho lành manh áoLấy anh rồi đôn đáo nuôi anh

(T 2141)

Lợng từ + Danh từ: có 28 cụm, chiếm 23,3% (Đôi trằm, chín yếm, một

yếm, đôi bông, đôi vàng )

Ví dụ:

Khi xa em ở với chaMột năm chín yếm xót xa trong lòng

Từ ngày em về nhà chồngChín năm một yếm, em lộn trong ra ngoài

Cổ thêu con nhạn, có hai đờng viền

Cổ thì em ngả màu hiên

Trang 38

Thắt lng mùi huyền dải yếm cũng xinhKhen ai khâu yếm cho mình

Đờng lên đờng xuống ra hình lng ongYếm này em ngả màu hồngYếm này nhuộm hết mấy công hỡi nàng?

Khi xa lụa hãy còn vàngKhen ai khéo nhuộm cho nàng, nàng ơi

Loại từ + Danh từ + Định ngữ: có 4 cụm, chiếm 3,3% (Cái nón mới đan,

cái áo bậu bận, cái nón đội đầu, cái áo vải sồng)

Danh từ + danh từ thân tộc: có 2 cụm, chiếm 1,7% (nón mẹ, nón cha)

Ví dụ:

- Xinh thay cái nón mới đan

Đôi hàng chữ thập, ba hàng kết hoaNón này nón mẹ, nón chaHay là nón của ng ời ta em cầm?

Ngày đăng: 22/12/2013, 14:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Nhã Bản (2005), Đặc trng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2005
4. Hoa Bằng (1943), “Lối phục sức của ta từ sau hồi Âu hoá”, Tạp chí Tri T©n (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối phục sức của ta từ sau hồi Âu hoá”, "Tạp chí Tri T©n
Tác giả: Hoa Bằng
Năm: 1943
5. Phan Kế Bính (1993), Việt Nam văn hoá phong tục, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1993
6. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2001
7. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ (In lần thứ ba), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng - Từ ghép - "Đoản ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
8. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1975
9. Nguyễn Phơng Châm (2001), “Biểu tợng hoa đào”, Văn hoá dân gian (5), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tợng hoa đào”, "Văn hoá dân gian
Tác giả: Nguyễn Phơng Châm
Năm: 2001
10. Nguyễn Phơng Châm (2001), “Biểu tợng hoa sen trong văn hoá Việt Nam”, Văn hoá dân gian (4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tợng hoa sen trong văn hoá Việt Nam”, "Văn hoá dân gian
Tác giả: Nguyễn Phơng Châm
Năm: 2001
11. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
12. Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt , Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
13. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
14. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tợng văn hoá thế giới - Phạm Vĩnh C (chủ biên dịch) (2002), Nxb Đà Nẵng - Trờng viết văn NguyÔn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tợng văn hoá thế giới
Tác giả: Jean Chevalier, Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tợng văn hoá thế giới - Phạm Vĩnh C (chủ biên dịch)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng - Trờng viết văn NguyÔn Du
Năm: 2002
15. Đoàn Văn Chúc (1989), Văn hoá học, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1989
16. Mai Ngọc Chừ (1991), “Ngôn ngữ ca dao Việt Nam”, Tạp chí Văn học (2), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ ca dao Việt Nam”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 1991
17. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục (Tái bản lần 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ "sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục (Tái bản lần 2)
Năm: 1997
18. Trần Văn Cơ (2006), “Ngôn ngữ học tri nhận là gì”, Tạp chí Ngôn ngữ (7), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận là gì”, "Tạp chí Ngôn ngữ (7)
Tác giả: Trần Văn Cơ
Năm: 2006
19. Chu Xuân Diên (2004), Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam, Nxb Văn nghệ TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Văn nghệ TP HCM
Năm: 2004
20. Nguyễn Tiến Dũng (Chủ biên) (2005), Văn hoá Việt Nam thờng thức, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam thờng thức
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2005
21. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại, Nxb ĐH&THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb ĐH&THCN
Năm: 1986
22. Nguyễn Thị Đức (1998), Văn hoá trang phục từ truyền thống đến hiện đại, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá trang phục từ truyền thống đến hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thị Đức
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đơn vị ca dao chứa từ ngữ chỉ phục trang nữ giới - Từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao người việt
Bảng 1 Đơn vị ca dao chứa từ ngữ chỉ phục trang nữ giới (Trang 31)
Bảng 2: Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao - Từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao người việt
Bảng 2 Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao (Trang 32)
Bảng 4: Khả năng kết hợp với động từ của từ đơn chỉ phục trang - Từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao người việt
Bảng 4 Khả năng kết hợp với động từ của từ đơn chỉ phục trang (Trang 35)
Bảng 5: Cơ sở định danh của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca   dao - Từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao người việt
Bảng 5 Cơ sở định danh của từ ngữ chỉ phục trang nữ giới trong ca dao (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w