Đó là Võ Tắc Thiên- “Nữ Hoàng đội vơngmiện” thời kỳ đỉnh điểm của xã hội phong kiến, Tây Thái hậu Diệp Hách NaLạp thị – “Nữ Hoàng không vơng miện” của vơng triều Mãn Thanh.. Vơng triều M
Trang 1Trờng Đại học Vinh
Từ Hy thái hậu và thái độ của bà đối với một số phong trào đấu tranh cuối
thế kỷ XIX
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
====Vinh, 2006===
Trang 2Trờng Đại học Vinh
Từ Hy thái hậu và thái độ của bà đối với một số phong trào đấu tranh cuối
Trang 3Lời cảm ơn
Trong quá trình su tầm và tiến hành nghiên cứu đề tài, Tôi xinchân thành cảm ơn thầy giáo, Thạc sỹ Bùi Văn Hào, giảng viên KhoaLịch sử Trờng Đại học Vinh cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong Khoa
đã hớng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khoá luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhng do hạn chế về trình độ và kinhnghiệm nghiên cứu nên đề tài này chắc chắn không tránh khỏi nhiềuthiếu sót Rất mong đợc thầy, cô và các bạn góp ý và giúp đỡ, để bảnthân tiến bộ và làm tốt hơn ở những công trình sau
Trang 4Mục lục
A Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 3
5 Bố cụ của đề tài 3
B Phần nội dung 4
Chơng 1: Vài nét khái quát về quá trình xác lập và suy tàn của vơng triều Mãn Thanh 4
1.1 Quá trình xác lập của vơng triều Mãn Thanh 4
1.1.1 Mãn Châu - nơi phát tích của vơng triều Mãn Thanh 5
1.1.2 Quá trình thống nhất và củng cố của vơng triều Mãn Thanh 6
1.2 Giai đoạn phát triển của vơng triều Mãn Thanh 9
1.3 Giai đoạn suy tàn và khủng hoảng của vơng triều Mãn Thanh 20
1.3.1 Nguyên nhân suy tàn và khủng hoảng của vơng triều Mãn Thanh .20
1.3.2 Quá trình duy tàn và khủng hoảng của vơng triều Mãn Thanh 22
Chơng 2: Vài nét khái quát về tiểu sử của Từ Hy Thái hậu 27
2.1 Vài nét về tiểu sử của Từ Hy Thái hậu 27
2.2 Quá trình tiến thân của Từ Hy Thái hậu 29
2.2.1 Quá trình xác lập vị trí trong cung cảu Từ Hy Thái hậu 29
2.2.2 Từ Hy Thái hậu với việc buông rèm nhiếp chính lần thứ nhất 32
2.2.3 Từ Hy Thái hậu với việc buông rèm nhiếp chính lần thứ hai 37
2.2.4 Từ Hy Thái hậu với việc buông rèm nhiếp chính lần thứ ba 43
2.3 Những năm cuối đời của Từ Hy Thái hậu 48
Chơng 3: Thái độ của Từ Hy Thái hậu đối với một số phong trào yêu nớc ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX 51
3.1 Thái độ của Từ Hy Thái hậu đối với phong trào Thái Bình Thiên Quốc 52
3.2 Thái độ của Từ Hy Thái hậu đối với phong trào Nghĩa Hoà Đoàn 57
3.3 Thái độ của Từ Hy Thái hậu đối với phong trào cuộc vận động Duy Tân và Chính Biến Mậu Tuất 63
Trang 53.4 Nhận xét chung về thái độ của Từ Hy Thái hậu đối với các phong trào
đấu tranh 68
C Kết luận 70 Tài liệu tham khảo 72
Trang 6A phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong số những nhân vật nữ đợc gọi là có tài trí, có thủ đoạn, ảnh hởng
đến lịch sử hơn 2000 năm của xã hội phong kiến Trung Quốc, có 2 nhân vậtquan trọng nhất và lừng lẫy nhất Đó là Võ Tắc Thiên- “Nữ Hoàng đội vơngmiện” thời kỳ đỉnh điểm của xã hội phong kiến, Tây Thái hậu Diệp Hách NaLạp thị – “Nữ Hoàng không vơng miện” của vơng triều Mãn Thanh
Vơng triều Mãn Thanh là vơng triều của một tộc ngời thiểu số, nhng
đến giai đoạn cuối thì quyền lực đã tập trung vào tay một ngời đó là Từ HyThái hậu
Từ Hy Thái hậu là một ngời đàn bà tàn bạo nhất Trung Hoa ở cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX Bà nắm quyền trị vì một quốc gia rộng lớn lúc 27 tuổi.Tuy không ngồi lên ngai vàng, nhng bà thực sự là vị Hoàng đế độc quyền củavơng triều Mãn Thanh Trên địa hạt chính trị, bà đã làm cho triêu đình MãnThanh run sợ khiếp đãm Bà phải đơng đầu với 6 cờng quố Anh, Nga, Mỹ,
Đức, Nhật, Pháp tấn công xâu xé đất nớc Bà luôn tỏ ra là một ngời mu lợc trídũng
Đến giai đoạn cuối của vơng triều khi mà trên con đờng suy tàn có rấtnhiều phong trào đấu tranh chống lại vơng triều đó là các phong trào kết tinhtrong Thái Bình Thiên Quốc, Nghĩa Hoà Đoàn, phong trào có xu hớng muốnvợt qua tầm thời đại, cuộc vận động Duy Tân Mậu Tuất Với mỗi phong trào,
Từ Hy Thái hậu có một thái độ và cách đối phó khác nhau
Nghiên cứu và đánh giá vai trò của Từ Hy Thái hậu trong giai đoạn cuốicùng của chế độ phong kiến Mãn Thanh và rút ra những bài học cần thiết vềviệc xây dựng tổ chức bộ máy Nhà nớc, giải quyết những nhu cầu cấp báchcủa quần chúng nhân dân, thiết nghĩ vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩathực tiễn, vì vậy mà tôi đã chọn đề tài: “Từ Hy Thái hậu và thái độ của bà đốivới một số phong trào đấu tranh cuối thế kỷ XIX" làm đề tài khoá luận tốtnghiệp
Trang 7nh công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Gia Phu - Nguyễn Huy Quý vớinhan đề : Lịch sử Trung Quốc cũng đã đề cập đến vơng triều Mãn Thanh kể từkhi thành lập đến lúc khủng hoảng của vơng triều…
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nên trên đã cơ bản góp phần làmsáng tỏ về lịch sử vơng triều Mãn Thanh từ khi xác lập đến lúc suy tàn Nhng
về cơ bản cha có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến thái độ của Từ HyThái hậu đối với các phong trào đấu tranh chống vơng triều Mãn Thanh cuốithế kỷ XIX Vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài này làm khoá luận tốt nghiệp củamình Hy vọng rằng trong quá trình nghiên cứu đề tài sẽ tạo cho tôi nhữnghiểu biết mới, đồng thời cũng cố thêm cho tôi vốn kiến thức làm hành trangcho công tác sau này Vì còn hạn chế ngoại ngữ nên tôi cha có điều kiện đểtiếp xúc tên tài liệu bằng tiếng Trung Quốc Nên trong khoá luận này tôi chỉ
đánh giá, nhìn nhận trên cơ sở tài liệu dịch và các tài liệu của các tác giải ViệtNam
Trang 84 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn t liệu chủ yếu slà các tài liệu nh văn học dịch, lịch sử Trung
Quốc thời cận đại…
4.2 Phơng pháp chủ yếu mà chúng tôi sử dụng là phơng pháp lịch sử và
phơng pháp lôgic Ngoài ra còn sử dụng các phơng pháp khác nh phơng pháp
so sánh, phơng pháp thống kê, phơng pháp su tầm t liệu, phơng pháp phântích…
ơng 1: Vài nét khái quát về quá trình xác lập, phát triển và suy tàn
của vơng triều Mãn Thanh
Ch
ơng 2: Vài nét khái quát về tiểu sử của Từ Hy Thái hậu.
Ch
ơng 3 : Thái độ của Từ Hy Thái hậu đối với một số phong trào đấu
tranh chống Mãn Thanh cuối thế kỷ XIX
Trang 9B Phần Nội dung
Chơng 1: Vài nét khái quát về quá trình xác lập, phát
triển và suy tàn của vơng triều mãn Thanh.
1.1 Quá trình xác lập của vơng triều mãn thanh
Triều đại Nhà Mãn Thanh là triều đại cuối cùng của nhà nớc phong kiếnTrung Hoa, kéo dài 267 năm (1644-1911), qua mời ba triều vơng đóng đô ởBắc Kinh Nếu nói đến “13 đời vua nhà Thanh” là kể từ khi họ ái Tân Giáp Lalập nớc Hậu Kim từ năm 1616 Nhng đến năm 1636 mới bắt đầu đổi quốchiệu là Thanh Sau đó, đến năm 1644, vua Thanh Thế Tổ Phúc Lâm mới vàotrong sơn Hải Quan, định đô ở Bắc Kinh, với t cách đầy đủ là một triều đạithay thế nhà Minh thống trị toàn bộ lãnh thổ đất nớc Trung Hoa
Nói “ 13 đời vua nhà Mãn Thanh” không chuẩn xác bằng nói “ 13 triềuvua nhà Mãn Thanh”, vì thực ra triều đại Mãn Thanh chỉ có 12 ông vua trị vì
đất nớc, trong đó có Hoàng đế Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực lập hai niênhiệu, trị vì hai vơng triều: Thiên Thông và Sùng Đức
Qua 13 vơng triều, với 12 vị hoàng đế xuất thân từ dân tộc Mãn, mộtdân tộc thiểu số của đất nớc Trung Hoa – trị vì đất nớc này trong 269 nămTriều đại Mãn Thanh đã có hai hoàng đế đợc xếp trong 10 vị hoàng đế nổitiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc (Hai ông cháu: Khang Hy và Càn Long);Những đại thần nổi tiếng hiền tài: Phạm Văn Trình, Lâm Trắc Từ… Nhữngthống soái nổi danh trí dũng: Tăng Quốc Phiên, Tạ Tôn Đờng,… những Tháihậu phù trì nhiều ấu chúa nh Hiếu Trang Văn, Từ Hy; những gian thần NgaoBái, Hòa Thân… những vơng phi tài sắc đa đoan: Hơng Phi, Trân Phi; Nhữngdanh s sớm đề xớng tân học và tây học: Trơng Chi Động, Lơng Khải Siêu;Những đại thần quan lại thanh liêm chính trực: Vu Thế Long, Lu Dung, TrịnhBản Kiều, Kỷ Hiểu Lam,…
Triều đại Mãn Thanh còn để lại cho kho tàng văn hóa phơng đông, vănhóa loài ngời những pho sách khổng lồ về bách khoa tri thức nh: “ Khang Hy
tự điển", “Tứ khố toàn th”; những di tích lịch sử văn hóa tầm cỡ quốc tế: Rừngvờn Hoàng gia Thừa Đức, Di Hòa Viên, …
Triều đại Mãn Thanh còn nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân long trời lở
đất “Thái Bình Thiên Quốc”, với lãnh tụ Hồng Tú Toàn – ngời đợc TônTrung Sơn đánh giá rất cao ngợi ca là “Phản Thanh để nhất anh hùng”
1.1.1 Mãn Châu - nơi phát tích của vơng triều Mãn Thanh
Trang 10Vùng Đông Bắc Trung Quốc sông ngòi ngang dọc, núi non tập trùng,phân bố ba hình nguyên lớn là Tam Giang, Tùng Nộn, Liễu Hà; Tài nguyênphong phú, đất đai phì nhiêu, từ xa đến nay là một bộ phận quan trọng củalãnh thổ Trung Quốc Từ thời xa xa một dân tộc cổ xa của Trung Quốc đã sinhsống ở đây và có quan hệ mật thiết với vùng Trung Nguyên Dân tộc này làmột chi của tộc Đông Hồ Trung Quốc cổ đại, thời kỳ Thiên Tần gọi là TúcChân, đã từng cống hiến vùng đất đó cho vơng thất Tây Chu Thời nhà HánTúc Chân đợc gọi là Âp Lâu, thời bắc Ngụy gọi là Vô Cát, thời Đờng gọi làMạt Hát, thời Liêu gọi là Nữ Chân, ngời Túc Chân luôn luôn sinh sống ở vùng
Đông Bắc Trung Quốc ngày nay Thời Nam Tống nớc Kim do bộ Hoàn Nhancủa tộc Nữ Chân dựng lên đã thống trị một nửa Trung Quốc, phía Bắc sôngHoàng Hà sau đó bị triều Nguyên lật đổ Thời kỳ nhà Minh tộc Nữ Chân ở
Đông Bắc đại thể chia làm ba bộ phận: Nữ Chân Đông Hải, Nữ Chân Hải Tây,Nữ Chân Kiến Châu Nhà Minh đặt Nỗ Nhĩ Cán đô ti ở hạ du Hắc LongGiang làm cơ quan quân chính địa phơng ở Đông Bắc, quản lý địa bàn, phíaBắc từ ngoài dãy núi Hng An Lĩnh, Phía Nam đến biển Nhật Bản Ba tộc NữChân và các tộc Đông Bắc đều thuộc đô ti này cai quản Nổ Nhĩ Cáp Xích(1559-1627), tức vua Thanh Thái Tổ, họ ái Tân Giác La, sinh ra trong một gia
đình quý tộc thuộc Nữ Chân Kiến Châu
Vua Thanh đầu tiên của Trung Hoa là Thuận Trị (Thái Tổ) Lúc vào BắcKinh ông mới 7 tuổi, mẹ ông bồng ông đặt lên ngai vàng, 15 tuổi ông có vợnhng chỉ mê một quý phi, 8 năm sau bà này mất, ông u uất, ít tháng sau ôngchết theo Sử gia cho rằng ông bị thần kinh suy nhợc, việc nớc do một thân v-
ơng (chú ông) làm phụ trách quyết định hết triều chính, nhờ vậy có kỷ cơng
1.1.2 Quá trình thống nhất và củng cố của vơng triều Mãn Thanh
Việc đầu tiên nhà Thanh làm khi vào Bắc Kinh là cấm quân lính xâmnhập nhà dân, cải táng vua T Tôn, ông vua đã tuẫn quốc ở núi Lôi Sơn, pháttang, hạ lệnh cho quan dân để tang 3 ngày; viên thái giám Vơng Thừa Ân tuẫnnạn cũng đợc chôn ở bên lăng T Tô Những ngời tuẫn nạn khác đợc thờ chungtrong một ngôi đền Biện pháp đó sáng suốt cho ngời Hán thấy rằng nhàThanh không muốn chiếm nớc của nhà Minh mà chỉ có ý dẹp bọn giặc Lý TựThành, cứu khổ cho dân chúng Dĩ nhiên nhiều ngời cho là giả dối, nhng hành
động đó có vẻ văn minh, hợp với đạo Nho, ngời Mãn già tâm lý hơn ngờiMông
Trang 11Nhà Thanh còn trng dụng cựu thần của nhà Minh, dùng cả hai thứ chữHán, Mãn, coi trọng văn hóa Hán, nhng hậu duệ của nhà Minh thì họ tìm cáchdiệt cho hết Để lấy lòng dân Hán, họ tha cho một số tội nhân, bỏ một số thuế
hà khắc quá, những kẻ cô quả, không có phơng tiện mu sinh đợc họ giúp đỡ
Hồi quân Mãn mới vào Trung Quốc, chúng chiếm đất của dân, vạchkhu để quản lý, triều đình ra lệnh cấm tuyệt, bắt trả lại cho dân
Họ cũng không hơn Mông Cổ, lập lại ngay khoa cử để lung lạc kẻ sĩ.Một số đỗ đạt đựơc bổ dụng, nhng họ thận trọng cha tin hẳn, mới đầu chỉ chongời Hán phụ tá, ngời Mãn thôi, mà ngời Mãn không cần thi cũng đợc làmquan
Đó chính là dùng chính sách ân huệ để vỗ về, chính sách dùng y để đàn
áp cũng tàn nhẫn lắm, cũng nh ngời Mãn, họ cấm hai dân tộc Mãn – Hán kếthôn với nhau,bắt ngời Hán phải dùng y phục của Mãn, phải cạo đầu dắt bímtóc nh Mãn, thời Nguyên ngời Hán phải để hai bím tóc thẳng suống dới giữa l-ng; ngời nào không tuân lệnh thì bị chặt đầu Ngời Hán lấy vậy làm tủi nhục,mới đầu nổi lên phản kháng
Ngoài ra còn lệnh cấm lập làng xã (đoàn thể), lập hội, kẻ nào có giọngphản Thanh trong sách vở thì bị chặt đầu
Trong ba bốn chục năm đầu, nhiều đại địa chủ, và kẻ sĩ giữ thái độ bấthợp tác, hoặc vào rừng ở ẩn nh đầu đời Nguyên hoặc dắt díu nhau bỏ quê hơng
ra nớc ngoài làm ăn
Nhng qua các đời sau, Khang Hy, Càn Long, tinh thần phản Thanhgiảm đi vì thấy ngời Mãn coi trọng văn minh Trung Hoa, đồng hóa với ngờiHán, và qua thế kỷ XIX thì cơ hồ không còn sự kỳ thị giữa ngời Hán Và Mãnnữa, nhiều ngời Hán nh Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chơng đã giúp cho triều
đình Thanh vững lại
Sau khi quân Mãn Thanh chiếm đợc Nam Kinh, Phúc Vơng tự tử, sựkháng chiến của Tôn Thất nhà Minh còn tiếp tục mặc dầu yếu ớt Kế tiếpPhúc Vơng là ba vơng nữa: Lỗ Vơng Nội ở Chiết Giang, Đờng Vơng khángchiến ở Phúc Kiến và Quế Vơng ở Quảng Đông, Quảng Tây Họ đều có dũngcảm, đựơc dân chúng ủng hộ, nhng thực lực không có gì, nên chỉ trong mấy năm,
ông thì chết vì bệnh, ông thì bị Thanh bắt, và nghĩa quân cứ phải lùi dần về phíanam, Quế Vơng chống cự lâu hơn cả, Mãn Thanh phải đem đại đổi binh mã tấn
Trang 12công toàn diện Ông lùi về Quảng Châu, rồi Vân Nam, sau cùng vô Miến Điện.Tam quốc bị giết 1862 đầu đời Khang Hy.
Cuối cùng chỉ còn Trịnh Thành Công, một viên tớng của Đờng Vơng,dắt bộ hạ qua Đài Loan, tiếp tục kháng chiến Ông ta hô hào các chí sĩ ở miềnduyên hải từ Chiết Giang tới Phúc Kiến phản Thanh phục Minh Từ 1624 nhàMinh đã cho ngời Hà Lan lập ở đó vài căn cứ để buôn bán, mà cũng để khốngchế bọn hải tặc Nhật Bản Lực lợng của Trịnh Thành Công khá lớn, đuổi ngời
Hà Lan đi, chiếm lấy đảo (rộng bằng một tỉnh Trung Hoa), khai thác tínhchuyện lâu dài Chẳng may ông chết, con còn nhỏ lên nối ngôi Nhà Thanhthừa dịp đó, một mặt bắt dân ở ven biển Phúc Kiến phải rời sâu vào trong lục
địa để không tiếp tế đợc cho họ Trịnh; mặt khác nhờ hải quân Hà Lan tiếp sức,chiếm đợc Đài Loan năm 1683 (Khang Hy) Tới đây Mãn Thanh mới bình
định song Trung Hoa – cứ mỗi lần một nhóm phản Thanh bị diệt thì lại cóhàng trăm ngời tuẫn quốc Đó là một đặc điểm của một dân tộc thấm nhuần
đạo Khổng Trớc sau có cả ngàn ngời
Đầu đời Thuận Trị, nhà Thanh dùng 3 tên hán gian để dẹp loạn trong
n-ớc, phong cho chúng tớc Thiên Vơng Có thế lực nhất là Ngô Tam Quế đợcphong làm Bình Tây Vơng ở miền Tứ Xuyên; còn hai tên kia đợc phong làmBình Nam Vơng, Tĩnh Nam Vơng, có nhiệm vụ bình định Miền Nam
Ngô Tam Quế vẫn ức nhà Thanh phòng lấy ngôi báu Trung Hoa, bất
đắc dĩ phải tuân lệnh họ đi dẹp Lí Tự Thành ở Sơn Tây, rồi bình định miền TứXuyên Hắn lập đợc nhiều công cho Thanh, nhng vẫn thầm nuôi cái ý chiếm
cứ một phơng, thành lập một quốc gia độc lập, không chịu sự thúc phợc củatriều đình Thanh
Năm 1677, hắn phất cờ khởi nghiã ở miền Đông Bình Hồ, dùng khẩuhiệu “Hng Minh thảo lỗ” (dẹp giặc để phục hng nhà Minh), nhng tội y nhiều
và nặng quá, dân chúng không ai theo, coi hắn là một tên “tành” (ngời bị cọp
vồ thành quỷ, cọp sai về bắt đồng bào) rồi hai Phiên Vơng lần lợt hàng nhàThanh hết, quay lại tấn công hắn, hắn hoá cô độc bỏ khẩu hiệu “phục Minh”
mà xng đế, chẳng bao lâu sau bị bệnh chết (1676) Hắn chết đi Khang Hy tìmcách giết luôn cả hai Phiên Vơng kia Triều Thanh củng cố hoàn toàn
1.2 Giai đoạn phát triển của vơng triều mãn thanh
Cũng nh nhà Nguyên, Mãn Thanh mới đầu không mong đợc gì ngờiHán ủng hộ, nên trông cậy nhiều nhất vào bộ tộc mình và phần vào một số bộ
Trang 13tộc anh em với mình nh Mông Cổ, nhng Thanh không hơn Nguyên, khéo dùngngời Hán, vậy là hộ dùng cả Mãn, Hán, Mông, mà có hạn định.
Các chức vụ lớn ở triều đình luôn luôn giao cho 2 ngời: 1 Mãn, 1 Hán.Sáu bộ thị mỗi bộ đều có một Thợng th ngời Hán, 2 thị lang ngời Mông, 2 thịlang ngời Hán
Do đó, phải dùng nhiều thông ngôn trong nội các và lục bộ Hai ngônngữ Hán, Mãn đều đợc dùng cả, và một số ngời Hán thi đậu tiến sĩ đợckhuyến khích học thêm tiếng Mãn tại một viện Hàn Lâm Ngời Mãn cũng đợckhuyến khích học chữ Hán Tới khoảng 1670, nhiều cơ quan không cần cóthông ngôn nữa và khoảng 1883 thì không còn Tiến sĩ Trung Hoa và học thêmtiếng Mãn nữa Vua Khang Hy cho soạn bộ tự điển mang tên ông (Khang Hy
tự điển) để giúp ngời Mãn, nhng khi soạn xong thì ít khi họ dùng tới
Thanh theo Mãn áp dụng chính sách Trung ơng tập quyền, không đặtchức tể tớng, bao nhiều quyền đều do vua nắm hết, thành thử các loại đại học
sĩ ở nội các và các đại thần ở lục bộ chỉ là những kẻ thừa hành theo mệnh lệnhcủa Hoàng đế gởi cho một viên quan nào thì gởi thẳng cho viên quan ấy đểchuyển giao; Các quan thợng th cầm đầu các bộ cũng không đợc trực tiếp ramệnh lệnh cho cấp dới; 12 thợng th và 24 thị lang của 26 bộ đều có thể trựctiếp tâu riêng với vua, ngời này không biết ngời kia tâu gì vậy là thợng th hoàntoàn không có chút trách nhiệm gì cả Thời đầu vua Khang Hy, Ung Chính,Càn Long đều cần mẫn, mà việc nớc cũng ít rắc rối, nên cũng có thể áp dụngchính sách đó đợc, về sau chắc phải châm chế nhiều
Một điểm đặc biệt là nhà Thanh không lập Thái Tử nh các triều trớc;Vua Thuận Trị là lâm thời tôn lên, chứ không định trớc Vua Khang Hy lênngôi di chiếu; ông có 35 Hoàng tử (không biết bao nhiêu công chúa) và khi
ông theo lệ Trung Hoa, lập Thái tử thì các Hoàng tử ghen ghét, kích bè đảngkhuynh lát, mu hại có một lần Hoàng Tử Jun Jeng (Doãn Dung) tính giết cảvua cha, Khang Hy kể tội với các quân rồi lăn xuống đất khóc lóc (Năm đó
ông trị vì đã 50 năm)
Thấy chế độ lập Thái tử tai hại nh vậy, hai lần ông lập Thái tử rồi hailần phế đi Khi ông chết Ung Chính đợc sự ủng hộ của quân đội mà lên ngôi,tức là loạn nổi lên trong anh em, họ tranh giành ngôi vua với ông, ông phảigiết hết những kẻ đó, và quyết làm bộ lễ lập Thái tử Ông lựa một ngời chocon sau này kế vị, viết tên, bỏ vào trong một hộp phong kín, cất một nơi trong
Trang 14cung, đến khi lâm chung bảo các đại thần mở ra xem mà thi hành Ngời kế vị
ông là Càn Long Các vua sau đều theo cách ấy, trừ vua Đồng Trị Cái lệ lậpthái tử, chẳng kể t cách tài năng ra sao, cứ con lớn của dòng họ chính là đợclên ngôi, cái lệ đó do chế độ tôn pháp từ đời Chu tới đầu Thanh, trên 2500năm, mới đợc một ông vua Mãn hủy bỏ Cải cách đó đáng kể là một tiến bộ,
đời Thanh chỉ có một vài ông vua bất tài, vô hạnh,ít hơn các đời trớc nhiều lànhờ vậy Nhng cái của chế độ truyền tử chứ không truyền hiền,vẫn còn nặnglắm
Chính chế ở các địa phơng (18 tỉnh) thì theo nhà Minh không có gì thay
đổi
* Khoa cử: vẫn theo nhà Minh, dùng văn bát cổ để tuyển nhân tài
* Binh chế: Quân đội phân biệt hai hạng: kì binh và doanh binh Kìbinh (kì là cờ) mội đoàn có một màu cờ, dùng cả ngời Mãn, ngời Mông, ngờiHán, có nhiệm vụ giữ kinh sử và xuất chính, họ đơc luyện tập kĩ hơn hết
* Doanh binh thờng dùng để trấn áp nội loạn Các viên đô thống, tớng
dù kì binh hay doanh binh mới đầu đều là ngời Mãn, gần cuối triều đại mớidùng ngời Hán
+ T pháp: Pháp luật thời Thanh đại thể theo thời Minh Nhng dĩ nhiên làbất bình đẳng nh nhà Nguyên Ngời Mãn đợc nhiều đặc quyền nhất, ngời Hánthấp nhất
+ Tông thất và kĩ nhân (ngời Mãn) do những cơ quan riêng xét xử và
Ngoài các thứ thuế cũ: Muối, đánh cá, trâu, ngựa … còn đặt ra thuế “likim” hồi giặc Thái Bình đánh vào hàng hóa chuyên chở ra các tỉnh, “thuếquan” đánh vào hàng hóa qua các cửa quan, và thuế hải quan đánh vào hànghóa từ nớc ngoài vào
- Khang Hy (Thánh tổ 1662 – 1722)
Trang 15Nhà Mãn Thanh may mắn đợc 3 ông vua giỏi nối tiếp nhau cầm quyền,tạo nên một thời thịnh trị dài trên 130 năm.
Khang Hy lên ngôi năm 8 tuổi, trị vì 61 năm, nhng 13 tuổi mới thực sựcầm quyền Ông thông minh, tài hoa, học rộng, cẩn thận, sống giản dị, tínhtình khoan hòa, mà lại can đảm, cầm quân giỏi, sứ giả Trung Hoa ví ông với
Lí Thế Dân tức Đờng Thái Tôn còn các học giả Phơng Tây cho rằng triều đạicủa ông rực rỡ nh triều đại Louis XIV, đồng thời với ông (1638 – 1715) ôngrất trọng văn minh Trung Hoa, đợc nhiều cảm tình của sĩ phu Trung Hoa.Chính ông cũng giỏi chữ Hán
Ngoài bộ Khang Hy tự điển, ông còn cho thu thập biên soạn ba chụcloại sách nữa, đặc biệt là toàn bộ tác phẩm của Chu Hy mà ông ngỡng mộ, và
bộ “Khai định đồ thủ đại tập thành” gồm 1 vạn quyển, 100 triệu chữ, sau khi
ông chết mới in xong (1828) chia làm 5000 tập Cha có một ông vua Hán nào
vị thần thờ Khổng Tử để tỏ lòng ngỡng mộ một đại thần luân lí già vậy thôi
Họ cũng không cấm thờ phụng tổ tiên nữa, vì cúng vái ông bà cha mẹ đãkhuất là tỏ lòng nhớ ơn các ngời, kính trọng các ngời nh khi các ngời đangcòn sống Khang Hy rất có thiện cảm với Kitô giáo, giao các Hoàng tử cho tu
sĩ dòng tôn dạy dỗ, có hồi ông còn muốn theo đạo Kitô nữa với một số điềukiện nào đó
Sau Khang Hy các vua khác đều tấn công mạnh mẽ Kitô giáo vào đầuthế kỷ chúng ta, Trung Hoa chỉ có 3 triệu tín đồ (không bằng nửa % dânchúng) trong khi phật giáo có không biết mấy trăm triệu tín đồ
Dòng tên đã thất bại trong việc truyền bá giáo Trung Quốc nhng đã cóvới văn hóa Các tu sĩ dòng đó đều là những nhà bác học khoáng đạt, có tinhthần học hỏi, có óc khoa học, họ soạn sách giới thiệu văn minh Trung Hoa vớingời Âu và nhờ họ mà ngời Âu biết một nền văn minh rực rỡ khác hẳn vănminh Kitô giáo
Trang 16Vua yêu dân, không can thiệp vào đời của dân, nhng nếu làm bậy thì sẽ
bị dân lật đổ, trong gia đình con quý trọng cha, vợ nghe chồng, đáng khen nhất
là xã hội rất bình đẳng, không có giai cấp quý tộc cha truyền con nối, ai giỏi, aithi đậu thì cũng có thể làm quan đợc, mà quan có quyền can gián vua, kiểmsoát vua nữa Khang Hy rất quan tâm đến vấn đề trị thủy, đích thân thị sát đê
điều và trong đời ông không bị nạn lụt nào tai hại của sông Hoàng Hà
Ông noi gơng Tần Thủy Hoàng, sáu lần tuần du miền Nam (ChiếtGiang) để xem xét dân tình, bốn lần tuần du phơng Bắc, ngoài biên giới
Về võ công, ngoài việc dẹp đợc ba Phiên Vơng, chiếm lại đơc ĐàiLoan, ông còn dẹp đơc loạn ở Trung á, mở mang thêm bờ cõi
Ung Chính ngoài 40 tuổi mới chiếm ngôi, sau khi giết hại anh em, vàtrong 43 năm cầm quyền ông dùng chính sách pháp gia (Hàn Phi, Lí T… đờiTrần) thủ đoạn rất cao, diệt hết kẻ chống đối, ức chế Tôn Thất, đặt ra một cơquan mật vụ dò xét kẻ gian, giám sát quan lại, nhờ vậy ở triều không có kẻlộng hành, lộng quyền, mà trong nớc bọn ô lại cũng ít
Ông đa nghi thù dai nhng biết dùng ngời Biết lo cho đời sống của dân,thủy lợi, giảm thuế Dân chúng tuy chê ông giả dối, tàn nhẫn, nhng không oánghét ông Thấy các tu sĩ Kitô giáo (Dòng tên và các dòng khác) âm mu,khuynh loát nhau, ông cấm đạo ở khắp nơi, từ Bắc Kinh ba trăm giáo đờng bịphá Nhng ông rất siêng năng, cần kiệm, và cuối đời ông, quốc khố còn dnhiều
đợc hởng di sản lớn của Khang Hy và Ung Chính vì hai ông này đều giỏi vềtài chính không phung phí
Ông giữ ngôi rất lâu, 60 năm, gần bằng Khang Hy (61 năm), có khoáng
đại, nhân từ, miền nào mất mùa thì ông giảm hoặc tha thuế, sau lấy thóc trongphẩm của triều đình để phát chuẩn, vì vậy dân bất kỳ là Mãn, Hán, hay Mông
Trang 17đều quý ông và cuối đời ông thì cả ba giống ngời đó đều dung hợp với nhauthành ngời Trung Hoa hết.
Chính ông cũng thành ngời Hán, nói tiếng Hán, làm văn thơ Hán nh các
đại thần Hán
Ông noi gơng Khang Hy, triệu tập các nhà bác học hồng nho và những
ẩn sĩ ở Sơn Lâm, đợc 3000 ngời trên 60 tuổi, đãi một bữa yến cho một ngàn vịgià nhất
Ông mời các học giả lại Kinh đô để biên soạn những bộ sách lớn về sửhọc, văn học, y học, luật học nh Đại Thanh hội điển, Đại Thanh luật lệ, ĐạiThanh nhất thống chí, Y tôn kim giám… vĩ đại nhất là bộ Tứ Khố toàn th,giao cho Ky Quân điều khiển
Hàng trăm độc giả, văn nhân cộng tác trong mời năm thu thập hếtnhững sách cổ, bất kỳ về loại gì (văn học, sử học, triết học, địa lý, âm nhạc, yhọc, nông nghiệp, rồi tuyển lựa đợc 79.070 quyền, chép làm 7 loại: kinh, sử,
tử (tác phẩm của các triết gia trạng nhì), tập (thơ văn)… mỗi loại chứa riêngmột kho, do đó có tên là tứ khố (bốn kho)
Mỗi bản để ở một nơi: Bắc Kinh, Phụng Thiên, Hoàng Châu, DơngChâu… khi liên quân Anh pháp vào Bắc Kinh, họ chở đi một bản, vì loạn lạc,hai bản nữa bị đốt, hiện nay chỉ còn 4 bản Nhà Thơng Vụ ấn th quán ở ThợngHải bắt đầu in bộ đó thì tiếng nổ súng ở L Cầu Kiều, mở màn cho một cuộcchiến tranh kéo dài tới 1945 và công việc phải bỏ dở Khắp thế gian cha có bộsách vĩ đại nào nh vậy
Càn Long cho soạn bộ đó tuy có công bảo tồn văn hóa Trung Hoa nhngcũng nhằm một mục đích nữa: Tiêu hủy những sách có t tởng dân tộc vô tìnhhay cố ý phản Thanh, tất cả tới 1862 bộ chia làm 538 loại, nhiều nhất là chính
sử, dã sử đời Minh Ông khôn hơn Tần Thủy Hoàng
Nhng cái học văn tự đời Thanh còn khiếp lắm Sử chép trong trờng hợp
70 ngời soạn bộ Minh sử, trong đó một đoạn viết về vụ Mãn Châu chiếmTrung Hoa có giọng ai oán chứ không vui vẻ, hăng hái, tác giả lại quên kị húyghi chép tên các vua Thanh, họ lại chết rồi, bị quật mả lên mà những ngời lựa,duyệt lại, chép lại bộ đó cũng bị chém vì tội phản Thanh
Ông tự hào về “thập toàn võ công” (mời võ công kết quả hoàn toàn) của
ông, Khang Hy, Ung Chính đã tích lũy đợc nhiều tiền, ông dùng số tiền đó để
mở mang biên cơng
Trang 18Dân số Trung Quốc tăng lên nhiều, đất đai khai khẩn gần hết rồi, tìnhthế bắt buộc phải kiếm thêm đất để di dân Các triều đại trớc đều di dân vềphía Nam, khi miền này không thể tiếp thu thêm đợc nữa, nhà Thanh mới phảinghĩ tới việc di dân lên miền Bắc.
Miền Bắc là đất của Mãn và Mông Đất của Mãn, ngời Mãn không chongời Hán vô, vậy chỉ còn đất của Mông Cuối đời Ung Chính và đầu đời CànLong, chỉ trong mấy chục năm mà 25 triệu ngời Trung Hoa di c lên phơng Bắcchiếm đất của ông, do đó xảy ra nhiều xung đột giữa Hán, Mông ở Turkestan(Tân Cơng)
Càn Long đem quân lên dẹp Hai lần thắng bộ lạc Chuẫn Cát Nhĩ, bộlạc mạnh nhất của Mông Cổ, một lần bình định đợc bộ lạc Hồi ở Tây Vực
Ông gom đất của hai bộ lạc đó lại đặt tên là Tân Cơng, phái một đại thần tớithống trị (1759)
Phía tây biên cơng tỉnh Tứ Xuyên có hai bộ lạc đại Kim Xuyên và TiểuKim Xuyên thờng quấy rối Trung Quốc, ông hai lần xuất chinh để dẹp (1772
và 1776) Đất đó xa xôi, dân tha, chỉ với 3 vạn hộ (khoảng 15 vạn ngời) mà
ông phải dùng đến 8 vạn binh mới bình định đợc Trong lịch sử nhân loại, cha
có cuộc viễn chinh nào tốn kém nh vậy
Đài Loan từ đời Khang Hy đã dẹp xong rồi nhng đời Càn Long vẫn còngiữ đám giặc cỏ, ông cũng đem quân vợt biển diệt hết
Đời Ung Chính mở rộng biên giới đến Quỳ Châu, thế dân ở đó là ngờiMiến đợc đãi nh ngời Hán, nhng sau vì quan lại thu thuế hà khắc, họ nổi loạn,Càn Long lại phải dùng binh dẹp
Năm 1766, viên tổng đốc Vân Nam, đề nghị đánh Miến Điện vì họ ờng quấy rối và vì không chịu đợc lam chớng, mấy lần hao quân tốn tớng, nh-
th-ng sau Miến cũth-ng xin hòa, Thanh trả lại đất đã lấn, rút về Từ đó Miến cứ 10năm phải cống một lần
Miến chiếm Xiêm, một ngời Hoa kiều là Trịnh Chiếu mộ kẻ đồng chí
đuổi đợc quân Miến, dời đô về Băng Cốc, dựng lại nớc, sai sứ sang TrungQuốc vua Thanh phong làm Xiêm La vơng Từ đó ngời Trung Hoa qua Xiêmlàm ăn càng ngày càng đông, hiện nay thành chỗ phát đạt nhất của Hoa kiều ởhải ngoại
Càn Long cũng can thiệp vào nội bộ Việt Nam nữa
Trang 19“Thập toàn võ công” đó không có gì đáng gọi là oanh liệt nhng kết quả
là mở rộng đất đai của Trung Quốc và đế quốc Thanh, là lớn hơn hết thảy cácthời trớc (trừ thời Nguyên)
Nhng lợi thiết thực thì cha thấy, chỉ thấy hại lớn cho tài chính nhàThanh Phải đa quân đi rất xa, từ Bắc Kinh lên phía Bắc, qua Mông Cổ, tới Chi
lê phải lập đồn ở đó tiếp vũ khí, lơng thực, cứ mỗi lần “thạch” khoảng 30kilôgam, tốn 120 đồng tiền bằng bạc Từ 1781 – 1791 cuối đời Càn Long,trên 30.000 tấn hàng hóa chở lên miền Tân Cơng đó, trung bình mỗi ngày 6tấn, tính ra tốn biết bao nhiêu bạc Nội việc chở lơng thực cũng mất 100 triệu
đồng bạc trong thời gian đó Phải kể thêm những hàng hóa khác nữa, phải trảlơng quan lại và quân lính nữa Tính nh vậy là trong thời chiếm đóng, tạm thờiyên ổn Khi có chiến tranh, phí tổn nặng gấp mấy lần nữa Bao nhiêu của cảihai đời Khang Hi và Ung Chính dành dụm đợc, đổ vào những trận ở phía Bắc,
và phía Tây, tây Nam hết Cuối đời Càn Long quốc khố khánh kiệt Tai hạihơn nữa là những trận đó làm cho Trung Hoa đụng đầu với những nớc Tây ph-
Các vua Trung Hoa thời nào cũng tự hào rằng nớc mình rộng lớn nhấtthế giới, dân tộc mình văn minh nhất thế giới, nhất là Càn Long, ông vua có
“thập toàn võ công” càng tự phụ rằng đánh đâu thắng đấy, không dân tộc nào
địch nổi với mình, mà khi ông tiếp xứ thần nớc nào tức là ban ơn cho nớc đó,chứ ông không cần kết thân với nớc nào cả
Trang 20Backhouse và Bland trong Les Em pereursmand – Chaus – payot –
1964 khen Càn Long sống đạm bạc, giản dị nhng theo Eberhard ông có tậtxây cất nhiều cung điện lộng lẫy, vì ông muốn triều đại của ông cái gì cũnglớn lao từ võ công đến công trình văn hóa; soạn sách, lập th quán, th khố, kiếntrúc, đãi yến các bô lão
Một nhợc điểm nữa của Càn Long là hồi 75 tuổi ông quá tin cậy mộttên vệ úy, 25 tuổi gần nh vô học, chịu ảnh hởng tai hại của hắn, hắn tên là HòaThân Đợc ông phong làm Đại học sĩ kiêm Lại Bộ Thợng th, gần nh Tể tớng(đời Thanh không dùng Tể tớng, cũng chuyên chế nh đời Minh) Thông minh,khôn khéo, mu mô hay điểm chỉ, hắn nắm đợc hết chức vụ lớn trong triều, cócon gái đính hôn với một hoàng tử nên hắn nói gì Càn Long cũng nghe, triềuthần ai cũng sợ hắn – Bọn tay chân của hắn ở triều và khắp các tỉnh muaquan bán chức, cớp bóc dân chúng, đem về dâng hắn Hắn xây cất dinh thựccao đẹp hơn cung điện của vua, chứa nhiều bảo vật hơn kho của vua nữa
Càn Long vừa nằm xuống cha kịp chôn thì Gia Khánh kế vị, bắt giamhắn liền, tịch thu gia sản, xử hắn tội giảo (thắt cổ), hắn thản nhiên can đảmnhận hết tội, còn bảo sẽ đợc xuống hoàng tuyền thờ chủ cũ nữa Nhng hắn chỉkhai một phần gia sản (67 triệu lạng bạc, 2700 lạng vàng, 456 hồng ngọc, 114lam ngọc, 56 chuỗi ngọc trai (thực ra là 200)) Bị tra hắn mới khai chỗ chôngiấu, cuối cùng gia sản hắn là 900 triệu lạng bạc, ấy là cha kể hàng ngàn bảovật lặt vặt khác nh chén dĩa, áo giả lông, đồ đạc… 23 tiệm cầm đồ và 13 tiệmbán đồ cổ để các em hắn đứng tên
Thời đó mà có đợc một gia sản nh vậy (có ngời bảo vua Luis XIV cũngkhông bằng) thì thật là không tởng tợng nổi
Sự thối nát, tham nhũng của quan lại Trung Hoa đến đời Thanh đạt đến
kỷ lục, nó đánh dấu sự suy sụp sắp tới của chế độ quân chủ
Tại sao Mãn Thanh thành công?
Phải nhận rằng Thực dân Mãn Châu đã thành công lớn Trong lịch sửthế giới, không hề có một trờng hợp nào nh vậy: Một dân tộc chiếm đợc nonsông một dân tộc khác đất rộng và dân đông ít nhất là gấp 50 lần dân tộcmình, văn hóa vào bậc thầy mình, làm chủ đợc trên hai trăm rỡi năm, giúp dântộc đó phát triển thêm về lãnh thổ, văn hóa, thực dân giỏi nhất của Phơng Tây,dân tộc Anh cũng không so sánh đợc Ngời Mãn có đủ dân để đóng đồn, cầm
đầu các cơ quan hành chánh, nên họ giữ đợc địa vị chủ nhân Nhng chũng nh
Trang 21bọn thực dân Âu ở thế kỷ XIX, thuộc địa của họ là một gánh nặng cho họ, rốtcuộc họ kiệt sức lực, mà ngời Hán vẫn ngoi lên đợc.ss
Trung Hoa cả dới đời Thanh, vẫn do ngời Trung Hoa cai trị tới 90%,chế độ Thanh không hoàn toàn là của Mãn, mà là một chế độ tổng hợp Mãn– Hán, và ngời Mãn sở dĩ nắm đợc quyền là vì họ Hán hóa, thành ngời Hán.Hai thuyết trên đều đúng một phần mà không trái ngợc nhau
Tác giả East Asia – The Great trađition đa thêm những lí do sau:
Chế độ Trung Hoa đời Thanh (nhất là đời Minh) là chế độ quân chủchuyên chế Vua nắm hết quyền và dùng một số quan lại, dân chúng đại đa số
là nông dân miễn đợc yên ổn hàng năm, có đủ cơm ăn áo mặc, không phải è
cổ ra đóng thuế tới nổi phải bán ruộng đất, bán vợ đợ con, là sung sớng rồi,
dù ngời Hán, ngời Mông, ngời Mãn, ai cầm quyền cũng đợc Mà triều đìnhcũng ít can thiệp vào đời sống của dân, miễn họ nộp thuế đủ là để yên cho họ.Trong làng không có hay có rất ít nhân viên của triều đình
Tuy nhiên triều đình cũng kiểm soát nhân dân chặt chẽ lắm, nhờ thuậtcủa Thơng Vơng đời Chiến Quốc, Thơng Vơng bị dân ghét và chết không toànthây, nhng chính sách bắt một số gia đình phải kiểm soát lẫn nhau nếu có kẻgian thì liên đới chịu tội, các đời sau đều coi tùy thời mà sửa đi một chút ĐờiHán có Vơng Mãng, đời Tống có Vơng An Thạch có bảo giáp… đời Thanh
nh trên đã nói, có lí giáp, mà ngày nay cả Trung Đông lẫn Việt Nam đềutheo, chỉ đổi tên thôi Thơng Ưởng đáng coi là chính trị gia tài giỏi nhất thếgiới, ảnh hởng của ông ta kém gì ảnh hởng của Khổng Tử, mà công của ông tavới vua chúa Trung Hoa có thể còn lớn hơn công của vị “vạn thế s hiểu” nữa
Mãn Thanh có lí giáp, lại có cả Bảo Giáp, vừa kiểm soát đợc nhân dânvừa phải dùng bọn quan lại để thu thuế Và cũng nh đời Nguyên, họ bắt nhànào có kẻ bất hiếu, biếng nhác, ăn cắp ăn trộm, chống đối triều đình phải ghitên vào một cái bảng treo trớc cửa Nh vậy là triều đình có hàng triệu công anmật vụ mà khỏi trả lơng Nhng Thanh hơn Nguyên mà giống Minh ở chỗ biếttheo lời Khổng Tử, giáo dân Khang Hi cũng nh Chu Nguyên Chơng ban hànhmột sắc lệnh gồm 16 câu 7 chữ dạy dân phải hiếu đễ, cần, kiệm, tuân lệnhtriều đình, nạp thuế đúng kì… sắc lệnh đó mỗi tháng hai lần, một vị quanhoặc một kẻ sĩ trong làng phải họp nhân dân lại để giảng cho họ, nhắc nhở họ.Một học giả Âu khen ngời Trung Hoa tổ chức xã hội giỏi hơn ngời La Mã
Đúng lắm Vua Thanh ít nhất cũng khôn hơn Giáo hoàng La Mã, họ không dại
Trang 22dột động đến đạo Khổng mà còn coi trọng, thực tâm trọng nó nữa Họ đợclòng dân tộc Trung Hoa, thành công hơn ngời Mông Cổ là phải Chỉ trong mộtthời kì họ đã đồng hóa với ngời Trung Hoa cho là nhục nhã thì phần lớn họcho là quốc hồ quốc túy, đến nổi sau cách mạng Tân Hợi (1911) Thanh bị lật
đổ rồi bọn thanh niên tân tiến Trung Hoa hô hào cắt bỏ đuổi vua đi, thì dânquê nhiều nơi không chịu Bản chất loài ngời là đất sét hết, một chính quyền
đứng vững đợc vài trăm năm mà kiên nhẫn, kiên quyết thì muốn “nặn” dân rasao tùy ý, muốn thành loài chồn, loài cáo, hay loài kiến, loài ông cũng đợchết Đó là một bài học lịch sử chăng?
1.3 Giai đoạn suy tàn và khủng hoảng của vơng triều mãn thanh
1.3.1 Nguyên nhân suy tàn và khủng hoảng của vơng triều Mãn Thanh
Cuối thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Mãn Thanh đi vào khủng hoảng vàsuy tàn Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến sự khủng hoảng và suy tàn của v-
ơng triều Mãn Thanh?
* Nguyên nhân có tính chất chủ quan:
+ Về kinh tế: Quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời với nền kinh tế tựnhiên tự cấp tự túc Xã hội phong kiến bớc vào giai đoạn khủng hoảng
+ Về chính trị: Chính quyền Mãn Thanh là chính quyền chuyên chếphong kiến mọi quyền hành đều nằm trong tay quý tộc ngời Mãn Tuy về hìnhthức, triều đình Mãn Thanh thờng tuyên bố Hán - Mãn một nhà nhng thực tế
họ thi hành chính sách thù hằn dân tộc
Trớc khi chủ nghĩa t bản phơng Tây xâm nhập, trong xã hội TrungQuốc có hai mâu thuẫn chủ yếu:
- Mâu thuẫn giữa nhân dân Trung Quốc với triều đình Mãn Thanh
- Mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ
Mặt khác lúc này vua quan tìm mọi cách cớp, bao chiếm ruộng đất, nạntham quan ô lại đã tràn lan trong nớc Dân nghèo thì thuế thu đợc ít, quốc giacũng nghèo
Từ hai nguyên nhân kinh tế và chính trị trên đã dẫn đến các cuộc đấutranh liên tiếp diễn ra Tiêu bỉểu là phong trào Thái Bình Thiên Quốc, NghĩaHoà Đoàn, Duy Tân Mậu Tuất… Những phong trào đó đã góp phần làm lunglay tận gốc vơng triều Mãn Thanh từng tồn tại hơn 200 năm trng lịch sử TrungQuốc
Trang 23* Nguyên nhân có tính chất khách quan:
Chủ nghĩa t bản thời kỳ này đã chuyển sang giai đoạn đế quốc nênchúng tăng cờng xâm lợc thuộc địa lúc bấy giờ ở các nớc Châu á, Châu Phi,Châu Mỹ trở thành đối tợng xâm lợc của các nớc Phơng Tây Và Trung Quốc
là một trong những nớc Châu á trở thành miếng mồi ngon béo bở mà các nớc
t bản Phơng Tây nhòm ngó đến
Để thực hiện điều đó, các nớc Phơng Tây lần lợt tìm cách xâm lợcTrung Quốc đi đầu trong việc này là nớc Anh Với cuộc chiến tranh thuốcphiện lần thứ nhất (1840 - 1842) buộc vơng triều Mãn Thanh phải ký điều ớcNam Kinh (1842) Đây là điều ớc bất bình đẳng đầu tiên mà Trung Hoa phải
ký với nớc ngoài, mở đầu một loạt những điều ớc bất bình đẳng sau này.Trung Quốc lâm vào ách nô dịch của các nớc Phơng Tây Đây chỉ mới là mànthứ nhất
Tiếp theo Anh là Nhật Bản đã mợn sự kiện Quảng Đông Học Triều Tiênchính thức không tuyên mà chiến với Trung Quốc ngày 25/07/1894
Ngày 01/08/1894 Trung - Nhật chính thức tuyên chiến
Chiến tranh Giáp Ngọ, Từ Hy Thái hậu làm đầu chúa đi đến thoả hiệpnhợng bộ, cuối cùng đến thảm bại, ký kết "Điều ớc Mã Quan Trung - Nhật"mất quyền nhục nớc Trung Quốc hoá thành vùng bán thực dân, khiến đất nớc
đứng trớc nguy cơ phân chia dân tộc, chia xẻ cho các vơng quốc
Việc ký kết "Điều ớc Mã Quan", kích thích sự phản đối dữ dội của nhândân, các tầng lớp khắp cả nớc, dẫn đền các nớc đế quốc xâu xé Trung Quốcnh: Nga, Đức, Anh, Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha… Đây là chính sách nô dịchTrung Quốc trong tình hình mới Đế quốc Đại Thanh liên tiếp mất thầy, mất
đất dẫn đến sự suy tàn và khủng hoảng của vơng triểu Mãn Thanh
1.3.2 Quá trình suy tàn và khủng hoảng của vơng triều Mãn Thanh
Sau vụ Trung – Nhật chiến tranh, thấy một nớc lớn nh Trung Quốc mà
bị một nớc nhỏ xa nay mình vẫn khinh thị là Nhật Bản đánh thua, kẽ sĩ có kiếnthức hoảng hốt thức tỉnh, nhận rằng công cuộc tự cờng hơn hai chục nămkhông có kết quả gì cả “thuyền vững, súng mạnh” không đủ để cứu nớc, phảicải cách từ gốc, thay đổi chế độ cũ Nếu không canh tân chính trị, tổ chức lạitriều đình, cải tạo phung phí trong xã hội, tinh thần của quốc dân , nếu không
Trang 24bỏ lối khoa cử đi, tuyển quân lại theo một cách mới, thì không sao chống lại
đợc với liệt cờng Do đó mà có cuộc vận động Duy Tân khắp cả nớc
Ngời đề xớng là Khang Hữu Vi và Lơng Khải Siêu, đa ra khẩu hiệu là
“toàn biến, tốc biến” (thay đổi triệt để và nhanh chóng)
Năm 1896, Khang dâng th biến pháp, và đợc Quang Tự chấp nhận Đềnghị nào họ đa ra Quang Tự cũng chấp nhận hết: Cải cách việc triều đình chomới mẽ, bỏ lối văn bát cổ trong các khoa thi mà lấy môn luật về thời vụ thayvào, lập học hiệu, khuyến khích kẻ viết sách mới và kẻ chế khí cụ mới, bỏnhững nha thự ít việc, luyện tập quân đội theo lối mới, trù lập ngân hàng, làm
đờng xe lửa, khai mỏ, mở nông và công nghiệp, lập hội buôn, mở rộng đờngngôn luận, cầu nhân tài …
Trong khoảng cha đầy ba tháng, mà một trăm mấy chục đạo chiếu ban
ra, làm cho cả trong triều lẫn ngoài tỉnh, mọi ngời xôn xao Đúng là “toànbiến” và “tốc biến”
Ngày 21 tháng 9 năm 1898, phái phong kiến do Từ Hy Thái hậu đứng
đầu làm chính biến Bà ban lệnh cấm dâng th, phế bỏ cục Quan Báo, đình chỉviệc lập học hiệu trung triều ở các tỉnh, các huyện; dùng lại lối văn tám vế đểlựa kẻ sĩ, bỏ khoa thi dặc biệt về kinh tế; bỏ các tổng cục công nông, thơng,cấm báo quán, truy nã chủ bút …
Tóm lại, là chỉ trong hai tuần toàn hủy, hủy tốc các canh tân của Quang
Tự Sử gọi vụ đó là “ Chính biến Mậu Tuất” (1898); cũng gọi là “Duy Tân 100ngày” Thất bại
Cuối thế kỷ XIX nổ ra phong trào Nghĩa Hòa Đoàn với khẩu hiệu: PhùThanh diệt Dơng (tiêu diệt ngời Tây bảo vệ đại Thanh): Họ ngày ngày luyện
võ, cơ quan sứ quán nớc ngoài ở hẻm dân Đông Giao đổi tên thành “đờng gàgáy giết Tây”, Cầu Ngự Hà đổi làm “Cầu Đoạn Dơng” (Cầu Tây đứt đoạn),treo cao cờ lớn “Tai Dơng” (Tây tai nạn), hô to khậu hiệu “ Giết giặc Tây”,
du hành thị uy trên đờng phố, khiến quân xâm lợc nớc ngoài khiếp sở chạytrốn
Từ Hy Thái hậu muốn lợi dụng Nghĩa Hòa Đoàn để trừng trị ngời Tây
Từ Hy Thái hậu đã triệu tập 4 cuộc hội nghị ngự tiền, ngày 21 tháng 6 năm
1900, tuyên chiến với các nớc, tuyên bố “ quyết một phen sống mái” với ngờiTây, tuyên bố thừa nhận Nghĩa Hòa Đoàn là “ nghĩa dân” chính thức “tuyênchiến” với các nớc
Trang 25Vì vậy, đoàn Nghĩa Hòa ở Thiên Tân, dới sự thống lĩnh của Tào Phúc
Điền, nhanh chóng tấn công vào tổ chức của các nớc ở Thiên Tân, giết chết rấtnhiều ngời ngoại quốc Năm, sáu vạn ngời đoàn Nghĩa Hòa Đoàn ở Bắc Kinh,lớp lớp bao vây công sứ quán nớc ngoài, phát động tiến công, đánh vào trongcông sứ quán nớc Đức và nớc Pháp, truy bắt toàn bộ những nơi có ngời Tây,khiến có ngời trở thành điên loạn, Clind công sứ nớc Đức, Sha Sharlin th kýcông sứ quán nớc Nhật chết không toàn thây
Các nớc Nhật, Nga, Anh , mỹ, Pháp, Đức, áo, ý kết hợp thành liênquân 8 nớc đa vài chục chiến hạm đến bên ngoài cửa Đại Cô, nhanh chóng tấncông chiếm cửa Đại Cô, sau đó lại tấn công vào thành Thiên Tân Liên quân 8nớc dới sự lãnh đạo của Wadsi thống soái nớc Đức, từ hớng Bắc tiến công vàoThiên Tân, Từ Hy Thái hậu xa nay chủ trơng hòa hiệp đầu hàng đối ngoại,không phải là phái chống đối chủ nghĩa Nay bà quyết định “tuyên chiến” với cácnớc chỉ giận mà ra
Khi đoàn Nghĩa Hòa chiến đấu với liên quân 8 nớc, bà lại lo sợ Tám ngàysau khi “tuyên chiến” bà ra lệnh triều thần điện báo đoàn Nghĩa Hòa, vì đoànNghĩa Hòa ngời đông thế mạnh sợ làm loạn nên mới sự dụng biện pháp cấp ứng
nh thế nhất định tiêu diệt đoàn Nghĩa Hòa
ở thời khắc then chốt của cuộc chiến đấu đẫm máu giữa đoàn Nghĩa Hòa vớicác đế quốc xâm lợc Từ Hy Thái hậu bất ngờ từ phía sau đoàn Nghĩa Hòa hạ
độc thủ, bà dung túng quân thanh đến nổ súng đoàn Nghĩa Hòa, phần ngờimang rất nhiều bột mì, gạo rau cải, và nớc trái cây đến cho sứ quán các nớc,phái bộ đội tinh nhuệ của Vinh Lộc bảo vệ khu công sứ quan nớc ngoài Đồngthời ra lệnh Lý Hồng Chơng làm đại thần toàn quyền đi cùng Nghĩa Hòa xâmlợc nớc ngoài Do Tây Thái hậu phá hoại cuộc đấu tranh phản đế của đoànNghĩa Hòa, khi liên quân 8 nớc chiếm lĩnh Thiên Tân càng thêm điên cuồng,
đốt giết, chiếm đoạt diện ra khắp nơi Ngày 13/8 tấn công chiếm Thông Châu.Hôm sau, trong thành Bắc Kinh nghe đợc tiếng pháo của liên quân 8 nớc.Quan lại lớn nhỏ đều lo sợ không yên trên dới cung đình một phen kinhhoàng
Từ Hy Thái hậu chủ trơng cho Dịch Khuông và Lý Hồng Chơng ở BắcKinh nghị hòa cùng ngời Tây 12 điều khoản
Nội dung chủ yếu: đối với công sứ, quan viên các nớc bị giết phái ngời xinlỗi, dựng bia kỷ niệm đối với vơng công đại thần triều Thanh, tin dùng đoàn
Trang 26Nghĩa Hòa, phân biệt nặng nhẹ mà trừng phạt, phá bỏ pháo đài từ Đại Cô đếnBắc Kinh, 12 căn cứ trọng điểm chiến lợc từ Bắc Kinh đến cửa Sơn Hải dângtặng cho các nớc đóng quân Không cho phép nhân dân có hành vi phản đếsửa đổi chơng trình thông thơng đờng thủy, các nớc đợc quyền phái binh bảo
vệ đóng ở khu vực sứ quán Bắc Kinh bồi thờng 4 ức 5 ngàn vạn lợng bạchngân cho tổn thất riêng chung của các nớc, triều Thanh chi trả trong 39 năm,mỗi năm lãi suốt 4%, tổng cộng có 9 ức 8 ngàn vạn lợng, tơng đơng tổng thunhập tài chính của chính phủ triều Thanh trong 12 năm… Từ Hy Thái hậu lơ
sợ lập ớc lần này sẽ ảnh hởng đến địa vị của bà, bà chỉ thị cho Dịch Khuông
và Lý Hồng Chơng ký kết điều ớc này
Ngày 7/10/1901, Dich Khuông, Lý Hồng Chơng đại diện cho chính phủ triềuThanh cùng đại diện 11 nớc Anh, Nga, Mỹ, Đức, Nhật, ý, Pháp, áo Tây Ban Nha,
Bồ Đòa Nha, Hà Lan, ký điều ớc ở Bắc Kinh trên cơ sở 12 điều, đây chính là “điều
ớc tân sửu” - điều ớc mất quyền, nhục nớc
Sau hòa ớc nhục nhã tân sửu (1901), Từ Hy bị dân chúng vạch tội,muốn mua chuộc lại lòng dân mới chịu sửa đổi lại chính sách, bao nhiêu sắclệnh, hiến pháp của Quang Tự mà năm 1898, bà hủy bỏ thì bây giờ thực hànhhết, lại lập nhiều cơ quan mới nh hội nghị chính vụ, thơng bộ, học bộ, luyệntân quân, chấn hng nông, công, thơng Năm 1905, dân Trung Hoa thấy Nhậttheo quân chủ lập hiến mà mạnh, thắng đợc Nga theo quân chủ chuyên chế, nêncàng tin ở chế độ lập hiến, và đòi Thanh đình phải lập hiến chứ chỉ sửa đổi chínhsách (Thanh đình gọi là tên chính: chính sách mới) duy tân thì không đủ Ngaymột số đại thần Hán, trung với Thanh, nh Trơng Chi Động, Viên Thế Khải cũngchủ trơng lập hiến Phong trào lập hiến sôi nổi trong nứơc Từ Hy bất đắc dĩ phảiphái 5 đại thần đi Nhật, Anh, Đức để khảo sát chế độ lập hiến của 3 quốc gia đó
Sau cùng năm 1925 , họ ban bố hiến pháp đại cơng gồm 14 điều mà
điều số1là: Hoàng đế Đại Thanh thống trị Đế Quốc Đại Thanh, nối tiếp nhautới vạn đời, và điều số 2 là: Hoàng đế tôn nghiêm nh thần, thánh bất khả xâmphạm Nội dung là quyền vua rất lớn, quyền dân rất ít, nghị viện chỉ là một cơquan t vấn Họ dự bị 9 năm sau mới hoàn thành hiến pháp Rõ ràng là họkhông thành tâm, chút nào cả Trong năm đó, sau khi ban bố hiến pháp đại c-
ơng thì Quang Tự chết trớc rồi Từ Hy Thái hậu chết sau chỉ cách sau mấy giờ Tiếp theo là cuộc khởi nghĩa của dân quân ở Vũ Xơng ngày 10 tháng10năm 1911 (19 tháng 5 năm Tân Hợi), họ thành công một cách dễ dàng, bất
Trang 27ngờ, các tỉnh hởng ứng, Trung Hoa dân quốc thành lập, Vua Thanh thoái vị(năm Tuyên Thống thứ 3) trớc kia Thái Bình Thiên Quốc trong 14 – 15 năm,dùng hàng triệu quân mà không lật đổ đợc nhà Thanh Nay chỉ một nhómquân có mấy tuần mà kết quả rực rỡ Nhà Thanh nh một trái đã chín mùi , chỉkhẽ đụng là rụng.
Tới đây chấm dứt đời Thanh dài trên 260 năm, và cũng chấm dứt chế độquân chủ dài trên 2000 năm
Chơng 2: Vài nét khái quát về tiểu sử của
Từ hy thái hậu
2.1 vài nét về tiểu sử của từ hy thái hậu
Ngày 29 tháng 11 năm 1835 (tức ngày 10 tháng 10 năm ĐạoQuang thứ 15) Sáng sớm trong một dinh thự của một bộ tộc Mãn Thanh
là Diệp Hách Na Lạp ở phơng Gia Viên phía đông thành Bắc Kinh Phu nhân của Diệp Hách Na Lạp Hụê Chinh là Phú Sát thị đang chuyểndạ, lúc bấy giờ thị sắp ở vào đổ tuổi “Nhị thập”.Tiếng Phú Sát thị kêu thấtthanh : “ Ôi đau quá, đau chết mất thôi” [6,20] mỗi lúc một thê thảm hơn.Bọn a hoàn xung quanh nhao nhao:
- Kính chúc lão gia may mắn, phu nhân sinh thiên kim tiểu th (đứa trẻ đóchính là Từ Hy Thái hậu về sau)
- Theo tục lễ của ngời Mãn Thanh, khi đứa trẻ đợc 7 tháng tuổi; tức làkhi cha biết bò, cha mẹ để rất nhiều đồ vật bệ là sởi, cho trẻ tự ý cầm Trongcác đồ vật ấy trẻ cầm vật nào thì sau này có thiên hớng về vật đó
Ví dụ: Nếu đứa trẻ cầm cái kéo thì sau này sẻ giỏi việc thêu thùa may vá Hôm đó, Phú Sát thị để trên bếp cả giỏ kim chỉ, bút sách, sonphấn, đồ trang sức quý, tiền và cả một bó hoa lan cho con tự chọn Bé gáisau khi đợc đặt lên bếp sởi lập tức bò về phía các thứ đồ, thấy đứa bé bò
Trang 28thẳng lên phía trớc, một tay nắm lấy hộp son phấn, một tay nắm lấy bó hoalan.
Huệ Chinh nói: con a đầu này về sau chắc thích làm duyên, làm đẹp,chắc chắn sẽ yêu quý cái đẹp !
Và Phú Sát thị nói thêm: Ông xem nó nắm chặt bó hoa lan rồi Sau nàychung ta sẽ gọi nó là Lan Nhi nhé !
Bọn a hoàn bên cạnh cũng đồng thanh nói :
- Tên là Lan Nhi hay lắm !
Và nhũ danh (tên mới đẻ) là Lan Nhi, mọi ngời thờng gọi là Na Lạp thịVì Từ Hy Thái hậu ở tây cung cho nên còn thờng gọi là Tây Thái hậu
Trớc khi Tây Thái hậu lên nhiếp chính triều Thanh, danh hiệu rất caoHoàng Thái Hậu." Từ Hy đoan hữu khang di chiếu dự trang thành thọ cungkhâm hiến sùng hi "[11,195] (hiền từ hạnh phúc, công minh ngay thẳng, bãodỡng khỏe mạnh, sắp đặt rỏ ràng, trang trọng trung thực, kính cận tuổi thỏ,kính cận dâng trặng hoàn toàn vui vẻ) Sau khi chết lại thêm thụy hiệu cho bà
là " hiếu khâm " (kính trọng và hiếu để), " phối thiên hng thánh hiển Hoànghậu" (Hoàng hậu xứng đáng trời ứng thánh hiền) Danh hiệu cao quý này rấtkhó đọc nên mọi ngời chỉ lấy hai chữ phía trớc, gọi bà là Từ Hy Thái hậu
Về sau Từ Hy Thái hậu ra lệnh mọi thị tòng, cung nữ trong cung không
đợc ai gọi bà là Thái hậu mà phải gọi là “Lão tổ tông” hoặc “ Lão phật gia ”
Bà xuất hiện với t cách là “Lão tổ tông” của triều Thanh
Ngoài ra bà không cho hoàng đế Quang tự gọi bà là “mẫu hậu” mà phảigọi là “phụ hoàng”
Nhng tất cả các tên gọi ấy đều chỉ về một con ngời đó là Từ Hy Tháihậu, mỹ nhân tàn bạo nhất Trung Hoa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Từ Hy thuộc họ Na Lạp, dân tộc Diệp Hách - Là một dân tộc cổ nhất ởMãn Châu Dân tộc này sinh sống ở núi Trờng Bạch (nay thuộc Cát Lâm) gầnTriều Tiên Đây là nơi phát tích của Mãn Châu
Từ bé Lan Nhi sống ở vùng sông nớc miền Nam, Linh khi núi sôngGiang Nam đã hun đúc ra một Lan Nhi không chỉ tơi đẹp nh hoa mà cònthông tuệ khác thờng, biết làm thơ viết từ, giỏi viết chữ vẽ tranh, tinh thông
âm luật, thành thạo Mãn văn, làu thuộc kinh dịch, nho gia và nhị thập tứ sử
Là một thiếu nữ đa tài lại đẹp đẻ xinh tơi
Trang 29Không những thế Lan Nhi còn hát rất hay, rất giỏi những ca khúc miềnNam với những làn điệu dân ca bằng giọng hát trong và ấm áp ngọt ngàoquyến rũ.
Chính điều đó là điều kiện quyết định để Lan Nhi tiến thân về sau
Từ Hy xuất thân từ Kỳ Trơng Hoàng – một dòng quý tộc ngời Mãn ởMãn Châu Hoàng hậu của Thanh Thái Tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích là con gái họDiệp Hách Na Lạp, sinh ra hoàng tử Hoàng Thái Cực, kế thừa ngôi Hãn tức làThanh Thái Tông, Hoàng đế đầu tiên của vơng triều Mãn Thanh Dòng họDiệp Hách Na Lạp cũng trở thành một dòng họ hiển hách của dân tộc Mãn T-
ơng Hoàng kỳ của Từ Hy Thái hậu là 3 kỳ trên trong bát kỳ Mãn Châu Hơnnữa là kỳ đứng đầu trong bát kỳ Gia tộc của Từ Hy Thái hậu là một danh mônvọng tộc của vơng triều Đại Thanh
Tằng Tổ (cụ ông) là Cát Lang A đã từng làm quan viên ngoại bộ Hộ
Tổ Phu (ông) Cảnh Thủy đã từng là quan viên ngoại lang bộ Hình
Phụ thân (Bố) Huệ Chinh đã từng làm quan địa phơng ở một số nơi sau
đó nhận chức Hữu bộ đạo viên ở Quảng Trì, Ninh Thá , Tỉnh An Hng
Từ Hy xếp thứ 3 trong nhà Hai anh của nàng là: Chiếu Tờng sau này làmquan đến chức Thống lãnh hộ quân đợc thừa hởng ân huệ của ông cha Một làQuế Tờng làm quan đến chức Đô Thống, cũng chính là phụ thân của hoàng hậuLong Dụ - Hoàng hậu của vua Quang Tự Em gái của Từ Hy nhũ danh Linh Nhisau lấy Thuần Thân vơng cũng chính là mẫu thân vua Quang Tự Có thể nói Từ
Hy xuất thân từ một gia đình quan lại thờng thờng bậc trung
Từ nhỏ, Lan Nhi đã theo cha lên Bắc xuống Nam, hiểu biết rộng học
đ-ợc mánh khóe thủ thuật nịnh bợ ton hót, gian trá chốn quan trờng
Không lâu sau, cha Lan Nhi Huệ Chinh ốm chết khi còn tại chức, mẹLan Nhi phải một mình nuôi dạy hai con trai và hai con gái, mẹ Lan Nhi phải
đa cả 4 ngời con trai con gái vị thành niên, đa linh cữu của Huệ Chinh từ AnHuy về Bắc Kinh
2.2 Quá trình tiến thân của từ hy thái hậu
2.2.1 Quá trình xác lập vị trí trong cung của Từ Hy Thái hậu
Hơn 10 tuổi, Lan Nhi đã nổi tiếng tuyệt mỹ Từ bé nàng đã theo phụthân vào chốn quan trờng nên biết nhiều hiểu rộng Nàng thích đọc sách sử vàngâm vịnh, tuy không thể so tài với Tạ Đạo Uẫn (smột nữ sĩ nổi tiếng về thơvăn cổ Trung Quốc) nhng cũng thể nói là nữ nhân hiếm có Lan Nhi lại có tài
ăn nói lanh lợi, đặc biệt giỏi các khúc ca phơng nam, phàm có bài nào mới
Trang 30thịnh hành đều thuộc lòng hết, cất tiếng hát tuyệt hay” Nhờ tài mạo song toànnàng ôm mộng một ngày đợc hiển vinh nơi quyền quý.
Ngày ấy rồi cũng đến!
Dịch chủ năm 20 tuổi lên ngôi vua, lấy niên hiệu Hàm Phong nên gọi làHàm Phong Hoàng đế, lập Nữu Hữu Hộ lộc thị làm Hoàng hậu đồng thờituyển chọn thu nạp nhiều mỹ nữ vào cung Khi ấy Lan Nhi mới 17 tuổi xinh
đẹp nh hoa tựa ngọc Theo quy định của triều đình nhà Thanh, cung nữ không
đợc tuyển ngời Hán Lan Nhi là con gái gia đình quan lại thuộc Bát Kỳ (Mãntộc) nên đủ t cách và nghĩa vụ đi dự “tuyển tú nữ”
Trong 60 ngời con gái Bát Kỳ đợc sơ tuyển vào cung, Hoàng thợngdùng bút đỏ khuyên tròn tên 28 ngời, Lan Nhi là một mỹ nữ đợc nhà vua lựachọn.Địa vị cung nữ chỉ là ngời hầu trong cung, phi tần mới là cơ thiếp (vợ bé)của Hoàng đế, Lan Nhi đợc chọn là tú nữ
Quả nhiên ngày 2 tháng 2, Lan Nhi đợc báo trúng tuyển, đợc Hoàng ợng lập tức phong là Lan quý nhân
th-Theo các tài liệu còn ghi lại ở phủ nội vụ Triều Thanh, bản tấu ngày 28tháng 02 năm Hàm Phong thứ 2 viết: “Ngày 11 tháng 2 năm Hàm Phong thứhai Hoàng dế tuyên chủ: Lan quý nhân ngày 9 tháng 5 đợc vào đại nội –khâm thử”.[6,50]
Ngày nhập cung cũng đợc xác định là ngày mồng 8, mồng 9 tháng hainăm Hàm Phong thứ 2
Lan Nhi vốn khéo trang điểm, sau khi vào cung trang điểm càng xinh
đẹp lộng lẫy hơn Mới vào cung nàng chỉ đợc làm kẻ hầu ngời hạ ở KhônNinh Cung (là nơi ở của Hoàng hậu Nữu Hộ Lộc thị) Nàng tỏ ra chuyên cầnthức khuya dậy sớm, làm việc chăm chỉ, thái độ khiêm hòa, nói năng cẩn thận,làm việc lanh lẹ, trong lòng nuôi mộng có ngày Hoàng đế ghé đến Lan Nhinổi lên trong các khuê tú nội cung Lan Nhi hiểu rất rõ, muốn vợt lên trên ngờikhác trong hậu cung, thì phải đợc Hoàng thợng sủng ái
Tiếc thay lúc ấy chính là lúc xẩy ra lắm việc rắc rối, vua Hàm Phong bịcuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc đe dọa mất ăn mất ngủ, hồn phi pháchtán nên không có đầu óc chú ý đến vẻ đẹp kiều mĩ của Lan Nhi, nàng cảmthấy đau khổ thất vọng và Lan Nhi cha có hội đợc “ trời yêu “ (Thiên sủng)nhng chí nàng đã quyết, nàng nhất định kiên trì
Sách “ thanh cung di văn “ có đoạn viết:
Trang 31“ … lúc đó quân đồng minh Anh – Pháp cha đến, vờn viên minh vẫn cònthịnh nơi nào cũng có cung nữ đến thợng ngoạn, Na Lạp thị cũng trong số đó.Nhng thế trận ngày một nguy, binh đao khắp thiên hạ quân Thanh mấy lần đổibinh Văn Tông (tức Hàm Phong) không còn quan tâm đến việc nớc, cứ lấythanh sắc làm vui, dẫn cung nữ phi tần du ngoạn trong vờn nghe ca hát khi
đến gần “ đồng âm thâm sứ “ thấy Hoàng đế Hàm Phong từ một lối đi nhỏtrong cung đi ra Lan Nhi vờ nh vô ý, cất cao giọng hát trong veo ấm áp củamình hát lên một làn điệu dân ca miền núi Giọng hát ngọt ngào quyến rủ củaLan Nhi đã buộc Hàm Phong dừng lại để lắng nghe, Lan Nhi thấy vậy lập tứcngừng hát, quỳ xuống nói: “ nô tài đáng chết “ Hàm Phong nhìn thấy nàng cóthân hình mảnh mai yểu điệu nói năng lanh lợi, tóc dài đen bóng nh nhung,
đôi mắt cuốn hút lòng ngời và bảo cô đứng dậy, bảo vào tẩm cung hát.Từ đóLan Nhi đắc sủng, Hàm Phong bèn phong Lan Nhi làm quý nhân.[12, 303 -304]
Cuối đời Từ Hy Thái hậu đã từng nói : “ khi mới và cung mọi ngời đềughen với sắc đẹp của ta Cuối cùng ta đã chiến thắng tất cả, Hoàng đế chỉ sủng
ái một mình ta không chú ý gì đến ai khác”[21, 385 - 386] Lan Nhi vốn khéoléo, từ đó nàng ra sức lấy lòng mọi ngời lại còn nhờ vả cả viên thái giám chỉ
sự “quan tâm chiếu cố”, từ đó mà đợc gặp Hoàng hậu và cũng đợc Hoàng Tháihậu ng ý vừa lòng
Lan Nhi dùng mọi thủ đoạn, trăm phơng ngàn kế lấy lòng Hàm Phong.Chuyện kể rằng Từ Hy vào cung năm Hàm Phong thứ 2 đợc phong làm Lanquý nhân, 3 năm sau từ quý nhân, Lan Nhi đợc phong lên Tần càng đợcHoàng đế quan tâm sủng ái Ngày tháng thoi đa nh bóng câu ngoài cửa sổ,không bao lâu Lan Nhi có thai rồng, sinh ra một Hoàng tử đặt tên là TảiThuần Đó là con trai độc nhất của Hàm Phong, sau này là Mục Tông Hoàng
đế Đồng Trị Nhờ con mẹ hiển quí ( mẹ đợc phú quí nhờ con) Vua HàmPhong lại giáng một đạo chỉ dụ: Tấn phong ý Tần lên ý quý phi Hàm Phongnăm thứ 6 (1556) ý phi phụng chỉ về thăm cha mẹ, lại đợc gia phong là “ý quýphi” Lan qúi nhân tăng nhanh nh hỏa tiền lên ý tần, từ ý tần lên ý quí phi Kể
từ khi Hàm Phong đặc biệt sủng ái, Từ Hy ngày càng kiêu ngạo Sau khi ý quíphi Lan Nhi dắc sủng, Hoàng đế Hàm Phong luôn ốm yếu, khi Hàm Phongphê duyệt tấu chơng trong cung Lan Nhi thờng hầu bên cạnh Lan Nhi đã đọctấu chơng các tỉnh, nhờ vậy nắm đợc tình hình thiên hạ, đề xuất kế hoạch cho
Trang 32Hàm Phong Điều này giúp Lan Nhi hiểu đợc công việc của triều chính và cácchế độ lễ nghi, học đợc cách xử lý chính sự, đặc cơ sở cho việc nắm quyền saunày.
2.2.2 Từ Hy Thái hậu với việc buông rèm nhiếp chính lần thứ nhất
Sau chiến tranh thuốc phiện tấn thứ nhất năm 1840, cánh cổng lớn củaTrung Quốcđã bị pháo lớn của chủ nghĩa đế quốc mở toang Cách mạng nôngdân đã lay chuyển dữ dội trên nền tảng thống trị của vơng triềuMãn Thanh.Hàm Phong năm thứ t (1854) 3 nớc Mỹ – Anh – Pháp đề nghị nhà Thanhsửa đổi “Nam Kinh điều ớc “ tháng 9 hàm phong thứ 6 (1856) quân Anh tiếncông Quảng Châu năm sau quân Anh, Pháp liên hợp dới sự xúi dục của quânNga, Mỹ đánh chiếm Mãn Châu
Tháng 4 năm Hàm Phong thứ 8 (1858) quân xâm lợc tấn công pháo đài
Đại Cô, áp sát tới Thiên Tânvà bắt ký “ Điều ớc Thiên Tân “với Nga Tháng 5(Tây lịch là tháng) Trung Quốc phải ký “ Điều ớc Thiên Tân “ với Nga, ngày
11 (Tây lịch là ngày 24 tháng 10) và ngày 12 tháng 9 ký “Bắc Kinh điều ớc
“với Anh, Pháp đồng thời phê chuẩn cả“Thiên Tân điều ớc“ Nội dung chủyếu của “Bắc kinh điều ớc“ là mở cửa thông thơng ở cửa Thiên Tân
Chấp nhận cho chiêu mộ công nhân ngời Hoa đa ra nớc ngoài, cắt mộtphần đất Cửu Long giao cho nớc Anh, trao trả tài sản và nhà thờ thiên chúa,bồi thờng chiến phí 8 trăm vạn lợng cho Anh Pháp Nớc Nga cũng khu công
điều đình, buộc Chính phủ Mãn Thanh phải ký “Trung Nga điều ớc” cắt mộtphần lãnh thổ giao cho chúng Cuộc chiến tranh nha phiến lần 2 lại khiếnTrung Quốc mất chủ quyền lãnh thổ một lần nữa Liên quân Anh - Pháp bạongợc hoành hành tại Bắc Kinh, nhất là hành động thiêu hủy Viên Minh
Tin tức truyền đến hành cung Nhiệt Hà, Hoàng Đế Hàm Phong vốn yếu ốm do
đau buồn và tức dẫn đã lên cơn đau tim và thổ huyết ốm liệt giờng
Bệnh tình của Hàm Phong ngày càng trầm trọng, thấy rõ sắp phải lìa bỏthân thế ngời con trai độc nhất mới lên 6 tuổi của Hàm Phong đơng nhiên sẽ làngời kế vị Hoàng đế Một đứa bé lên 6 làm Hoàng đế rõ ràng chỉ là bù nhìn
Ai sẽ là cố mệnh đại thần nắm quyền lực tối cao? đó là việc giải quyếtcấp thiết của triều đình Đại Thanh Trong lúc đó có 2 nhân vật lớn có nhiều hyvọng nhất, một là cung thân Vơng Dịch Hân đang ở Bắc Kinh Dịch Hân là
em cùng cha khác mẹ của Hàm Phong, Dịch Hân, thông minh, nhanhnhẻn ,dũng cảm hơn ngời, là con trai thứ 6 của hoàng đế Đạo Quang Hoàng
Trang 33đế Đạo Quang đã từng có ý định lập Dịch Hân làm Hoàng đế, nhng sau đó vìthấy Dịch Hân nhân từ, khi đi săn bắn không nỡ giết hải con thú vật, do đó đ -
ợc Đạo Quang tấn thởng lập thành Hoàng Thái tử
Dịch Ninh lên ngôi tức Hoàng đế Hàm Phong Hàm Phong cạnh giáckhông tín nhiệm Dịch Hân Nhng Dịch Hân tơng đối có thế lực
Một ngời khác là Túc Thuận, em họ hoàng đế Hàm Phong, đợc HàmPhong tín nhiệm Trao quyền cho ai đây, trên giờng bệnh ở hành cung Nhiệt
Hà, của Hàm Phong suy nghĩ rất lung về vấn đề đó cuối cùng Hàm Phongquyết định, vô luận thế nào cũng không thể trao quyền cho một mình DịchHân Dịch Hân đầy dã tâm có thể cớp ngôi vua đứa con mơi lên 6 tuổi củamình Hàm Phong muốn trao quyền cho Túc Thuận Túc Thuận là em họ xacủa hoàng đế không dám làm điều đại nghịch cớp ngôi vua Nhng Túc Thuận
có thể cậy chuyên quyền không? Hàm Phong tính mãi, các đại thần có thể tincậy trong triều Đúng, Hoàng đế Hàm Phong thấy lóe sáng trong lòng 8 vị.Dùng tám vị đại thần phò tá ấu chúa Đông ngời nhiều trí, hơn nữa 8 ngời khó
mà đồng lòng cớp quyền lực của vị Hoàng đế nhỏ tuổi
Sau khi tìm ra phơng án giải quyết hậu sự, Hàm Phong thấy nhẹ nhõm
đi nhiều, thiêm thiếp ngủ
Sáng sớm hôm sau, Hoàng đế Hàm Phong bỗng cảm thấy khỏe khoắnhơn, tỉnh táo hơn, ông biết dó là sự lóe sáng lên của ngọn đèn trớc khi tắt, phảitận dụng để lo liệu hậu sự
Nhà vua triệu tập đứa con trai duy nhất là Tải Thuần và các đại thần ditheo đến tuyên bố trớc mọi ngời danh sách 8 vị đại thần: Túc Thuận, Tải Viên,
Đoan Hoa, Cảnh Thọ, Mục ấm, Khuông Nguyên, Đỗ Hàm, Tiêu Hựu Doanhlàm “ tán tơng chính vụ vơng đại thần “ tức là phải tán tơng (giúp đỡ) mọi việclớn chính vụ Tám vị này còn gọi là cố mệnh đại thần
Hàm Phong kéo tay đứa con trai 6 tuổi của mình nói với các đại thần "
Đứa bé này từ hôm nay Trẫm giao cho các ái Khanh, các ái Khanh hãy hếtlòng hết sức giúp đỡ nó" [21, 390].Tám vị đại thần cố mệnh rơi nớc mắt khấu
đầu lĩnh chỉ, tạ ơn Nói xong, vua Hàm Phong xua tay bảo các đại thần lui ra
và sai thị, thần triệu các phi tần hậu cung Hoàng hậu đa các phi tần quỳ trớcngự sàng của Hàm Phong Họ nhìn vị Hoàng đế đang hấp hối nghĩ đến sốphận cha biết lành dữ thế nào của mình, đau buồn rng rng nớc mắt Vua HàmPhong nhìn đám phi tần đang đau khổ của mình, từ đôi mắt ráo hoạnh, trào ra