TÓM TẮT Tác động của trần lãi suất huy động đến tính liên thông lãi suất tại Việt Nam Hơn mười năm gần đây, cơ quan quản lý đã sử dụng công cụ trần lãi suất tiền gửi nhằm đảm bảo an toà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
TÁC GIẢ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin cảm ơn tất cả những người đã hỗ trợ tác giả hoàn thành luận văn này Tác giả xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy Hoàng Đức Không có những hướng dẫn tận tình từ Thầy, luận văn này không thể hoàn thành
Xin cảm ơn Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh nói chung, Khoa Sau Đại Học nói riêng đã tạo điều kiện tốt nhất, truyền đạt vô số kiến thức hữu ích cho tác giả trong suốt thời gian học tập cũng như trong thời gian thực hiện đề tài
Tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, ủng hộ tác giả vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt nghiên cứu
TÁC GIẢ
Trang 5TÓM TẮT
Tác động của trần lãi suất huy động đến tính liên thông lãi suất tại Việt Nam
Hơn mười năm gần đây, cơ quan quản lý đã sử dụng công cụ trần lãi suất tiền gửi nhằm đảm bảo an toàn hoạt động hệ thông ngân hàng, ổn định kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế vĩ mô đã có nhiều thay đổi, dẫn đến cuộc tranh luận chưa có hồi kết về việc nên duy trì hay bãi bỏ biện pháp hành chính phi thị trường này Hơn nữa, dù có tác động rất lớn đến nền kinh tế nhưng quy định về trần lãi suất vẫn chưa được chú trọng xem xét, đánh giá tại nước ta, nhất là tác động đến quá trình truyền dẫn chính sách tiền
tệ thông qua kênh lãi suất Vì vậy, các nghiên cứu đánh giá chuyên sâu, toàn diện về tác động của trần lãi suất nói chung và đến quá trình truyền dẫn lãi suất là rất cần thiết Xuất phát từ thực tiễn vừa nêu, tác giả thực hiện nghiên cứu nhằm xem xét tác động của trần lãi suất huy động lên tính liên thông lãi suất tại Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu được luận văn sử dụng là mô hình hiệu chỉnh sai số với
số liệu thứ cấp được thu thập từ Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
Kết quả nghiên cứu cho thấy các quy định về trần lãi suất tiền gửi đã tác động tích cực đến tính liên thông lãi suất tại Việt Nam Kết quả ước lượng cho thấy hệ số tương quan, hệ số truyền dẫn đều giảm, trong khi đó độ trễ điều chỉnh trung bình lại tăng khi các quy định kiểm soát lãi suất tiền gửi hết hiệu lực Bên cạnh đó, luận văn cũng phát hiện hệ thống ngân hàng đã được hưởng phần lợi ích đặc biệt khi áp dụng trần lãi suất huy động
Luận văn này đóng góp cả về học thuật và thực tiễn Về học thuật, luận văn đã trình bày cụ thể khung lý thuyết làm cơ sở phát triển mô hình nghiên cứu định lượng về truyền dẫn lãi suất nói chung và tác động của trần lãi suất huy động đến truyền dẫn lãi suất nói riêng Xét về thực tiễn, luận văn đã đóng góp một bằng chứng để hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định phù hợp Bên cạnh đó, kết quả luận văn cũng
đã gợi mở một số hướng nghiên cứu trong tương lai
Từ khóa: trần lãi suất tiền gửi
Trang 6The impact of deposit rate ceilings on interest rate pass-through in Vietnam
In the past ten years, management authorities have been adopting the deposit rate ceiling measure to ensure operational safety of the banking system and to stabilize the macroeconomic outlook However, amidst the context of ever changing global macroeconomic situations, there have been debate on whether or not this non-market administrative measure should be abandoned Moreover, although being influential to the economy, deposit rate ceiling has not been received adequate attention and evaluation in Vietnam, especially in terms of its effect on transmission of monetary policies through the mechanism of interest rate Therefore, in-depth and extensive studies on the effect of deposit rate ceiling on interest rate pass-through are required Stemming from above notions, this study was carried out to examine the effect of deposit rate ceiling on interest rate pass-through in Vietnam
The selected analysis method was error correction model with secondary data obtained from State Bank of Vietnam
The results showed that regulations on interes rate ceiling of deposits have positively affected the interest rate pass-through in Vietnam Estimation results also indicated that correlation coefficients and transmission coefficients were reduced while mean adjustment lags increased when those regulations expired In addition, the study revealed that the bank system enjoyed a premium when adopting ceiling interest rate measure on deposit
Those findings contributed both academically and practically to existing knowledge First, the study has proposed a theoretical framework for developing a quantitative model of interest transmission and the effect of ceiling interest rate measure
on interest rate pass-through In practical terms, the study provided important evidence corroborating decisions of policymakers on moneytary policy Lastly, some future perspectives were also discussed and shed light upon
Keywords: deposit rate ceiling, interest rate pass-through
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nguyên nghĩa tiếng Anh Nguyên nghĩa tiếng Việt
ACF AutoCorrelation Function Hàm tự tương quan
ADF Augmented Dickey- Fuller
ARDL AutoRegressive Distributed Lag Mô hình phân phối trễ tự hồi quy ECM Error Correction Model Mô hình hiệu chỉnh sai số
MAL Mean Adjustment Lags Độ trễ điều chỉnh trung bình OLS Ordinary Least Squares Bình phương nhỏ nhất
PP Phillip–Person
VAR Vector AutoRegression Mô hình vectơ tự hồi quy
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC HÌNH xiii
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.1.1 Cuộc tranh luận về việc duy trì trần lãi suất tiền gửi 1
1.1.2 Trần lãi suất tiền gửi chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức 2
1.1.3 Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến truyền dẫn lãi suất tại Việt Nam còn hạn chế 2
1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 PHƯƠNG PHÁP, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.3.1 Phương pháp nghiên cứu 4
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu 4
1.3.3.1 Không gian nghiên cứu 4
1.3.3.2 Thời gian nghiên cứu 4
Trang 91.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN 5
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 5
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 5
1.5 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 5
1.6 TÓM TẮT CHƯƠNG 1 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT, THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ 7
2.1.1 Lý thuyết về lãi suất 7
2.1.1.1 Khái niệm 7
2.1.1.2 Phân loại lãi suất 7
2.1.2 Lý thuyết cơ bản về thị trường tiền tệ 8
2.1.2.1 Khái niệm 8
2.1.2.2 Phân loại 8
2.2 LÝ THUYẾT VỀ TRẦN LÃI SUẤT HUY ĐỘNG 9
2.2.1 Khái quát về áp chế tài chính 9
2.2.2 Trần lãi suất huy động và những tác động 10
2.2.2.1 Tác động đến tăng trưởng kinh tế 11
2.2.2.2 Tác động đến các chủ thể tham gia thị trường tài chính 12
2.3 LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT 14
2.3.1 Quá trình truyền dẫn lãi suất 14
2.3.2 Khung lý thuyết về quá trình truyền dẫn lãi suất 15
2.3.3 Đo lường truyền dẫn lãi suất 19
2.3.4 Nhân tố tác động đến truyền dẫn lãi suất 20
2.4 LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 23
Trang 102.5 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 26
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 27
3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 28
3.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 30
3.3.1 Lựa chọn phạm vi nghiên cứu 30
3.3.2 Mô tả dữ liệu 33
3.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 35
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
4.2.1 Kiểm định tính dừng 40
4.2.2 Kiểm định quan hệ đồng liên kết 42
4.3 TÁC ĐỘNG CỦA TRẦN LÃI SUẤT ĐẾN TÍNH LIÊN THÔNG LÃI SUẤT TẠI VIỆT NAM 43
4.3.1 MỐI QUAN HỆ DÀI HẠN VÀ SỰ THAY ĐỔI CẤU TRÚC DÀI HẠN 44
4.3.2 MỐI QUAN HỆ NGẮN HẠN VÀ SỰ THAY ĐỔI CẤU TRÚC NGẮN HẠN 44
4.3.3 ĐỘ TRỄ ĐIỀU CHỈNH TRUNG BÌNH VÀ TÍNH BẤT ĐỐI XỨNG 48
4.3.3.1 Độ trễ điều chỉnh trung bình 48
4.3.3.2 Kiểm định tính bất đối xứng 50
4.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 50
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 51
5.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 52
5.3 HẠN CHẾ VÀ GỢI Ý HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 53
Trang 115.3.1 Hạn chế 53 5.3.2 Gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO i PHỤ LỤC A DANH SÁCH VĂN BẢN LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN TRẦN LÃI SUẤT HUY ĐỘNG VIỆT NAM ĐỒNG v
PHỤ LỤC B CHI TIẾT KẾT QUẢ HỒI QUY vi PHỤ LỤC C SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU xix
Trang 12DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng cân đối kế toán Ngân hàng thương mại 17
Bảng 2.2 Tóm tác các yếu tố ảnh hưởng đến truyền dẫn lãi suất 22
Bảng 3.1 Công thức tính độ trễ điều chỉnh trung bình 30
Bảng 3.2 Lãi suất thị trường 1 và 2 phân theo kỳ hạn 31
Bảng 3.3 Tóm tắt dữ liệu nghiên cứu 32
Bảng 3.4 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 34
Bảng 4.1 Tóm tắt đánh giá tính xu thế 42
Bảng 4.2 Kết quả kiểm định tính dừng 42
Bảng 4.3 Kết quả kiểm định đồng liên kết 43
Bảng 4.4 Mối quan hệ dài hạn giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất bình quân liên ngân hàng 47
Bảng 4.5 Mối quan hệ ngắn hạn giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất bình quân liên ngân hàng 47
Bảng 4.6 Độ trễ điều chỉnh trung bình và tính bất đối xứng 49
Bảng B.1 Kết quả xem xét tính xu thế biến x6m vi
Bảng B.2 Kết quả xem xét tính xu thế biến ymax vi
Bảng B.3 Kết quả xem xét tính xu thế biến ymin vii
Bảng B.4 Kết quả kiểm định tính dừng bậc gốc biến x6m theo phương pháp ADF vii
Bảng B.5 Kết quả kiểm định tính dừng bậc gốc biến ymax theo phương pháp ADF vii
Bảng B.6 Kết quả kiểm định tính dừng bậc gốc biến ymin theo phương pháp ADF vii
Trang 13Bảng B.7 Kết quả kiểm định tính dừng bậc gốc biến x6m theo phương pháp PP viii
Bảng B.8 Kết quả kiểm định tính dừng bậc gốc biến ymax theo phương pháp PP
Bảng B 20 Kết quả kiểm định truyền dẫn không hoàn toàn trong dài hạn đối với cặp x6m - ymin giai đoạn không có trần lãi suất xiii
Trang 14Bảng B.21 Kết quả hồi quy cặp x6m - ymin theo công thức 3.2 xiv Bảng B.22 Kết quả kiểm định truyền dẫn lãi suất bất đối xứng đối với cặp x6m - ymin khi có trần lãi suất xiv
Bảng B.23 Kết quả kiểm định truyền dẫn lãi suất bất đối xứng đối với cặp x6m - ymin khi không có trần lãi suất xv
Bảng B.24 Kết quả hồi quy cặp x6m - ymax theo công thức 3.1 xv Bảng B.25 Kết quả kiểm định truyền dẫn không hoàn toàn trong dài hạn đối với cặp x6m - ymax giai đoạn có trần lãi suất xvi
Bảng B.26 Kết quả kiểm định truyền dẫn không hoàn toàn trong dài hạn đối với cặp x6m - ymax giai đoạn không có trần lãi suất xvi
Bảng B.27 Kết quả hồi quy cặp x6m - ymax theo công thức 3.2 xvii Bảng B.28 Kết quả kiểm định truyền dẫn lãi suất bất đối xứng đối với cặp x6m - ymax khi có trần lãi suất xviii
Bảng B.29 Kết quả kiểm định truyền dẫn lãi suất bất đối xứng đối với cặp x6m - ymax khi không có trần lãi suất xviii
Bảng C.1 Số liệu nghiên cứu xix
Trang 15DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Thị trường liên ngân hàng quốc gia 9
Hình 2.2 Tiết kiệm và đầu tư trong điều kiện lãi suất bị kiểm soát 11
Hình 2.3 Chênh lệch lãi suất ngân hàng và giới hạn lãi suất tiền gửi 13
Hình 2.4 Truyền dẫn giữa các loại lãi suất 14
Hình 3.1 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu cho chuỗi dữ liệu thời gian 27
Hình 4.1 Lạm phát tại Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2019 36
Hình 4.2 Diễn biến lãi suất trong giai đoạn áp trần lãi suất huy động 37
Hình 4.3 Diễn biến lãi suất trong giai đoạn bãi bỏ trần lãi suất huy động 38
Trang 16CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Chương 1 sẽ giới thiệu tổng thể luận văn Chương này bao gồm các phần: mục 1.1 lý do chọn đề tài, mục 1.2 mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, mục 1.3 thể hiện phương pháp, đối tượng và phạm nghiên cứu, mục 1.4 trình bày ý nghĩa nghiên cứu, kết cấu nghiên cứu được trình bày ở mục 1.5 và cuối cùng mục 1.6 sẽ tóm tắt chương
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ý tưởng thực hiện nghiên cứu dựa trên cơ sở cuộc tranh luận về việc nên duy trì hay bãi bỏ trần lãi suất huy động (mục 1.1.1) và thực trạng chưa có nhiều nghiên cứu về tác động của trần lãi suất huy động (mục 1.1.2), cũng như tác động của biện pháp hành chính này đến kênh truyền dẫn lãi suất (mục 1.1.3)
1.1.1 Cuộc tranh luận về việc duy trì trần lãi suất tiền gửi
Từ năm 2011 đến nay, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam đã áp dụng trần lãi suất tiền gửi Việt Nam đồng nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn, ổn định kinh tế vĩ mô cùng hoạt động hệ thống ngân hàng Công cụ trần lãi suất được sử dụng với mục đích chính
là ngăn chặn hoạt động cạnh tranh lãi suất huy động giữa các ngân hàng thương mại, giúp kiểm soát dư nợ và kiểm soát tổng tiền, cũng như tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, dựa trên cơ sở hoạt động thị trường dần thông suốt, cơ quan quản lý đã tiến hành tháo
dỡ một phần các quy định này, hiện nay, chỉ còn áp dụng đối với tiền gửi Việt Nam đồng có kỳ hạn thấp hơn sáu tháng Vấn đề kiểm soát lãi suất bằng biện pháp hành chính đã gây ra hai quan điểm đối nghịch nhau Quan điểm kiến nghị dỡ bỏ cho rằng: vài năm gần đây, lạm phát ở mức thấp, thanh khoản hệ thống dồi dào…đều là những điều kiện thuận lợi để Ngân Hàng Nhà Nước có thể cân nhắc hủy bỏ công cụ trần lãi suất Hơn nữa, hiện nay trên thế giới gần như không có quốc gia nào sử dụng biện pháp
áp trần lãi suất tiền gửi Vì vậy, Việt Nam cũng nên tự do hóa lãi suất theo thông lệ thế giới Tuy nhiên, quan điểm ủng hộ duy trì trần lãi suất tiền gửi lại cho rằng cần tiếp tục kiểm soát lãi suất kỳ hạn dưới sáu tháng với mức phù hợp nhằm định hướng lạm phát
kỳ vọng, đồng thời bảo đảm thực thi chính sách tiền tệ linh hoạt (lãi suất tại nước ta vốn
có vai trò rất lớn trong vấn đề hỗ trợ các thành phần kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng tổng sản phẩm quốc gia,…) Do đó, các nghiên cứu đánh giá toàn diện, chuyên sâu tác động
Trang 17của trần lãi suất là cần thiết, góp phần đưa thêm bằng chứng để hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định phù hợp
1.1.2 Trần lãi suất tiền gửi chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức
Trần lãi suất tiền gửi tuy có tác động rất lớn đến ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung nhưng quy định này vẫn còn chưa được chú trọng xem xét, đánh giá tại nước ta Được áp dụng chính thức từ năm 20111, đến nay đã gần 10 năm, nhưng
có rất ít tác giả nghiên cứu về chủ đề này Phong (2010) thảo luận những lợi ích cùng những hệ luỵ khi bãi bỏ trần lãi suất huy động, Hà (2012) chỉ ra những tác động tiêu cực của quy định kiểm soát lãi suất tiền gửi đến thị trường tiền tệ Nhận định này được ủng
hộ bởi nghiên cứu của Bình (2013) Bên cạnh đó, một số tác giả cũng đưa ra nhận định
về quy định này trên các phương tiện thông tin đại chúng Nhìn chung, các nghiên cứu hay ý kiến chuyên gia đều có điểm tương đồng là trần lãi suất có tác động tiêu cực và nên được bãi bỏ Tuy nhiên, hầu hết nghiên cứu đều chưa lượng hoá được tác động của trần lãi suất tiền gửi, ngoài trừ nghiên cứu của Bình (2013)
1.1.3 Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến truyền dẫn lãi suất tại Việt Nam còn hạn chế
Chính sách tiền tệ cùng với chính sách tài khoá là hai công cụ thiết yếu của chính sách kinh tế vĩ mô Theo Mishkin (2007), mục tiêu cơ bản của chính sách tiền tệ là tạo việc làm, tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính, ổn định thị trường hối đoái Bằng việc sử dụng những công cụ chính sách tiền tệ, thông qua các kênh truyền dẫn, ngân hàng trung ương sẽ tác động đến các chỉ số vĩ mô của nền kinh tế nhắm đạt được các mục tiêu đề ra Hầu hết các quốc gia đều đang theo
xu hướng lựa chọn điều hành chính sách tiền tệ chủ yếu theo lãi suất vì mức độ hiểu quả
và phù hợp cả trên lý thuyết và thực tế Tại Việt Nam, nghiên cứu của Sửu (2017) đã chỉ
ra rằng kênh lãi suất vẫn là kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ hiệu quả nhất Do đó, đã
có nhiều nghiên cứu đánh giá về kênh truyền dẫn lãi suất tại Việt Nam như: Thịnh và Tuấn (2012), Đ T T Hồng và Mạnh (2013), Bảo và Nhựt (2013),…Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ vận dụng mô hình định lượng sẵn có mà không xem xét các nhân
1 Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn áp chế tài chính Luận văn chỉ đề cập đến giai đoạn từ năm 2008 trở về sau
Trang 18tố tác động đến quá trình truyền dẫn lãi suất Bên cạnh đó, các khung lý thuyết làm cơ
sở xây dựng mô hình cũng chưa được hệ thống hoá cụ thể
Tóm lại, xuất phát từ thực tiễn đã nêu, tác giả quyết định thực hiện nghiên cứu nhằm xem xét tác động của công cụ trần lãi suất huy động đến tính liên thông lãi suất giữa thị trường liên ngân hàng và thị trường huy động vốn từ dân cư, tổ chức của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam
1.2 MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Phần này giới thiệu về mục tiêu nghiên cứu (mục 1.2.1) và câu hỏi nghiên cứu (mục 1.2.2)
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận văn là nghiên cứu tác động của trần lãi suất huy động đến tính liên thông giữa lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam Từ đó, các mục tiêu cụ thể được tác giả đề ra như sau:
Thứ nhất, trình bày cụ thể khung lý thuyết về truyền dẫn lãi suất từ thị trường liên ngân hàng sang lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng
Thứ hai, xem xét tác động của trần lãi suất huy động đến tính liên thông lãi suất thông qua các tiêu chí: hệ số truyền dẫn, độ trễ điều chỉnh bình quân, mức độ truyền dẫn
và tính đối xứng
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Dựa vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau: Thứ nhất, lý thuyết nền tảng của quá trình truyền dẫn lãi suất là gì ?
Thứ hai, trần lãi suất có tác động đến hệ số truyền dẫn, độ trễ điều chỉnh bình quân, mức độ truyền dẫn và tính đối xứng hay không ? Nếu có thì tác động theo chiều hướng nào ?
1.3 PHƯƠNG PHÁP, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Mục này trình bày các phương pháp phù hợp để đạt được các mục tiêu của nghiên cứu (mục 1.3.1) cùng đối tượng nghiên cứu (mục 1.3.2) và phạm vi dữ liệu được sử dụng để phân tích (mục 1.3.3)
Trang 191.3.1 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu:
Phương pháp định tính: được sử dụng nhằm mục đích giới thiệu lý thuyết về truyền dẫn lãi suất cùng các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phương pháp định lượng: sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số để đánh giá tác động của trần lãi suất huy động đến tính liên thông lãi suất tại Việt Nam
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
Tác động của trần lãi suất huy động đến tính liên thông lãi suất, tức là nghiên cứu tính liên thông giữa lãi suất liên ngân hàng và lãi suất tiền gửi của hệ thống ngân hàng, thể hiện qua hai tiêu chí chính là mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh lãi suất
Tính bất cân xứng trong trong quá trình truyền dẫn lãi suất
1.3.3 Phạm vi nghiên cứu
Không gian và thời gian nghiên cứu của luận văn lần lượt được trình bày tại mục 1.3.3.1 và mục 1.3.3.2
1.3.3.1 Không gian nghiên cứu
Luận văn có không gian nghiên cứu tại Việt Nam, sử dụng số liệu lãi suất bình quân thị trường liên ngân hàng, lãi suất huy động bình quân được thu thập từ Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
1.3.3.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu trong khoảng thời gian từ tháng 09 năm 2012 đến tháng 03 năm 2020 để xem xét sự truyền dẫn lãi suất giữa thị trường liên ngân hàng và thị trường dân cư, tổ chức trong ngắn hạn và dài hạn, đồng thời đánh giá độ trễ cũng như sự bất cân xứng trong điều chỉnh lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng thương mại
Trang 201.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Đóng góp của nghiên cứu được thể hiện trên cả hai khía cạnh là học thuật (mục 1.4.1) và thực tiễn (mục 1.4.2)
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Khác biệt so với những nghiên cứu đi trước, luận văn đã trình bày cụ thể các lý thuyết nền tảng làm cơ sở xây dựng khung lý thuyết về truyền dẫn lãi suất Bên cạnh đó, luận văn cũng giới thiệu một mô hình đánh giá tác động của một nhân tố đến quá trình truyền dẫn lãi suất, vốn là chủ đề ít được quan tâm tại Việt Nam
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đã làm rõ tác động của công cụ trần lãi suất huy động đến quá trình truyền dẫn lãi suất tại Việt Nam Trong bối cảnh cuộc tranh luận về việc nên duy trì hay bãi bỏ quy định về trẫn lãi suất còn chưa có kết quả cuối cùng, kết quả nghiên cứu đã đưa ra một bằng chứng cụ thể nhằm hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định phù hợp
1.5 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được cấu trúc gồm năm chương, được trình bày theo thứ tự như sau: Chương 1 – Giới thiệu
Chương 2 – Cơ sở lý thuyết
Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 – Phân tích kết quả nghiên cứu
Chương 5 – Kết luận và hàm ý chính sách
1.6 TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Nhiều năm qua, tuy có tác động rất lớn đến kinh tế Việt Nam nhưng cơ quan quản
lý vẫn sử dụng công cụ trần lãi suất huy động Chính điều này đã tạo nên một cuộc tranh luận sôi nổi về việc nên hay không nên tiếp tục duy trì biện pháp áp trần lãi suất tiền gửi Dù vậy, các nghiên cứu về tác động của trần lãi suất huy động tại Việt Nam vẫn còn tương đối ít Đây chính là nguyên nhân thúc đẩy tác giả thực hiện nghiên cứu về tác động của trần lãi suất huy động lên tính liên thông lãi suất tại nước ta thông qua đánh
Trang 21giá về mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh lãi suất Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp
về mặt khoa học khi giới thiệu cụ thể khung lý thuyết về truyền dẫn lãi suất, đồng thời
đóng góp về mặt thực tiễn với vai trò là một tài liệu tham khảo dành cho các nhà quản
lý Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đặt ra, tác giả vận dụng mô hình hiệu chỉnh sai
số với dữ liệu là lãi suất huy động bình quân và lãi suất bình quân giao dịch trên thị
trường liên ngân hàng được thu thập từ Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam trong giai đoạn
từ tháng 09 năm 2012 đến tháng 03 năm 2020 Trong phần kế tiếp, tác giả sẽ làm rõ các
lý thuyết về truyền dẫn lãi suất cùng với việc giới thiệu một số nghiên cứu tiêu biểu
Trang 22CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 giới thiệu các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu, kết hợp với những kết quả nghiên cứu trước đây làm cơ sở đề xuất mô hình thực nghiệm Cụ thể, chương 2 được cấu trúc như sau: mục 2.1 giới thiệu một số khái niệm cơ bản được luận văn sử dụng, mục 2.2 thể hiện khái quát về trần lãi suất huy động; mục 2.3 giới thiệu lý thuyết về truyền dẫn lãi suất Các nghiên cứu có liên quan được tóm tắt tại mục 2.4 Cuối cùng mục 2.5 sẽ tóm tắt lại toàn bộ chương 2
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT, THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
Tại mục 2.1, tác giả sẽ giới thiệu một số khái niệm cơ bản về lãi suất (mục 2.1.1)
và thị trường tiền tệ (mục 2.1.2) được sử dụng trong luận văn
2.1.1 Lý thuyết về lãi suất
2.1.1.1 Khái niệm
Đến thời điểm hiện tại, có khá nhiều định nghĩa về lãi suất Theo Karl-Marx, lãi suất chính là giá cả của tư bản cho vay Samuelson cho rằng lãi suất là giá mà người vay phải trả người cho vay để có quyền sử dụng một khoản tiền trong một thời gian nhất định (Hoa & Dân, 2017) Nói cách khác, lãi suất chính là giá mua bán quyền sử dụng tiền tệ trong một khoản thời gian cụ thể Marshall định nghĩa lãi suất là giá phải trả cho việc sử dụng vốn tại một thị trường bất kỳ (Hoa & Dân, 2017) Như vậy, lãi suất là giá
cả của quyền sử dụng vốn vay trong một khoản thời gian nhất định mà người sử dụng vốn phải trả cho người sở hữu vốn
2.1.1.2 Phân loại lãi suất
Theo Hoa và Dân (2017), có nhiều cơ sở để phân loại lãi suất: dựa trên giá trị của tiền lãi, tính linh hoạt của lãi suất, phương pháp trả lãi,…Tuy nhiên, tác giả căn cứ vào nghiệp vụ ngân hàng để giới thiệu một số loại lãi suất được sử dụng trong luận văn như sau:
Lãi suất tiền gửi: là lãi suất ngân hàng phải trả cho khách hàng ký thác tiền tệ tại ngân hàng, được sử dụng để tính toán số tiền lãi phải trả cho khách hàng gửi tiền Lãi suất tiền gửi được niêm yết nhiều mức khác nhau, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: số tiền gửi, kỳ hạn gửi, loại tiền tệ,…
Trang 23 Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất được sử dụng để vay vốn giữa các ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng Lãi suất này được hình thành trên cung cầu vốn tín dụng trên thị trường liên ngân hàng quyết định, đồng thời chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn của ngân hàng trung ương
2.1.2 Lý thuyết cơ bản về thị trường tiền tệ
2.1.2.1 Khái niệm
Tương tự như lãi suất, thị trường tiền tệ cũng có nhiều khái niệm khác nhau:
Theo Mishkin (2007), thị trường tiền tệ là thị trường tài chính giao dịch những công cụ nợ ngắn hạn Những công cụ nợ trung dài hạn và cổ phiếu sẽ được giao dịch trên thị trường vốn
Loretan và Wooldridge (2008) cho rằng thị trường tiền tệ thường được định nghĩa
là nơi mua bán công cụ nợ ngắn hạn, cung cấp vốn cho các tổ chức, thực hiện một số chức năng kinh tế thiết yếu
Thị trường tiền tệ còn được định nghĩa là nơi cung cấp công cụ cho người vay và người cho vay để thoả mãn nhu cầu tài chính ngắn hạn của từng bên (Dodd, 2012)
Tại Việt Nam, theo Khoản 6 và 7 Điều 6 Luật Ngân Hàng Nhà Nước thì “thị trường tiền tệ là nơi giao dịch ngắn hạn về vốn” và “Giao dịch ngắn hạn là giao dịch với kỳ hạn dưới 12 tháng các giấy tờ có giá”
Từ những khái niệm trên cho thấy thị trường tiền tệ là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi đáp ứng những nhu cầu vốn ngắn hạn
2.1.2.2 Phân loại
Tuỳ theo đối tượng, phạm vi nghiên cứu hay mục đích mà thị trường tiền tệ sẽ được phân loại khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chia thị trường tiền tệ thành hai bộ phận tương tự như Đ T B Hồng (2019):
Thị trường tiền tệ mở rộng (thị trường 1): là nơi diễn ra các giao dịch giữa ngân hàng và các cá nhân, tổ chức
Trang 24 Thị trường tiền tệ liên ngân hàng (thị trường giao dịch liên ngân hàng hay thị trường 2): là nơi diễn ra các giao dịch vay mượn, mua bán tiền tệ giữa các ngân hàng với nhau và giữa ngân hàng trung ương với các ngân hàng (Hình 2.1)
Nguồn: Nga và Bắc (2013)
Hình 2.1 Thị trường liên ngân hàng quốc gia 2.2 LÝ THUYẾT VỀ TRẦN LÃI SUẤT HUY ĐỘNG
2.2.1 Khái quát về áp chế tài chính
Áp chế tài chính (financial repression) là những biện pháp được cơ quan quản lý ban hành nhằm khống chế lãi suất, ấn định tỷ lệ dữ trữ bắt buộc ở mức cao hay áp đặt trực tiếp việc phân bổ các nguồn lực tài chính vào các mục đích đầu tư của chính phủ (Johansson, 2012) Vào năm 19732, McKinnon là người đầu tiên đưa ra khái niệm, đồng thời chỉ rõ các tác động tiêu cực của những biện pháp nêu trên đến nền kinh tế như sau:
Thứ nhất, lãi suất bị kiểm soát chặt chẽ thường đưa đến trạng thái lãi suất thực
âm, tác động xấu đến sự phát triển lẫn độ sâu của thị trường tài chính
Thứ hai, nhà nước khống chế lãi suất dưới mức cân bằng với kỳ vọng vốn đầu tư tăng do cá nhân, doanh nghiệp sẽ được sử dụng nguồn vốn có chi phí thấp Nhưng trái
1 Giao dịch nội tệ
2 Giao dịch ngoại tệ
3 Mua bán có kỳ hạn giấy tờ có giá
OMO
NHTW
Giám sát thị trường
Trang 25ngược với kỳ vọng, thực tiễn cho thấy lượng vốn đầu tư sụt giảm, mức độ tiếp cận vốn suy giảm và vì thế các chủ thể thiếu vốn phải chịu lãi suất vay cao hơn hoặc chấp nhận
sử dụng nguồn vốn tự có
Thứ ba, vì lãi suất thực âm nên các cá nhân, hộ gia đình sẽ chịu tác động tiêu cực của lạm phát thông qua tiêu dùng và tiết kiệm Kết quả là, đầu tư của hộ gia đình chủ yếu hướng đến các tài sản ít chịu ảnh hưởng hoặc nằm ngoài phạm vi tác động tiêu cực bởi lạm phát (Ví dụ: ngoại tệ, vàng, bất động sản)
Đến thời điểm hiện tại, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sáu phương pháp được chính phủ sử dụng để thực hiện áp chế tài chính Hầu hết những biện pháp này liên quan đến mối quan hệ giữa chính phủ và ngân hàng:
Kiểm soát lãi suất: ban hành quy định về trần lãi suất huy động hoặc (và) cho vay với mục đích khống chế lãi suất ở mức thấp hơn giá trị cân bằng thị trường
Yêu cầu các ngân hàng tuân thủ tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở mức cao nhằm huy động vốn cho nhà nước từ ngành ngân hàng
Chỉ định phân bổ tín dụng
Sở hữu hoặc/và quản lý vi mô đối với các ngân hàng
Hạn chế sự tham gia vào ngành tài chính
Hạn chế dòng vốn quốc tế vào và ra
Như vậy, trần lãi suất là một cách thức được cơ quan quản lý sử dụng để áp chế tài chính Tác giả sẽ thảo luận chi tiết về trần lãi suất tiền gửi và các tác động của quy định này trong phần kế tiếp
2.2.2 Trần lãi suất huy động và những tác động
Trần lãi suất là một quy định nhằm ngăn cản các tổ chức tín dụng đưa ra một mức lãi suất cao hơn mức đã được ấn định trước Tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, những biện pháp kiểm soát lãi suất, đặc biệt là áp đặt trần lãi suất được xem
là một trong những công cụ được sử dụng phổ biến nhất Tuy vẫn có một số lý do ủng
hộ việc áp dụng trần lãi suất nhằm khắc phục các khuyết tật của thị trường nhưng nhìn chung cả lý thuyết lẫn thực tiễn đều khẳng định trần lãi suất tạo nên những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế nói chung, tiết kiệm và đầu tư nói riêng Luận văn trình bày tác
Trang 26động của trần lãi suất huy động đến tăng trưởng kinh tế nói chung (Mục 2.2.2.1) và đến các chủ thể tham gia thị trường tài chính nói riêng (Mục 2.2.2.2)
2.2.2.1 Tác động đến tăng trưởng kinh tế
Về mặt lý thuyết, dường như kiểm soát lãi suất được áp đặt với mục đích chính
là khuyến khích đầu tư Nếu lãi suất vay vốn thấp, số lượng dự án đầu tư có hiện giá dòng tiền ròng dương khi sử dụng lãi suất vay làm lãi suất chiết khấu sẽ tăng lên, góp phần tăng tỷ lệ đầu tư Đây chính là tác động trực tiếp của trần lãi suất tiền vay Ngược lại, trần lãi suất tiền gửi được cho rằng sẽ tạo ra tác động gián tiếp: các ngân hàng huy động vốn với lãi suất thấp sẽ cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp3 Lập luận nêu trên dựa trên một giả định quan trọng: dù tồn tại trần lãi suất tiền gửi trực tiếp hay gián tiếp thì nhu cầu đầu tư vẫn được đáp ứng đủ từ những người gửi tiết kiệm Tuy nhiên, nếu cung vốn tiết kiệm và cầu vốn đầu tư đều phụ thuộc vào lãi suất thực thì trần lãi suất
có thể làm cầu vốn tăng cao hơn mức cân bằng và đẩy cung vốn xuống dưới mức cân bằng Hình 2.2 minh họa hàm tiết kiệm (S) và đầu tư (I) được quyết định bởi lãi suất thực (r)
Nguồn: Beim và Calomiris (2000)
Hình 2.2 Tiết kiệm và đầu tư trong điều kiện lãi suất bị kiểm soát
3 Giả định rằng lãi suất là một trong những yếu tố quyết định mức tiết kiệm và đầu tư chính trong một giai đoạn nhất định Những yếu tố quan trọng khác bao gồm: tốc độ tăng trưởng, lạm phát kỳ vọng, mức thừa công suất đầu kỳ và những yếu tố khác
Trang 27Trường hợp không tồn tại trần lãi suất, thị trường ở trạng thái cân bằng e, với lãi suất cân bằng thị trường là re, lượng vốn đầu tư sẽ bằng với lượng vốn tiết kiệm:
Ie = Se Khi trần lãi suất tiền gửi được chính phủ ban hành (rc) thấp hơn re, lúc này lượng tiền tiết kiệm gửi vào ngân hàng sẽ giảm xuống mức Sc và nhu cầu vốn đầu tư tăng lên mức Ic Để cân bằng thị trường, lãi suất cho vay phải tăng lên mức ri Như vậy, trần lãi suất làm giảm cả tiết kiệm lẫn đầu tư một lượng là Ie – Ic Đầu tư là một yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng Do đó, kiểm soát lãi suất dẫn đến hạn chế tốc độ tăng trưởng
Hệ thống ngân hàng sẽ có lợi nhuận cao hơn, dù cho khối lượng làm việc ít hơn vì được hưởng khoảng chênh lệch giữa lãi suất đi vay và cho vay là: ri – rc
Bên cạnh đó, nếu lãi suất cho vay cũng bị áp trần ở mức rl thấp hơn ri Lúc này, các ngân hàng sẽ không huy động đủ lượng tiết kiệm cần thiết để đáp ứng nhu cầu vay vốn đầu tư mới (Il), phần thiếu hụt sẽ là Il – Ic Trường hợp tiêu cực nhất là lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng được ấn định bằng với lãi suất huy động (trong thực tế sẽ cao hơn một ít nhằm bù đắp các chi phí hoạt động của ngân hàng) Trong trường hợp này, nhu cầu vốn đầu tư không được thỏa mãn là Id – Ic Bị kiểm soát lãi suất cho vay, các ngân hàng sẽ dùng những biện pháp khác để sàng lọc khách hàng Ngân hàng sẽ ưu tiên những người vay có độ an toàn cao, đã thiết lập được uy tín vì không thể tính thêm một khoản phí để bù đắp rủi ro cho vay Hệ quả là các dự án có tỷ suất sinh lời cao hơn (và tất nhiên rủi ro cao hơn) và các dự án được các doanh nghiệp mới (mang tính sáng tạo cao hơn) sẽ không được cung ứng lượng vốn cần thiết Như vậy, một lần nữa cho thấy tác động của trần lãi suất là hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế
2.2.2.2 Tác động đến các chủ thể tham gia thị trường tài chính
Trần lãi suất huy động đem lại cho ngân hàng một lợi ích đặc biệt: có thêm khoản thu nhập lẽ ra không tồn tại trong một thị trường cạnh tranh hoàn toàn Đặc lợi này đến
từ những khách hàng tiết kiệm và khách hàng vay vốn không thuộc đối tượng ưu tiên
Hình 2.3 thể hiện vấn đề này thông qua đồ thị cung cầu biểu thị tiền vay thực như
là một hàm số theo lãi suất thực
Trang 28Nguồn: Beim và Calomiris (2000)
Hình 2.3 Chênh lệch lãi suất ngân hàng và giới hạn lãi suất tiền gửi
Theo đó, cầu tiền vay thực (L/P)Demand là một hàm số nghịch biến theo lãi suất cho vay thực (RL), thể hiện giá trị tiền vay L phụ thuộc vào những thay đổi của mức giá (P) mà những khách vay đủ điều kiện mong muốn được vay Cung tiền vay thực (L/P)S1
là một hàm số đồng biến theo lãi suất tiền gửi thực (RD), biểu thị lượng tiền mà người tiết kiệm sẵn lòng cho vay Thị trường đạt trạng thái cân bằng tại điểm E, lượng tiền vay thực là (L/P)E,lãi suất cho vay bằng với lãi suất huy động
Tuy nhiên, trên thực tế, lượng tiền vay mà ngân hàng cung ứng không bao giờ đạt đến giá trị (L/P)E Các ngân hàng sẽ đưa ra một khoảng chênh lệch thích hợp khi công bố lãi suất huy động và lãi suất cho vay Phần chênh lệch này sẽ được ngân hàng
sử dụng để bù đắp lại các chi phí hoạt động (thu nhập của người lao động, chi phí cơ hội của tiền mặt tại quỹ,…) Đoạn thẳng CD thể hiện giá trị khoảng chênh lệch lãi suất cần thiết đó (RL – RD) Nhu cầu sử dụng một phần thu nhập từ cho vay để thanh toán các chi phí gián tiếp của ngân hàng làm giảm lợi nhuận mà người gửi tiền có thể nhận được và giảm lượng tiền cho vay thực từ (L/P)E xuống mức (L/P)1
Khi quy định về trần lãi suất tiền gửi được ban hành, ví dụ tại mức RDC, sẽ làm hạn chế khả năng huy động vốn của ngân hàng, từ đó làm giảm lượng cung tiền gửi Để cân bằng giữa lượng cung mới thấp hơn và lượng cầu của khách hàng vay, chênh lệch lãi suất tiền gửi và tiền vay sẽ tăng lên, nghĩa là đoạn thẳng biểu thị cho khoản chênh
Trang 29lệch này sẽ dài hơn (AB) Như vậy, trần lãi suất không những làm giảm suất sinh lời thực lẽ ra người tiết kiệm được hưởng mà còn giảm lượng tiền vay trên thị trường và do
đó giúp ngân hàng tính các mức lãi vay cao hơn
Hiệu số độ dài giữa hai đoạn thẳng thể hiện hai mức chênh lệch lãi suất (AB – CD) chính là lợi ích đặc biệt của ngân hàng trên một đồng cho vay Lợi nhuận của các ngân hàng sẽ gia tăng bằng chính tổn thất của khách hàng tiền gửi và tiền vay Đồng thời, lượng tiền vay sẽ thấp hơn khi không có trần lãi suất do các ngân hàng sẽ tìm cách thu hút người gửi tiền từ phía đối thủ cạnh tranh bằng nhiều hình thức khác nhau: chi trả phi tiền mặt (chương trình khuyến mại, tặng quà, quay số,…), thậm chí là chi lãi ngoài Trong tình huống này, cung tiền gửi sẽ tăng lên đến một điểm nằm giữa hai trường hợp có trần lãi suất hoặc không có trần lãi suất Tuy vậy, các ngân hàng không được giữ lại phần lợi ích đặc biệt này mà phải cung cấp những khoản vay ưu đãi cho những người vay được chính phủ xác định thuộc đối tượng ưu tiên
2.3 LÝ THUYẾT VỀ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT
2.3.1 Quá trình truyền dẫn lãi suất
Theo Gambacorta (2005) thì quá trình truyền dẫn lãi suất là sự phản ánh những thay đổi của lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường và cuối cùng sang lãi suất bán lẻ Trong khi đó, Nhàn (2017) định nghĩa: “truyền dẫn lãi suất là quá trình lãi suất bán lẻ (lãi suất huy động và lãi suất cho vay) của hệ thống ngân hàng thương mại điều chỉnh trước sự thay đổi của lãi suất chính sách” Như vậy, mỗi định nghĩa về truyền dẫn lãi suất sẽ phụ thuộc vào việc lựa chọn biến lãi suất phụ thuộc Dựa vào vấn đề này, các nghiên cứu về truyền dẫn lãi suất có thể được chia làm ba nhóm quan điểm chính (Hình 2.4):
Nhóm thứ nhất (được ký hiệu là B2) được dựa trên cách tiếp cận chi phí vốn (cost
of funds) (De Bondt, 2002), nghiên cứu về cách thức lãi suất thị trường lan truyền đến lãi suất bán lẻ có kỳ hạn tương đương
Hình 2.4 Truyền dẫn giữa các loại lãi suất
A
Nguồn: Égert và MacDonald (2009)
Trang 30 Nhóm thứ hai (được ký hiệu là A) dựa trên cách tiếp cận chính sách tiền tệ (Sander & Kleimeier, 2004a), kiểm tra những thay đổi lãi suất chính sách sẽ tác động trực tiếp ra sao đến lãi suất bán lẻ
Nhóm thứ ba có cách tiếp cận dựa trên hai giai đoạn (Égert, Crespo-Cuaresma,
& Reininger, 2007):
o Giai đoạn thứ nhất (được ký hiệu là B1): lãi suất chính sách được truyền đến lãi suất thị trường Giai đoạn này vận hành dựa trên độ dốc (lên, xuống hoặc ngang) của đường cong lãi suất, về cơ bản được xác định bởi các lý thuyết truyền thống như: lý thuyết dự tính, lý thuyết thị trường phân cách,
lý thuyết môi trường ưu tiên
o Giai đoạn thứ hai (được ký hiệu là B2): lãi suất thị trường làm thay đổi lãi suất bán lẻ của ngân hàng
Mặc dù sử dụng cách tiếp cận khác nhau, nhưng hầu hết các nghiên cứu về truyền dẫn lãi suất đều dựa trên lý thuyết bắt nguồn từ mô hình Monti-Klein Tác giả sẽ giới thiệu cụ thể về mô hình này trong phần tiếp theo
2.3.2 Khung lý thuyết về quá trình truyền dẫn lãi suất
Mô hình Monti-Klein được hai tác giả Klein (1971) và Monti (1972) đề xuất, sử dụng một số yếu tố vi mô để giải thích vấn đề thiết lập lãi suất của một ngân hàng trung lập về rủi ro hoạt động trong điều kiện thị trường độc quyền Ngân hàng này có bảng cân đối kế toán được thể hiện như sau:
L + S = D + B + K (2.1) Trong đó, giá trị các khoản vay được ký hiệu là L, tương tự chứng khoán (S), tiền gửi (D), trái phiếu (B) và vốn (K)
Ngân hàng đầu tư vào các loại chứng khoán được đánh giá là tài sản an toàn và xem như có lãi suất tương đương với lãi suất phi rủi ro Giả định rằng ngân hàng quyết định nắm giữ giá trị chứng khoán theo một tỷ lệ cố định (α) của các khoản tiền gửi chưa thanh toán Như vậy: S = αD (2.2)
Vốn ngân hàng được giả định là biến ngoại sinh, được góp từ trước và đáp ứng yêu cầu về vốn theo quy định hiện hành
Ngân hàng có hàm cầu tiền gửi và tiền vay lần lượt là:
Trang 31Dd = d0id + d1y + d2p + d3im (d1 > 0, d2 > 0, d3 > 0, d4 < 0) (2.3)
Ld = c0il + c1y + c2p + c3im (c0 < 1, c1 > 0, c2 > 0, c3 > 0) (2.4) Công thức (2.3) cho thấy cầu tiền gửi có quan hệ cùng chiều với các yếu tố: lãi suất tiền gửi id, mức thu nhập thực y (là biến quy mô) và mức giá p Ngược lại, lợi suất của những chứng khoán có khả năng thay thế tiền gửi sẽ tác động ngược chiều đến cầu tiền gửi Đối với cầu tiền vay, lãi vay il có tác động ngược chiều đến hàm cầu Ngược lại, thu nhập thực y, giá p và chi phí cơ hội của việc tự tài trợ, được đại diện bởi lãi suất thị trường tiền tệ im có tác động cùng chiều đến cầu tiền vay
Đối với trái phiếu, để đơn giản hoá, lãi suất được đưa xem như bằng phần tăng thêm (markup) lãi suất thị trường tiền tệ, phụ thuộc vào rủi ro tín dụng ngoại sinh đối với ngân hàng: ib = b0im (b0 >0)
Chi phí trung gian được tính theo công thức:
CIN = g1L + g2D (g1 > 0, g2 > 0) (2.5) Trong đó, thành phần g1L có thể được hiểu là chi phí sàng lọc và giám sát, trong khi đó g2D là chi phí của việc phân nhánh Các khoản vay đều có rủi ro và trong mỗi giai đoạn, phần trăm j của chúng được xoá khỏi bảng cân đối kế toán, do đó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
Ngân hàng sẽ tối đa hoá lợi nhuận trong điều kiện bị ràng buộc bởi bảng cân đối
kế toán (phương trình (2.1)) và phải chấp nhận mức lãi suất thị trường tiền tệ được cho trước (được giả định tuân theo chính sách lãi suất do ngân hàng trung ương đặt ra) bằng cách thiết lập lãi suất tối ưu cho những khoản tiền gửi (id) và tiền vay (il):
Max il, id với π = (il –j)L + imS – idD – ibB – CIN (2.6) Mức tối ưu của hai lãi suất trên là:
il = Ψ0 + Ψ1p + Ψ2im + Ψ3yP + Ψ4j (2.7)
id = Φ0 + Φ1p + Φ2im + Φ3yP (2.8) Với
Ψ0 = g12 > 0, Ψ1 = c2 – 2c0 > 0, Ψ2 = b02 + c3 – 2c0 > 0, Ψ3 = c1 – 2c0 > 0, Ψ4 = 12
Φ0 = -g22 < 0, Φ1 = -d22d0 < 0, Φ2 = b0(1- α)2 + (-d32d0) + α2 > 0, Φ3 = -d12d0 < 0 Công thức (2.7) chỉ ra rằng thắt chặt tiền tệ dẫn đến lãi suất cho vay tối ưu tăng (Ψ2 > 0) Tổng hiệu ứng có thể được chia ra hai thành phần: phần tăng chi phí tài trợ thị
Trang 32trường (b02 > 0) và hiệu ứng chi phí cơ hội (c3 – 2c0 > 0) Lạm phát, sản lượng, chi phí trung gian và trích lập dự phòng tác dụng cùng chiều đến lãi suất cho vay tối ưu
Công thức (2.8) về lãi suất tiền gửi tối ưu có một số điểm khác biệt Vẫn trong trường hợp thắt chặt tiền tệ, tác động của chính sách này là tích cực (Φ2 > 0), nhưng giờ đây được chia làm ba thành phần: chi phí vốn thị trường (b0(1- α)2 > 0), chi phí cơ hội (-d32d0 > 0) và hiệu ứng bộ đệm thanh khoản (α2 > 0) Công thức này cho biết việc thắt chặt tiền tệ sẽ tự động làm tăng chi phí vay đối với các quỹ không có bảo đảm của ngân hàng và lợi nhuận của chứng khoán (là một kênh đầu tư thay thế đối với người gửi tiền)
Do đó, hai tác động đầu tiên thúc đẩy ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi để tăng thêm tiền bảo hiểm Tỷ lệ tiền gửi đầu tư vào chứng khoán (α) một mặt như một hệ số dự trữ đơn giản, giúp tăng doanh thu cho danh mục đầu tư có tính thanh khoản cao và sức mạnh thị trường của ngân hàng để bù lại lãi suất tiền gửi Lãi suất tiền gửi phản ứng ngược chiều với việc mở rộng sản lượng (Φ3 < 0) và tăng giá (Φ1 > 0) Mở rộng kinh tế thúc đẩy cầu tiền gửi dịch chuyển sang bên trái và làm giảm chi phí tiền gửi
Nhiều tác giả đã vận dụng trực tiếp mô hình Monti-Klein gốc hoặc sửa đổi nhằm mục đích nghiên cứu mối liên hệ giữa lãi suất chính sách và lãi suất ngân hàng như: Ho
và Saunders (1981), J n Maudos và De Guevara (2004), J Maudos và Solís (2009), Kam và Smithin (2012),…Xuất phát từ ý tưởng của những nghiên cứu nêu trên, Misati, Nyamongo, và Kamau (2011) đã đề xuất một cách tiếp cận đơn giản để chứng minh mối quan hệ giữa lãi suất bán lẻ và lãi suất chính sách:
Giả định rằng các ngân hàng thương mại đều có quan hệ bù trừ trực tiếp với ngân hàng trung ương Một ngân hàng bất kỳ sẽ tối đa hoá lợi nhuận (π) dựa trên bảng cân đối kế toán giả định được trình bày tại Bảng 2.1
Bảng 2.1 Bảng cân đối kế toán Ngân hàng thương mại
Tài sản Nguồn vốn
Dự trữ (R) Tiền gửi (D) Cho vay (L) Số dư thanh toán (S) Theo nguyên tắc kế toán thì R + L = D + S Suy ra:
D = R + L – S (2.9)
Trang 33Gọi il, id lần lượt là lãi suất cho vay và lãi suất huy động được ngân hàng niêm yết thì thu nhập lãi ròng của ngân hàng (NII – net interest income) được tính bằng chênh lệch giữa tổng tiền lãi vay và tổng tiền lãi phải trả cho khách hàng gửi tiền:
NII = ilL – idD = ilL – id(L + R – S) (do (2.9)) Hoạt động thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng trong hệ thống được thông qua ngân hàng trung ương Nếu bất kỳ ngân hàng nào có số dư thanh toán (S) âm phải trả một khoản tiền phạt bằng lãi suất phạt (tương đương với lãi suất chính sách) là ip nhân với chênh lệch giữa số dư thanh toán và dự trữ: ipσ(S – R)
Bên cạnh phần lãi tiền gửi, ngân hàng còn phát sinh nhiều khoản chi phí khác, giả sử hàm chi phí của ngân hàng là μL Vận dùng mô hình Monti-Klein với giả định hàm cầu cho vay dốc xuống và hàm tiền gửi dốc lên Lúc này, hàm lợi nhuận có thể được biểu thị dưới dạng như sau:
Π (D, L) = ilL – id(L + R – S) – ipσ(S – R) – μL (2.10) Như vậy, các biến số mà ngân hàng có thể quyết định trong mô hình là tổng giá trị khoản vay (L) và phần dự trữ cần thiết phải nắm giữ (R)
Ngân hàng sẽ tối đa hoá lợi nhuận khi doanh thu cận biên bằng với chi phí cận biên Từ phương trình (2.10), lấy đạo hàm riêng đối với hai biến L, R và cho kết quả bằng 0 Ta có:
il – id – μ = 0 (2.11) -id + σip + μ = 0 (2.12) Kết hợp giữa phương trình (2.11) và (2.12) thu được:
il = σip + μ (2.13) Tóm lại, mô hình Monti-Klein đã chứng minh tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa lãi suất chính sách và lãi suất bán lẻ của ngân hàng, đồng thời cho thấy những thay đổi trong lãi suất chính sách có thể được chuyển sang lãi suất bán lẻ của ngân hàng Phương trình (2.12) và (2.13) cũng chính là cơ sở cho các phân tích thực nghiệm Tuy nhiên, mô hình nêu trên cũng gặp phải một số chỉ trích: (i) các ngân hàng không bị ràng buộc phải vay từ ngân hàng trung ương và trả lãi phạt và (ii) sự biến động của lãi suất bán lẻ không nhất thiết phản ánh hành vi của lãi suất chính sách Lãi suất chính sách là lãi suất rất ngắn hạn, trong khi lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi dự kiến sẽ phản ánh lãi suất dài hạn Hơn nữa, các ngân hàng có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau: tiền gửi bán
Trang 34lẻ, thị trường liên ngân hàng, trái phiếu và tín phiếu kho bạc (Illes, Lombardi, & Mizen, 2015) Do đó, sử dụng lãi suất chính sách để đo lường truyền dẫn lãi suất sẽ dẫn đến kết luận sai lầm về quá trình truyền dẫn Các tác giả như De Bondt (2002) hay De Bondt, Mojon, và Valla (2005) cho rằng về lâu dài, các ngân hàng sẽ niêm yết lãi suất bán lẻ phù hợp với chi phí cận biên (chi phí tài trợ cho các khoản vay và chi phí cơ hội của tiền gửi), vốn có thể được đánh giá tốt nhất thông qua lãi suất trên thị trường tiền tệ Từ những lý do nêu trên, trong luận văn này, tác giả sử dụng cách tiếp cận chi phí vốn để đánh giá quá trình truyền dẫn lãi suất tại Việt Nam
2.3.3 Đo lường truyền dẫn lãi suất
Thông thường, để đo lường truyền dẫn lãi suất thì hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng cách tiếp cận theo mô hình định giá dựa trên chi phí cận biên được Rousseas (1985)
đề xuất Vận dụng ý tưởng của Rousseas: lãi suất thị trường là giá chi phí cận biên phù hợp nhất, bởi vì nó phản ánh chính xác nhất chi phí vốn cận biên mà ngân hàng phải đối mặt, De Bondt (2002) đưa ra phương trình như sau:
br = γ0 + γ1mr (2.14)
Trong phương trình (2.14) thì br là lãi suất được ngân hàng đặt ra và mr là giá chi phí cận biên, xấp xỉ bằng lãi suất thị trường tương ứng với br Hệ số γ1 phụ thuộc vào độ co giãn cầu tiền gửi và tiền vay đối với lãi suất ngân hàng Hệ số này sẽ nhỏ hớn
1 nếu cầu tiền gửi và tiền vay đối với lãi suất ngân hàng co giãn không hoàn toàn Cầu tiền gửi sẽ co giãn tương đối với lãi suất khi tồn tại các sản phẩm thay thế như các quỹ tiền tệ, còn độ co giãn của cầu cho vay phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó
có việc người vay có thể tiếp cận vào các nguồn tài trợ khác hay không Hệ số γ1 cũng
sẽ nhỏ hơn 1 nếu ngân hàng đạt được một mức độ “sức mạnh thị trường” nhất định Tại các phân khúc ít có sự cạnh tranh hoặc độc quyền thì lãi suất ngân hàng sẽ bị điều chỉnh không hoàn toàn hoặc có độ trể so với sự thay đổi nhanh chóng và hoàn toàn trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo (Laudadio, 1987) Ngoài ra, chi phí chuyển đổi và thông tin bất cân xứng đều là những nguyên nhân quan trọng làm cho hệ số γ1 bé hơn 1
Xuất phát từ phương trình (2.14), theo Cottarelli và Kourelis (1994), quá trình truyền dẫn thường được mô hình hoá thành các mô hình, ví dụ như mô hình vectơ tự hồi quy sau đây:
Trang 35Như vậy, mức độ truyền dẫn lãi suất được đo lường bằng hệ số θ1 Trường hợp
truyền dẫn hoàn toàn được định nghĩa khi θ1 = 1, lúc này khi lãi suất thị trường tăng hoặc giảm bao nhiêu thì lãi suất ngân hàng cũng tăng lên hoặc giảm xuống đúng bằng con số này Chi phí chuyển đổi, thông tin bất cân xứng và các khuyết tật của thị trường
có thể là nguyên nhân gây ra truyền dẫn không hoàn toàn (θ1 <1), lúc này các loại lãi suất của hệ thống ngân hàng sẽ thay đổi một lượng ít hơn so với lượng thay đổi lãi suất
thị trường Ngược lại, truyền dẫn quá mức xảy ra khi θ1 > 1, biến động của lãi suất ngân hàng sẽ vượt quá biến động lãi suất thị trường, xảy ra khi các ngân hàng tăng lãi suất để
bù đắp cho rủi ro cao hơn (De Bondt, 2002) Những nhân tố tác động đến quá trình truyền dẫn lãi suất sẽ được tác giả trình bày cụ thể hơn tại Mục 2.3.4
Với mục tiêu đánh giá tính liên thông giữa lãi suất thị trường tiền tệ và lãi suất bán lẻ, luận văn tiếp tục sử dụng phương pháp đo lường truyền dẫn lãi suất vừa nêu Phương pháp này cũng được Quang và Tú (2018) sử dụng để đánh giá tính liên thông lãi suất tại Việt Nam
2.3.4 Nhân tố tác động đến truyền dẫn lãi suất
Nhiều nghiên cứu đã kết luận truyền dẫn lãi suất tại các quốc gia, thậm chí tại các thị trường khác nhau trong cùng quốc gia là bất cân xứng Tuy nhiên, không nhiều tác giả quan tâm phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự bất cân xứng này Hầu hết các nghiên cứu hiện có tập trung chủ yếu vào các nhóm nhỏ quốc gia trong cùng khu vực
Trang 36hoặc các phân khúc thị trường khác nhau trong một quốc gia nhất định Dù có sự khác biệt cả về lựa chọn quốc gia, khoảng thời gian xem xét lẫn các biến được sử dụng và phương pháp nghiên cứu nhưng phát hiện của các nghiên cứu này lại cho thấy sự tương
Hầu hết các nghiên cứu đều nhất trí rằng yếu tố cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng có vai trò tích cực đối với quá trình truyền dẫn lãi suất Các tác giả khác nhau đã
sử dụng nhiều yếu tố khác nhau để biểu thị sự cạnh tranh: Cottarelli và Kourelis xem xét mức tập trung của ngành ngân hàng và biện pháp sở hữu tư nhân các ngân hàng, Mojon sử dụng chỉ số để đo lường mức độ bãi bỏ các quy định ngành ngân hàng ở châu
Âu, còn Sørensen và Werner (2006) sử dụng sự tập trung của ngành ngân hàng và sức mạnh thị trường (được thể hiện bởi tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) cũng tại một nhóm nước châu Âu Dù dùng nhiều yếu tố khác nhau nhưng các nghiên cứu này đều đi đến kết luận cạnh tranh sẽ cải thiện quá trình truyền dẫn Dù vậy, trong công trình của mình, Sander và Kleimeier (2004b) cho rằng cạnh tranh, được biểu thị bởi sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài, lại ảnh hưởng tiêu cực đến truyền dẫn lãi suất
Bên cạnh các yếu tố thường được xem xét nêu trên, Sørensen và Werner cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa truyền dẫn lãi suất và bốn yếu tố: dư thừa thanh khoản,
dư thừa vốn, độ cứng của chi phí tài trợ (tỷ lệ tiền gửi trên nợ phải trả) và rủi ro lãi suất (đo lường bởi sự khác biệt về kỳ hạn) Hai tác giả cũng chỉ ra đa dạng hóa (tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập) và rủi ro tín dụng góp phần cải thiện truyền dẫn Mojon kết luận chi phí hoạt động cao (được tính toán bởi chi phí nhân viên trên tổng thu nhập) cản trở quá trình truyền dẫn Sander và Kleimeier nhận thấy sức khỏe của ngành ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu) làm giảm mức độ bám dính lãi suất
Trang 37Bảng 2.2 Tóm tác các yếu tố ảnh hưởng đến truyền dẫn lãi suất
Lạm phát
Dịch chuyển vốn
Sự biến động của thị trường
Sự cạnh tranh
Dư thừa thanh khoản
Dư thừa vốn
Độ cứng của nguồn tài trợ
Rủi ro lãi suất
Đa dạng hóa
Rủi ro tín dụng
Nợ xấu
Chi phí vận hành
Trang 382.4 LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Ngân hàng trung ương cần hiểu rõ cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ để đưa ra những quyết định chính sách đúng đắn nhằm dẫn dắt nền kinh tế theo kế hoạch đã đề ra (Gigineishvili, 2011) Khi nắm được mức độ lẫn tốc độ truyền dẫn lãi suất, các nhà hoạch định chính sách sẽ lựa chọn thời điểm điều chỉnh và mức điều chỉnh phù hợp nhất nhằm nâng cao hiệu quả điều tiết của chính sách tiền tệ Do đó, truyền dẫn lãi suất là chủ đề nhận được sự quan tâm đồng thời từ những nhà quản lý lẫn giới nghiên cứu hàn lâm Do đó, đã có rất nhiều nghiên cứu về truyền dẫn lãi suất như:
Nghiên cứu đầu tiên về quá trình truyền dẫn từ lãi suất điều hành đến lãi suất cho vay được Cottarelli và Kourelis thực hiện vào năm 1994 Hai nhà nghiên cứu đi đến kết luận rằng các nước khác nhau sẽ có quá trình truyền dẫn khác nhau Kết luận này được chứng minh lại một lần nữa bởi nghiên cứu của Paisley (1994) và Mojon (2000): Mojon phát hiện truyền dẫn hoàn toàn lãi suất ngân hàng ở 5 nước (Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan, Pháp và Đức), trong khi đó Paisley khẳng định lãi suất vay thế chấp của các Hiệp hội nhà ở tại Anh truyền dẫn không hoàn toàn
Rebucci và Espinosa-Vega (2003) sử dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ (ADRL) với dữ liệu hàng tháng trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2002 tại năm nước châu Âu và các quốc gia New Zealand, Mỹ, Úc, Chile, Canada và chỉ ra rằng tại Chile: truyền dẫn lãi suất ngắn hạn nhanh và có tác dụng lớn, trái lại truyền dẫn dài hạn là không hoàn toàn, ít có sự liên tục và dễ dàng thay đổi Nguyên nhân sự khác biệt này không phải do các ngân hàng có sức mạnh thị trường mà chủ yếu bởi các cú sốc bên ngoài
Égert và cộng sự (2007) một lần nữa khẳng định lại kết quả nghiên cứu của Cottarelli và Kourelis Vận dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (Error Correction Model – ECM), vào các quốc gia Đông Âu (Hungary, Ba Lan, Cộng Hòa Séc), kết quả ước lượng cho thấy truyền dẫn không hoàn toàn tại Cộng Hòa Séc, một số loại lãi suất truyền dẫn hoàn toàn ở Hungary và tất các các loại lại suất được nghiên cứu truyền dẫn hoàn toàn lại Ba Lan
Hansen và Welz (2011) xem xét quá trình truyền dẫn từ lãi suất điều hành đến lãi suất thị trường và lãi suất bán lẻ tại Thụy Điển trước và trong cuộc khủng hoảng kinh tế
Trang 39năm 2007 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trước khủng khoảng, trong ngắn hạn, lãi suất điều hành truyền dẫn đến lãi suất thị trường khá cao Trái lại, trong giai đoạn khủng hoảng, mức độ truyền dẫn kém đi Khủng hoảng tài chính không ảnh hưởng trong ngắn hạn nhưng sẽ làm giảm mức truyền dẫn từ lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ trong dài hạn
Mô hình hiệu chỉnh sai số tiếp tục được Zulkhibri (2012) vận dụng để xem xét
sự truyền dẫn lãi suất thị trường tiền tệ sang các loại lãi suất bán lẻ khác nhau tại Malaysia Kết quả ước lượng cho thấy truyền dẫn lãi suất tiền gửi và tiền vay đều không hoàn toàn, tốc độ điều chỉnh bất đối xứng rõ rệt và khi mở rộng chính sách tiền tệ thì sẽ
có ý nghĩa thống kê hơn
Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến điều hành chính sách tiền
tệ Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về truyền dẫn chính sách tiền tệ thông qua kênh lãi suất còn chưa nhiều Hầu hết các nghiên cứu đều đã vận dụng mô hình mô hình hiệu chỉnh sai số để tính toán mức độ và tốc độ ảnh hưởng của lãi suất điều hành đến các loại lãi suất được các ngân hàng đưa ra Một số nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến như:
Nghiên cứu của Thịnh và Tuấn (2012) sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy (AutoRegressive Distributed Lag – ARDL), ECM để nghiên cứu về ảnh hưởng của truyền dẫn lãi suất không hoàn toàn trong dài hạn đến tính cân bằng xác định và ổn định kinh tế vĩ mô trong các điều kiện thị trường khác nhau, từ đó phân tích và áp dụng cho trường hợp Việt Nam Kết quả tính toán dựa trên số liệu trong thời kỳ từ năm 2000 đến năm 2012 cho thấy trong ngắn hạn có sự truyền dẫn cao từ lãi suất tái chiết khấu đến lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 1 năm, tuy nhiên, trong dài hạn thì mức độ truyền dẫn này sẽ giảm Sự truyền dẫn lãi suất tái chiết khấu đến lãi suất liên ngân hàng không đồng nhất và khá thấp trong ngắn hạn, tuy có cao hơn trong dài hạn nhưng vẫn chưa truyền dẫn hoàn toàn Lãi suất trái phiếu và lãi suất liên ngân hàng truyền dẫn đến lãi suất bán
lẻ của các ngân hàng ở mức thấp trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn lại khá cao và gần như hoàn toàn
Đ T T Hồng và Mạnh (2013) nghiên cứu cơ chế truyền dẫn từ lãi suất điều hành sang lãi suất thị trường rồi đến lãi suất bán lẻ tại Việt Nam và một số nền kinh tế mới
Trang 40nổi tại châu Á Nghiên cứu đánh giá tính đối xứng/bất đối xứng trong truyền dẫn lãi suất bằng mô hình ECM và xem xét tác động của độ bất ổn lãi suất, tính cứng nhắc trong quá trình điều chỉnh và hiệu ứng đòn bẩy lên truyền dẫn bằng mô hình ECM-EGARCH-M Nghiên cứu đi đến kết luận truyền dẫn lãi suất thị trường đến lãi suất bán lẻ là không hoàn toàn, với cơ chế truyền dẫn đối xứng hoặc bất đối xứng Trong một số trường hợp,
độ biến động lãi suất làm tăng biên độ truyền dẫn, nhưng cũng có một số trường hợp cho thấy kết quả ngược lại
Như đã trình bày, tuy có khá nhiều nghiên cứu về truyễn dẫn lãi suất trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng nhưng lại có rất ít nghiên cứu xem xét về tác động của trần lãi suất (được ban hành rồi bãi bỏ) đến truyền dẫn lãi suất Một số ít nghiên cứu điển hình có thể kể như:
Nghiên cứu của Chong (2010) về tác động của trần lãi suất đến hiệu quả của chính sách tiền tệ và độ cứng nhắc của lãi suất tiền gửi bán lẻ Sử dụng mô hình ECM cùng với dữ liệu về lãi suất tại Hồng Kông trong 25 năm (giai đoạn 1982 – 2007), nghiên cứu đi đến kết luận việc bãi bỏ các trần lãi suất sẽ cải thiện mối tương quan giữa lãi suất thị trường và lãi suất huy động của ngân hàng, đồng thời gia tăng mức độ truyền dẫn dài hạn đối với lãi suất này Mặt khác, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trong giai đoạn trần lãi suất tồn tại, những điều chỉnh về lãi suất huy động là cứng nhắc và không đối xứng Trái lại, khi các quy định này hết hiệu lực thì mức độ cứng nhắc sẽ giảm đi, đồng thời lúc này, chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất thị trường cũng giảm xuống
Li và Liu (2019) đánh giá hiệu quả quá trình truyền dẫn lãi suất trước và sau khi
tự do hoá lãi suất tại Trung Quốc bằng việc sử dụng đồng thời cả hai mô hình ARDL
và ECM Với các số liệu có liên quan trong giai đoạn từ 1995 đến 2017, kết quả ước lượng cho thấy sau khi tự do hoá lãi suất, truyền dẫn lãi suất có tốc độ nhanh hơn và thông suốt hơn (mức độ hoàn toàn tăng) trong cả ngắn hạn và dài hạn
Nghiên cứu của Bình (2013) xem xét ảnh hưởng của việc điều tiết lãi suất huy động lên hệ thống ngân hàng Việt Nam Nghiên cứu cũng sử dụng lại mô hình của Chong (2010) để đánh giá tác động của trần lãi suất huy động đến hiệu quả chính sách tiền tệ Kết quả ước lượng chỉ ra rằng: hiệu quả chính sách tiền tệ và cơ chế thi hành cũng giảm khi tồn tại trần lãi suất huy động Tuy khá tương đồng với đề tài, nhưng