BỘ CÔNG THƯƠNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCMKHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM Môn: NGHIÊN CỨU NGƯỜI TIÊU DÙNG Đề tài: XÁC ĐỊNH ĐỘNG CƠ LỰA CHỌN GẠO CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG CÓ 2 ĐỘ TUỔI TỪ 2540 TUỔI VÀ TRÊN 40 TUỔI
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Môn: NGHIÊN CỨU NGƯỜI TIÊU DÙNG
Đề tài: XÁC ĐỊNH ĐỘNG CƠ LỰA CHỌN GẠO CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG CÓ 2 ĐỘ TUỔI TỪ 25-40 TUỔI VÀ TRÊN 40 TUỔI
GVHD: Th.s Lê Thùy Linh Nhóm thực hiện: NHÓM 7
2. Nguyễn Minh Phát 2022180055
3. Nguyễn Phúc Nhật Huy 2022181026
4. Trần Anh Tuấn 2022180032
5. Trương Văn Triển 2005160257
TP.HCM, ngày 25 tháng 04 năm 2021
1
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam ta từ bao đời nay được mệnh danh là “rừng
bạc”, điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển các ngành
Trên trường quốc tế, Việt Nam được biết đến như là một nước có tiềm
triển nông nghiệp, bởi đất nước chúng ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt
mùa, nắng nóng, mưa nhiều, đất đai màu mỡ,…thích hợp trồng các loại
thực và cây công nghiệp Chính vì vậy, ngành sản xuất lúa gạo đã được
từ lâu đời, gắn bó với cuộc sống của mọi gia đình, mọi nông hộ, mọi
mảnh đất hình chữ S này.Hơn thế nữa, từ sau khi Việt Nam gia nhập
nông nghiệp trong nước đã đón nhận những cơ hội lẫn thách thức
xuất khẩu gạo ngày càng tăng, thị trường trong nước là một thị trường
những nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Ngoài ra, nền nông nghiệp
còn vướng phải nhiều khó khăn như : trình độ phát triển nông nghiệp
còn thấp, quy mô sản xuất nhỏ, năng suất lao động chưa cao, chất
kém đồng đều Chính vì lẽ đó, cạnh tranh luôn là bài toán hóc búa cần
Trang 3có lời giải đáp thỏa đáng cho cả thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu mà người
doanh nghiệp sản xuất cần đạt được.Tóm lại, để nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường nội địa, người nông dân,các doanh nghiệp sản xuất và phân phối cần quan tâm tìm hiểu nắm bắt nhu cầu tiêu dùng gạo của người dân Chính vì lẽ đó, vấn đề “ xác định động cơ lựa chọn gạo của người tiêu dùng có 2 độ tuổi từ 25-40 tuổi và trên 40 tuổi” là cần thiết để xác định đúng nhu cầu về gạo của người dân Từ đó tập trung sản xuất mặt hàng được ưa chuộng nhất, nâng cao khả năng cạnh tranh so với các loại gạo ngoại nhập hiện đang tràn lan khắp thị trường, khẳng định thương hiệu Việt, đưa gạo Việt xuất hiện trong mỗi bữa ăn của mọi gia đình trong và ngoài nước
3
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5I. TRÌNH BÀY VẤN ĐỀ
1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng gạo của người tiêu dùng từ độ tuổi 25-40 và trên 40 tuổi Từ đó đưa ra các kiến nghị giúp nhà sản xuất đáp ứng tốt hơn thị hiếu người tiêu dùng
1.1. Mục tiêu cụ thể
Phân tích thực trạng tiêu dùng gạo của người tiêu dùng thông qua:
số lượng, mức tiêu thụ bình quân, chủng loại sản phẩm, hình thức, phẩm chất, giá cả, hình thức phân phối và các yếu tố quảng bá của người bán phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng
Nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ
Người tiêu dùng muốn mua loại gạo gì, tại sao họ lại mua sản phẩm gạo đó, dịch vụ đó, tại sạo lại mua nhãn hiệu đó, mua như thế nào, mua ở đâu,và mức độ sử dụng ra sao
Xây dụng các chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng mua sản phẩm, dịch vụ của mình
1.2 Ý nghĩa của đề tài
Để lựa chọn, sử dụng (tiêu thụ) và loại bỏ các sản phẩm và dịch vụ, thì các yếu tố như:về cảm xúc, tinh thần và hành vi của người tiêu dùng, ngoài ra còn dựa vào lứa tuổi, nền văn hóa, giới tính
Khách hàng thường không mất quá nhiều thời gian và công sức để
ra quyết định
Quyết định mua theo thói quen diễn ra với các sản phẩm thiết yếu,
và sự khác biệt giữa các thương hiệu không đáng kể
Từ đó các sản phẩm cũng phải nhằm đảm bảo chất lượng và cải tiến sản phẩm theo nhu cầu người tiêu dùng
2 Câu hỏi khảo sát
5
Trang 6BẢNG KHẢO SÁT ĐỘNG CƠ LỰA CHỌN GẠO
Xin chào anh/chị,
Chúng tôi là nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm TP.HCM Chúng tôi đang thực hiện một nghiên cứu về người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm gạo nhằm đảm bảo chất lượng và cải tiến sản phẩm gạo theo nhu cầu của người tiêu dùng Nội dung khảo sát được chia làm hai phần:
- Phần A: Hành vi và thói quen tiêu dùng gạo (4 câu)
- Phần B: Các yếu tố quan trọng khi chọn mua gạo (1 bảng gồm 24 phát biểu)
Kết quả trả lời của anh/chị chỉ được sử dụng cho mục tiêu nghiên cứu, không sử dụng cho mục đích thương mại Chúng tôi cam kết không cung cấp thông tin cá nhân của anh/chị cho người thứ ba Cám ơn anh/chị đã đồng ý thực hiện khảo sát
Phần A: Hành vi và thói quen tiêu dùng gạo
1 Anh/chị đang dùng nhãn hiệu gạo nào? (chỉ liệt kê từ 1 đến 2 nhãn hiệu thường dùng nhất, không nhớ thì bỏ qua câu này)
………
2 Hình thức đóng gói của sản phẩm gạo đó (ở câu 1) là gì?
Sản phẩm 1:……… Sản phẩm 2: ………
(nếu có)
☐ Bao nhỏ có khối lượng từ 2kg
đến 5kg
☐ Bao lớn từ trên 5kg đến 10kg
☐ Không bao gói, mua lẻ ở đại lý
☐ Gói nhỏ 1kg, hút chân không
(nếu có)
☐ Bao nhỏ có khối lượng từ 2kg đến 5kg
☐ Bao lớn từ trên 5kg đến 10kg
☐ Không bao gói, mua lẻ ở đại lý
☐ Gói nhỏ 1kg, hút chân không (nếu có)
3 Tần xuất nấu cơm của anh/chị là bao nhiêu?
☐ Thường xuyên (mỗi ngày hoặc ít nhất là 5 ngày/tuần)
☐ Trung bình (khoảng 2-3 ngày/tuần)
☐ Thỉnh thoảng (khoảng 1 ngày/tuần)
4 Anh/chị thường mua gạo ở đâu?
☐ Đại lý gạo
☐ Siêu thị, cửa hàng tiện lợi
☐ Nhà trồng (hoặc mua của người thân)
☐ Chợ truyền thống
Trang 7THÔNG TIN CÁ NHÂN
Họ và tên: Năm sinh:……… Giới tính:☐ Nam ☐ Nữ
Quê quán: ☐ Miền Nam ☐ Miền Trung ☐ Miền Bắc
1 Anh/chị vui lòng cho biết tình trạng nghề nghiệp hiện tại
☐ Có việc làm toàn thời gian
(full-time)
☐ Có việc làm bán thời gian
(part-time)
☐ Chưa có việc làm (đang đi học)
☐ Nội trợ
☐ Đã về hưu
7
Trang 82 Trình độ học vấn của anh/chị? ☐ Đại học hoặc cao hơn ☒ Trung học PT ☐ Dưới THPT
Phần B: Các yếu tố quan trọng khi chọn mua gạo
Anh/chị hãy cho điểm (bằng cách đánh dấu x vào ô □) theo mức độ đồng ý cho từng phát biểu dưới đây Anh/chị sử dụng thang 5 điểm với các neo tương ứng như sau:
Hoàn toàn
không
đồng ý
Không đồng ý Không có ý kiến Đồng ý Hoàn toàn đồng ý
Khi tôi chọn mua GẠO, điều quan trọng mà tôi quan tâm là chúng phải …
ST
Mức độ đồng ý
1 2 3 4 5
1 Trọng lượng được chia nhỏ (2kg - 5kg) nên dễ mua ăn thử và tồn trữ
2 Duy trì sức khỏe cho tôi
3 Có mùi thơm của gạo mới
4 Có nguồn gốc nguyên liệu đặc trưng (chỉ dẫn địa lývùng ĐBSCL và ĐB sông Hồng)
5 Là sản phẩm Đạt tiêu chuẩn VN hay quốc tế
6 Quen thuộc với bữa ăn hàng ngày trong gia đình
7 Được người tiêu dùng bình chọn hàng Việt Nam chất lượng cao
8 Có giá tương xứng với chất lượng của sản phẩm
9 Được bán sẵn tại các cửa hàng tiện lợi, bách hóa và siêu thị
10 Được đóng gói bằng các bao bì thân thiện với môi trường
11 Có giá không đắt
12 Được chế biến thành các món ăn truyền thống khác (phở, bột gạo, các loại bánh)
13 Có vị ngon (ngọt, dễ chịu)
14 Cung cấp nhiều năng lượng cho hoạt động của cơ thể
15 Có mức độ đặc trưng phản ánh nét văn hóa ẩm thực của dân tộc hay của địa phương nơi tôi sống
(đồng lúa, sự ấm no, sung túc)
16 Chứa nhiều dinh dưỡng (tinh bột, vitamin nhóm B)
17 Có màu trắng tự nhiên của hạt gạo
18 Không mất nhiều thời gian để chế biến, nấu
Trang 919 Hạt tròn hoặc dài và đồng đều
20 Có nguồn gốc sản xuất rõ ràng
21 Được bán gần nơi tôi ở hoặc làm việc
22 Gạo sau khi nấu phải dẻo, mềm hoặc tơi, xốp
23 Có giá rẻ
24 Có giá trị xuất khẩu
CÁM ƠN CHỊ, ANH, CÔ, CHÚ ĐÃ THAM GIA KHẢO SÁT!
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
− Khảo sát bằng phương pháp thu nhập dữ liệu
− Tổng hợp kết quả bằng phần mềm excel
− Xử lý kết quả bằng phần mềm SPSS
III. KẾT QUẢ BẢNG KHỎA SÁT
III.1. Kết quả tổng từ excel
Trang 10III.2. Quá trình ra quyết định mua của người tiêu dùng
Quá trình ra quyết định mua của người tiêu dùng trải qua 5 giai đoạn trong mỗi lần mua hàng bất kì:
− Nhận thức nhu cầu
− Tìm kiếm thông tin
− Đánh giá các lựa chọn
− Quyết định mua
− Hành vi sau khi mua
Nhận thức nhu cầu: tiến trình mua khởi đầu với việc nhận thức nhu cầu.Nhu cầu có thể bắt nguồn bởi các kích thích bên trong
và bên ngoài Các kích thích bên trong ví dụ như đói khát sẽ tác động lên ý thức và trở thành một sự thôi thúc Các yếu tố kích thích bên ngoài, thí dụ như chương trình quảng cáo về một sản phẩm hay nhãn hiệu nào đó sẽ giúp khách hàng nhận biết nhu cầu Trong giai đoạn này, các nhà nghiên cứu marketing cần phải phát hiện những hoàn cảnh thường đẩy con người đến chỗ ý thức được nhu cầu Cần tìm hiểu: những nhu cầu hay vấn đề lớn lao nào đã phát sinh; cái gì đã làm cho nó xuất hiện; chúng đã hướng con người đến hàng hóa cụ thể như thế nào Thu thập những thông tin như vậy giúp các nhà nghiên cứu marketing phát hiện được những tác nhân kích thích hay thu hút sự quan tâm của cá thể đến hàng hóa hơn những tác nhân khác Sau đó có thể soạn thảo các chương trình marketing có sử dụng những tác nhân kích thích đã phát hiện được Tìm kiếm thông tin: Sau khi nhận thức được nhu cầu, nếu sự thôi thúc đủ mạnh và hàng hóa có khả năng thỏa mãn nhu cầu là dễ kiếm thì người tiêu dùng sẽ mua ngay Trong trường hợp còn lại, người tiêu dùng có xu hướng tìm kiếm thông tin từ các nguồn khác nhau Các nguồn thông tin mà người tiêu dùng hướng đến là:
+ Nguồn thông tin cá nhân: gia đình, bạn bè, hàng xóm, người quen,…
+ Nguồn thông tin thương mại: quảng cáo, nhân viên bán
bày,…
+ Nguồn thông tin phổ thông: các phương tiện truyền thông
chức nghiên cứu và phân loại người tiêu dùng,…
+ Nguồn thông tin kinh nghiệm: tiếp xúc, khảo sát, sử dụng
Trang 11Nhờ thu thập thông tin , người tiêu dùng hiểu rõ hơn các nhãn
thị trường và những tính chất của chúng Vấn đề đặt ra cho
phải xây dựng được hệ thống marketing-mix sao cho đưa được nhãn hiệu của mình đến gần hơn với người tiêu dùng, là một trong những sự lựa chọn của họ Ngoài ra, cần tìm hiểu cả những nhãn hiệu có trong bộ nhãn hiệu lựa chọn để biết các đối thủ cạnh tranh của mình và đưa ra những nhận định đúng đắn.Bên cạnh đó, về những nguồn thông tin mà người tiêu dùng sử dụng, các nhà marketing cần phát hiện và xác định giá trị thông tin tương đối của chúng.Trước hết cần tìm hiểu xem người tiêu dùng lần đầu tiên biết đến nhãn hiệu như thế nào, họ còn có những thông tin nào nữa, họ đánh giá mỗi nguồn thông tin sử dụng ra sao.Những tài liệu này sẽ có ý nghĩa quyết định cho việc soạn thảo thông tin có hiệu quả cho thị trường mục tiêu
Đánh giá các lựa chọn: do khách hàng có những nguồn thông
và những suy nghĩ khác nhau nên dẫn đến những lựa chọn khác nhau Vấn đề là ở chỗ việc lựa chọn một nhãn hiệu cụ thể trong số đó được thực hiện như thế nào, người tiêu dùng đánh giá thông tin ra sao?
• Thứ nhất, người tiêu dùng thường xem hàng hóa bất kỳ là tập
thuộc tính nhất định Mỗi người tiêu dùng khác nhau xem
nhau là quan trọng đối với mình Con người thường lưu ý nhiều
thuộc tính có liên quan đến nhu cầu của mình
• Thứ hai, người tiêu dùng có khuynh hướng đưa ra những chỉ
trọng khác nhau cho những thuộc tính mà họ cho là quan trọng đối với mình, tức là mức độ nổi bật của nó Đó là những thuộc tính mà người tiêu dùng nghĩ đến đầu tiên khi được hỏi về chất lượng hàng hóa
• Thứ ba, người tiêu dùng có khuynh hướng xây dựng cho mình
những niềm tin vào các nhãn hiệu hàng hóa Tập hợp những niềm tin vào một hàng hóa đặc biệt cụ thể được gọi là hình ảnh
Trang 12của nhãn hiệu Niềm tin của người tiêu dùng có thể dao động
từ tri thức về những thuộc tính thực có dựa theo kinh nghiệm của bản thân đến những tri thức mà kết quả của sự lĩnh hội có chọn lọc, sự bóp méo có chọn lọc và sự ghi nhớ có chọn lọc
• Thứ tư, người tiêu dùng thường gán cho mỗi thuộc tính một
ích Chức năng hữu ích mô tả mức độ thỏa mãn sự mong đợi
Ngoài ra, sự ưa chuộng một nhãn hiệu nào đó còn tùy thuộc vào sự có mặt của nhãn hiệu đó trên thị trường và giá cả
• Thứ năm, là thái độ đối với các nhãn hiệu được hình thành ở
sau khi đã đánh giá chúng Song người tiêu dùng lại lựa chọn các nhãn hiệu theo các cách khác nhau
Quyết định mua: Sau khi đánh giá các phương án, người tiêu
hạng các đối tượng trong bộ nhãn hiệu lựa chọn Trong đầu
thành ý định mua hàng, nhưng phải là thứ hàng yêu thích nhất Nhưng trên đường từ chỗ có ý định đến chỗ thông qua quyết định còn có hai yếu tố có thể can thiệp vào việc quyết định:
• Yếu tố thứ nhất là thái độ của người khác Thái độ phản ứng
của người khác càng quyết liệt và người đó càng gần gũi với
người tiêu dùng càng quyết tâm hơn trong việc xem xét lại ý
mình để ngã về phía này hay phía kia
• Ý định mua hàng còn chịu tác động của những yếu tố bất
định được hình thành dựa trên cơ sở thu nhập dự kiến của gia đình, giá cả dự kiến và cả những lợi ích dự kiến của việc mua sắm đó Nhưng yếu tố bất ngờ của tình huống có thể phát sinh đột ngột và làm thay đổi ý định mua hàng vào đúng thời điểm
mà người tiêu dùng đã sẵn sàng hành động
Đánh giá sau khi mua: sau khi mua khách hàng có thể hài lòng
hài lòng và họ có một số phản ứng đối với món hàng đã mua Những phản ứng này cũng đáng để các nhà nghiên cứu marketing quan tâm
Trang 13 Sự thỏa mãn sau khi mua: điều quyết định người mua có hài
hài lòng với vật đã mua nằm ở mối quan hệ giữa những mong đợi của người mua với công năng nhận được Nếu sản phẩm đáp ứng được các mong đợi, khách hàng sẽ thỏa mãn, ngược lại nếu chưa tới khách hàng sẽ không hài lòng Sự mong đợi của người tiêu dùng được hình thành trên cở sở thông tin mà
họ nhận được từ người bán hàng, bạn bè và các nguồn khác Nếu người bán hàng quá phóng đại những tính năng sử dụng của hàng hóa thì người tiêu dùng sẽ có những mong đợi quá cao và rốt cuộc những mong đợi đó sẽ biến thành nỗi thất vọng Khoảng cách giữa những điều mong đợi và những thuộc tính sử dụng thực tế càng lớn thì mức độ bất mãn của người tiêu dùng càng cao Từ đó suy ra, người bán hàng phải đưa ra những lời khẳng định có lợi cho hàng hóa nhưng phải phản ánh trung thực những thuộc tính sử dụng chắc chắn của nó.Một số người bán hàng thậm chí còn có thể hạ thấp trong một chừng mực nào đó những thuộc tính đó để người tiêu dùng có thể có được sự thỏa mãn cao hơn mong đợi từ hàng hóa
Hành vi sau khi mua: sau khi mua, nếu khách hàng hài lòng thì
sẽ mua sản phẩm đó trong lần tới Ngoài ra, người tiêu dùng hài lòng thường có xu hướng thích chia sẻ những ý kiến, nhận xét tốt đẹp về sản phẩm với những người khác Đúng như câu:
“Khách hàng hài lòng là cách quảng cáo tốt nhất của chúng ta” Ngược lại khi khách hàng bất mãn, thì họ cũng sẽ có những thái độ khác nhau, họ có thể sẽ không làm gì cả, hoặc gửi đơn đến công ty khiếu nại, hoặc nhờ đến luật sư hay những nhóm người có đủ sức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Ngoài
ra, họ có thể thôi không mua thứ hàng đó trong tương lai và phát biểu những cảm tưởng xấu của mình về mặt hàng đó đối với bạn bè, người thân Trong tất cả những trường hợp này, người bán hàng không biết cách chiều khách sẽ mất đi một cái
gì đó Theo Philip Kotler cho rằng, việc xác định thái độ của người mua đối với sản phẩm rất quan trọng vì nó là nhân tố tác động mạnh mẽ đến hành vi của họ, đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh Hơn nữa công ty không chỉ xác lập những chiến lược marketing để thích ứng với thị trường mà còn phải ảnh hưởng đến và làm thay đổi thái độ của khách hàng theo chiều hướng có lợi nhất cho công ty