Nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư "Về những yếu tố thiểu thuyết trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu" in trong Nguyễn Minh Châu về tác gia tác phẩm đã nhận xét: " Với những tác phẩm mang tiê
Trang 1Bộ Giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh Nguyễn thị tuyết nhung
T duy tiểu thuyết trong truyện ngắn nguyễn minh châu
sau 1975
huyên ngành: Văn học Việt nam
Mã số: 60.2234
Luận văn Thạc sĩ ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học:
TS Hoàng Mạnh Hùng
Vinh - 2010
MỤC LỤC Trang
Mở đầu……… ……… 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
2.1 Những bài viết về tác giả, tác phẩm……… ………… 2
2.1.1 Về những sáng tác trớc 1975: ……… …… 2
Trang 22.1.2 Về những sáng tác sau 1975: ……… ……… 3
2.2 Những bài viết về truyện ngắn……… ……… 6
2.3 Những bài viết đề cập đến đề tài t duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu……… ……… 9
3 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 12
4 Đối tợng nghiên cứu……… 13
5 Phạm vi nghiên cứu……… 13
6 Phơng pháp nghiên cứu……… 13
7 Cấu trúc luận văn……… 13
Chơng 1 Hành Trình sáng tạo và sự vận động trong t duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu 14
1.1 Hành Trình sáng tạo 14
1.1.1 Vài nét về cuộc đời , con ngời 14
1.1.2 Sáng tạo của Nguyễn Minh Châu trớc 1975 15
1.1.3 Con đờng sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu sau 1975 gắn liền với sự chuyển mình của thời đại 16
1.2 Sự vận động trong t duy nghệ thuật Nguyễn Minh Châu 18
1.2.1 T duy sử thi trớc 1975 18
1.2.2 T duy tiểu thuyết sau 1975 21
1.3 Nguyễn Minh Châu ngời mở đờng “tinh anh và tài năng” cho một nền văn học mới 24
1.3.1 Trên phơng diện lý luận 24
1.3.2 Trên phơng diện sáng tác 28
Chơng 2 Biểu hiện của t duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 trên phơng diện nội dung 33
2.1 Cách nhìn cuộc sống và con ngời 33
2.1 1 Cách nhìn đời sống xã hội 33
2.1.2 Cách nhìn con ngời 40
2.2 Khả năng phản ánh 51
2.2 1 Mở rộng đề tài 51
2.2 2 Mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực 52
Trang 32.3 Cảm hứng 54
2.3.1 Cảm hứng sử thi trớc1975 55
2.3.2 Cảm hứng thế sự sau 1975 58
2.3.2.1 Cảm hứng suy ngẫm, triết lí 61
2.3.2.2 Cảm hứng phê phán 62
2.3.2.3 Cảm hứng bi kịch 63
Chơng 3 Biểu hiện của t duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 trên phơng diện nghệ thuật 66
3.1 Kết cấu 66
3.1.1 Kết cấu trong tiểu thuyết 67
3.1.2 Kết cấu trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 67
3.1.2.1 Kết cấu phân rã 68
3.1.2.2 Kết cấu đan xen, đa tuyến 70
3.12 3 Kết cấu đồng hiện 73
3.2 Nhân vật 76
3.2.1 Quan niệm về nhân vật 76
3.2.2 Nhân vật trong t duy tiểu thuyết 76
3.2.3 Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 76
3.2.3.1 Nhân vật số phận 77
3.2.3.2 Nhân vật nhiều chiều 78
3.2.3.3 Nhân vật nhận thức, tự thú, sám hối 82
3.2.3.4 Nhân vật thế sự đời tư 85
3.3 Ngôn ngữ trần thuật 89
3.3.1 Ngôn ngữ đa thanh 90
3.3.2 Ngôn ngữ đối thoại 91
3.3.3 Ngôn ngữ độc thoại …… ……… 92
3.3.4 Ngôn ngữ đời sống 94
3.4 Giọng điệu 95
3.4.1 Giọng điệu tiểu thuyết 95
3.4.2 Giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 96
3.4.2.1 Sự đan xen nhiều giọng điệu 97
Trang 43.4.2.2 Giäng ®iÖu suy ngÉm, triÕt lý 99
3.4.2.3 Giäng hµi híc 100
3.4.2.3 Giäng day døt kh¾c kho¶i, ®Çy xãt xa, nuèi tiÕc 102
KÕt luËn .104
Tµi liÖu tham kh¶o ……… 108
MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 1.1 Nguyễn Minh Châu là cây bút xuất sắc, một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại nửa sau thế kỷ XX Những sáng tác của ông góp phần thể hiện con người lịch sử của dân tộc ở hai thời kỳ trước và sau chiến thắng mùa xuân 1975 Ông được đánh giá là một trong những người "mở đường tinh anh và tài năng, đã đi được xa nhất "trong chặng mở đầu của công cuộc đổi mới văn học sau 1975 Tác phẩm Nguyễn Minh Châu luôn là đối tượng lớn cho những công trình nghiên cứu 1.2 Trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn có vai trò rất quan trọng Sinh thời, có lần nhà văn Nguyễn Minh Châu đó tự đánh giá tổng kết sự nghiệp sáng tác của mình: “Mình viết văn cả đời tràng giang đại hải có khi chỉ cũn lại được vài cái truyện ngắn” Nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư "Về những yếu tố thiểu thuyết trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu" in trong Nguyễn Minh Châu về tác gia tác phẩm đã nhận xét: " Với những tác phẩm mang tiêu đề tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu thiếu những yếu tố bên trong, những "gien" vô hình làm nên thể loại tiểu thuyết Nhưng những mầm mống tiểu thuyết thực sự lại nảy nở trong một số truyện ngắn " [20,tr 297]
Trang 5Với một loạt truyện ngắn trong những năm 80 của thế kỉ XX, ông đã tạo nên mộtphong cách mới độc đáo, mới mẻ , khắc hoạ cho riêng mình một chân dung văn học, mộtthi pháp sáng tác và trở thành một hiện tượng văn học nổi bật của thời kì này Nghiên cứu
sự hiện diện của tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu là góp phầnkhẳng định sự đổi mới tư duy nghệ thuật trong sáng tác của ông sau 1975
1.3 Tác phẩm Nguyễn Minh Châu được đưa vào giảng dạy trong chương trình
môn Ngữ văn phổ thông chủ yếu là truyện ngắn, nghiên cứu đề tài này, luận văn muốngiúp cho việc đọc hiểu, phân tích tác phẩm Nguyễn Minh Châu trong nhà trường hiệu quảhơn
2 Lịch sử vấn đề
Với vị trí đáng trân trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại, cuộc đời và sựnghiệp văn học của nhà văn trong thời gian qua đã gợi nhiều vấn đề nghiên cứu Tácphẩm của ông ngay từ khi mới ra đời đã được bạn đọc và giới phê bình đón nhận nồngnhiệt, đã 22 năm kể từ khi nhà văn qua đời, tác phẩm của ông vẫn sống trong lòng ngườiđọc Đến nay đã có gần hai trăm bài viết và công trình nghiên cứu lớn nhỏ về tác gia, tácphẩm Nguyễn Minh Châu
2.1 Những bài viết về tác giả, tác phẩm.
Có hai cuốn sách tập hợp tuyển chọn những công trình nghiên cứu, những ý kiến
phê bình đánh giá về cuộc đời và sự nghiệp văn học của nhà văn: Nguyễn Minh Châu con người và tác phẩm của Tôn Phương Lan - Lại Nguyên Ân in năm 1991 và Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm của Nguyễn Trọng Hoàn in năm 2003 có trên 150 bài viết
và công trình nghiên cứu lớn nhỏ tác gia, tác phẩm Nguyễn Minh Châu Riêng tại Đạihọc Vinh, đến thời điểm tháng 12 năm 2009 đã có 16 bản luận văn tốt nghiệp đại học vàthạc sĩ nghiên cứu các đề tài về tác gia, tác phẩm Nguyễn Minh Châu
Tựu trung, có nhiều ý kiến tiêu biểu như:
2.1.1 Về những sáng tác trước 1975:
Trang 6Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Trần Hữu Tá nhận xét "Những sáng tác giaiđoạn đầu chưa thành tựu nào thật tài hoa xuất sắc nhưng bước đi của anh nói chung làchắc chắn".
Nhà nghiên cứu phê bình người Nga N NIKULIN nhận xét
" Cảm hứng các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, như tự anh nói, trước hết là cốgắng "tìm cái hạt ngọc ẩn dấu trong bề sâu tâm hồn con người"[91;356 ] Và đó vẫn là chủ
âm trong sáng tạo của Nguyễn Minh Châu, với việc xây dựng nhân vật chính diện "Mỗicon người đều chứa đựng trong lòng những nét đẹp đẽ, kỳ diệu đến nỗi cả một đời cũngchưa đủ để nhận thức, khám phá tất cả những cái đó" [91;356 ]
Lại Nguyên Ân viÕt "Sáng tác truyện của Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là truyệnngắn, ra mắt dăm bảy năm gần đây, đã trở thành gần như một loại sự kiện, ít ra là đối vớigiới văn học Tôi nghĩ là mình không thổi phồng sự việc, bởi xung quanh mảng sáng tácnày của nhà văn đã có một loạt bài phê bình, có cả một cuộc thảo luận dành riêng vớinhiều ý kiến nhận xét không giống nhau"[3]
Mai Hương nhận xét: “ suốt trong những năm chống Mỹ, Nguyễn Minh Châu đã
dành trọn vẹn nửa đời văn của mình đi sâu, khám phá, phản ánh những ''đề tài sinh tử''trong mảng hiện thực chiến tranh và người lính cách mạng Những tác phẩm nóng hổihơi thở đời sống, như còn sặc mùi thuốc súng, khói bom được viết ''trước hết với ý thứcnóng bỏng được góp phần cùng toàn dân tham gia đánh giặc'' [ 15,tr45] ấy của NguyễnMinh Châu đã phản ánh được khát vọng tinh thần cháy bỏng của cả dân tộc, thời đại -khát vọng độc lập, tự do - góp phần tái hiện bức tranh lịch sử hoành tráng của dân tộctrong cuộc chiến tranh Vệ Quốc vĩ đại"
2.1.2 Về những sáng tác sau 1975:
Nguyễn Trọng Hoàn với bài Tiếp tục hành trình đọc Nguyễn Minh Châu ( 2002)
viết " Hoạt động văn học của Nguyễn Minh Châu gắn liền với cuộc đời người lính từ thời
kỳ kháng chiến chống Mỹ đến những năm đầu của công cuộc đổi đất nước Đọc nhữngtác phẩm của Nguyễn Minh Châu có thể hình dung khá rõ quá trình vận động về tư tưởng,tình cảm cũng như những trăn trở tìm tòi phương hướng đổi mới cáh tiếp cận đời sống vàbút pháp sáng tạo nghệ thuật của ông- qua đó cũng có thêt tìm hiểu những giá trị tinh
Trang 7thần, tài năng và nhiệt huyết , những đóng góp xuất sắc của nhà văn trong ba mươi năm
miệt mài cầm bút" [37]
Nguyễn Minh Châu và Những sáng tác của anh - N.Nikulin viết
"sáng tác của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn bộc lộ ra những đặc tính của mộtthể loại ưu việt, mở ra cho văn học những đề tài và vấn đề mới của đời sống nhân dân,những hình tượng nhân vật mới Các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu đào sâu thêm ýniệm của chúng ta về nước Việt Nam hiện nay, về tiềm năng tinh thần của những conngười xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam"[91;361 ]
Nguyễn Khải "Sau này đã có người đứng trên vai ông để mà to lớn hơn nhưng vị trítiên phong và những cống hiến có tính chất khai phá của ông là không thể phủ nhận Tìm
ra hướng đi mới cho văn học cả trên bình diện nội dung phản ánh lẫn bút pháp nghệ thuật.Nhà văn đã công khai với bạn đọc một cách viết mới: hiện đại mà vẫn đậm đà truyềnthống Ông đã đi được một chặng đường xa, dù nhọc nhằn nhưng thật nhiều ý nghĩa".Nguyễn Khải khẳng định: ông là "người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôiViệt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ sau này"
Lại Nguyên Ân "Chiều sâu mới mẻ trong sáng tác truyện của Nguyễn Minh Châuchính là nảy sinh trong sự đổi mới các bình diện nhận thức đời sống, mạnh dạn đi tìmnhiều cách thể hiện khác nhau, tự làm phong phú các khả năng nghệ thuật của mình vàcủa chung nền văn xuôi chúng ta, vốn đang bước vào một thời kỳ phát triển mới” [3 ]
Nguyễn Văn Hạnh “ Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, dù có là tiểu thuyếthay truyện ngắn, cốt truyện thường không đóng một vai trò nào đáng kể Nhà văn tậptrung chú ý vào thân phận con người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn
đa cảm dồi dào ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và mộtgiọng văn trữ tình trầm lắng ấp áp” [35; 225 ]
Mai Hương trong Nguyễn Minh Châu và di sản văn học của ông đã khẳng định
“Nguyễn Minh Châu là cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi chống Mỹ, đồng thời là người
mở đường " tinh anh và tài năng", người " đi được xa nhất" trong phong trào đổi mới vănhọc đương đại”
Trang 82.2 Những bài viết về truyện ngắn.
Lê Lựu nói: "Nguyễn Minh Châu nhìn đâu cũng ra được truyện ngắn Bởi vì,truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu chú ý đến các đề tài của cuộc sống thường nhật"
Lã Nguyên trong bài "và những trăn trở trong đổi mới tư duy nghệ thuật " khi
truyện ngắn Bức tranh vừa xuất hiện, giới phê bình đã nhận thấy bước ngoặt tất yếu sẽ xảy ra trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu Quả thế, liền sau Bức tranh,
Nguyễn Minh Châu liên tiếp cho ra đời hàng loạt tác phẩm làm xôn xao dư luận".[72 ]
Tác giả Ngọc Trai nhận xét " Cho đến nay, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châuvẫn là đề tài trao đổi khá thú vị giữa các nhà văn các nhà phê bình Không chỉ là sự tranhcãi giữa những người không đồng tình, mà những người yêu thích truyện ngắn của anhcũng mỗi người một vẻ, và người còn băn khoăn ngần ngại cũng do ở chỗ mỗi người hiểutruyện của anh một cách Đối với người viết, đó quả là điều hạnh phúc và lý thú"[ 87]
Nguyễn Đức Thọ trong bài Ấn tượng Nguyễn Minh Châu có nhận xét" Tôi cho
rằng sự khởi sắc của truyện ngắn Việt Nam đương đại đã bắt đầu từ truyện ngắn củaNguyễn Minh Châu Những người cầm bút bắt buộc phải nhìn lại trang bản thảo của mìnhsau khi đọc những trang viết trời cho của Nguyễn Minh Châu"
Nguyễn Tri Nguyên Những đổi mới về thi pháp sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975 nhận định" Cùng với nhiều nhà văn cùng thế hệ trẻ hoặc trẻ hơn, Nguyễn Minh
Châu đã góp phần đổi mới nền văn học sau 1975 từ nền văn học đơn thanh điệu trong thipháp thể hiện đến nền văn học đa thanh điệu, phức điệu trong thi pháp"[38; 224]
Vương Trí Nhàn trong Nguyễn Minh Châu - Người viết văn và thời đại - viết
"Khi khen văn Hemingway, Garcia Marquez có lưu ý một vài chi tiết được sử dụng
trong Hạnh phúc ngắn ngủi của Mark Comber rất hay và ông gọi đó là “những điều ngu
ngơ thần tình mà chỉ những nhà văn sáng suốt mới viết lên được”. [77] Tôi không dám
nói rằng các chi tiết trong văn Nguyễn Minh Châu hôm nay đã đạt đến mức thần tình,
nhưng đúng là trong Cửa sông và Dấu chân người lính, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và Bến quê có không biết bao nhiêu chi tiết lặt vặt như vâỵ." Ngu ngơ, vâng; không
đâu vào đâu, đúng thế, nhưng nếu thiếu đi thì lại mất hết cả cái gọi là duyên riêng của văn
Trang 9chương Ngược lại, khả năng cảm nhận và nhu cầu nói ra bằng được những điều ngu ngơnày chính là khả năng biết nắm bắt cuộc sống với tất cả vẻ xù xì của nó, sự đa dạng của
nó, và nhất là cái lung linh kỳ ảo của nó, từ đó hình thành cái gọi là cảm quan văn học
như người ta vẫn nói” [77 ]
Nguyễn Ngọc Chương Chiếc thuyền ngoài xa - một ẩn dụ nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhËn xÐt "hình tượng “chiếc thuyền ngoài xa” đích thực là một ẩn
dụ nghệ thuật hoàn toàn có dụng ý của nhà văn Nguyễn Minh Châu Giải mã hình tượng
ẩn dụ đó, người đọc sẽ nhận ra một thông điệp mà nhà văn muốn truyền đi, rằng cuộc đờivốn dĩ là nơi sản sinh ra cái đẹp của nghệ thuật nhưng không phải bao giờ cuộc đời cũng
là nghệ thuật, và rằng con người ta cần có một khoảng cách để chiêm ngưỡng vẻ đẹp củanghệ thuật nhưng nếu muốn khám phá những bí ẩn bên trong thân phận con người vàcuộc đời thì phải tiếp cận với đời, đi vào bên trong cuộc đời và sống cùng cuộc đời
Đỗ Đức Hiểu viết về nhân vật lão Khúng trong Phiên Chợ Giát, “Truyện không
khép kín ở một ý nghĩa nào, nó mở cho mỗi nhóm người đọc một chân trời … Sự hóathân người / bò của ông lão Khúng/ Khoang đen, sự phân đôi nhân cách ấy, sự kết hợp hai
ý thức con người/ con vật ấy, là bi kịch của nhân vật, của thời đại Sự quan sát xã hội dichuyển vào sự quan sát nội tâm, tạo nên một tâm lý vận động, đó là nghệ thuật của truyện
ngắn Phiên chợ Giát Văn bản di động trên nhiều bình diện: ngôn ngữ, hình tượng, xã
hội, tâm lý, quá vãng và hiện tại, lịch sử và tưởng tượng” [ 42;182]
Vương Trí Nhàn trong Bản di chúc tinh thần của Nguyễn Minh Châu viết “cảm hứng chi phối Khách ở quê ra là cái phần bóng tối còn nặng nề, cái phần lạc hậu một thời
gian dài còn bao trùm lên con người và cuộc sống nông thôn Một ấn tượng tương tự về
nông thôn cũng có thể tìm thấy trong Chợ tết Nhếch nhác, bẩn thỉu, cái làng biển được
nói tới ở đây lúc nào cũng tanh mùi cá, và con người thì quẩn quanh tù túng, lúc nào cũngbận bịu với cuộc mưu sinh, không sao ngẩng mặt lên được ” [ 74; 307 ]
2.3 Những bài viết về đề tài tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu.
Trang 10Nguyễn Mạnh Hàtrong bài báoTư duy tiểu thuyết - khái niệm của hệ hình - đã lấy truyện Phiên chợ Giát làm ví dụ cho tư duy tiểu thuyết hiện đại "Kết cấu mở của tác
phẩm có liên quan chặt chẽ đến tính bất định, Và chính kết cấu ấy đã làm nên đặc điểmthứ năm: tính đa thanh Tính đa thanh của tác phẩm là dĩ nhiên vì: thứ nhất, nhà văn phảnánh cuộc sống tại thời điểm hiện tại trong một trạng huống tâm lí nhất định của anh ta màcuộc sống thì không đứng yên do đó một sự vật - hiện tượng ở thời điểm này thì thế nàynhưng ở thời điểm khác thì thế khác; thứ hai, như đã nói, không có chân lí phổ quát, do
đó yếu tố cá nhân, trạng thái tâm lí, những cảm nhận khó nắm bắt của cá nhân được chủtrọng do đó có sự đối thoại tất yếu với người khác dù muốn dù không (bởi người khácchưa hẳn đã nghĩ như anh, kể cả cố hiểu anh đến mấy cũng không thể trùng khít trong suynghĩ và diễn giải); thứ ba, có thể biểu hiện trên hai bình diện: nhà văn khắc hoạ nhân vậttrong tác phẩm, nhưng là con người không hoàn tất kiểu như lão Khúng của NguyễnMinh Châu, Thuỷ của Nguyễn Huy Thiệp (vì không có một sự hoàn tất nào một khi đãthay đổi tâm thế, một khi con người bình đẳng trước con người; nhà văn dù tạo nên nhânvật nhưng câu hỏi về nó chưa hẳn đã một bề trong kiểm soát - đây được xem như hệ quảtất yếu của quá trình viết: các quan hệ đời sống không tách biệt chằn chặn và, sự bất lực,những giới hạn của ngôn ngữ - tức, nhà văn vẫn không thôi đối thoại với nó" [ 34 ]
Lưu Thị Thu Hà viết " Từ sự phá vỡ tính logic của quan hệ nhân quả và trật tự thời
gian trong chuỗi sự kiện, nhiều tác phẩm đi tới chỗ phát hiện và sử dụng tính phi logictrong các sự kiện, biến cố để thể hiện tâm trạng của con người Hiện tượng này, ngoàinhững biểu hiện về cái hư ảo của Thân phận tình yêu, còn xuất hiện trong truyện ngắnPhiên chợ Giát qua mô-típ hoá thân người - bò trong những giấc mơ của lão Khúng” [33 ]
Đặc biệt Phạm Vĩnh Cư nhận xét " Với những tác phẩm mang tiêu đề tiểu thuyếtcủa Nguyễn Minh Châu thiếu những yếu tố bên trong, những " gien" vô hình làm nên thểloại tiểu thuyết Nhưng những mầm mống tiểu thuyết thực sự lại nảy nở trong một sốtruyện ngắn " [ 20; 297 ].
Nhà văn Nguyên Ngọc đã có một cảm nhận đúng khi cho rằng : "Một số truyện
ngắn gần đây (như Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn Nguyễn Huy
Trang 11Thiệp, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh… chẳng hạn) lại có tính chất tiểu thuyết
hơn cả những sách có ghi là tiểu thuyết hẳn hoi"[ 71;7 ]
Qua khảo sát lịch sử nghiên cứu nêu trên, nhìn chung các tác giả đã đi vào nghiêncứu, đánh giá đúng tài năng, vị trí Nguyễn Minh Châu và giá trị nghệ thuật, nội dung tưtưởng trong tác phẩm của ông Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình nàonghiên cứu về đề tài tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu như mộtđối tượng nghiên cứu chỉnh thể, chuyên biệt Nhận thấy điều đó, chúng tôi tập trungnghiên cứu đề tài này với mong muốn có được cái nhìn rõ nét về sự hiện diện của tư duytiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Tiếp thu những thành tựu nghiên cứucủa người đi trước, chúng tôi sẽ cố gắng đào tìm “những viên ngọc còn ẩn dấu” trongtruyện ngắn của ông nhằm góp phần của mình vào việc nhận diện sâu hơn, đầy đủ hơn tàinăng và tư duy nghệ thuật độc đáo của nhà văn
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Khảo sát sự vận động của tư duy nghệ thuật Nguyễn Minh Châu sau 1975 3.2 Nhận diện tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975.3.3 Phân tích những biểu hiện của tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn NguyễnMinh Châu sau 1975 ở các phương diện nội dung và nghệ thuật
4 Đối tượng nghiên cứu
Tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong truyện ngắnNguyễn Minh Châu sau 1975
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát những truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu sau
1975 và đối chiếu thêm một số truyện ngắn tiêu biểu trước 1975 được in trong Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu- Nxb Văn học , Hà Nội, 2006
6 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê.
Trang 12- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp so sánh- đối chiếu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn
được triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Hành trình sáng tạo và sự vận động trong tư duy nghệ thuật của NguyễnMinh Châu
Chương 2 Biểu hiện của tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châusau 1975 trên các phương diện nội dung
Chương 3 Biểu hiện của tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châusau 1975 trên các phương diện nghệ thuật
Chương 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ SỰ VẬN ĐỘNG TRONG TƯ DUY NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
1.1 Hành trình sáng tạo
1.1.1 Vài nét về cuộc đời , con người
Nhà văn Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20 tháng 10 năm 1930 Lúc mới sinh có tên
là Nguyễn Thí Quờ gốc ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Từ nhỏ ông là người nhút nhát, rôt rÌ Cho đến sau này, khi mái tóc đã điểm bạc thì bảntính đó vẫn không thay đổi trong ông Ông sống hồn hậu chân tình, luôn ghét lối sống giảtạo cùng với cách ăn nói hoa mỹ Ông chủ trương sống thực, sống đúng với bản chất củacon người Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành chung Tháng
1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại Nghệ Tĩnh và sau đó
Trang 13gia nhập quân đội, học ở trường sỹ quan lục quân Trần Quốc Tuấn Từ năm 1952 đến
1956, ông công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320 Từ năm
1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320.Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa Lạng Sơn Năm 1962, Nguyễn Minh Châu vềcông tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội Năm
1972 được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Nguyễn Minh Châu qua đời ngày 23tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội, thọ 59 tuổi
Ông để lại cho kho tàng văn học Việt Nam một sự nghiệp văn học gồm mười batập văn xuôi: tám tiểu thuyết, hai truyện vừa và ba tập truyện ngắn; một tập tiểu luận phêbình
Sự nghiệp văn học của ông đã được ghi nhận với nhiều giải thưởng xứng đáng:
Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật vào năm 2000; Tác phẩm Cỏ lau đạt giải
thưởng Hội nhà văn Việt Nam vào năm 1990 Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng 1984
- 1989 cho toàn bộ sáng tác của Nguyễn Minh Châu viết về chiến tranh và người lính
1.1.2 Sáng tạo của Nguyễn Minh Châu trước 1975
Con đường Nguyễn Minh Châu đến với văn học, cũng là con đường quen thuộc,phổ biến của nhiều cây bút chiến sĩ: ''Con người nhà văn lột xác ra từ người lính'' - Hành
trình văn học của Nguyễn Minh Châu khởi đầu bằng truyện ngắn Sau một buổi tập (đăng Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 10-1960) và khép lại với truyện Phiên chợ Giát, được viết
ngay trên giường bệnh, trong những gi©y phót chót cùng của cuộc đời (1989) Trong
kh¸ng chiÕn chống Mỹ, Nguyễn Minh Châu đã dành trọn vẹn nửa đời văn của mình đisâu, khám phá, phản ánh những ''đề tài sinh tử'' trong mảng hiện thực chiến tranh vàngười lính cách mạng Sau một số truyện ngắn đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội,
năm 1966, tiểu thuyết Cửa sông, năm 1970 tập truyện ngắn Những vùng trời khác nhau
và năm 1972, tiểu thuyết Dấu chân người lính lần lượt ra đời hoàn thiện dần bức chân
dung đầy đặn của nhà văn chiến sĩ Những tác phẩm nóng hổi hơi thở cuéc sống, như cònsặc mùi thuốc súng, khói bom được viết ''trước hết với ý thức nóng bỏng được góp phần
Trang 14cựng toàn dõn tham gia đỏnh giặc'' [15; 45 ] ấy của Nguyễn Minh Chõu đó phản ỏnh đượckhỏt vọng tinh thần chỏy bỏng của cả dõn tộc và thời đại - khỏt vọng độc lập, tự do đồngthời gúp phần tỏi hiện bức tranh lịch sử hoành trỏng của dõn tộc trong cuộc chiến tranh
Vệ Quốc vĩ đại
Nằm trong dũng chảy của văn học chống Mỹ, những tỏc phẩm của Nguyễn MinhChõu thường nghiờng về ca ngợi vẻ đẹp hào hựng và tươi tắn của cả cộng đồng, những sựkiện vĩ đại, những người anh hựng trong sự ngiệp chống Mĩ cứu nước Cảm hứng trữ tỡnhhũa quyện với cảm hứng anh hựng được thể hiện với bỳt phỏp trữ tỡnh đậm đà, giàu chất
thơ Cửa sụng tỏi hiện nhịp sống vừa bỡnh thản vừa quả cảm trong cuộc chiến tranh phỏ hoại tàn bạo của đế quốc Mỹ, Dấu chõn người lớnh với bầu khụng khớ hào hứng ''xẻ dọc
Trường Sơn đi cứu nước'' của cả một dõn tộc, cuộc hành quõn vụ tận của ''một dũng thỏcngười đụng đỳc và ồn ào như dũng nước lũ của tầng tầng lớp lớp người đang nối tiếpnhau hiện ra trờn đồi, từ dưới suối, từ khắp cỏc ngừ ngỏch của rừng", tiến vào Khe Sanh,bủa võy cứ điểm Tà Cơn, quyết chiến và quyết thắng
Sự hũa nhập tuyệt diệu của ngũi bỳt Nguyễn Minh Chõu với văn học chống Mỹ xột trờn cả hai phương diện cảm hứng sỏng tạo và bỳt phỏp – đồng thời cũng khẳng địnhnhững đúng gúp quý giỏ, kịp thời của nhà văn vào sự nghiệp chiến đấu và nền văn họcchống Mỹ Đú chớnh là những di sản văn học quý giỏ, những "tài sản lịch sử" mà NguyễnMinh Chõu để lại cho chỳng ta
-1.1.3 Con đường sỏng tạo nghệ thuật của Nguyễn Minh Chõu sau 1975 gắn liền với sự chuyển mỡnh của thời đại.
Đất nước đó hũa bỡnh, từ gió cuộc sống đầy bất trắc, gian lao của thời chiến, con
người trở về với cỏi “bản chất người thực sự như nú vốn cú”, văn chương để phụng sựđược con người cũng cần phải khỏc Vỡ thế ý thức hướng tới một thứ văn chương sõu xahơn đó trở thành một nhu cầu hết sức bức thiết Trong ý thức thường trực gắn bú với đờisống, người nghệ sĩ tõm huyết và mẫn cảm Nguyễn Minh Chõu đó kịp thời bắt vào nhịpsống mới và sớm phỏt hiện những vấn đề bức thiết của đất nước ngay giữa thời điểmchuyển giao chiến tranh - hũa bỡnh Với một loạt cỏc bài phờ bỡnh, tiểu luận, đặc biệt là
Trang 15tiểu luận Hóy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ (1987) cựng những tỏc phẩm xuất sắc: Miền chỏy (tiểu thuyết, 1977) , Lửa từ những ngụi nhà (tiểu thuyết, 1977), Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982), Người đàn bà trờn chuyến tàu tốc hành (truyện ngắn, 1983) , Bến quờ (truyện ngắn, 1985) , Mảnh đất tỡnh yờu (tiểu thuyết, 1987), Cỏ lau (truyện ngắn, 1989) đó thể hiện bước chuyển õm thầm mà quyết liệt
trong quan niệm sỏng tỏc Nguyễn Minh Chõu đó tạo cho mỡnh một vị trớ khụng thể thaythế trong giai đoạn quỏ độ của văn học trước và sau 1975, trở thành một nhà văn đặt nềnmúng toàn diện và sõu sắc cho sự đổi mới cả về quan niệm nghệ thuật lẫn phương thứcbiểu đạt
Quan sỏt hành trỡnh sỏng tạo của Nguyễn Minh Chõu, cú thể dễ dàng nhận thấy,những năm 80 là giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ và cũng là giai đoạn Nguyễn Minh Chõu
cú những thành tựu nghệ thuật đặc sắc "được hỡnh thành từ những sự tớch tụ sắc sảo đầytrăn trở'' của ụng Càng ngày, Nguyễn Minh Chõu càng cú ý thức sõu sắc hơn về việc đưavăn học trở về với đời sống, tham gia trực tiếp vào cuộc đấu tranh cho quyền sống củatừng con người Và bởi vậy muụn mặt đời thường đó đi vào thế giới nghệ thuật của nhàvăn, với một mục đớch rừ ràng: "Mỗi truyện ngắn tụi nờu ra một trường hợp cụ thể và xenvào mạch kể chuyện, tụi bàn bạc về quan niệm sống hoặc bỏo động một điều gỡ''[18 ] Đúcũng là một trong những đúng gúp lớn của Nguyễn Minh Chõu trong nỗ lực lấp đi mộtkhoảng trống trong văn học viết về chiến tranh, bằng những mảng đề tài về cuộc sốngbỡnh thường hàng ngày, về số phận cỏ nhõn trong đời sống cộng đồng Chớnh ở đõy,Nguyễn Minh Chõu đó là người kế thừa xuất sắc kinh nghiệm nghệ thuật của Nam Cao''nhà văn kiệt xuất trong việc sử dụng chất liệu đời thường" (Hà Minh Đức) người đó tạodựng được văn nghiệp lớn của mỡnh chớnh trờn mảnh đất cuộc đời và bằng những chấtliệu đời thường - người mà sinh thời, Nguyễn Minh Chõu đó tỡm về với một niềm ngưỡngvọng và đồng cảm Ngũi bỳt ụng làm sỏng tỏ trước mắt người đọc "những điều thuộc vềlương tõm và đời sống tinh thần của con người, những cỏi điều thời sự hàng ngày vẫngiỏp mặt với những người đọc đương thời nhưng lại rất sõu xa và lõu bền, vĩnh hằng, màlại rất chung, rất phổ biến ở mọi người, mọi nơi, mọi thời'' [15;194 ]
Trang 16Những đóng góp của Nguyễn Minh Châu trong giai ®o¹n sau 1975, nổi bật nhấtnhững "vệt tư tưởng'' - bằng tư duy nghệ thuật và sáng tác ông đã để lại khá sâu đậmtrong văn học Việt Nam đương đại Những cách tân sâu sắc và toàn diện về nghệ thuậtbiểu đạt: từ nhân vật đến cốt truyện; tình huống; từ giọng điệu, ngôn ngữ, đến điểm nhìntrần thuật đã cộng hưởng để tạo nên sức mạnh tổng hợp thành thế giới nghệ thuật đặcsắc của Nguyễn Minh Châu làm nên những thành tựu lớn trong văn học Nguyễn MinhChâu vinh dự đón nhận những phần thưởng cao quí: Giải thưởng Văn học Bộ Quốcphòng 1984 - 1989 cho toàn bộ sáng tác của Nguyễn Minh Châu viết về chiến tranh vàngười lính; Tác phẩm Cỏ lau đạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam vào năm 1990; Giảithưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật vào năm 2000.
1.2 Sự vận động trong tư duy nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
Đất nước chuyển mình từ khí thế hào hùng của hai cuộc chiến tranh vệ quốc ,những tháng ngày toàn dân kháng chiến, cả đất nước đều là trận tuyến đến nhịp sống củađời thường đời sống xã hội bước sang một thời kỳ mới Thời kỳ con người tìm lại được ýnghĩa đích thực cho cuộc sống của mình Văn học thời kỳ này không sáng tác vì lợi íchkháng chiến nữa mà họ được tự do sáng tạo, tự do lựa chọn chủ đề, đề tài Những thayđổi lớn lao của đời sống xã hội đã tạo điều kiện cho sự vận động tư duy nghệ thuật
Nguyễn Minh Châu Từ tư duy sử thi trước 1975 đến tư duy tiểu thuyết sau 1975.
1.2.1 Tư duy sử thi trước 1975
1.2.1.1 Khái niệm sử thi và tư duy sử thi
Sử thi là thể loại tự sự trong quá khứ, kể về những chiến công lẫy lừng của anhhùng, dũng sĩ, tiêu biểu cho một thời đại trong lịch sử Là bức tranh rộng lớn và hoànchỉnh về đời sống nhân dân và những anh hùng trên nền các cuộc đấu tranh của hai bộ lạchoặc bộ tộc, sắc tộc, ít nhiều tương ứng với sự thật lịch sử quá khứ
Sử thi là thể loại " một đi không trở lại" trong tiến trình lịch sử văn học, đặc trưng
tư duy nghệ thuật của sử thi hay “tính sử thi " là mét đặc điểm của văn học sáng tác trênnền tảng của ý thức cộng đồng, toàn dân, xuất hiện vào thời kì có đấu tranh chống ngoạixâm, có phong trào xã hội bảo vệ lợi ích toàn dân Tác phẩm được coi là có tính sử thi khi
Trang 17nó tái hiện bức tranh lịch sử hoành tráng của dân tộc hay khai thác và phản ánh xung độtcủa dân tộc với kẻ xâm lược, thể hiện những vấn đề lớn của cả cộng đồng trên lập trường
vì lợi ích chung của dân tộc; xây dựng nhân vật anh hùng với những chiến công lẫy lừngđại diện cho phẩm chất, ý chí và sức mạnh của dân tộc bằng giọng ngợi ca, tự hào và thểhiện được những tình cảm chung của toàn dân tộc
1.2.1.2 Tư duy sử thi trong văn học Việt Nam trước 1975
Đặc trưng tư duy nghệ thuật của sử thi không chỉ hiện diện trong các tác phẩm sửthi thời quá khứ mà vẫn hiện diện trong các thể loại văn học trung đại và hiện đại Trong
văn học Việt Nam trước 1975, khí thế hào hùng của toàn dân tộc đánh giặc ” Xẻ dọc trường sơn đi cứu nước - Mà lòng phới phới dậy tương lai” đã tạo nên âm hưởng sử thi
hào hùng trong hầu hết các tác phẩm văn học Nhà văn thời kỳ này nhìn đâu cũng thấy cáiđẹp, cái anh hùng Cái xấu, cái ác và những khó khăn gian khổ bị che lấp đi Trong mắt
và trái tim nhà văn, chỉ còn cái tốt, cái phi thường và niềm tin chiến thắng tất yếu của cỏithiện, của cách mạng hiện hữu Tư duy nghệ thuật đậm chất sử thi đã tạo nên nhiều tácphẩm phản ánh khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của cả dân tộc vµ thời đại Góp phầntái hiện bức tranh lịch sử hoành tráng của dân tộc trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại
Âm hưởng sử thi là âm hưởng chung của văn học Việt Nam thời kì kháng chiến.Màu sắc sử thi góp phần quan trọng trong việc thể hiện chủ đề, chuyển tải không khí thờiđại đồng thời cũng tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm văn học giai đoạn này
1.2.1.3 Tư duy sử thi trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trước 1975
Trong bối cảnh chung của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, dưới sự lãnhđạo của Đảng, văn nghệ sĩ là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng nên quan niệm nghệthuật của Nguyễn Minh Châu hòa chung quan điểm, đường lối văn nghệ của Đảng Vănhọc phục vụ công tác tuyên truyền cổ động, ngợi ca sự nghiệp kháng chiến và xây dựngCNXH của dân tộc "Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạtđường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động, và do nhiều lý do từ nhữngngày đầu cách mạng, các nhà văn cũng tự nguyện tự giác thấy nên và cần làm như thế(thậm chí có phần nào các nhà văn mới đi theo cách mạng và kháng chiến còn coi đó làcái mới, là hoàn cảnh “lột xác” [11]
Trang 18Quan niệm sáng tác của Nguyễn Minh Châu giai đoạn này đại diện cho khuynhhướng chung của nền văn học cách mạng, văn học phục vụ cách mạng Nguyễn MinhChâu ý thức hết sức sâu sắc về sứ mệnh thiêng liêng của người cầm bút trong giai đoạnkhốc liệt nhất của cuộc chiến Tâm niệm sáng tác cháy bỏng trong ông lúc này là hướngđến cuộc “đấu tranh vì quyền sống của cả dân tộc” sáng tác văn học để phục vụ cáchmạng, phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựngCNXH Vì vậy tư duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu thời kỳ này là tư duy sử thivới cảm hứng anh hùng ca phản ánh, tái hiện và ngợi ca bức tranh hiện thực sống động vềcon người và cuộc sống của nhân dân trong kháng chiến Nguyễn Minh Châu là nhà vănchiến sỹ, quan niệm sáng tác và đặc trưng tư duy nghệ thuật trong truyện ngắn của ôngthống nhất với đặc trưng thẩm mỹ trong truyện ngắn của các nhà văn cùng thời
Không chỉ hiện diện trong tiểu thuyết sử thi, trong truyện ngắn trước 1975, tư duy
sử thi vẫn là chủ âm trong sáng tạo của Nguyễn Minh Châu, những tác phẩm mangkhuynh hướng anh hùng ca cách mạng, đậm chất trữ tình lãng mạn ra đời với việc xâydựng nhân vật chính diện đẹp đẽ, kỳ diệu " Nhà văn dường như vượt lên khỏi cái hằngngày và hướng về cái đẹp đẽ của cuộc đời; cái đẹp dường như được giải thoát khỏi gánhnặng của cái xấu, bay vượt lên khỏi cái thường nhật Niềm tin vào tính bất khả chiếnthắng của cái đẹp tinh thần, của cái thiện đã được khúc xạ ở chỗ anh đã "tắm rửa sạch sẽ"các nhân vật của mình, họ giống như được bao bọc trong bầu không khí vô trùng"[91;357]
Nguyễn Minh Châu say sưa ngợi ca, mê mải khám phá vẻ đẹp lung linh, kỳ ảo củacuộc sống và tâm hồn con người trong chiến tranh vệ quốc Ông tạo nên một hệ thốngnhân vật anh hùng, có lý tưởng cao đẹp, sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc, vì dân tộc Hình ảnhcon người mang những phẩm chất tốt đẹp, đặt tình cảm riêng tư trong tình cảm cáchmạng, tình cảm dân tộc, đặt lợi ích Tổ quốc; lợi ích cộng đồng trên lợi ích cá nhân.Những nhân vật được xây dựng từ tư tưởng sáng tác "cố gắng tìm cái hạt ngọc ẩn dấu
trong bề sâu tâm hồn con người" như Ngạn, ông già Lào, Y Khiêu Nguồn suối ; Lương
và Thận Nhành mai; Sơn, Lê Những vùng trời khác nhau, và tiêu biểu nhất là Nguyệt và Lãm Mảnh trăng cuối rừng Hai nhân vật Nguyệt và Lãm đại diện cho cái đẹp anh hùng
Trang 19và lãng mạn của truyện ngắn mang đậm màu sắc sử thi- anh hùng ca cách mạng kết hợpvới thiên hướng trữ tình lãng mạn
1.2.2 Tư duy tiểu thuyết sau 1975
1.2.2.1 Khái niệm tiểu thuyết và tư duy tiểu thuyết.
Tiểu thuyết (Novel) là một hình thức tự sự cỡ lớn , “cỗ máy cái” của nền văn họchiện đại, miêu tả cuộc sống trong quá trình phát triển với một cấu trúc phức tạp (nhiềucốt truyện, chủ đề, nhân vật) với nhiều số phận tính cách đan xen.” Là sự thể hiện bứctranh toàn cảnh Là một thể loại mang bản chất tổng hợp, có khả năng thâu nạp các nghệthuật lân cận như hội hoạ, âm nhạc, điêu khắc, điện ảnh Tiểu thuyết lấy việc mô tảnghệ thuật những số phận cá nhân trong sự phát triển phong phú và phức tạp của nó-nghĩa là miêu tả tỉ mỉ toàn diện từng bước thăng trầm của số phận làm mục đích củamình Bằng phương thức trần thuật, tiểu thuyết chiếm lĩnh và khái quát hiện thực cuộcsống một các đa chiều và phong phú Nã vừa có khả năng bao quát hiện thực rộng lớn (vĩmô) vừa có khả năng đi sâu khám phá đời tư, tâm hồn con người (vi mô)
Nói đến tư duy tiểu thuyết là nói đến tâm thế trước hiện thực hiện hữu, là cái nhìnxoá bỏ khoảng cách (không chỉ hiểu ở nghĩa vật chất là khoảng không gian) giữa chủ thể
và đối tượng Nói một cách dễ hiểu, nếu tư duy sử thi biểu hiện một khoảng cách lí tưởng
giữa chủ thể và đối tượng - theo M Bakhtin là "khoảng cách sử thi" biểu hiện tâm thÕ của
kẻ cháu con trước ông cha, đấng, bậc - thì tư duy tiểu thuyết xoá bỏ điều đó
Tư duy tiểu thuyết, Theo Phạm Vĩnh Cư “ là những cách nhìn, cách tiếp cận vớithế giới và con người hết sức tỉnh táo, phi huyễn hoặc, phi thành kính, xoá bỏ mọi khoảngcách đó là sự cảm thụ sống động tính phức tạp vô tận, tính mâu thuẫn nội tại và sự biếnđộng liên tục của sinh tồn, đó là sự phát hiện con người nhiều chiều, con người khôngđồng nhất với chính mình, không thể hoá thân đến cùng vào cái thân xác xã hội- lịch sửcủa mình với những mối quan hệ biện chứng chằng chịt giữa tính cách và hoàn cảnh củanó” [20; 298 ]
Nói đến tư duy tiểu thuyết là nói đến việc nhà văn tập trung miêu tả cuộc sốngcon người như nó vốn có, tập trung quan tâm đến số phận cá nhân, thâm nhập đến tận
Trang 20cùng những góc tối, góc khuất của số phận con người và cuộc đời, để cho muôn mặt đờithường đi vào thế giới văn chương
Tư duy tiểu thuyết không chỉ có riêng trong thể loại tiểu thuyết mà còn được thểhiện ở một số thể loại khác như truyện ngắn, kịch, điện ảnh Tư duy tiểu thuyết trongtruyện ngắn là nói về cách nhìn, cách tiếp cận đời sống, tiếp cận con người và phản ánhhiện thực, phản ánh con người trong truyện ngắn theo tư duy của tiểu thuyết
Những truyện ngắn mang tư duy tiểu thuyết là truyện ngắn có cách nhìn, cách tiếpcận với thế giới và con người hết sức tỉnh táo, phi huyễn hoặc, phi thành kính, xoá bỏ mọikhoảng cách, là sự phát hiện và phản ánh con người nhiều chiều, không đồng nhất vớichính mình
1.2.2.2 Tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Khảo sát tác phẩm Nguyễn Minh Châu sau 1975 chúng tôi thấy tư duy tiểu thuyết không chỉ có riêng trong các tiểu thuyết như Miền cháy ( 1977) , Lửa từ những ngôi nhà (1977), Những người đi từ trong rừng ra (1982), mà những yếu tố của tư duy tiểu thuyết
cũng xuất hiện nhiều trong truyện ngắn ở các phương diện bản chất như dung lượng, cốttruyện, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu Như nhà nghiên cứu phê bình văn họcPhạm Vĩnh Cư nhận xét " Với những tác phẩm mang tiêu đề tiểu thuyết của Nguyễn
Minh Châu thiếu những yếu tố bên trong, những " gien" vô hình làm nên thể loại tiểu
thuyết Nhưng những mầm mống tiểu thuyết thực sự lại nảy nở trong một số truyệnngắn " [20; 298 ]
Về phương diện nội dung, trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, biểu hiện của tưduy tiểu thuyết là sự bất định, là những dự cảm của tác giả về cuộc đời, của cái tôi tác giảtrong hành trình tác phẩm; trong nhiều truyện ngắn Nguyễn Minh Châu hiện lên nhữngbất trắc, những sự không đoán lường, những chân thật của cõi lòng kiếp hiện sinh Tư duytiểu thuyết với việc khẳng định tính đa chân lí, xoá bỏ khoảng cách, khẳng định cá nhân,
đã làm cho truyện ngắn của ông mở rộng đề tài, chủ đề, tránh được sự nhàm chán đơnđiệu, tác phẩm trở nên phong phú
Trang 21Tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu được biểu hiện ở cả haiphương diện nghệ thuật và nội dung ở phương diện nghệ thuật, rõ nét nhất là kết cấu mởcủa tác phẩm kết cấu mở được hiểu là việc nhà văn tạo ra cho tác phẩm của mình sù tựnhiên tuôn chảy cña cuộc sống đang diễn tiến; là sự mở rộng biên giới khỏi tác phẩm, tácphẩm kết thúc không phải là đã có sự hoàn tất cũng như cuộc sống không bao giờ hoàntất Tính đa thanh trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu cũng là biểu hiện của tư duytiêủ thuyết, Nhà văn phản ánh cuộc sống tại thời điểm hiện tại, trong một hoàn cảnh tâm
lí nhất định mà cuộc sống thì không đứng yên do đó một sự vật - hiện tượng ở thời điểmnày thì thế này nhưng ở thời điểm khác thì thế khác; thứ hai, có sự đối thoại tất yếu vớingười khác dù muốn dù không (bởi người khác chưa hẳn đã nghĩ như anh, kể cả cố hiểuanh đến mấy cũng không thể trùng khít trong suy nghĩ và diễn giải); thứ ba, có thể biểuhiện trên hai bình diện: nhà văn khắc hoạ nhân vật trong tác phẩm, nhưng là con ngườikhông hoàn tất kiểu như lão Khúng nhà văn vẫn không thôi đối thoại với nó) Tính đathanh của tác phẩm lại dẫn đến hệ quả tất yếu: sự đồng sáng tạo - một khái niệm của tiếpnhận văn học Người đọc, trước hết, nhìn trên lí luận chung, là một mắt khâu trong việctạo thành tác phẩm văn học: từ văn bản đến tác phẩm văn học Như vậy, tác phẩm vănhọc nếu nhìn trong quá trình, phụ thuộc khá lớn vào sự đánh giá của người đọc Khi tiếpcận tác phẩm, với những tác phẩm đa thanh buộc buộc người đọc phải đặt mình vào cuộcđối thoại mà nhà văn tạo dựng Người đọc đưa ra kiến giải về nhân vật, về cuộc đối thoạitrong tác phẩm nhưng đó là kiến giải của một trong những kiến giải Kiến giải đó, tạo nên
sự giàu có của tác phẩm Về phương diện nội dung, tư duy tiểu thuyết được biểu hiện ởnhiều măt: dumg lượmg, đề tài, cảm hứng…
Những truyện ngắn mang mầm mống tiểu thuyết sau 1975 góp phần đưa nhà vănlên vị trí tiên phong, mở đường cho sự đổi mới văn học Việt Nam hiện đại
1.3 Nguyễn Minh Châu người mở đường tinh anh và tài năng cho một nền văn học mới
1.3.1 Trên phương diện lý luận
Sự đổi mới văn học phải được bắt đầu từ sự đổi mới các quan niệm về văn chương,
về mối quan hệ của nhà văn với hiện thực và với công chúng Ngay trong những nămchiến tranh, khi sáng tác những tác phẩm mang đậm không khí sử thi hào sảng của thời
Trang 22đại, Nguyễn Minh Châu đã thầm lặng suy nghĩ về những bước đi sắp tới của nền văn họckhi cuộc chiến đấu giành độc lập tự do của dân tộc đã hoàn thành Ông viết trong nhật ký:
“Trong cuộc chiến đấu để giành lại đất nước với kẻ thù bên ngoài hai mươi năm nay, tarèn cho dân tộc ta bao nhiêu đức tính tốt đẹp như lòng dũng cảm, sự xả thân vì sự nghiệpcủa Tổ quốc Nhưng bên cạnh đó, hai mươi năm nay ta không có thì giờ để nhìn ta mộtcách kỹ lưỡng Phải chăng bên cạnh những đức tính tốt đẹp thì tính cơ hội, nịnh nọt, thamlam, ích kỷ, phản trắc, vụ lợi, còn được ẩn kín và có lúc ngấm ngầm phát triển đến mức lộliễu Bây giờ ta phải chiến đấu cho quyền sống của cả dân tộc Sau này, ta phải chiến đấucho từng con người, làm sao cho con người ngày một tốt đẹp Chính cuộc chiến đấu ấymới lâu dài” [ 15 ]
Sau năm1975, chiến tranh kết thúc, đất nước hoà bình, thống nhất Sau hào quangchiến thắng, sau những ngày tháng sung sướng, tự hào, hạnh phúc vì mục đích lớn lao đãthành công, cả dân tộc phải đối đầu với một hiện thực nghiệt ngã là bắt đầu cuộc sốngbình thường từ đống đổ nát bộn bề gian khó của chiến tranh, bao mối quan hệ chằng chịtcủa cuộc sống Nguyễn Minh Châu sớm ý thức được đòi hỏi phải đổi mới văn học và nhàvăn đã trực tiếp bày tỏ những suy nghĩ đầy tinh thần trách nhiệm của một nhà văn trước
xã hội và con người
Từ 1980, đất nước chuyển đổi trên nhiều phương diện trong đó có đời sống vănhoá, tư tưởng Chiến tranh kết thúc, văn học cựa mình thay đổi, nhất sau Nghị quyết củaĐại hội VI của Đảng và tiếp theo nghị quyết 05 của Bộ chính trị, cuộc gặp của Tổng bíthư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987, tất cả những điều
đó đã ào ạt thổi một luồng gió mới vào đời sống văn học nước nhà
Đối mặt với hiện thực cuộc sống đầy rẫy khó khăn, những dục vọng đời thườngđang trỗi dậy trong cá nhân mỗi con người, văn học thời kỳ này cần một sự "thay máu"phù hợp với nhịp độ cuộc sống Nhà văn Nguyễn Minh Châu là người nhạy cảm đã nhìn
ra được sự vận động tất yếu của tư tưởng sáng tác cũng như tư duy nghệ thuật của thờiđại Với một loạt các bài phê bình, tiểu luận… cùng những tác phẩm không chỉ minh họaxuất sắc cho bước chuyển âm thầm mà quyết liệt trong quan niệm sáng tác mà còn đạt tới
sự hoàn thiện nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu đã tạo cho mình một vị trí không thể thay
Trang 23thế trong giai đoạn quá độ của văn học trước và sau 1975, trở thành một nhà văn đặt nềnmóng toàn diện và sâu sắc cho sự đổi mới cả về quan niệm nghệ thuật lẫn phương thứcbiểu đạt.
Quan niệm về mối quan hệ giữa văn học và đời sống của Nguyễn Minh Châu làmột quan niệm đặt trên nền tảng tinh thần nhân bản: “Văn học và đời sống là những vòngtròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” [18] Trong Ngồi buồn viết mà chơi tác giả viết
“Nhà văn tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nânggiấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người
ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đoạ đầy đến êchề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời để bênh vực cho những conngười không có ai để bênh vực” [17 ]
Cùng với việc phê phán mạnh mẽ để từ bỏ thứ “Văn nghệ minh hoạ” Nguyễn MinhChâu cũng chỉ rõ sự hạn chế của việc nhà văn “chỉ được giao phó nhiệm vụ truyền đạtcủa chủ trương chính sách bằng hình tượng sinh động” Điều đó dẫn đến hậu quả là “nhàvăn đánh mất cái đầu và tác phẩm đánh mất tính tư tưởng” Với một tinh thần nghiêmkhắc tự nhìn lại mình và đội ngũ nhà văn, Nguyễn Minh Châu đã thẳng thắn chỉ ra sựthiếu hụt về bản lĩnh, thói quen che chắn, rào đón do một cái sợ cố hữu luôn ám ảnh, đếnnỗi không ít người tự đánh mất mình Cùng với việc thức tỉnh ý thức về bản thân và tự dosáng tạo của người cầm bút, Nguyễn Minh Châu luôn tự nhắc nhở về trách nhiệm cao cảcủa nhà văn Nhà văn phải là người thức tỉnh xã hội và cảnh báo trước những nguy cơ đếnvới nhân loại Nhưng trước hết, người cầm bút phải là người có tình yêu tha thiết với cuộcsống, nhất là với con người.“ Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoansay mê, vừa là một nỗi đau đớn khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận,hạnh phúc của những người chung quanh mình” [18 ]
Trong các tiểu luận phê bình được in trong tập Di cảo Nguyễn Minh Châu thể hiện
rất rõ quan niệm sáng tác, tư duy nghệ thuật đổi mới của ông Nhà văn đã chọn cho mìnhhướng đi: lấy con người làm đối tượng khảo sát thay cho hiện thực đời sống
Trong Trang giấy trước đèn và tiểu luận Trang giấy trước đèn và tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa ông đã thể hiện quan niệm sáng tác
Trang 24là nghệ thuật phải tái hiện được hiện thực cuộc sống và chân dung con người như nó vốn
có Nghệ thuật phải tìm ra, chỉ ra những giá trị đích thực của cuộc sống, qua đó gửi gắmtriết lý nhân văn, niềm tin vào phẩm chất tốt đẹp của con người
Ông tuyên bố “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” Nguyễn
Minh Châu ý thức sâu sắc và quyết định: “ đưa văn học trở về với đời sống, tham gia
trực tiếp vào ''cuộc đấu tranh cho quyền sống của từng con người'' [11 ].
Ông chỉ ra cái qui luật thuộc về bản chất văn học “trước sau gì con người cũng trèolên các sự kiện để đòi quyền sống” Từ đó ông tự tìm đường đi cho nghệ thuật, khám phá,đào sâu vào bản chất con người ông coi đó là con đường đến với những giá trị vĩnh hằng.Không phủ nhận việc văn chương phải quan tâm đến cái chung, cái cộng đồng nhưngtheo Nguyễn Minh Châu văn chương còn phải là câu chuyện của mỗi người
Nguyễn Minh Châu đã thể hiện những tình cảm, nghĩ suy tâm huyết '' Tôi khôngthể tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống
và nhất là tình yêu thương con người Tình yêu này của người nghệ sĩ vừa là một niềmhân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải, một mối quan hoài thường trực về
số phận, hạnh phúc của con người chung quanh mình Cần giữ cái tình yêu lớn ấy trongmình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh củangười đời, giúp họ vượt qua những khủng hoảng tinh thần và đứng vững được trước cuộcsống'' [ 15; 9 ].
1.3.2 Trên phương diện sáng tác.
Trong tiểu luận Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ, Nguyễn
Minh Châu đã chỉ ra giới hạn chật hẹp của quan niệm về hiện thực trong văn học của tasuốt một thời kỳ dài, mà nhà văn dùng hình ảnh “Cái hành lang hẹp và thấp” khiến chomỗi người viết phải tự mình “bạt bớt chiều cao, thu hẹp bớt chiều ngang để có thể đi lại
dễ dàng” Đó là “thứ văn nghệ minh hoạ” Cái nhìn hiện thực không còn bị bó hẹp trongnhững khuôn khổ có sẵn mà mở ra trong một thực tại đa chiều, luôn biến động và đầy bấtngờ, như lời Nguyễn Minh Châu: “Cuộc đời vốn đa sự con người thì đa đoan”, mỗi tácphẩm phải lµ sự khám phá những quy luật của đời sống, với ý thức ấy, nhiều tác phẩm
Trang 25của Nguyễn Minh Châu sau 1975 là những cuộc đối chứng với những quan niệm, nhậnthức hạn hẹp, chủ quan của một thời trong cách nhìn cuộc đời và con người.
1.3.2.1 Hệ thống thể loại
Sự đổi mới không chỉ hiện diện trong tư duy nghệ thuật và tư tưởng sáng tác màcòn bộc lộ trong hệ thống thể loại Sau 1975, Nguyễn Minh Châu đã sử dụng thể loạitruyện ngắn như một phương tiện chủ yếu để thể hiện tư tưởng cách tân của mình Ngoài
ra, những tiểu luận, phê bình, những bài phát biểu cũng là phương tiện quan trọng đểchuyển tải tư tưởng đổi mới nghệ thuật của nhà văn đến với mọi người
1.3.2.2 Truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác Nguyễn Minh Châu
Trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn có vị trí rất quan
trọng Sinh thời, ông đã tự đánh giá tổng kết sự nghiệp sáng tác của mình: “Mình viết văn
cả đời tràng giang đại hải có khi chỉ còn lại được vài cái truyện ngắn” Truyện ngắn thực
sự đã thể hiện được văn tài xuất sắc của tác giả Nguyễn Minh Châu đã đóng góp cho nền
văn học nước nhà nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao như: Mảnh trăng cuối rừng, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bức tranh, Cỏ lau, Chiếc thuyền ngoài xa, Bến quê, Phiên chợ Giát
1.3.2.3 Những truyện ngắn mở đường cho một kiểu tư duy mới - tư duy tiểu thuyết
Giai đoạn văn học trước 1975, con người là phương tiện biểu đạt lịch sử thì lúc này
ở nhà văn, lịch sử lại trở thành phương tiện để biểu đạt con người Trên cơ sở đổi mớiquan niệm nghệ thuật ấy, Nguyễn Minh Châu đã nhìn sâu vào tâm thức con người để pháthiện những khao khát riêng tư, sự xung đột kỳ vọng giữa họ và thực tế khách quan.Không chỉ trong tiểu thuyết, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu thời kỳ này có sự hiệndiện của những yếu tố tư duy tiểu thuyết Nhiều truyện ngắn của ông giai đoạn này tậptrung miêu tả cuộc sống con người và hiện thực cuộc đời như nó vốn có, ông quan tâmđến số phận cá nhân, thâm nhập đến tận cùng những góc tối, góc khuất của số phận conngười và cuộc đời Ông phản ánh, miêu tả muôn vẻ đời thường trong truyện ngắn củamình tự nhiên, chân thực như chính cuộc sống ngoài đời đang diễn ra và vận động khôngngừng
Trang 26Bức tranh của Nguyễn Minh Châu là truyện ngắn đánh dấu hành trình sáng tạo
văn học của ông, là bước chuyển mình từ tư duy sử thi thành kính sang tư duy tiểu thuyếttỉnh táo, phi huyễn hoặc Tác phẩm này dự báo một quan niệm, một mô hình, một bút
pháp hoàn toàn mới Trong Bức tranh, con người lý tưởng biến mất, thay vào đó là con
người đa nhân cách: có cả tốt đẹp lẫn đớn hèn Nhân vật họa sĩ hiện thân cho quan niệmmới mẻ của Nguyễn Minh Châu sau 1975 Xây dựng nhân vật họa sĩ, tác giả thuyết minhcho luận đề: trong tâm hồn con người luôn tồn tại cái tốt lẫn cái xấu, rồng phượng lẫnrắn rết, thiên thần và ác quỉ
Hai tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983) và Bến quê
(1985) đã đưa tên tuổi Nguyễn Minh Châu lên vị trí “người mở đường tinh anh và tàinăng” của văn học nước ta thời kì đổi mới Những truyện ngắn trong hai tập truyện đó đãkhẳng định chắn chắc về cách tiếp cận hiện thực và con người theo tư duy tiểu thuyết củaNguyễn Minh Châu
Tư duy tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu ở Cỏ lau, là sự khốc liệt của chiến tranh
ám ảnh người đọc Bằng những hình ảnh núi Đợi, những người đàn bà ôm con chờ chồngđến mỏi mòn hóa đá, bờ cỏ lau hoang dại và Lùc một người lính quay lại quê hương sau
25 năm xa nhà đi chiến đấu Mọi thứ đã được sắp xếp lại theo trật tự mới hoàn toàn ngoài
ý muốn chủ quan của anh Trước cuộc sống hiện tại, con người trở nên bất lực Anh côđơn, lạc lõng, xa lạ ngay trong ngôi nhà của mình Anh trở nên xa lạ trước người vợ yêuthương, người cha ruột thịt Bi kịch cuộc đời Lực cũng chính là bi kịch của chiến tranh
Anh “đã bị chặt lìa ra khỏi cuộc đời mình” và cuối cùng trở thành người khách lạ ở ngay
chính gia đình
Chiếc thuyền ngoài xa tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự của
nhà văn ở giai đoạn sau 1975 Cái nhìn hiện thực đa chiều đã giúp ông nhận ra đời sốngcon người bao gồm cả những quy luật tất yếu lẫn những ngẫu nhiên may rủi khó bề lườnghết Ông day dứt về việc con người phải chấp nhận những nghịch lí không đáng có Gánhnặng mưu sinh đè trĩu trên đôi vai cặp vợ chồng hàng chài, giam hãm họ trong cảnh tămtối, đói khổ, bấp bênh Người chồng tha hoá dần, trở thành kẻ vũ phu, thô bạo Người vợ
Trang 27vì thương con nên nhẫn nhục chịu đựng sự ngược đãi của chồng mà không biết rằng đãlàm tổn thương tâm hồn đứa con thơ dại Cậu bé yêu mẹ, bênh vực mẹ thành ra thù địchvới cha Phía sau câu chuyện rất buồn này, trái tim nhân hậu của Nguyễn Minh Châu vẫn
ấm áp niềm tin yêu, sự trân trọng trước vẻ đẹp của tuổi thơ, của tình mẫu tử, sự can đảm
và bao dung của người phụ nữ
Mùa trái cóc ở miền Nam đã cho thấy những chiêm nghiệm đau đớn Là một Tiểu
đoàn trưởng, một người anh hùng trong chiến trận nhưng Toàn đã từ chối tình mẫu tửthiêng liêng, sẵn sàng đẩy đồng đội vào cái chết để công danh mình thêm rạng rỡ ToànchÝnh là chân dung của cái xấu, cái ác đang ngấm ngầm nảy nở trong cuộc sống thời kỳhậu chiến Nguyễn Minh Châu đã làm cho chúng ta bàng hoàng, nhức nhối khi dựng lênhình tượng nhân vật Toàn rất sinh động, có giá trị nghệ thuật, báo động cho xã hội mộtvấn đề không nhỏ về đạo đức và sự tha hóa bi thảm trong nhân cách con người
Trong Phiên Chợ Giát, Lão Khúng “anh nông dân suốt đời đi sau con bò vạch
những luống cày trong đêm tối” lµ hình ảnh điển hình của nông dân Việt Nam làm ăn cáthể lạc hậu Nh©n vËt Khóng đã được khẳng định bản lĩnh nghệ thuật vµ quá trình cáchtân văn học của Nguyễn Minh Châu “Truyện không khép kín ở một ý nghĩa nào, nó mởcho mỗi nhóm người đọc một chân trời … Sự hóa thân người / bò của ông lão Khúng/Khoang đen, sự phân đôi nhân cách ấy, sự kết hợp hai ý thức con người/ con vật ấy, là bikịch của nhân vật, của thời đại Sự quan sát xã hội di chuyển vào sự quan sát nội tâm, tạo
nên một tâm lý vận động, đó là nghệ thuật của truyện ngắn Phiên chợ Giát Văn bản di
động trên nhiều bình diện: ngôn ngữ, hình tượng, xã hội, tâm lý, quá vãng và hiện tại, lịch
sử và tưởng tượng” [ 42;182 ].
Với cách nhìn, cách tiếp cận đời sống, tiếp cận con người và phản ánh hiện thực,phản ánh con người trong truyện ngắn theo tư duy tiểu thuyết tỉnh táo, phi huyễn hoặc,xoá bỏ mọi khoảng cách, phát hiện con người nhiều chiều, không đồng nhất với chínhmình Nguyễn Minh Châu được coi là cây bút tiên phong của văn học việt Nam sau
1975, là người dũng cảm tiên phong "thay máu" cho văn học, là người mở đường xuất
sắc cho văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới Nguyên Ngọc trong người mở đường đầy tài hoa và tinh anh khẳng định "Nguyễn Minh Châu – ngòi bút tiêu biểu của thời kỳ văn học
Trang 28đổi mới Nguyễn Khải khẳng định: sau này đã có người đứng trên vai ông để mà to lớnhơn nhưng vị trí tiên phong và những cống hiến có tính chất khai phá của ông là không
thể phủ nhận Phạm Vĩnh Cư trong Về những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nhận xét “ những mầm mống tiểu thuyết thực sự lại nảy nở trong
một số truyện ngắn " [ 20; 298 ]
Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA TƯ DUY TIỂU THUYẾT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975
TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Về mặt nội dung, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 có sự phát triển mới.Đất nước thoát khỏi chiến tranh, bước vào giai đoạn xây dựng, phát triển trong quỹ đạohoà bình Bối cảnh cuộc sống mở ra cho văn học những tiền đề mới Vốn giàu tâm huyếtvới văn chương, luôn trăn trở về một nền văn học xứng đáng với sự kì vọng của nhân dân,Nguyễn Minh Châu sớm ý thức được yêu cầu phải đổi mới tư duy văn học Ngòi bút củaông dành sự quan tâm đặc biệt cho các vấn đề thế sự Từ cảm hứng sử thi – lãng mạntừng làm nên vẻ đẹp rực rỡ của các tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng, Cửa sông, Dấu chânngười lính, ông chuyển dần sang cảm hứng triết luận về những giá trị nhân bản đờithường Tâm điểm những khám phá nghệ thuật của ông là con người trong cuộc mưusinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách
2.1 Cách nhìn cuộc sống và con người
Sau 1975, nhà văn không chỉ dừng lại ở phản ánh mà còn nghiền ngẫm hiện thực.Trước đây, hoàn cảnh chiến tranh không cho phép khám phá tận cùng sự phức tạp, bềbộn, ngổn ngang của đời sống Giờ đây, do yêu cầu của thời đại, do nhu cầu tự thân củahoạt động sáng tạo, hiện thực đời sống đi vào văn chương Nguyễn Minh Châu vẹn
Trang 29nguyờn như nó vốn có Hiện thực đa chiều của đời sống được soi sáng, cày xới cả nhữngphần khuất lấp, mờ tối
2.1 1 Cách nhìn đời sống xã hội
Với cách tiếp cận thế giới hiện thực và con người hết sức tỉnh táo, phi huyễn hoặc,phi thành kính, xoá bỏ mọi khoảng cách hiện thực hiện lên như bản thân nó đang hiệnhữu với tất cả hình vẻ : cái tốt đẹp, cái xấu xa, đê tiện sự giàu có, sự nghèo đói bầncùng, bất hạnh; sự đổ nát, tan hoang do chiến tranh tàn phá vv được Nguyễn MinhChâu cảm nhận và đưa vào trang viết một cách chân thực , sống động Hiện thực cuộcsống và chân dung con người hiện ra như nó vốn có
2.1 1 1 Hiện thực thời hậu chiến
Sống qua hai cuộc chiến tranh sau những năm tháng lăn lộn trên các ngả đườngKhu Bốn và đồng bằng Bắc Bộ thời kháng chiến chống Pháp và những ngả đường Cam
Lộ, Khe Sanh, Cửa Việt ròng rã suốt những năm chống Mỹ, Nguyễn Minh Châu đãchiêm nghiệm sâu sắc rằng: Chiến tranh không chỉ là những chiến công, không chỉ có anhhùng và quả cảm - mà còn một phần chìm khuất với biết bao nỗi đa đoan của cuộc đời vàcủa mỗi con người, biết bao sự hy sinh, mất mát, dang dở, chia lìa vẫn phải dằn lòngnén lại Hiện thực thời hậu chiến trong những trang truyện ngắn của Nguyễn Minh Châukhông phải là bức tranh hoành tráng về tiền tuyến, về chiến trường xưa hay cảnh huyhoàng phồn vinh sau chiến thắng mà là sự khốc liệt và nghiệt ngã của chiến tranh để lại,những di hoạ khôn lường đang dần dần hiện ra
Hiện thực thời hậu chiến đó được nhà văn miêu tả chân thực một cách nghiêm túc
và sâu sắc, ở một chiều sâu nhân bản mới giữa hàng loạt tác phẩm: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bức tranh, Cơn giông, Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam Có lẽ
không ai có thể nói về những di chứng của chiến tranh, những mất mát, éo le, những bikịch khủng khiếp của chiến tranh hằn sâu trong từng số phận con người một cách da diết,đau đớn và sâu sắc được như Nguyễn Minh Châu Đó là nỗi đau, là bi kịch của người mẹ
- vị sư già tội nghiệp trong Mùa trái cóc ở miền Nam; của gia đình lão Khúng trong cái
phút cả gia đình bàng hoàng, đổ sụp xuống vì nỗi đau mất con, ''những giọt nước mắt lã
Trang 30chã'' của lão Khúng Phiên chợ Giát; những giọt nước mắt đặc quánh từ hai bên khóe mắt rịn ra lấp đầy những nếp nhăn lớn nhỏ ''trên khuôn mặt lão Nghiệt'' Miền cháy, trước ''cái nhìn vẻ cam chịu đầy thấu hiểu" và nỗi buốt giá trong trái tim người mẹ tội nghiệp Mùa trái cóc ở miền Nam; Người đọc không khỏi không nhức nhối, xót xa trước những giọt nước mắt lặng thầm của Hạnh Bên đường chiến tranh; về bộ mặt khắc khổ của những
người lính anh hùng nơi chiến tuyến nhưng vất vả với lo toan đời thường Đôi mắt mù
loà của bà mẹ già , những dằn vặt, đối chứng của nhân vật người họa sỹ trong Bức tranh,
câu hỏi lớn - nhức nhối đặt ra cần được trả lời ngay trong tác phẩm là chúng ta có thể vìvinh quang của cộng đồng dân tộc mà bỏ qua số phận cá nhân không?!
Đặc biệt là nỗi đau của Thai và Lực trong Cỏ lau Lực- sau 24 năm chiến đấu trong
chiến trường khốc liệt, trở lại quê hương sau ngày chiến thắng với tư cách một Trungđoàn trưởng phụ trách thu gom hài cốt liệt sĩ Nhưng hiện thực sau chiến tranh đối vớicuộc đời anh thật đau đớn Gia đình ly tán, em trai hy sinh, người vợ yêu thương tưởngchồng hy sinh nên lập gia đình mới, người cha già ruột thịt phải sống nhờ người con dâutái giá trong gia đình chồng mới Chiến tranh đó chia cắt cuộc đời của Lực và Thai ra làmhai nửa, đem đến số phận bi kịch cho các nhân vật Trước mắt Lực là một tương lai mùmịt: không gia đình, con cái và quá khứ hạnh phúc thuở ban đầu như mũi dao mãi mãikhoan xoáy vào tâm trí một nỗi đau không thể nguôi quên
Những số phận cô đơn, những tấn bi kịch đau đớn của rất nhiều nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 khoét sâu thêm những đớn đau, đẫm thêmnhững dòng nước mắt của một thời máu lửa Tất cả họ đều là nạn nhân của chiến tranhvới những mất mát không thể nào bù đắp được Chỉ còn lại những cuộc đời dang dở vàkhông có gì chờ đợi họ ở phía trước
Ở mảng hiện thực sau chiến tranh, Nguyễn Minh Châu còn phản ánh và cảnh tỉnhnhững sự tha hóa, xuống cấp về nhân cách, đạo đức và những tội ác nảy sinh trong những
con người đó bị chiến tranh ''làm hư'' đi Sự phản bội đớn hèn của Quang trong Cơn giông, sự thờ ơ, thất hứa, bạc bẽo đến tội lỗi của Hoạ sĩ trong Bức tranh ; Mựa trỏi cúc
ở miền Nam kể về sự bất nhẫn đầy húnh tiến và xơ cứng chất người của Toàn, con người
Trang 31từ chiến tranh trở về thời bình sống chỉ vì địa vị Sẵn sàng vứt bỏ cả tình mẫu tử, dẫm đạp
lên xác đồng đội để thoả mãn thối ích kỷ của mình.
Những truyện ngắn trên làm rõ nét hơn, phong phú thêm bức tranh hiện thực thời
kỳ hậu chiến trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Rõ ràng ở truyện ngắn sau 1975, cáinhìn của nhà văn đó thay đổi theo hướng tiến dần đến sự thực hơn Chiến tranh không chỉmang ánh hào quang mà còn có cả mất mát, đớn đau, giả dối; Chiến tranh cũng làm “chongười ta hư đi hơn là làm người ta tốt hơn”; con người cũng không cũng lấp lánh vẻ đẹpthiên thần mà hội tụ cả những ham muốn tầm thường, thấp hèn…
2.1 1 2 Hiện thực cuộc sống đời thường
Trong những trang viết của Nguyễn Minh Châu không còn những suy nghĩ xuôichiều đơn giản, cuộc sống sau khi hoà bình, thống nhất Không còn những nét điểm tô,hồng nhuận cuộc sốngmột cách khiên cưỡng và niềm tin dưới ánh sáng cách mạng sẽ đổiđời cho số phận người lao động, sẽ xoá tan những bi kịch đè nặng lên kiếp người, sẽ đưalại thiên đường hạnh phúc mà Nguyễn Minh Châu chỉ rõ cho chúng ta: cách mạng khôngthể giải quyết khó khăn và bi kịch của hiện thực cuộc sống trong một sớm một chiều, conngười vẫn phải đối diện với những bi kịch đời mình, phải sống cuộc sống đầy khó khănthiếu thốn Điều đó cho thấy cỏch nhìn cuộc đời của Nguyễn Minh Châu còn ẩn chứanhững suy ngẫm về số phận dân tộc phải trải qua những khổ đau, phải đối diện với hiệnthực bao thách thức
Đọc Chiếc thuyền ngoài xa, sau vẻ đẹp màu hồng hồng của ánh sương mai huyền
ảo là sự thực của những phận đời đau khổ, thiếu thốn vất vả trong cuộc mưu sinh nhọcnhằn của những người dân chài lam lũ: “Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phámênh mông Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếcthuyền Xóm giềng không có Quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ không
cố kết vào một khoảnh đất nào” Cuộc sống của con người sau ngày đất nước thống nhấtcòn đầy thiếu thốn cơ cực Hoà bình, thống nhất, cuộc sống mới là những mỹ từ quenthuộc nhưng không phải dễ dàng đổi đời cho người lao động
Trang 32Kết thúc tác phẩm, người nghệ sĩ đã hoàn thành kiệt tác của mình đem đến chocông chúng những cảm nhận về vẻ đẹp tuyệt mỹ của tạo hoá, thế nhưng mấy ai biết được
sự thật bi thương của hiện thực cuộc đời nằm sau vẻ đẹp tuyệt vời kia? Phần kết của t0.ácphẩm để lại nhiều suy ngẫm: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôivẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi
xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước rakhỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệchtấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng
vì kéo lưới suốt đêm Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắcchắn, hòa lẫn trong đám đông.” [ 14;347]
Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, nhưng nếu không có tấm lòng để nhận
ra những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu hồng hồng của ánh sương mai kiacũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận ra sự thật cuéc sèng ẩn khuất sau mànsương huyền ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống vàcon người
Hiện thực về cuộc sống và bộ mặt nông thôn lạc hậu, nghèo đói , nhếch nhác, bẩn
thỉu, tù túng, luẩn quẩn hiện rõ trong Chợ tết Cái làng biển trong tác phẩm lúc nào cũng
tanh mùi cá, con người thì quẩn quanh, lúc nào cũng bận bịu với cuộc mưu sinh, không
sao ngẩng mặt lên được Đến một chiếc cầu qua chiếc lạch hẹp, “khéo lắm chỉ dài gấp đôi thân con bò” người ta cũng không bắc nổi, và muốn lên chợ, người ở xã bên cạnh chỉ
có cách chen chúc trên một chiếc đò cũ nát, cọc cạch, để sang xã bên này Trong truyện,
lạ một cái là chỗ nào cũng đầy người, mảnh đất lầy lội vào những ngày phiên chợ càngchËt những người là người, đám đông vữa ra như một con sứa bầy nhầy nhũn nhẽo khiến
cho lão Đất (cai chợ) muốn lập lại trật tự chỉ có cách dùng đến roi vọt Cái làng biển dưới
con mắt Định, một người đang sống ở Hà Nội , mang cốt cách một viên chức, một “cán
bộ thoát ly”, đã nhìn làng quê của mình bằng tầm mắt của người đi xa, biết rộng chothấy nét nổi bật của cái làng chài quê hương ở cái vẻ trì trệ cũ kỹ của nó Phong cảnh
hiện ra như từ muôn đời vẫn vậy giống như trong Cố hương của Lỗ Tấn, khiến Định luôn
luôn ngạc nhiên: “mặc dù mặt đất bị xáo trộn, nhưng cuộc sống con người lại ngưng
Trang 33đọng, như một sự lặp lại” Con người trong làng quê thì như không thay đổi dù đã qua thế
hệ Một thiếu nữ mới nhớn, giống y như mẹ cô ta, ba mươi năm về trước Một người kéo
đò hơn năm mươi tuổi, cũng giống y như người kéo đò năm xưa, khiến Định ngạc nhiên,tưởng như ông ta không già không chết, sau hỏi ra mới biết đấy là con nối nghiệp bố đến
cả câu đối tết , Định cũng chả buồn đọc, bởi tin chắc “câu đối tết năm nào chẳng viếtnhững câu như mọi năm trước” Có thể là trong những ngày thường, sự tù túng tẻ nhạt đãngự trị, song đến những ngày tết, sự ngưng trệ này mới hiện lên như một ám ảnh “Mộtcái gì bao quanh Định, một không khí luôn luôn bao bọc Định, đấy là sự quen thuộc, mộtnếp sống quen thuộc đã có từ lâu đời và chả có gì bị phá vỡ đang phô diễn trong phiênchợ tết, ban đầu khiến Định say mê và rưng rưng cảm động, song sau đó, hình như chính
nó lại làm Định đến phải phát mệt và sợ Định tưởng mình cùng với cả một đám đôngđang sôi sục đến chóng mặt trong một cái guồng quay đầy luẩn quẩn”
Cũng như trong Cố hương, đọc Chợ tết, ta có dịp sống lại những ý nghĩ của người
con đi xa, về thăm quê cũ Niềm vui gặp lại dù rộn ràng bao nhiêu cũng không đủ xoá hết
ấn tượng về sự nghèo nàn tù túng đang vây bủa quê hương Nhân vật Nhuận Thổ trong
Cố hương sau mấy chục năm gặp lại, cũng già đi, xấu xí tầm thường đi, như người đàn bà
tên là Tề, mà Định của Nguyễn Minh Châu gặp trong phiên chợ tết Nhưng người concủa Nhuận Thổ là Thuỷ Sinh cũng tươi tắn sinh động, như cô gái tên Kim, con gái mẹ Tề,coi sạp hàng sách quốc doanh hôm nay Kết truyện, trong khi Lỗ Tấn thiết tha tự nhủ
“Chúng nó cần phải sống một cuộc đời mới, một cuộc đời mà chúng tôi chưa từng đượcsống”, thì Nguyễn Minh Châu, qua nhân vật Định, sau một hồi thảng thốt trước một thực
tế luẩn quẩn, cũng gần như kêu lên: “Kim, Kim, Kim, đời cháu mai ngày sẽ ra sao, nếugắn chặt với những làng xóm quê nhà yêu dấu?” [ 14 ]
Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát hiện lên cái phần bóng tối còn nặng nề, cái phần
lạc hậu một thời gian dài còn bao trùm lên con người và cuộc sống nông thôn Lão Khúngphải bỏ làng lên rừng khai phá để lập cuộc sống Đến đời con lão còn phải đi xa tít tắptận Đăclăx, tận xa tắp để tìm cuộc sống mà tương lai về một nèn công nghiệp vẫn xavời Sự trở về của con bò khoang là một ẩn dụ của hiện thực cuộc sống người nông dân
và nông thôn luẩn quẩn không lối thoát
Trang 342.1.2 Cách nhìn con người
Cách nhìn con người là biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người Quanniệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc cảm thấy, hiểu và miêu tả, khám phá về conngười trong văn học Quan niệm nghệ thuật về con người vừa mang đặc trưng của lịch sửthời đại vừa mang dấu ấn sáng tạo của cá tính nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ
Ứng với mỗi giai đoạn phát triển, văn học lại cú một quan niệm nghệ thuật về conngười khác nhau Văn học chống Pháp và chống Mỹ gắn với cảm hứng ngợi ca con người
xả thân vì quê hương đất nước, ý nghĩa cuộc đời gắn bó với cộng đồng, con người sốngvới cái “Ta” to lớn, không hoặc ít đối diện với cái “Tôi” nhỏ bé của chính mình Sau
1975, con người bắt đầu có ý thức nhìn ngắm lại chính mình Văn học không còn hô hào,nói về cái lớn lao mà đào sâu vào cái “Tôi” Cái lẩn khuất bên trong được khui mở Làngười tiên phong trong công cuộc đổi mới, người nhạy cảm nhìn nhận cần phải thay máucho văn học, Nguyễn Minh Châu quan niệm “văn học và đời sống là những vòng trònđồng tâm mà tâm điểm là con người ” [18 ] nên trước sau ông đều hướng ngòi bút củamình vào việc khám phá và thể hiện con người
Với tư duy tiểu thuyết, bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhà văn đã hướng vàothế giới nội cảm, khám phá chiều sâu tâm linh, thấy được ở mỗi cá nhân những cung bậctình cảm vô cùng phong phú phức tạp và diễn biến vô cùng tinh tế của tâm hồn conngười
Nhận thức của nhà văn về con người cũng là một quá trình mở rộng , đào sâu vàthay đổi trên cả hành trình sáng tác Trong những năm chiến tranh, khi hướng tới sự kháiquát bức tranh lịch sử với cảm hứng sử thi lãng mạn, Nguyễn Minh Châu đã tập trung thểhiện những vẻ đẹp cao cả cùng với “những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn conngười” [91;356]
Những nhân vật thành công của Nguyễn Minh Châu dù mang những nét riêng,nhưng vẫn nằm trong khuôn mẫu chung của nhân vật sử thi mà tính loại hình nổi trội hơntính cá biệt
Trang 35Sau 1975, vượt qua quan niệm còn phiến diện và một chiều của văn học sử thi, conngười bản năng cùng song hành, cùng tồn tại trong một cái vỏ bọc diện mạo NguyễnMinh Châu chuyển hướng cách nhìn nhận, cách cảm và cách đánh giá con người Ôngtiên phong thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người Không còn nhìn con người một
chiều mà nhìn con người trong nhiều mối quan hệ bộn bề phức tạp Ông dần đi tới quan
niệm toàn vẹn và đa chiều về con người Trong mỗi cá nhân con người tựu trung nhiềumặt vừa thống nhất vừa mâu thuẫn Con người đa nhân cách, con người tự thú, con ngườithức tỉnh, con người sám hối, con người bản năng con người bản năng cùng song hành,cùng tồn tại trong một cái vỏ bọc thân xác, diện mạo Nhà văn tiếp cận con người trênnhiều bình diện và nhiều tầng bậc: con người thế sự, đời tồn tại cùng với con người xã hội– lịch sử, con người trong tính cá thể riêng biệt và tính nhân loại phổ quát
Quan niệm về con người thay đổi, nên tư duy nghệ thuật trong xây dựng hìnhtượng nhân vật hiện thân cho con người thời đại thay đổi Trong thế giới nhân vật trongtruyện ngắn sau 1975 vắng bóng con người sử thi, hiện diện con người tiểu thuyết
Với cách nhìn con người mới mẻ, Nguyễn Minh Châu đã cho chúng ta thấy trong
xã hội hiện đại , mỗi con người bao giờ cũng tồn tại hai mặt: đẹp – xấu, thiện – ác, cao cả
- thấp hèn, yêu – ghét, vui – buồn, trong sáng – tối tăm, hạnh phúc – khổ đau, tự nhiên –
xã hội Ở đó, con người đứng trên ranh giới nhỏ nhoi nếu không khéo sẽ bị ngã về phíacon người tự nhiên, ngược lại con người sẽ hướng về phía con người xã hội Từ đó, nhàvăn tập trung quan tâm đến số phận cá nhân, thâm nhập đến tận cùng những góc tối,góc khuất của từng số phận con người và tái hiện nó theo tư duy nghệ thuật của nhiều tiểu
thuyết hậu hiện đại Đò ơi Nguyễn Quang Lập, Biển cứu rỗi của Võ Thị Hảo, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư… thể hiện
Tuy nhiên, cách nhìn tin yêu con người vẫn hiện diện trong tất cả truyện ngắn sau
1975 của nhà văn Ta vẫn nhìn thấy dưới bề sâu phong phú phức tạp của tâm hồn là sựkhát khao vươn tới cái chân - thiện - mỹ Đó là “ sợi chỉ xanh óng ánh”, là “hạt ngọc ẩndấu” được Nguyễn Minh Châu ấp iu, gìn giữ từ chiều sâu nhân bản trong quan niệmnghệ thuật của nhà văn
Trang 362.1.2.1 Con người nhiều chiều, phong phú phức tạp
Nguyễn Minh Châu đã nhanh nhạy trong cách tiếp cận và phản ánh cuộc sống conngười theo tư duy bản thể tỉnh táo, chân thực, xoá bỏ mọi khoảng cách của tiểu thuyết.Tác giả nhìn nhận con người từ điểm nhìn hiện thực cuộc đời không phiến diện, không lýtưởng hóa Trong truyện ngắn sau 1975 con người hiện thực hiện lên với tất cả hình vẻ:cái tốt đẹp, cái xấu xa, đê tiện trong sự giàu có, sự nghèo đói bần cùng, bất hạnh; sự đổnát, tan hoang do chiến tranh tàn phá Qua cái nhìn mới mẻ của nhà văn, con người hiện
ra không còn thuần nhất mà trong tính đa diện và luôn biến động không ngừng Tronghiện thực cuộc sống mới, bản chất con người hiện ra rõ nét, đa dạng, phong phú, phứctạp Dưới cái nhìn đa chiều, con người có tính cách “vừa mâu thuẫn vừa thuần hoàn”không đồng nhất với chính mình, không thể hoá thân đến cùng vào "cái thân xác xã hội-lịch sử của mình với những mối quan hệ biện chứng chằng chịt giữa tính cách và hoàncảnh của nó" Ông nhận thức và quan niệm con người không phải thánh nhân mà trongmột cá nhân con người giữa cuộc đời này vừa tồn tại cái tốt lẫn cái xấu, thiên thần và ácquỷ, rồng phượng lẫn rắn rết Trong thẳm sâu tâm hồn con người, dù là người xấu vẫnsáng lên những tia sáng lương tri Cuộc đời và cá nhân nhà văn phải đặt niềm tin ở conngười, dùng ngòi bút tham gia trợ lực cho con người trong cuộc đấu tranh giữa cái thiện
và cái ác, thức tỉnh ở con người ý thức tự vấn để hướng tới hoàn thiện
Những nhân vật : Hoạ sỹ trong Bức tranh, Nhĩ trong Bến quê, Lực trong Cỏ lau là minh chứng rõ nét nhất cho cách nhìn con người đa chiều của nhà văn sau 1975.
Xây dựng nhân vật họa sĩ, tác giả thuyết minh cho luận đề: trong tâm hồn conngười luôn tồn tại cái tốt lẫn cái xấu, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỉ”
Câu chuyện kể về người họa sĩ đi thực tế ở chiến trường, cảm động vì sự cứu giúpcủa một người lính nên đã trả ơn bằng cách vẽ một bức chân dung người lính ấy và hứa sẽmang ra Bắc trao tận tay cho người mẹ anh lính đang ngày đem mòn mỏi chờ tin đưa contrai duy nhất ở chiến trường Bức tranh được vẽ trong một buổi bình minh với niềm biết
ơn vô hạn của họa sĩ và trong những giây phút xuất thần âý, họa sĩ đã tạo ra một kiệt tácnghệ thuật
Trang 37Ra đến miền Bắc, được đồng nghiệp đánh giá cao về bức tranh, danh lợi và lươngtâm, trăm đường và đôi ngả đã làm cho “ bức tranh người chiến sĩ “ không đi trọn cái tìnhđời mà người lính đã ký thác Họa sĩ đóng gói bức tranh tham dự triển lãm ở nước ngoài
lờ quên đi người mẹ đang đau khổ vì nghe tin con trai đã hy sinh “ Bức tranh” được giảicao và trở thành “ cái đinh” trong sự nhiệp nghệ thuật của họa sỹ
Gần chục năm sau, họa sĩ bất ngờ gặp lại người chiến sĩ thồ tranh năm xưa trởthành người thợ cắt tóc và chứng kiến tận mắt người mẹ anh lính bị mù lòa vì cạn nướcmắt khóc con khi ngộ nhận đứa con duy nhất đã hy sinh Người họa sĩ tự đặt mình vàomột cuộc đấu tranh nội tâm: lúc thì muốn trốn chạy và biện minh, khi thì muốn nạp mìnhsám hối Và rồi họa sĩ đã vẽ bức chân dung tự họa” Trong bức tranh hiện lên một cái đầucắt dở dưới “ luồng ánh sáng hàng nghìn nến, một bên là cái sọ trắng toát, một bên là đầutóc tốt rợp như một khu rừng đen bí ẩn Đằng sau cái mặt nạ bong bóng xà phòng, là “một đôi mắt mở to khắc khoải, bồn chồn, kinh ngặc và đầy nghiêm khắc”… đang nhìnthẳng vào lương tâm
Truyện đã cho ta thấy cái nhìn đa chiều của nhà văn trong một con người đa nhâncách, trong một tâm hồn phong phú và phức tạp “ rồng phượng lẫn rắn rết” cùng songsong tồn tại, tranh lấn trong cuộc đấu tranh nội tâm khốc liệt Trong chiến trường, vớibản chất ích kỷ và tự phụ, họa sĩ tự coi mình là bề trên, là trí thức phải được trọng vọng,được phục vụ Họa sĩ đã gạt phắt cái nguyện vọng tha thiết của người chiến sĩ nhờ vẽ hộmột bức chân dung gửi về cho mẹ vì cho đó là việc làm của những tay thợ truyền thầntầm thường Được sự cứu giúp của người chiến sĩ, cảm động trước tấm lòng vị tha, độlượng của người lính đã cứu mình, phần rồng phượng, thiên thần trong họa sĩ trỗi dậy vàanh ta đã vẽ bức tranh trong phút xuất thần của tài năng hòa quyện với thiên lương
Bức tranh ấy trở thành kiệt tác nghệ thuật và nó lại đánh thức lòng tham danh vọngcủa họa sỹ Phần rắn rết trong con người đã được danh vọng đánh thức đã trỗi dạy ngự trịtrong tâm hồn họa sĩ Anh ta ngoảng mặt trước nỗi đau của bà mẹ đang tuyệt vọng vìtưởng con mình đã chết Anh ta chôn chặt tình cảm biết ơn người chiến sĩ đã cứu giúpmình năm xưa vào góc khuất lấp nhất của tâm hồn Cho đến khi đối mặt với người thợcắt tóc và bà mẹ mù lòa Lòng độ lượng của người thợ cắt tóc đã bắt họa sĩ phải tự đặt
Trang 38mình vào một cuộc đấu tranh nội tâm, tự nhìn nhận mình và phán xét Con đường đánhthức thiên lương đâu phải dễ dàng họa sĩ đã trốn chạy, đã biện minh… cuộc đấu tranhkéo dài dai dẳng Trong quá trình đấu tranh với cái xấu trong chính con người mình, họa
sĩ lại vẫn được chứng kiến sự độ lượng tha thứ của người thợ cắt tóc “ từ tốn, điềm đạm,
ân cần ” Nó như một sự tiếp sức kỳ diệu để họa sĩ một lần nữa họa sĩ tự nhìn nhậnmình, tự nhìn vào gương mặt mình “ thấy bộ mặt thật vừa được lột ra khỏi cái mặt nạhằng ngày”, tự xấu hổ về mình là một kẻ đạo đức giả và tự sám hối bằng cách vẽ một bứctranh tự thú Bức chân dung tự họa mang ý nghĩa tượng trưng: Dưới ánh sáng của lươngtâm và đạo lý, con người sẽ nhận ra lỗi lầm để cải tạo mình và dần hướng tới cái cao cảtốt đẹp ánh sáng nhân ái của con người giúp cái xấu phục thiện Dưới luồng ánh sánghàng nghìn nến cái tốt sẽ chiến thắng cái xấu, con người sẽ sống trong chan hòa tìnhthương và sự chia sẻ
Trong Cỏ lau, Lực , một người lính bước ra từ khói lửa chiến tranh nhưng không
mang nét anh hùng kiểu sử thi mà hiện lên trong thân phận của con người thế sự Lực quảđúng là một trường hợp cụ thể của “con người không bao giờ trùng khít với bản thânmình”, như nhận xét của nhà thi pháp học người Nga Mikhail Bakhtine Lực – “ngườichiến sỹ mái tóc sương gió và bạc màu”, người đã để lại trong chiến tranh tất cả tuổi trẻ,tình yêu, hạnh phúc – là “một con người của chiến tranh” nhưng Lực cũng háo danh,cũng ích kỉ, cũng tư thù như tất cả những người khác – mầm mống ấy có sẵn trong mọicon người, và con người chỉ có thể vươn tới sự hoàn thiện nhân cách, trước hết, thông qua
sự đối diện trực tiếp với những mầm mống ấy để nhận ra và ăn năn sám hối
2.1.2.2 Con người đời tư
Nổi bật nhất trong sáng tác sau 1975 của Nguyễn Minh Châu là quan niệm về conngười thế sự đời tư Ông tập trung khám phá cái thế giới bên trong đầy bí ẩn của conngười, lật xới vào những tầng đáy sâu của tâm hån, tư tưởng, tiềm thức và tâm linh củacon người Nhà văn lấy con người làm đối tượng tập trung miêu tả, tập trung quan tâmđến số phận cá nhân, thâm nhập đến tận cùng những góc tối, góc khuất của từng số phận
Trang 39Trong tất cả truyện ngắn sau 1975 đều thấy hiện lên rất nhiều hình bóng con người thế
sự, đời tư Từ những số phận, tâm tư của những con người trong Bức tranh, Dấu vết nghề nghiệp cho đến Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát đều thể hiện sự đổi mới trong quan
niệm nghệ thuật về con người theo hướng xoá bỏ mọi khoảng cách, mọi lăng kính để đưavào trang viết những hình tượng con người chân thực như cuộc đời vốn có Những trangtruyện ngắn của ông sau 1975 rộn rịp âm hưởng cuộc sống đời thường Trong tác phấmcủa ông, con người với những nét riêng tư thẳm sâu và khuất lấp nhất, những điều thườngnhật nhất ít người để ý đều được phản ánh sinh động trên trang viết Ta gặp đầy rẫy ngoàiđời những sự ích kỷ, dửng dưng trước số phận người khác và sự vô tâm gây tai hoạ
nghiêm trọng như kiểu con người được phản ánh trong các truyện Đứa ăn cắp, giao thừa, mẹ con chị Hằng, Hạng ) từ đó từ đó ông cảnh báo mọi người về một sự hồnnhiên vô tâm mà trở thành, nhắc nhở về đạo lý, ứng xử của con cái đối với cha mẹ , cảnhbáo về hậu quả của lối sống gia trưởng hoặc giả dối Từ quan niệm phản ánh con ngườiđời tư, ông lật xới, cảm thông, thấu hiểu cho những cuộc đời, những cách suy nghĩ, ứng
xử khác nhau nhưng đều đề cao tư tưởng nhân văn và thường trực là sự đũi hỏi, nhắc nhởcon người phải biết nhỡn nhận, biết sỏm hối, biết tự vấn lương tâm biết sống vị tha vàtha thứ như cuộc hôn nhân giữa lão Khúng với Huệ Biết như lão Khúng nhận chân ra cáigiá trị thực của cuộc đời Lão lấy Huệ không phải lão ngu , không phải là cái danh gái tơtrinh tiết hão huyền như thói thường của đám trai quê lão mà là cái giá trị giá trị đích thực: Huệ vợ lão là một người đàn bà đẹp nhất cái vùng quê khốn khó của lão
Chiếc thuyền ngoài xa là một biểu hiện của xu hướng tìm tòi khám phá của Nguyễn
Minh Châu về con người đời tư trong cuộc sống Trên tinh thần quyết liệt đổi mới,Nguyễn Minh Châu đã lấy con người làm đối tượng phản ánh thay cho hiện thực đờisống Nguyễn Minh Châu quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của conngười, với muôn mặt phức tạp phong phú vµ với tất cả chiều sâu
Nhân vật Phùng quay trở về với mảnh đất miền Trung cằn cỗi và cơ cực anh đãtừng chiến đấu, với vai trò là phóng viên ảnh “ ghi lại những vẻ đẹp cuộc sống đời thườngcho bộ ảnh lịch quê hương đất nước, phản ánh cuộc sống lao động khoẻ khoắn tươi rói
Trang 40của những con người dựng xây đất nước, đi tìm vẻ đẹp bí ẩn của màn sương buổi sáng bổsung cho tấm ảnh lịch hoàn chỉnh” Thế nhưng, những gì anh chứng kiến đã khiến anh vànhững người bạn của mình nhận ra một sự thật gắn với cuộc sống của những người dânchài lam lũ: “Cuộc sống cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông Cưới xin, sinhcon đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền Xóm giềng không có Quêhương bản quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết vào một khoảnh đất nào” Từcuộc sống ấy, những bi kịch tiềm ẩn trong từng số phận con người khiến người người đọcphải ngỡ ngàng Người nghệ sĩ nhiếp ảnh đi tìm những vẻ đẹp đích thực của cuộc sống,ngỡ như anh đã phát hiện ra một khung cảnh thật đáng yêu đáng ca tụng, hướng ngườixem về cái đẹp có thể làm quên đi những phiền não cuộc sống: “Qua khuôn hình ánhsáng, tôi đã hình dung thấy trước những tấm ảnh nghệ thuật của tôi sẽ là vài ba chiếc mũithuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắtlưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hòa tấu ánh sáng và bóng tối, tượng trưng cho khungcảnh bình minh là một khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽhiện lên trong tầm nhìn thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúilom khom, sải cánh tay thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía saulưng người đàn bà, hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền,dùng lực toàn thân làm đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời.” Hìnhảnh những người dân vùng biển ấy hiện lên thật đáng yêu, đáng ca ngợi: cuộc sống laođộng đầm ấm khoẻ khoắn, đẹp đẽ … Nhìn thấy thế mà không phải thế, …Tất cả những ấntượng ấy sẽ không bị phá vỡ nếu như không có sự xuất hiện của người đàn ông cầm dâylưng quật thẳng tay vào người vợ không thương xót Trong văn học cách mạng trước
1975, Có lẽ khó ai hình dung nhà văn lại để cảnh tượng ấy lại diễn ra trong bối cảnh cuộcsống mới, cũng như trong trang viết của mình Nó hoàn toàn đối lập với điều chúng tahằng tụng ca khi nhìn cuộc sống “người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu) Điềubất công diễn ra nhức nhối trước mắt người lính từng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóngđất nước, giải phóng con người đã làm nên một cơn giận bùng phát Bản thân anh nghĩ vềngười đàn ông kia như “gã đàn ông “độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian”, còn người phụ nữxấu xí mặt rỗ kia đích thị là nạn nhân đáng thương nhất của nạn bạo hành trong gia đình