1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn hồ anh thái

127 615 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
Tác giả Trần Hữu Thiện
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Hạnh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 523,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những ai theo dõi hơn ba thập kỷsáng tác của Hồ Anh Thái đều không thể không thừa nhận một điều: Hồ AnhThái là ngời luôn biết làm mới cho riêng mình, và ông đã tạo nên một “dòngriêng” gi

Trang 2

TrÇn H÷u ThiÖn

T duy tiÓu thuyÕt trong

truyÖn ng¾n Hå Anh Th¸i

Chuyªn ngµnh: v¨n häc ViÖt Nam

Trang 3

Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tợng và phạm vi khảo sát 10

5 Phơng pháp nghiên cứu 10

6 Giới thuyết khái niệm t duy tiểu thuyết 10

7 Cấu trúc luận văn 13

Chơng 1 Truyện ngắn Hồ Anh Thái trong bối cảnh truyện ngắn Việt Nam đơng đại 14

1.1 Những tiền đề cho sự đổi mới truyện ngắn Việt Nam đơng đại 14

1.1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội 14

1.1.2 Mở rộng giao lu tiếp xúc văn hoá 16

1.1.3 Nhu cầu đổi mới t duy nghệ thuật 19

1.2 Những tìm tòi, thể nghiệm đổi mới truyện ngắn 23

1.2.1 Một cái nhìn khái lợc về truyện ngắn Việt Nam đơng đại 23

1.2.2 Những đổi mới của truyện ngắn đơng đại Việt Nam 28

1.3 Truyện ngắn Hồ Anh Thái - một cái nhìn khái lợc 38

1.3.1 Truyện ngắn trên hành trình sáng tạo của Hồ Anh Thái 38

1.3.2 Dung lợng truyện ngắn Hồ Anh Thái 43

1.3.3 Những cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn Hồ Anh Thái 46

Chơng 2 Dân chủ hoá hệ thống nhân vật và tính chất đa thanh trong giọng điệu trần thuật .57

2.1 Nhân vật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái 57

2.1.1 Các kiểu nhân vật 57

2.1.2 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 73

Trang 4

2.2.1 Tổ chức điểm nhìn trần thuật linh hoạt, uyển chuyển 83

2.2.2 Sự hoà quyện nhiều gam giọng điệu 89

Chơng 3 Đa dạng hoá nghệ thuật tổ chức cốt truyện và tự do hoá ngôn ngữ 103

3.1 Đa dạng hoá nghệ thuật tổ chức cốt truyện 103

3.1.1 Cốt truyện sinh hoạt - tâm lý 106

3.1.2 Cốt truyện huyền ảo 109

3.1.3 Cốt truyện dựa trên tích sử 113

3.1.4 Cốt truyện phân mảnh, lắp ghép 117

3.2 Tự do hoá ngôn ngữ 123

3.2.1 Dung nạp ngôn ngữ đời thờng, khẩu ngữ 125

3.2.2 Ngôn ngữ biểu hiện sự cá thể hoá mạnh mẽ 131

3.2.3 Linh hoạt trong việc sử dụng đại từ nhân xng 138

Kết luận 143

Tài liệu tham khảo 146

Trang 5

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Hồ Anh Thái là một nhà văn tài năng, trở thành một hiện tợngtrong văn học Việt Nam đơng đại Trớc khi trở thành một nhà tiểu thuyết tàinăng, Hồ Anh Thái đã là nhà viết truyện ngắn xuất sắc Những truyện ngắn

Chàng trai ở bến đợi xe, Cánh võng không ngời, Nói bằng lời của mình, Mảnh

vỡ của đàn ông, Tiếng thở dài qua rừng kim tớc, Kiếp ngời đi qua, Đến muộn, Bến ÔSin, Chuyện cuộc đời Đức phật, v.v, đã thực sự gây đợc ấn tợng và tạo

đợc niềm tin trong lòng độc giả Ông có những đóng góp cho sự đổi mới vănhọc Việt Nam đơng đại, trong đó có t duy truyện ngắn

1.2 Là một nhà văn sớm thành công với thể loại truyện ngắn, nhng cho

đến nay những nghiên cứu về Hồ Anh Thái chủ yếu đều tập trung ở thể loạitiểu thuyết Dờng nh cha một ai thực sự quan tâm đến truyện ngắn của ông

Điều này vô hình trung cha thấy hết đợc tầm vóc, tài năng nhiều mặt và đónggóp của Hồ Anh Thái cho văn học nớc nhà Những ai theo dõi hơn ba thập kỷsáng tác của Hồ Anh Thái đều không thể không thừa nhận một điều: Hồ AnhThái là ngời luôn biết làm mới cho riêng mình, và ông đã tạo nên một “dòngriêng” giữa “nguồn chung” văn xuôi đơng đại Việt Nam Tìm hiểu truyệnngắn Hồ Anh Thái, vì vậy không chỉ để hiểu hơn về tài năng, đóng góp của

ông cho văn học dân tộc, mà còn góp phần nhận diện những tìm tòi, đổi mớicủa truyện ngắn đơng đại Việt Nam

1.3 T duy tiểu thuyết là một khái niệm không mới trong lý luận vănhọc, nhng mới đợc nói đến nhiều trong nghiên cứu, sáng tác ở Việt Nam trongthời gian gần đây Việc nghiên cứu t duy tiểu thuyết trong truyện ngắn HồAnh Thái, vì vậy, không chỉ có ý nghĩa để hiểu về sáng tác của một nhà văn,

mà còn để hiểu hơn về t duy tiểu thuyết và những biểu hiện của nó trong tácphẩm văn học, góp phần tháo gỡ những vớng mắc trong thực tế giảng dạy vănhọc Việt Nam hiện đại ở Trờng trung học phổ thông

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những ý kiến mang tính lí luận bàn về t duy tiểu thuyết trong truyện ngắn nói chung

Trong những năm gần đây, sự đổi mới văn học phát triển mạnh mẽ cả

về lĩnh vực sáng tác lẫn phê bình văn học Điều này cho phép các nhà nghiên

Trang 6

cứu tiếp cận những sáng tác văn học từ nhiều góc độ Trong đó, kiểu t duynghệ thuật là phơng diện đã đợc nhiều ngời chú ý

Nguyễn Thị Bình, trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu sáng tác củaNguyễn Khải đã chú ý đến kiểu t duy tiểu thuyết trong sáng tác của ông TheoNguyễn Thị Bình, Nguyễn Khải là ngời biết phát hiện ra “vấn đề” nơi mà ngờikhác không nhìn thấy, và: “ngời đọc thấy rõ hiện thực nhiều khi không phải làmục đích phản ánh mà chỉ là phơng tiện để ông trình bày t tởng của mình”[31, 135] Nhân vật trong sáng tác Nguyễn Khải luôn luôn là sự bí ẩn, bất ngờ,không thể biết trớc, không thể biết hết: “Con ngời và đời sống tinh thần củacon ngời thờng làm cho nó cũng phải ngạc nhiên về sự phong phú, phức tạp và

sự vận động hết sức kì lạ của nó” [31, 139] Tiếp cận con ngời, sáng tạo nhânvật, đánh giá đời sống theo cách này rõ ràng là một đặc điểm của t duy tiểuthuyết Nhờ cách tiếp cận nh thế, mà ngay từ khi văn học nớc ta còn ít t duytiểu thuyết, thì những nhân vật trong sáng tác Nguyễn Khải đã sớm mangdáng dấp của nhân vật tiểu thuyết thật sự Một phơng diện nữa làm nên t duytiểu thuyết trong sáng tác Nguyễn Khải là giọng điệu Theo Nguyễn Thị Bình,ngời kể chuyện trong sáng tác Nguyễn Khải “luôn luôn là nhân vật quan trọngcủa câu chuyện, trực tiếp tham gia vào câu chuyện, khoảng cách giữa anh tavới các nhân vật khác đợc rút ngắn tối đa để cho quan hệ đôi bên trở nên bình

đẳng thân mật” [31, 140] T duy tiểu thuyết luôn xui khiến ông tìm đến mốiquan hệ suồng sã, thân mật hơn Ngời kể chuyện thờng đùa giỡn, chọc ghẹothoải mái với tất cả, với các nhân vật và với cả bạn đọc Cũng theo NguyễnThị Bình, giọng văn Nguyễn Khải “là giọng đa thanh, trong lời kể thờng cónhiều giọng kể, trong một giọng kể bao hàm nhiều giọng, màu tự tin xen lẫnmàu sắc hoài nghi, vẻ tự hào lạc quan lẫn trong ý vị ngậm ngùi, chua chát”[31, 141]

Phạm Vĩnh C khi nghiên cứu tìm hiểu về những sáng tác của NguyễnMinh Châu, đã phát hiện ra t duy tiểu thuyết trong những truyện ngắn của

ông Trong bài viết Về những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn của

Nguyễn Minh Châu, Phạm Vĩnh C đã chỉ ra rằng “những mầm móng tiểu

thuyết thực thụ lại nảy nỡ trong một số truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

-Bức tranh, Sắm vai, Đứa ăn cắp, Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam, và đặc

biệt Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát Chính ở đây xuất hiện cách tiếp cận

mới về cuộc sống đơng thời đầy mâu thuẫn không thể dung hoà, những câuhỏi không dễ trả lời, những đau khổ không dễ khắc phục, những tội ác không

Trang 7

dễ tìm ra ( ) con ngời mang trong mình những xung đột nội tâm sâu sắc”[11, 298] Cũng trong bài viết này, Phạm Vĩnh C còn phát hiện trong truyệnngắn Nguyễn Minh Châu “xuất hiện lối hành văn “giao hởng” vang vọng d

âm những giọng nói khác nhau của các nhân vật thay thế cho các văn phong

đã trở nên quen thuộc ( ) đến Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát thì xuất

hiện nhân vật tiểu thuyết đích thực - một con ngời nhiều chiều, một tính cáchvừa mâu thuẫn vừa thuần toàn, vừa cá biệt vừa tiêu biểu, vừa là sản phẩm củaquá khứ lịch sử tăm tối vừa toả ánh sáng của nhân tính vĩnh hằng của nhữnggiá trị đạo đức muôn đời ( ) hoà điệu và nghịch điệu phức tạp với tiếng nóicủa tác giả” [11, 299]

Hoàng Ngọc Hiến khi nghiên cứu những sáng tác của Nguyễn Huy

Thiệp, đặc biệt qua ba truyện ngắn lịch sử Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết, đã

có bài viết T duy tiểu thuyết và folklore hiện đại Bài viết đã khẳng định một

phơng diện mới về tài năng của Nguyễn Huy Thiệp: t duy tiểu thuyết Tác giảbài viết đã có một thao tác so sánh t duy tiểu thuyết và t duy sử thi TheoHoàng Ngọc Hiến “Trong sử thi, giữa ngời kể sử thi và nhân vật anh hùng cókhoảng cách vẫn đợc gọi là khoảng cách sử thi Đây là một khoảng cách xavời ( ) Trong tiểu thuyết, giữa tác giả và nhân vật chính diện không cònkhoảng cách nữa Quan hệ giữa ngời viết và nhân vật là một quan hệ thân mật,thân tình, thậm chí suồng sã” [44, 357] Từ sự so sánh đó, Hoàng Ngọc Hiến

khẳng định “Trong truyện Phẩm tiết, Nguyễn Huy Thiệp đã tiếp cận nhân vật

Nguyễn Huệ từ quan điểm tiểu thuyết ở con ngời Nguyễn Huệ, ngoài nhữngnét hào hoa, lịch thiệp, tác giả còn làm nổi bật một điểm yếu, đó là tính hiếusắc, tính mê gái, âu cũng là một thói “nam nhi thờng tình” [44, 258] Nh vậy,

t duy tiểu thuyết cho phép Nguyễn Huy Thiệp tiếp cận nhân vật lịch sử, cũng

là nhân vật chính diện một cách gần gũi, thân tình, triệt tiêu mọi khoảng cách.Trong bài viết này, Hoàng Ngọc Hiến còn chỉ ra cách tiếp cận nhân vật phảndiện của Nguyễn Huy Thiệp, đặc biệt đối với nhân vật Nguyễn ánh Theo

ông, “ngoài việc nhấn mạnh những nét bất nhân, bất nghĩa của Nguyễn ánh,Nguyễn Huy Thiệp không chối từ giả định nhân vật này là một “khối nguyênliệu vô giá” Tác giả đã tiếp cận nhân vật Nguyễn ánh từ quan niệm tiểuthuyết” [44, 360] Hoàng Ngọc Hiến còn cho rằng “T duy tiểu thuyết gópphần chuẩn bị về mặt tâm lí cho sự xoá bỏ những hình ảnh “kẻ thù” vu vơ gánghép” [44, 360] Trong bài viết này, Hoàng Ngọc Hiến còn cho rằng: “t duy

Trang 8

tiểu thuyết là tìm tòi khám phá con ngời với những nhu cầu nhân tính phổbiến” [44, 364]

Châu Minh Hùng khi tìm hiểu về sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đã

chú ý đến kiểu t duy tiểu thuyết trong tác phẩm của ông Trong bài Cuộc tìm

kiếm hình thức đa thanh mới của văn xuôi hiện đại qua cấu trúc truyện của Nguyễn Huy Thiệp, tác giả bài viết cho rằng: “Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp,

ngời đọc phải lao vào một cuộc chơi mà ở đó tất cả ở trong quan hệ bình đẳng,dân chủ, cũng là nguyên tác thẩm mĩ của Nguyễn Huy Thiệp Thứ nhất, nhàvăn đứng ngang hàng với nhân vật Cái kiểu nhà văn đứng cao hơn cuộc sống,

đạo diễn cho nhân vật hay trịnh trọng dạy đời trên một lập trờng hay quan

điểm nào đó không tồn tại trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp Thứ hai,thế giới cuộc sống trong truyện Nguyễn Huy Thiệp là một thế giới không cótôn ti, trật tự Những quy tắc đạo đức, chuẩn mực văn hóa truyền thống coi nh

bị phá vỡ từng mảng và thậm chí bị loại trừ ra khỏi diễn đàn của các quanniệm, t tởng Thứ ba, hệ quả của hai điều trên, đều là thế giới đợc nhìn từ sựthật bên trong của con ngời Những sự thật bao nhiêu lâu nay bị giấu giếmhoặc đợc bọc lót trong lớp vỏ đạo đức, văn hóa thì đến đây đều đợc lột trầnmột cách công khai, minh bạch từ phát ngôn của các nhân vật” [28]

2.2 Vấn đề t duy truyện ngắn Hồ Anh Thái

Trong sự nghiệp sáng tác văn chơng, Hồ Anh Thái luôn là nhà văn đãtạo đợc dấu ấn của mình bằng những truyện ngắn xuất sắc, và đợc đông đảo

bạn đọc đón nhận, nh: Chàng trai ở bến đợi xe, Mảnh vở của đàn ông, Tiếng

thở dài qua rừng kim tớc, Kiếp ngời đi qua, Nói bằng lời của mình, Cánh võng không ngời, Ngời ấn, Ngời đứng một chân, v.v Chính những sáng tạo đó

đã thực sự cuốn hút nhiều nhà nghiên cứu khám phá, những tìm tòi đổi mớitrong t duy nghệ thuật truyện ngắn Hồ Anh Thái

Nguyễn Đăng Điệp, trong bài Hồ Anh Thái, ngời mê chơi cấu trúc đã

cho rằng: “Chiều sâu trong cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái trớc hết thểhiện ở chỗ anh biết vợt qua những lối mòn t duy coi văn học nh là tấm gơngphản ánh hiện thực một cách giản đơn (điều mà Hồ Anh Thái gọi là hiện thựcthô sơ) để nhìn cuộc đời nh nó vốn có Hiện thực trong thế giới nghệ thuật HồAnh Thái vì thế, không phải là thứ hiện thực “dẹt”, “phẳng” mà góc cạnh,nhiều chiều” [17, 177] Và theo ông, “Độ sắc trong những trang viết của HồAnh Thái lộ ra ở chỗ anh dám nhìn thẳng vào những “mảnh vỡ”, những bikịch nhân sinh, mổ xẻ bằng cái nhìn trung thực, tỉnh táo Một khi hình dung

Trang 9

cuộc sống nh những mảnh vỡ ta sẽ nhận thấy sự xen cài của cái ác và cáithiện, cái cao cả và cái thấp hèn, cái sang trọng đi liền cái nhếch nhác, cáitrong suốt xen lẫn cái phàm tục Đây là cái nhìn “suồng sã” của t duy nghệthuật hiện đại” [17, 178] Và, “nhà văn không nhìn đời bằng cảm hứng màuhồng mà nhìn nó nh những mảnh vỡ Đây đợc coi là yếu tố đầu tiên tạo nênbản giao hởng đời sống trong văn chơng Hồ Anh Thái Chân dung hiện thựctrong văn Hồ Anh Thái vì thế bề bộn, nhiều góc khuất, nhiều trạng thái, nhiềugiá trị tốt xấu đan cài chứ không đơn điệu kiểu mở đầu ta thắng địch thua vàkết thúc thì phải gióng lên những tiếng hát lạc quan cho đúng quy phạm nghệthuật trong văn học của một thời Đó là hiện thực “phần mảnh” nh các nhà vănhậu hiện đại vẫn thờng nói đến” [17, 179] Cũng theo Nguyễn Đăng Điệp,

“Hồ Anh Thái không nhìn cuộc sống theo lối “chng cất”, ở đó chỉ hiện lênnhững khuôn mặt đẹp đẽ, những tính cách “vô trùng” mà tạo nên những tácphẩm nghệ thuật mang dáng dấp của một tổng phổ nhiều bè, đầy nghịch âm”[17, 183] Một đặc trng của t duy tiểu thuyết là phải tạo đợc nhiều giọng điệu,nhiều tiếng nói khác nhau Bàn về điều này trong truyện ngắn Hồ Anh Thái,Nguyễn Đăng Điệp viết: “Bên cạnh màu sắc trữ tình, ngời đọc khi tiếp xúc vớinhững tác phẩm đầu tay của Hồ Anh Thái có thể bắt gặp nhiều màu giọngkhác: trẻ trung, tinh nghịch, nhng cũng rất hóm hỉnh Những tác phẩm viết vềmiền đất ấn Độ lại đợc tác giả thể hiện bằng một hình thức giọng điệu hoàntoàn khác Chất giọng trữ tình đã nhờng chỗ cho một giọng văn sắc lạnh ( )

Có giọng xót xa trong Tiếng thở dài qua rừng kim tớc, có sự hài hớc trong

Ng-ời đứng một chân” [17, 184] Nguyễn Đăng Điệp cho rằng, truyện ngắn thực

sự gây ấn tợng là truyện Tiếng thở dài qua rừng kim tớc Ông cho rằng, “Tiếng

thở dài qua rừng kim tớc là một tác phẩm xuất sắc của Hồ Anh Thái ( ) Đây

là câu chuyện về những đứa trẻ cha kịp sống phải chết vì món hồi môn saunày bố mẹ chúng phải trả ( ) Rừng kim tớc kia là một ẩn dụ nghệ thuật cósức biểu đạt lớn Nó xoáy sâu vào tâm trí ngời đọc một niềm nhức nhối: tạisao cái xã hội kia lại có thể thờ ơ đến thế trớc số phận con ngời?” [17, 180]

ở một mức độ sơ lợc hơn, Võ Anh Minh trong bài viết Dòng chảy Hồ

Anh Thái, cũng đã có những phát hiện về t duy truyện ngắn của Hồ Anh Thái.

Theo tác giả bài viết, văn xuôi của Hồ Anh Thái là một dòng chảy đa dạng,trong đó có sự đa dạng về giọng điệu: “Hồ Anh Thái là nhà văn làm chủ đợcnhiều giọng điệu trong sáng tác, nổi bật lên là giọng điệu trữ tình trong sáng,giọng điệu tâm tình thơng cảm, giọng suy t triết luận, giọng hiện thực sắc lạnh

Trang 10

và giọng hài hớc giễu cợt; trong đó giọng hài hớc đang là giọng chủ điệu chủ

đạo của ngôn ngữ trần thuật trong văn xuôi Hồ Anh Thái hiện tại” [57, 283].Truyện ngắn Hồ Anh Thái rất quan tâm đến những bi kịch của con ngời, có

điều khi viết về bi kịch con ngời nhà văn vẫn luôn mang một niềm tin Về điềunày Võ Anh Minh viết: “anh viết bằng cả một tấm lòng tràn ngập tình thơng;thế nên, qua mỗi thân phận, Hồ Anh Thái không chỉ nhìn thấy khổ đau màanh còn tin tởng để dựng trên nỗi đau đó một niềm tin, Hồ Anh Thái khôngchỉ xót thơng mà luôn luôn hi vọng” [57, 279]

Tập truyện ngắn Tiếng thở dài qua rừng kim tớc đã để lại nhiều dấu ấn

sâu sắc trong lòng độc giả và giới nghiên cứu trong lẫn ngoài nớc Có thể kể

đến các bài, nh: Bến bờ rong ruổi của Lê Thị Oanh; Đi sứ làm văn của Vũ Bảo; Tâm đắc và nghĩ ngợi của Mai sơn; Nhà văn và tầm nhìn văn hoá của Phạm Quốc Ca Trong số đó, bài viết của nhà văn Ngô Thị Kim Cúc Nh gặp

lại chính mình, đã bắt mạch đợc ý đồ sáng tạo của nhà văn Tác giả viết:

“Hành trình đi vào những thân phận ngời bất hạnh luôn đa tới những tiếng thởdài sâu tận bên trong, nhất là khi những hình ảnh đợc phản chiếu kia dờng nhthấp thoáng gơng mặt của chính mình, gơng mặt Việt Nam ( ) Dới ngòi bút

Hồ Anh Thái, những chân dung ấn Độ hiện lên sắc nét và gần gũi khiến tangạc nhiên” [58, 318 - 319]

Còn tiến sĩ văn học ấn Độ K Pandey, lại có nhận xét “kinh điển” vềnhững truyện ngắn của Hồ Anh Thái viết về đất nớc và con ngời ấn Độ:

“Những dòng chữ Hồ Anh Thái là những mũi kim châm cứu á Đông đã điểmtrúng huyệt tính cách ấn Độ” [58, 322] Đánh giá thành công của truyện ngắn

Tiếng thở dài qua rừng kim tớc, nhà văn Mĩ W.D Ehrhart, trong lời giới thiệu

cho bản tiếng Anh, đã khẳng định: “Đây là cuốn sách giá trị và đáng thởngthức của một trong những nhà văn xuất sắc thuộc thế hệ sau chiến tranh ViệtNam” [58, 315]

Truyện ngắn Sắp đặt và Diễn gần đây, đợc nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ cho rằng: “Sắp đặt và diễn lại chạy theo xu hớng tìm tòi cách tân, một xu

hớng nghệ thuật có vẻ nh mới lắm đây đang thịnh hành khoảng dăm năm nay”[27]

Ma Văn Kháng trong bài Cái mà văn chơng ta còn thiếu, đã có những

phát hiện về đặc trng t duy truyện ngắn Hồ Anh Thái Ông viết: “Nghệ thuậtthật sự luôn làm nên cái bất ngờ Truyện ngắn, tiểu thuyết của Hồ Anh Thái,nhất là những cái gần đây, thú vị là ở chỗ đó; ở từng con chữ có đời sống là lạ;

Trang 11

ở mỗi tình tiết giàu sức khám phá, ở các mối liên tởng lạ lùng và gần gũi; ởtổng thể câu chuyện, nó mở ra một góc nhìn nhân sinh, nó cho thấy tính đatầng, những thực tại nhìn thấy và không nhìn thấy, những ấn tợng đặc sắcthông qua chủ đề của nó ở chính cuộc đời này, hôm nay” [59, 326].

Tập truyện ngắn Bốn lối vào cời cũng đã thu hút đợc nhiều ngời quan tâm Tôn Phơng Lan trong bài viết Ngời luôn làm mới mình, cho rằng: “Thâm

nhập vào đời sống để tìm thấy vấn đề nhng thể hiện vấn đề đó theo cách nàohiệu quả nhất còn là điều khiến anh băn khoăn, trăn trở và đó cũng là lí dokhiến văn Hồ Anh Thái luôn luôn mới: mới trong giọng điệu, mới trong ngônngữ Có thể nói truyện ngắn viết gần đây ít khi ta bắt gặp lại một Hồ Anh Tháitrong kiểu kết cấu truyền thống Anh tạo cho mình một kiểu cấu trúc riêng,một thứ ngôn từ riêng” [60, 240]

Ngoài ra, còn có các bài viết, nh: Nên đa độc giả đi theo mình của Nguyễn Thị Minh Thái; Bớc vào đó mà cời của Xuân Hạo; Chợt gặp trong

nhà cời của Nguyễn Vĩnh Nguyên Báo Lao Động, 14/5/2004 trong bài Một kết cấu thông minh, cho rằng: “Bốn lối vào nhà cời - nhan đề tập sách mới

nhất của nhà văn Hồ Anh Thái là một tập hợp khéo những truyện ngắn gần

đây của anh với kết cấu “lạ”: bao gồm 4 phần, tơng ứng theo 4 “lối”: Sinh(gồm 5 truyện ngắn), Lão (2 truyện), Bệnh (2 truyện), Tử (2 truyện) Một lựachọn kết cấu thông minh mà dễ hiểu” [60, 218] Lê Văn Ba, lại cho rằng:

“Ngòi bút Hồ Anh Thái trơn lớt, anh viết hấp dẫn, giọng văn châm biếm, tràolộng, ngôn ngữ hoạt kê hiện đại ( ) Những truyện ở tập này của Hồ Anh Tháikhông có cốt truyện Hồ Anh Thái “chơi” ngôn ngữ - sắc sảo, đa tầng, nhiều

đoạn rất gần báo chí” [60, 220] Trong bài Giễu nhại ngôn ngữ thị dân, Ngọc

Hà viết: “Sự kết hợp giữa ngôn từ và nhạc điệu một cách hoạt kê lém lỉnh đãtạo cho Hồ Anh Thái một phong cách riêng khó trộn lẫn Anh chú trọng nhiều

đến hình thức biểu hiện, cách sắp xếp sao cho mới mẻ, độc đáo” [60, 235]

Tập truyện Tự sự 265 ngày lại là một góc nhìn khác của Hồ Anh Thái

về hiện thực đời sống Lê Hồng Lâm, trong bài Phong cách không phải là cái

vỏ ngoài bất biến và ngoan cố, cho rằng: “ở Tự sự 265 ngày, ngời đọc thấy

anh rất dụng công để tạo ra giọng điệu mới Câu cú đã vợt qua cấu trúc ngữpháp thông thờng, những dấu phẩy dấu chấm đã đặt vào vị trí một cách sángtạo ” [61, 225]

Tìm hiểu, xem xét t duy truyện ngắn Hồ Anh Thái, có nhà nghiên cứucòn đề cập đến ngôn ngữ trong những sáng tác của anh Lê Minh Khuê, trong

Trang 12

bài viết Nh lần đọc đầu tiên, viết: “Trong sáng tác, Hồ Anh Thái là nhà văn

không câu nệ vào sự du dơng của tiếng Việt cái sự du dơng này đôi khi làm

bạn đọc lạc lối Tác giả chú trọng đến ý tởng của tác phẩm Ngay từ Ngời và

xe chạy dới ánh trăng, ý tởng đã rõ, ngời ta đi vào đời với hai bàn tay trắng,

sạch sẽ, lơng thiện nhng cuộc đời lại nhấn chìm ta vào màu sắc đục, vào chỗkhông đợc sạch sẽ lắm của đời sống” [62, 415]

Điểm lại những bài giới thiệu, phê bình về truyện ngắn Hồ Anh Tháinói chung, t duy truyện ngắn Hồ Anh Thái nói riêng có thể thấy, cho đến naycha có một công trình nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện hệ thống về

t duy nghệ thuật Hồ Anh Thái Tất cả mới dừng lại ở những cảm nhận, nhữngnhận xét, đánh giá bớc đầu Đề tài của chúng tôi, vì vậy, là sự phát triển, tiếpnối trên những gợi mở của những ngời đi trớc

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nh tên đề tài đã xác định, mục đích nghiên cứu của đề tài là tìmhiểu đặc trng t duy nghệ thuật truyện ngắn Hồ Anh Thái, mà ở đây t duy tiểuthuyết

3.2 Với mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ

Thứ nhất, chỉ ra đợc vị trí truyện ngắn Hồ Anh Thái trong bối cảnh đổimới của truyện ngắn đơng đại Việt Nam

Thứ hai, chỉ ra đợc những phơng diện nổi bật thể hiện tính chất t duytiểu thuyết trong truyện ngắn Hồ Anh Thái

4 Đối tợng và phạm vi khảo sát

4.1 Đối tợng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề tiêu biểu thuộc về

t duy nghệ thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, nh: nhân vật, giọng điệu,ngôn ngữ, và nghệ thuật tổ chức cốt truyện

4.2 Về phạm vi t liệu, chúng tôi tập trung khảo sát tập truyện ngắn Nói

bằng lời của mình, gồm 22 truyện ngắn, do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành

năm 2007

Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát một số tập truyện và tiểu thuyết tiêubiểu của Hồ Anh Thái để thấy đợc sự tơng đồng trong t duy nghệ thuật củanhà văn

5 Phơng pháp nghiên cứu

Trang 13

Để giải quyết tốt nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, chúng tôi lựa chọn một sốphơng pháp chủ yếu, nh: khảo sát, thống kê, phân tích tổng hợp, và một chừngmực nào đó là phơng pháp so sánh đối chiếu

6 Giới thuyết khái niệm t duy tiểu thuyết

M Bakhatin đã làm sáng tỏ những đặc điểm kiểu t duy tiểu thuyết.Theo M Bakhatin, t duy tiểu thuyết đợc nảy sinh từ “cái hiện tại không hoànthành” [4, 74], đã trở thành xuất phát điểm và cũng là “điểm rơi” của mọi địnhhớng của sáng tạo nghệ thuật Chính từ hiện thực không hoàn kết ấy đã làmmột cuộc cách mạng trong ý thức sáng tạo nghệ thuật của ngời nghệ sĩ T duytiểu thuyết xoá bỏ hẳn, triệt tiêu hẳn mọi khoảng cách, và tiếp xúc cuộc sống

và con ngời một cách dân chủ, tự do, thậm chí “suồng sã” Tiếp cận thế giới vàcon ngời hết sức tỉnh táo, phi thành kính, phi huyễn hoặc Nó chủ động tiếpcận cuộc sống đầy phức tạp, bộn bề, biến động liên tục của sự sinh tồn Đó là

sự khám phá con ngời trong nhiều chiều, trong tính thực tại của nó, trongnhiều mối quan hệ chằng chịt, biện chứng giữa tính cách và hoàn cảnh: “Tiểuthuyết hình thành chính trong quá trình phá bỏ mọi khoảng cách sử thi, trongquá trình thân mật hoá con ngời và thế giới bằng tiếng cời, hạ thấp đối tợngmiêu tả nghệ thuật xuống cấp độ hiện thực đơng thời dở dang không hoànthành và luôn biến động” [4, 75] Việc “thân mật hoá”, và “hạ thấp đối tợngmiêu tả nghệ thuật” không nhằm làm tầm thờng hoá nhân vật, hay bôi đennhân vật, mà đa con ngời trở về đúng nghĩa cao nhất của nó Hình tợng trong

t duy tiểu thuyết không phải đợc xây dựng trong sự xa cách của “quá khứtuyệt đối”, mà ở khu vực tiếp xúc trực tiếp với cái hiện tại không hoàn thành

ấy Nguồn gốc của sử thi có đợc trên cơ sở truyền thuyết, còn nguồn gốc củahình tợng tiểu thuyết là “kinh nghiệm cá nhân và h cấu sáng tạo tự do” [4, 75]

Thế giới của sử thi là thế giới của quá khứ tuyệt đối, của dân tộc anhhùng, là thế giới của những điểm đầu, và “đỉnh” của lịch sử dân tộc, là thế giớicủa những anh hùng xuất chúng, đại diện tiêu biểu cho cả một tập thể anhhùng, mà theo nh cách nói của M Bakhatin là: “thế giới của những ngời “thứnhất” và “u tú nhất” [4, 36] Nên nó “trùng khít” với lịch sử, với nhận thức củacả cộng đồng Còn thế giới của t duy tiểu thuyết ở cái hiện thực dở dang,không hoàn kết, con ngời cha bao giờ trùng khít với lịch sử và nhận thức củamọi ngời Nó đợc xây dựng, đợc nhìn ngắm không trùng khít với lịch sử vớichính mình, nó luôn biến động, nó vợt ngoài khả năng nhận thức và không thểkiểm soát đợc tính chất nội tại của nó Nó vợt ra mọi khung khổ chật hẹp Mỗimột con ngời tồn lại luôn có phần còn lại của nhân loại Không ai hoàn toàn

Trang 14

tốt hẳn, và cũng không ai hoàn toàn xấu hẳn Nó là sự tổng hợp nhiều mặt, đachiều Theo cách nói của M Bakhatin: “Con ngời hoặc cao lớn hơn thân phậnmình, hoặc nhỏ bé hơn tính ngời của mình” [4, 72] Dĩ nhiên việc nhìn ngắmcon ngời nh vậy, nó không ngoài mục đích sữa soạn cho một “tính toàn vẹnmới, phức tạp, ở bậc phát triển nhân tính cao hơn” [4, 73].

T duy sử thi bản thể con ngời cá nhân chỉ có thể hoà tan trong bản thểcon ngời cộng đồng, nói tiếng nói của cả cộng đồng T duy tiểu thuyết đa đến

sự chủ động về ngôn ngữ, t tởng cho con ngời Mỗi con ngời là một cá nhân

độc lập, một “nhân vị” độc lập Nó hoàn toàn đợc phép “chủ động về t tởng vàngôn ngữ, tính chủ động này sẽ làm biến đổi tính cách của hình tợng con ng-ời” [4, 73]

M Bakhatin cũng đặc biệt nhấn mạnh tính phi giáo triệt để của t duytiểu thuyết, nó thấm sâu vào từng lời văn tiểu thuyết, tạo nên tính da dạng,tính đối thoại đặc thù của nó T duy tiểu thuyết hoàn toàn xa lạ với loại vănchơng cổ động minh hoạ, nó khác xa loại văn chơng chỉ quen với ngợi ca mộtchiều Nói nh Phạm Vĩnh C: “T duy tiểu thuyết này nó thù địch với mọi sựthống nhất thô sơ hài hoà ngây thơ mọi sự nghiêm trang phiến diện, mọi nhận

định có tính kết luận khép kín về thế giới và con ngời” [11, 298] Còn HoàngNgọc Hiến nhận thấy: “T duy tiểu thuyết mang tính dân chủ trong bản chấtsâu sắc của nó” [44, 358]

M Bakhatin phát hiện ở t duy tiểu thuyết một thế giới nghệ thuật cónhiều tiếng nói, giọng nói, và có vị trí ngang bằng nhau, mỗi giọng nói là mộtphát ngôn của một chủ thể độc lập, “nơi cùng tồn tại không hòa đồng nhiềutiếng nói và ý thức độc lập, bình quyền, đầy đủ giá trị, nơi tiếng nói của nhânvật bình đẳng với tiếng nói của tác giả, tác giả không chỉ nói về nhân vật màcòn nói với nhân vật, quan hệ đối thoại với nhân vật” [4, 11] M Bakhatin

phát hiện ra t duy tiểu thuyết qua công trình nổi tiếng Lí Luận và thi pháp tiểu

thuyết, đã mở ra một hớng nghiên cứu mới cho văn xuôi nghệ thuật đơng đại,

trong đó có t duy truyện ngắn

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chơng:

Nam đơng đại

Trang 15

Ch¬ng 2 D©n chñ ho¸ hÖ thèng nh©n vËt vµ tÝnh chÊt ®a thanh

trong giäng ®iÖu trÇn thuËt

ng«n ng÷

Vµ cuèi cïng lµ danh môc tµi liÖu tham kh¶o

Trang 16

Chơng 1 Truyện ngắn Hồ Anh Thái trong bối cảnh

truyện ngắn Việt Nam đơng đại

1.1 Những tiền đề cho sự đổi mới truyện ngắn Việt Nam đơng đại

và các nớc Đông âu sụp đổ Thêm vào đó, nền kinh tế quan liêu bao cấp làmtrì trệ, kìm hãm sự phát triển kinh tế đất nớc, v.v Những điều đó đã đẩy đếncuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu rộng, ở nớc ta vào những năm 80 củathế kỷ XX

Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã xác định sự “sống còn” của đấtnớc là đổi mới, và là đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới văn học nghệ

thuật Nghị quyết 05 của Bộ chính trị Về công tác văn hóa văn nghệ đã chỉ rõ:

“Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu cónhững thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật và pháttriển các loại hình và thể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện” [8, 15] Sựcởi trói, tạo đà cho văn học phát triển

Mặt khác, đất nớc ta sau giải phóng cũng đã có những bớc chuyển mìnhmạnh mẽ về mặt xã hội, văn hoá - t tởng Trong chiến tranh và giải phóng dântộc, sức mạnh của tinh thần yêu nớc, ý thức cộng đồng đợc phát huy cao độ.Cuộc sống cá nhân, riêng t của mỗi ngời bị gạt sang một bên, thậm chí bị thuhẹp lại đến mức tối thiểu, và nhờng chỗ cho đời sống của tập thể, của dân tộc.Con ngời đợc nhìn nhận, đánh giá trớc hết và chủ yếu ở t cách con ngời dântộc, của nhân dân, của cách mạng Đó là thời kì theo cách nói của Chế LanViên: “Những năm đất nớc có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt, nụ cờitiễn đa con, nghìn bà mẹ nh nhau” Hoà bình trở lại, con ngời đợc trả về vớicuộc sống đời thờng nham nhở, muôn mặt, trả về với cuộc sống đời thờngphức tạp, bí ẩn, nhiêu khê, lẫn lộn tốt xấu, trắng đen, bi hài, v.v ý thức conngời cá nhân, cá thể với mọi nhu cầu vốn có đợc thức tỉnh trở lại Hay nói

Trang 17

khác đi, chiến tranh đi qua cái ta cũ bị thu hẹp lại, cái tôi mới nảy sinh, trênnhững nhu cầu bức thiết của đời sống muôn mặt Mỗi một cá nhân là một

“nhân vị” độc lập Các giá trị đạo đức, chuẩn mực thẩm mĩ của một thời nay

đã có nguy cơ “lung lay rạn nứt và đổ vỡ từng mảng” [55, 134] Trong khi đócác chuẩn mực mới thì cha đợc hình thành thực sự Những năm 80, 90 của thế

kỉ XX, xã hội và con ngời Việt Nam phải trải qua một cuộc trở dạ lớn lao vàkhông ít đớn đau, phải tự xây dựng lại hình ảnh chính mình, cùng với việcphải hình thành các tiêu chí giá trị mới Dĩ nhiên, tất cả mọi tiêu chí mới xáclập đều hớng về con ngời Điều này cũng phù hợp với yêu cầu và đòi hỏi của

Đảng, của thời đại về nhân tố con ngời: “Tôn trọng con ngời, phát huy sứcsáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân xây dựng từng con ngời, quan tâm pháthiện và bồi dỡng nhân tài” [8, 69] Đợc sự soi sáng bởi t tởng của Đảng, cácnhà văn đã thực sự quan tâm đến từng con ngời, và đi đến những khám phámới mẻ về con ngời Đặc biệt “vấn đề cá nhân, mỗi ngời một khác” [7, 8] trởthành một đối tợng khám phá mới

Trên đây chỉ là một phác thảo sơ lợc về bức tranh toàn cảnh lịch sử - xãhội Việt Nam Trên nền đó sẽ hình thành và phát triển một giai đoạn văn họcmới, tơng ứng với trạng thái xã hội - lịch sử ấy Tất nhiên, đó sẽ là một nềnvăn học đợc nảy nở trên: “tinh thần đổi mới t duy và nhìn thẳng vào sự thật”[37, 11]

Trang 18

1.1.2 Mở rộng giao lu tiếp xúc văn hoá

Ngày nay, với sự phát triển của thế giới, không một quốc gia nào dù lớnhay nhỏ, dù phát triển hay đang phát triển lại có thể đứng độc lập tách biệt vớithế giới, mà ngợc lại mỗi quốc gia, mỗi khu vực đều liên kết với nhau trởthành những thành viên không thể tách rời của cộng đồng quốc tế Vì thế: “Xuhớng toàn cầu hoá và khu vực hoá trên tất cả các lĩnh vực, theo các cung bậckhác nhau, trên những ngã đờng khác nhau, là một xu hớng tất yếu” [14, 342].Chính xu hớng quốc tế hoá đã làm thu hẹp không gian các nền văn hoá thếgiới

Từ năm 1986, Đảng khởi xớng công cuộc đổi mới đất nớc toàn diện, vàvới mong muốn Việt Nam trở thành bạn của các nớc, là một cơ hội tốt nhấtcho chúng ta hoà nhập với quốc tế Tại Đại hội Quốc tế nhà văn và dịch giảvăn học ở Stockholm, Thuỵ Điển với tinh thần: “Đại hội là diễn đàn toàn cầunhằm đối thoại và hợp tác ở ba chủ đề chính: đối thoại xuyên qua các nền vănhoá, vấn đề biết chữ và kỹ thuật số hoá”, trong đó chủ đề “đối thoại xuyên quacác nền văn hoá” là chủ đề bao trùm của đại hội Trong thông điệp chào mừng

đại hội, tổng giám đốc UNESCO Koichiro Matsuura viết: “Văn chơng sángtạo là nguồn đặc biệt để phát hiện ra những gì khác mình và xây dựng khíacạnh văn hoá Thơ ca và văn xuôi một khi đợc chia sẻ xuyên qua ranh giới củangôn ngữ nhờ việc dịch thuật, sẽ là cửa sổ để hiểu biết xuyên qua các nền vănhoá, và có thể đóng góp vào việc nuôi dỡng sự đề cao tính đa dạng và vai trò

bổ sung của văn hoá” [6] Trong bối cảnh giao lu văn hoá toàn cầu hiện nay,văn học đợc coi là năng động nhất Tận dụng những u thế do giao lu văn hoá

đa lại, văn học Việt Nam đang tiếp thu những thành tựu của văn hoá - văn họccủa thế giới để bổ sung cho những khiếm khuyết, và đi đến hoàn thiện nền vănhọc của mình; đồng thời cũng là cơ hội thuận lợi nhất để giới thiệu nhữngthành tựu văn học nớc nhà ra thế giới Rõ ràng, sau hơn 20 năm đổi mới, diệnmạo văn học Việt Nam đã có nhiều đổi thay Nó đang trở nên đa dạng hơn, cónhiều giọng điệu hơn, nhiều màu sắc hơn trên cả lĩnh vực sáng tác lẫn lý luận

- phê bình Văn học đã tự do hơn, cởi mở hơn, và có nhiều sự lựa chọn hơn

Mở rộng hợp tác giao lu là con đờng hiện đại hoá nền văn học dân tộc.Theo Nguyễn Đăng Điệp, để thúc đẩy sự phát triển của nền văn học, thì:

“không thể không tìm hiểu những xu hớng mới nhất của nghệ thuật nhân loại”[17, 95] Có giao lu tiếp xúc văn hoá - văn học quốc tế, chúng ta mới “định vị”

đúng nền văn học của chính mình, chúng ta có điều kiện đánh giá lại những

Trang 19

chân giá trị văn học của một thời, và những cái mà văn học ta còn thiếu, khi

đó văn học ta mới có điều kiện bắt kịp đợc những tiến bộ, hiện đại của vănhọc thế giới

Trong mấy thập kỷ qua, sự giao lu hợp tác văn hoá đã đem lại nhữngthay đổi lớn lao trong lĩnh vực sáng tác của văn học Việt Nam Sự đổi mớidiễn ra trên nhiều phơng diện, kể cả nội dung lẫn hình thức Về phơng diệnnội dung, văn học trong thời kỳ đổi mới đã có dịch chuyển trọng tâm từ hiệnthực bên ngoài sang hiện thực bên trong Có thể nói điều này đợc bắt đầu ngay

từ sau chiến tranh chống Mỹ kết thúc, với truyện ngắn Phiên chợ Giát của

Nguyễn Minh Châu Từ đó, truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ đồng loạt “khai tháccái tôi cá nhân và miền nội tâm sâu xa của con ngời Việt Nam hiện đại” [12]

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là tiêu biểu cho tiểu thuyết chiến tranh

thời hậu chiến Ăn mày dĩ vãng, Ba lần và một lần của Chu Lai tiêu biểu cho

loại tiểu thuyết về mâu thuẫn nội tâm hiện tại với hồi ức về chiến tranh trong

đời sống tâm lý của con ngời hiện đại Câu chuyện của cái tôi cá nhân chiếm

một tỉ lệ lớn trong sáng tác các nhà văn thời đổi mới Thời xa vắng của Lê Lựu, Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải, Mùa lá rụng trong vờn, Đám cới

không giấy gía thú của Ma Văn Kháng, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc

T, Bóng Đè của Đỗ Hoàng Diệu, v.v, có thể xem là đại diện tiêu biểu cho xu

hớng này Đặc biệt, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã đem đến cho văn họcmột sắc thái mới trên cả phơng diện nội dung lẫn hình thức Theo NguyễnVăn Dân, với Nguyễn Huy Thiệp, “cái xấu xa tội lỗi của con ngời lần đầu tiên

đợc trở thành nhân vật chính và đối tợng của cuộc đấu tranh của con ngờinhằm chống lại cái ác” [12] Cũng theo Nguyễn Văn Dân, có vẻ Nguyễn HuyThiệp đang biến phơng chấm của nhà văn Pháp A Camus - một đại diện tiêubiểu cho văn học phi lý: “Cuộc đời là phi lý, nhng con ngời vẫn sống và hành

động chống lại những điều phi lý đó”, thành phơng châm: “Cuộc đời luôn tồntại những điều xấu xa, nhng con ngời vẫn phải sống và hành động chống lại

Trang 20

điều rằng: “Thơ ca Việt Nam đang hoà nhập với không khí của văn hoá hiện

đại thế giới” [12] Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, NguyễnQuang Thiều, Vi Thuỳ Linh, v.v, là những ngời tiên phong cho đổi mới thơ catiếng Việt

Một trong những biểu hiện rõ nét nhất của tiếp xúc giao lu văn hoá đalại, đó là những thành tựu lý luận - phê bình văn học hiện đại của thế giới đợcdịch và giới thiệu hầu hết ở Việt Nam Nó tạo điều kiện thuận lợi nhất cho độcgiả tiếp xúc với nhiều tri thức văn học hiện đại của nhân loại Những sáng tạovăn học gần đây của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phơng,Phạm Thị Hoài, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc T hay Hồ Anh Thái, v.v, vớicái nhìn mới về hiện thực và con ngời, về những hình thức trần thuật độc đáo,nhiều điểm nhìn phải chăng là kết quả của những tiếp xúc giao lu văn hoá,trong đó có văn học

Phan Ngọc trong công trình Bản sắc văn hoá Việt Nam đã nhận ra vai

trò văn hoá, và khẳng định: “Chỉ có văn hoá là tồn tại lâu dài, và chính nó làcái cầu vững chắc và ổn định cho giao lu quốc tế” [43, 142] Tiếp xúc giao luvăn hoá trở thành “nguồn lực” cần thiết và tối quan trọng cho việc hiện đạinền văn hoá - văn học dân tộc, không chỉ thế nó còn tạo ra sự ổn định và bềnvững cho sự phát triển nền văn hoá - văn học dân tộc Một nền văn hoá - vănhọc hiện đại không thể tách mình ra khỏi nền văn học nhân loại Bởi trong cáichung của nhân loại ta sẽ tìm đợc cái riêng cho dân tộc Mà theo nh cách nóicủa Nguyễn Đăng Điệp: “chỉ một khi phát hiện ra chiều sâu vẻ đẹp tâm hồndân tộc, khi ấy ta sẽ gặp tâm hồn nhân loại” [17, 101]

1.1.3 Nhu cầu đổi mới t duy nghệ thuật

Văn học Việt Nam 1945 - 1975, đã làm tròn sứ mệnh cao cả của mộtnền văn học phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu, vì Tổ quốc, nhân dân, dântộc Theo cách nói của Mã Giang Lân, văn học “chỉ có một con đờng lớn duynhất là phục vụ nguyện vọng của dân tộc, lợi ích của cộng đồng” [35, 73] Về

đặc điểm loại hình, đó là “nền văn học theo khuynh hớng sử thi, đợc thể hiệntrong sự thống nhất trên quan điểm sử thi của cảm hứng, đề tài, và chủ đề, thếgiới nhân vật, cho đến kết cấu, giọng điệu” [56, 135] Nền văn học sử thi ấyphát triển trong hoàn cảnh chiến tranh, nên có những nét đặc thù, có những

đóng góp riêng cho tiến trình văn học dân tộc

Bớc vào những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế xã hội đất nớcgặp nhiều khó khăn, rồi rơi vào khủng hoảng trầm trọng Nền văn học của

Trang 21

chúng ta dờng nh chững lại, độc giả quay lng lại với ngời viết, và không ít nhàvăn lâm vào tình trạng bế tắc, không tìm thấy đợc phơng hớng sáng tác ýthức nghệ thuật của số đông ngời viết và công chúng cha kịp biến chuyển kịpthời với thực tại xã hội, những quan niệm và cách tiếp cận hiện thực vốn quenthuộc trong thời kì trớc tỏ ra bất cập, lỗi thời trớc hiện thực mới và đòi hỏi của

độc giả Đây là thời gian mà Nguyên Ngọc gọi “khoảng chân không trong vănhọc” Nhng cũng chính trong khoảng thời gian này đã diễn ra sự vận động cóchiều sâu của đời sống văn học Văn học đã chuyển “từ cuộc chiến đấu choquyền sống của cả một dân tộc”, sang một cuộc chiến đấu mới, âm thầm màquyết liệt không kém Đó là “cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng cánhân”, mà theo nh cách nói của Nguyễn Minh Châu: “không có gì ồn ào nhngxảy ra từng giờ, từng ngày khắp mọi lĩnh vực đời sống” [29] Văn xuôi ViệtNam 75 - 85, đã đặt ra vấn đề chất liệu, về hớng tiếp cận hiện thực đời sống.Văn học đặt trong mối quan hệ hiện thực đời sống thờng nhật với tất cả sựphong phú, phức tạp, đa chiều và luôn vận động Đây quả là bớc chuyểnkhông hề giản đơn với một nền văn học đã quen với “bè cao”(chữ dùngNguyên Ngọc) Ngay cả một nhà văn dày dạn kinh nghiệm nh Nguyễn Khảicũng phải thú nhận: “Chiến tranh ồn ào náo động mà lại có sự yên tĩnh, giản

dị của nó, hoà bình mà lại chứa chất những sóng ngầm, những gió xoáy ở bêntrong” [32] Những vận động chiều sâu của đời sống văn học, những trăn trởkiếm tìm âm thầm mà quyết liệt, “điềm đạm mà dũng cảm”, ở một số nhà vănmẫn cảm trớc đòi hỏi của cuộc sống và ý thức sâu sắc về những tác phẩm đã

có kết quả Ghi công đầu cho nỗ lực đi tìm tiếng nói mới cho văn học phải kể

đến Nguyễn Minh Châu Nguyên Ngọc xem Nguyễn Minh Châu là “ngời mở

đờng tinh anh” cho nền văn học thời kỳ đổi mới Nguyễn Minh Châu nhìn lạivăn học viết về chiến tranh, ông không khỏi băn khoăn, trăn trở, và đặt câuhỏi: phải viết về chiến tranh nh thế nào? Khi mà: “Tất cả những vấn đề quyluật của chiến tranh đã phát triển trọn vẹn, những số phận và tính cách nhânvật cũng đã đợc phơi bày trọn vẹn” [29] Và câu trả lời thích đáng của ông là:

“phải viết về con ngời”, viết về con ngời với những tính cách đa dạng mà bấylâu nay phải “tạm thời dấu mình trên trang sách” Ông vẫn đau đáu một điều:

“hình nh trong ý niệm sâu xa của ngời Việt Nam chúng ta, hiện thực văn học

có khi không phải là hiện thực đang tồn tại mà cái hiện thực mọi ngời đang hivọng, đang mơ ớc Những ngời cầm bút chúng ta vô cùng cảm thông với dântộc mình chẳng lẽ chúng ta có thể làm yên tâm mọi ngời bằng cách mô tả cái

Trang 22

hiện thực ớc mơ?” [29] Đồng hành với những băn khoăn, trăn trở trong t tởng,

là những sáng tác mang ý tởng đổi mới nghệ thuật của mình, nh: Ngời đàn bà

trên chuyến tàu tốc hành, Bức tranh, Sắm vai, đặc biệt Phiên chợ Giát, v.v, thì

Nguyễn Minh Châu đã có những thay đổi rõ rệt về phơng thức sáng tạo nghệthuật cả nội dung lẫn hình thức trong tác phẩm Thay vì viết về chiến tranh,bom đạn, nhà văn đi sâu vào “vơng quốc của tình đời” Thay vì viết về số phậncá nhân chìm khuất trong số phận cộng đồng, Nguyễn Minh Châu lấy số phậncá nhân làm xuất phát điểm, làm trọng tâm của lăng kính nghệ thuật

Văn học Việt Nam sau 1986 đã thực sự đi vào đổi mới, toàn diện và sâusắc Sự thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, và sự ra đời kịpthời nghị quyết 05 của Bộ chính trị đã thực sự “cởi trói” cho văn học nghệthuật Cuộc gặp gỡ “lịch sử” của Tổng bí th Nguyễn Văn Linh với đông đảogiới văn nghệ sĩ trong 2 ngày vào tháng 10/1987, cùng với không khí cởi mởcủa đời sống văn hoá - xã hội, và tiếp xúc giao lu văn hoá ngày càng rộng rãivới các nớc trong khu vực và toàn thế giới, v.v, là những tiền đề thuận lợi thúc

đẩy, tạo đà cho sự chuyển đổi sâu sắc, mạnh mẽ của văn học Bên cạnh đó, tác

động của nền kinh tế thị trờng đã làm cho cuộc sống khởi sắc hơn, nhng mặtkhác con ngời trong nền cơ chế thị trờng cũng lạnh lùng hơn, mối quan hệ cánhân trong xã hội cũng ít gò bó hơn Bối cảnh lịch sử - xã hội đó, cả mặt tíchcực và tiêu cực của nó khiến các nhà văn, nhà thơ không thể nhìn cuộc sống

nh trớc đợc nữa, và cũng không thể viết nh trớc đợc nữa Họ phải thích ứng vớinhững thay đổi, thậm chí nhiều khi đến chóng mặt của cuộc sống Điều đódẫn tới những thay đổi sâu sắc về t duy nghệ thuật Nó vận động theo những

điểm đáng chú ý sau:

Văn học nhìn thẳng vào sự thật, nhìn thẳng vào hiện thực Để làm đợc

điều đó, văn học đã chuyển từ t duy sử thi sang một hệ hình t duy mới - t duytiểu thuyết T duy tiểu thuyết, theo nhà nghiên cứu M Bakhatin là t duy suyngẫm cái hiện thực, suy ngẫm về cái đơng đại đang diễn ra, “cái đơng đại chahoàn thành” [4, 57] Cùng với kiểu t duy nghệ thuật mới, là sự xuất hiện mộtkiểu nhà văn mới Họ vừa là “con đẻ” của thời đại văn học mới, vừa góp phầntạo nên sự đổi mới t duy nghệ thuật và là ngời trực tiếp đem lại những thànhtựu văn học thời đổi mới Tiêu biểu hơn cả là Nguyễn Huy Thiệp, Phạm ThịHoài, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phơng, NguyễnViệt Hà, v.v, những sáng tác của họ mang đậm màu sắc duy lý Điều nàychứng tỏ, ý thức tạo dựng một nhãn quan nghệ thuật mới của ngời nghệ sĩ ý

Trang 23

thức đó đợc bộc lộ qua hai dấu hiệu cơ bản: a- Tác phẩm nghệ thuật vợt rangoài cảm hứng sử thi hoành tráng thờng thấy ở những tác phẩm 1945 - 1975,

để tiến tới sự đa dạng, phong phú với nhiều gam giọng điệu Gia tăng chất độcthoại, đối thoại, màu sắc huyền ảo trong tác phẩm; b- Cái nhìn tỉnh táo củacác nhà văn thực chất là cái nhìn đầy suy t, triết luận, và đầy tính trách nhiệmtrớc cuộc sống Đồng thời với sự thay đổi trong cấu trúc t duy nghệ thuật là vịthế nhà văn cũng thay đổi Nhà văn không còn là ngời rao giảng đạo đức, bằngnhững tác phẩm mang tính chất minh hoạ cho một t tởng, một chân lý sẵn có,

mà góp phần vào đời sống hiện tại, đánh thức những khao khát, những trắc ẩn,những miền vô thức ẩn kín mà bấy lâu nay bị che khuất

Văn học thời kỳ này còn hoài nghi với những giá trị đã quá ổn định vềcon ngời, về cuộc sống Nó phát triển theo những giá trị mới: dự báo, dự cảm,chiêm nghiệm về sự biến đổi tất yếu của xã hội, và thân phận con ngời Theocách nói của nhà nghiên cứu văn học Đặng Anh Đào, nó: “khơi dậy cảm giác

về sự bất ổn đó là đòi hỏi phải đợc giải quyết” [44, 23 - 24] Sự thức tỉnh trởlại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học những đề tài và chủ đề mới, đa đến hệquả tất yếu trong văn học là sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con ngời

“Văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc về con ngời mànền tảng triết học và hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy là t tởng nhân bản”[37, 16] Con ngời trở thành trung tâm của mọi vấn đề văn học Con ngời vừa

là xuất phát điểm, vừa là đối tợng khám phá, vừa là đích cuối cùng của vănhọc, đồng thời cũng là điểm quy chiếu, là thớc đo giá trị của mọi vấn đề xãhội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử Con ngời xuất hiện trong văn học thời đổimới đợc “định vị” ở nhiều vị thế: con ngời xã hội, con ngời lịch sử, con ngờivăn hoá, con ngời cá nhân, v.v Con ngời đợc nhìn ngắm trong nhiều mối quanhệ: quan hệ với ngời khác, quan hệ với chính mình, quan hệ với xã hội Conngời đợc soi chiếu trên nhiều bình diện: ý thức và vô thức, cao thợng và thấphèn, thiên thần và ác quỷ, v.v Văn học đã thực sự khôi phục lại con ngời, chứkhông còn là “sự quên mất con ngời” [30, 8] nữa Đổi mới t duy nghệ thuậtcũng đồng nghĩa với sự sáng tạo, và nó chấp nhận nhiều hiện thực mà nhà vănkhông đợc che giấu bất kì một điều gì, phải viết để đáp lại sự cần thiết đó,theo nh cách nói của Camus: “Sáng tạo hôm nay là sáng tạo nguy hiểm Mọitài liệu xuất bản là một hành động và hành động đó bị phơi bày trớc nhữngtình cảm mãnh liệt của một thế kỷ không tha thứ điều gì” [69, 88]

Trang 24

Đổi mới về t duy nghệ thuật, vừa là hệ quả vừa là động lực thúc đẩycông cuộc đổi mới toàn diện đất nớc Văn học Việt Nam đơng đại đã và đangtrải qua những cơn “trở dạ” trong cuộc sống bề bộn, phức tạp của ngày hômnay, để tự hoàn thiện mình theo hớng hiện đại Đó là một thực tế Một tất yếu

1.2 Những tìm tòi, thể nghiệm đổi mới truyện ngắn

1.2.1 Một cái nhìn khái lợc về truyện ngắn Việt Nam đơng đại

Truyện ngắn là một thể loại phát triển mạnh trong văn xuôi hiện đại nớc

ta, truyện ngắn đạt đợc nhiều thành tựu đáng tự hào

Sau 1975, đặc biệt sau Đại hội VI của Đảng, cùng với việc giao lu tiếpxúc văn hoá ngày càng mở rộng, truyện ngắn đã có nhiều đổi mới ở giai đoạnnày, truyện ngắn Việt Nam có những cách tân rõ rệt, thậm chí có những bớcphát triển mang tính đột phá với những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, PhạmThị Hoài, Tạ Duy Anh, Phan Thị Vàng Anh, Hồ Anh Thái, và gần đây cóNguyễn Ngọc T, Đỗ Hoàng Diệu, v.v Không ít truyện ngắn đã đợc dịch vàgiới thiệu ở nớc ngoài Nhìn một cách khái quát, truyện ngắn Việt Nam đơng

đại vận động và phát triển theo ba đặc điểm lớn: “ a- Văn học vận động theohớng dân chủ hoá; b- Sự thức tỉnh ý thức cá nhân trên cơ sở tinh thần nhân bản

là nền tảng t tởng và cảm hứng chủ đạo, bao trùm của nền văn học từ sau1975; c- Văn học phát triển phong phú, đa dạng, hớng tới tính hiện đại” [37,

14 - 15 - 16]

Biểu hiện quan trọng nhất về đổi mới t duy nghệ thuật truyện ngắn làchuyển hớng tiếp cận mới về hiện thực, về con ngời Chuyển từ t duy sử thi với

“khoảng cách tuyệt đối”, sang t duy mới: suy ngẫm về cái đơng đại đang diễn

ra, đang tiếp diễn của “cái đơng đại cha hoàn thành” (M Bakhatin) Đó là tduy tiểu thuyết Cùng với sự xuất hiện của kiểu t duy nghệ thuật mới, là sựxuất hiện một thế hệ nhà văn với t duy nghệ thuật mới Thế hệ nhà văn này

đáp ứng đợc đòi hỏi và yêu cầu của cuộc sống mới, thời đại mới Một số câybút thuộc thế hệ nhà văn đơng đại đã khoả lấp đợc những “khoảng chânkhông” (chữ dùng của Nguyên Ngọc) trong văn học một thời Sự xuất hiệncủa Nguyễn Huy Thiệp vào năm 1987 đã thực sự gây chấn động đời sống vănhọc, và nhanh chóng trở thành một hiện tợng văn học Ngay từ những tácphẩm đầu tay, Nguyễn Huy Thiệp đã đem đến cho công chúng niềm kinhngạc, thậm chí có chút kinh hãi, và ngày càng chinh phục trái tim độc giả.Nhà nghiên cứu văn học Đỗ Đức Hiểu nhận xét: “Truyện ngắn Nguyễn Huy

Trang 25

Thiệp khuấy động tâm can chúng ta, về nhiều phơng diện, đời sống, suy t, vănhọc nghệ thuật, triết lý, thân phận con ngời” [26, 276] Từ một đời sống vănhọc đã quen với nhiều giá trị ổn định, thậm chí mang cả tính chất hồn nhiên,chúng ta bớc vào một thế giới văn chơng đầy bất trắc của đời sống thờng nhật,với nhiều đau khổ, đổ vỡ, bất hạnh; cùng với những day dứt, băn khoăn, lolắng bất tận của nhân loại Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp “đều là những tínhiệu thức tỉnh sự chú ý của ngời đọc” [29] Những tín hiệu đó chỉ có đợc bởimột t duy văn học mà hạt nhân của nó là số phận con ngời; đó là từ sự nhậnthức lại, sự tự nhận thấy, sự trăn trở kiếm tìm chân lý trớc sự ba động của cuộc

đời ý thức dân chủ hoá mạnh mẽ, cái nhìn đa chiều về con ngời và hiện thựctrong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp đã đợc thể hiện ở những cấu trúc trần thuật

thực, thờng ngày, bị phủ dới lớp ảo ảnh Đọc Lễ cầu hôn, Đám cới, Ngời đàn

bà với hai con chó nhỏ, Một cái gì, Ngời đoán mộng giỏi nhất thế gian, v.v, ta

nhận thấy cái vô vị, cái tầm thờng, cái nhạt nhẽo của con ngời hôm nay, hay lànhững con ngời bị tha hoá, sống nh đồ vật hoá, t duy bị quấn chặt nh nhữngbăng từ, con ngời mất hết sinh khí, vô cảm trớc cái ác cái xấu đó là điều đáng

sợ, đó là điều nhà văn muốn thức tỉnh ngời đọc, đó là điều nhà văn muốn giảithoát cho những ai không dám hoặc không có ý thức về chính bản thân mình

Và cũng theo nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu, truyện của Phạm Thị Hoài “vềmột phơng diện là cuộc đánh vật của nhà văn với ngôn ngữ” [26, 262] PhạmThị Hoài muốn hiện đại hoá tiếng Việt - theo định hớng “biểu đạt t duy trừu t-ợng”, muốn nhà văn “đối thoại với thế hệ tơng lai” và đối thoại với toàn nhânloại Với những sáng tạo riêng biệt và độc đáo, nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu

đặt câu hỏi “Có phải nhà văn nữ đang trên đờng chinh phục truyền thống cổphơng Đông và Việt Nam để, từ đó, sáng tạo một kênh t duy nghệ thuật mới”[26, 264]

Trang 26

Trong cao trào đổi mới t duy nghệ thuật, Tạ Duy Anh xuất hiện với

những truyện ngắn đặc sắc, gây ấn tợng mạnh mẽ, nh: Bớc qua lời nguyền, Xa

kia chị đẹp nhất làng, v.v, sớm đợc khẳng định là cây bút viết truyện ngắn

xuất sắc, và với ý thức cách tân rõ rệt Tạ Duy Anh trở thành nhà văn khơi mởcho một dòng văn học: “dòng văn học bớc qua lời nguyền” [23, 329], vớithông điệp nghệ thuật sâu sắc về só phận con ngời Truyện ngắn Tạ Duy Anh

đem đến cho văn xuôi đơng đại, trớc hết, là quan niệm nghệ thuật, ở cách tiếpcận, cách khai thác và xử lý hiện thực mới mẻ, bất ngờ Trong cái nhìn nghệthuật của Tạ Duy Anh, hiện thực không bao giờ là đơn nhất, mà bản chất của

nó là phức tạp, bề bộn, đa chiều: có vị ngọt, có vị đắng; có ác quỷ lẫn thiênthần; có thù hận và vị tha; có vô thức và ý thức, v.v Nhà văn có thể lựa chọncho mình một cách tiếp cận, suy ngẫm về hiện thực cuộc sống, nhng anh phảithực sự tạo ra đợc giá trị thẩm mĩ Phải hớng đến: Chân - Thiện - Mĩ Tạ DuyAnh thờng đi sâu khai thác những mảng tối, những phần khuất lấp cha hoànthiện của hiện thực đời sống Nhà văn có những trang viết về nông thôn, về

những miền quê hẻo lánh luôn thấm đẫm không khí thù hận: “Còn làng Đồng

thì còn mối thù với thằng Hứa và con cháu hắn” [46, 27] Thù hận ăn sâu vào

máu, tim, óc của con ngời Thù hận ghim sâu vào tâm thức của nhiều thế hệlàng Đồng, hay cũng chính là của nhiều thế hệ con ngời Việt Nam Thù hận

nh trở thành một “chân lý”, một “cơng lĩnh” sống, một động lực sống, một lẽsống, một niềm tin Mỗi trang viết của Tạ Duy Anh luôn đau đáu, da diết củanhững hồi ức nhức nhối, tê buốt đến tim can, xơng tuỷ nh không thể tẩy xoáhết đợc về lòng thù hận trong mỗi con ngời Từ những trăn trở, dằn vặt, khátvọng có thể “Bớc qua lời nguyền”, bớc qua những định kiến đã từng làm đau

đớn, nhàu nát không biết bao nhiêu tâm hồn, bao nhiêu thế hệ, để bớc đến

“những mùa vàng rực nắng, chúng ta là con đẻ của một cuộc đời không thù

hận” [46, 32] Lẩy lựa hiện thực đời sống từ phầm chìm, phía khuất lấp, từ cái

cha toàn thiện, Tạ Duy Anh hớng đến cái đẹp, cái toàn thiện Nhà văn Tạ DuyAnh đã đứng trong cái ác nhìn về cái thiện, lay thức cái thiện Đó mới là điều

đáng nói Điều đó lí giải tại sao, hiện thực trong truyện ngắn Tạ Duy Anh ờng lạnh lùng, tàn nhẫn, nhiều khi ghê rợn, nổi da gà, nhng ngời đọc vẫn cảmnhận đợc đằng sau mỗi con chữ là vọng lên một thông điệp thẩm mĩ đậm chấtnhân văn Có đợc điều đó phải chăng xuất phát “từ quan niệm nghệ thuật giàuchất nhân bản của Tạ Duy Anh?” [29]

Trang 27

th-Truyện ngắn Việt Nam đơng đại cũng đã và đang trải qua quá trình tựlột xác, để tự hoàn thiện, và tiến tới hoà nhập văn học hiện đại thế giới ở t duythể loại Các kỉ thuật lồng ghép, cắt dán, đồng hiện, gián cách, nghệ thuật sửdụng dòng ý thức, thủ pháp nghịch dị, cái phi lý, huyền thoại hoá, dùng cái kì

ảo, dùng hình thức “giả cổ tích”, “giả lịch sử”, “giả liêu trai”, nhại, v.v, để

“tạo ra một hiện thực thứ hai” [8, 217], đợc một số nhà văn Việt Nam đơng

đại vận dụng khá linh hoạt, uyển chuyển D luận đánh giá cao nhiều tác phẩmcủa Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp,Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, HoàVang, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phơng, v.v Nhìn chung, u thế cách tânnghệ thuật thuộc về thế hệ nhà văn trẻ Họ trăn trở nhiều về cách viết, cách thểhiện Những cách tân, những thể nghiệm mới cùng với đó là sự thay đổi quanniệm về cốt truyện, về hiện thực, về nhân vật, về phơng thức trần thuật, điểmnhìn trần thuật, cách tạo ẩn dụ, sử dụng biểu tợng trùng phức, ngôn ngữ đờithờng, khẩu ngữ, đậm chất cá thể hoá, v.v, thì truyện ngắn Việt Nam đơng đại

đã và đang hoà nhập mạnh mẽ với nền văn xuôi đơng đại nhân loại

Văn xuôi Việt Nam đơng đại, trên con đờng đổi mới t duy nghệ thuật,trong đó có đổi mới t duy truyện ngắn Riêng về mặt thể tài truyện ngắn đã có

đợc những thành tựu nhất định, nhng những chỉ dẫn trên cha thể nói là hếttriệt, cha thể khái quát một cách đủ đầy những thành tựu Chắc chắn còn nhiềuvấn đề cần đợc nghiên cứu để hình dung và mô tả đúng đắn diện mạo và quyluật của thể loại truyện ngắn giai đoạn này Cùng với công cuộc đổi mới đất n-

ớc, sự giao lu tiếp xúc văn văn rộng rãi, sự xuất hiện đội ngũ nhà văn với t duynghệ thuật mới, thì chúng ta có thể hoàn toàn tin rằng: văn xuôi nớc ta sẽ tiến

xa hơn nữa, trong đó có thể tài truyện ngắn

Trang 28

1.2.2 Những đổi mới của truyện ngắn đơng đại Việt Nam

1.2.2.1 Đổi mới quan niệm về hiện thực

Vì nhiều lý do, ở Việt Nam, chức năng nhận thức và phản ánh hiện thựcmặc nhiên đợc xem là một trong những chức năng quan trọng nhất của vănhọc Với cách nhìn nhận đó, nhà văn gánh vác sứ mệnh của một ngời th kí tậntuỵ, trung thành với thời đại, nh một sự tự nguyện tất yếu mà ít có sự bănkhoăn về nó Hiện thực đợc lựa chọn trong văn học 1945 – 1975, là hiện thựclớn lao trong xu thế phát triển lạc quan Một hiện thực tuyệt đối hợp lý Hiệnthực trở thành mục đích cuối cùng của phản ánh nghệ thuật Từ quan niệm đó,một thời khen chê tác phẩm văn học thờng xuất phát từ việc đối chiếu nộidung với hiện thực cuộc sống, đợc phản ánh trong tác phẩm với cái hiện thực

đợc nhận thức đợc quan niệm theo mô hình có sẵn, thậm chí nó đợc đánh giátheo lập trờng: ta - địch Tác phẩm nhằm minh hoạ cho một t tởng, hay mộtquan điểm nào đó, thờng hiện thực phản ánh trong văn học không phải là cáihiện thực “tự thân”, mà chỉ là hiện thực mơ ớc Hiện thực của cái nhìn lý tởnghóa, đẹp, trong sáng, nhng có phần giản đơn Dĩ nhiên, với cái nhìn hiện thực

nh vậy, nó đã đáp ứng đợc tâm lý bạn đọc đông đảo một thời

Tuyệt đại đa số tác phẩm viết trong thời kỳ này, trực tiếp thể hiện hình

ảnh nhân dân trong quá trình thức tỉnh cách mạng và cuộc chiến tranh nhân

dân vĩ đại Trong các tác phẩm Hòn đất (Anh Đức); Mẫn và tôi (Phan Tứ);

Đất nớc đứng lên, Rừng xà nu (Nguyên Ngọc); Dấu chân ngời lính, Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu), v.v, nhân vật trung tâm của văn xuôi

thời kỳ này là ngời lính Đó là những con ngời tiêu biểu cho khát vọng và ýchí chiến đấu, tinh thần quyết thắng của cả dân tộc Họ tiêu biểu cho chủnghĩa anh hùng cách mạng của thời đại, và đại diện tiêu biểu cho phẩm chất,sức mạnh con ngời Việt Nam Những nhân vật này đợc nhà văn nhìn ngắm nhnhững con ngời hoàn thiện trong các mối quan hệ: riêng - chung, sự sống - cáichết, trung thành - phản động, v.v, không ngoài mục đích làm nổi rõ phẩmchất anh hùng Khuynh hớng sử thi cũng tạo nên một giọng điệu trang trọng,sùng kính, ngợi ca, hào sảng

Hoà bình trở lại, cũng đồng nghĩa trở lại với cái bình thờng hằng ngày,cái bình thờng mà muôn thở Nếu chiến tranh chỉ có một câu hỏi duy nhất đặtra: sống hay chết, thì cuộc sống hiện tại với vô vàn câu hỏi đặt ra, dấy lên từnhững tầng sâu của xã hội, tích luỹ âm thầm trong quá trình lịch sử phức tạp

và lâu dài, bày ra hết trớc con ngời Con ngời hiện tại, con ngời của ngày hôm

Trang 29

nay với bề bộn, vụn vặt kia muốn tìm đợc lời tâm sự, sự đồng cảm, sự sẽ chia,

sự an ủi từ tiếng nói văn học Vì vậy, văn học phải có cái nhìn mới về hiệnthực đời sống, nếu văn học cứ viết nh trớc, cứ không hiểu, không nghe đợcnhững lo lắng “tầm thờng” hôm nay của họ, văn học cứ ngoảnh mặt làm ngơvới những u t “vun vặt” mà bức xúc hằng ngày của họ, thì việc họ nếu có quaylng lại với văn học thì cũng là lẽ đơng nhiên

Các nhà văn của chúng ta cũng không mất nhiều thời gian để nhận ra sựlệch pha giữa văn học và đời sống, bởi chính họ cũng là những con ngời trongxã hội này, chính họ cũng bị cật vấn hằng ngày bởi bao nhiêu câu hỏi đang đặt

ra trớc mắt Nhng vấn đề đặt ra, nhận ra đợc hiện thực mới là một chuyện, cònthay đổi đợc cách viết của mình để tiếp cận hiện thực mới đó mới là điều đángnói Nhà nghiên cứu văn học R Báctơ từng nói: “Các từ có một trí nhớ thứ haicòn kéo dài một cách bí ẩn giữa những ý nghĩa mới một sự tồn d ngoan cố,

lu lại từ tất cả lối viết của chính tôi, át mất giọng nói hiện tại của các từ tôi

đang dùng ” [37, 170] Các nhà văn biết hiện thực mới đang diễn ra, nhng đãquen thói với một “lối mòn” t duy cũ, cách viết cũ, lối viết sử thi trong chiếntranh, dù anh cố nói hiện thực mới thì cái “tồn d ngoan cố lu lại từ các lối viếtcũ” thì làm sao anh có thể khiến các từ hiện tại bắt kịp đợc vào cái hiện thựcmới đang diễn ra, cứ trợt đi trên hiện thực đó nh một “quán tính”, khi đó làmsao anh ta có thể đa lại điều mới mẻ cho văn chơng Tình hình này kéo dàimãi đến những năm 80 của thế kỷ XX

Trớc yêu cầu khẩn thiết của thời đại, nhà văn Nguyễn Minh Châu, vớivai trò ngời mở đờng “tinh anh” (chữ dùng của Nguyên Ngọc) cho văn họcsau 1975 đã có cái nhìn mới về hiện thực và cách tiếp cận hiện thực cũng hoàntoàn khác trớc Nhà văn đã từ bỏ hiện thực của sự kiện, của những biến cố lịch

sử, tiệm cận hiện thực về con ngời, về số phận từng con ngời; từ cái nhìn đơntuyến đến cái nhìn đa tuyến; hiện thực trong văn học không còn bó hẹp trongmột phạm vi nào nữa, mà mở rộng biên độ và khả năng chiếm lĩnh đời sống

Một loạt tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, nh: Bức tranh, Sắm vai, Ngời đàn

bà trên chuyến tàu tốc hành, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, v.v, với cái nhìn

hiện thực đa dạng, đa diện Hiện thực là cái cha biết, cái không thể biết hết,cái phức tạp, cái ẩn chìm bên trong Hiện thực không chỉ có vị ngọt, mà còn

có cả vị chua, vị đắng Không chỉ có hạnh phúc, mà có cả đớn đau Tự vấn, ớng nội trở thành dòng mạch chính trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu

h-thời kỳ này Truyện ngắn Bức tranh, ngời hoạ sĩ đã phải tự đối diện, và tự cật

Trang 30

vấn lơng tâm của mình khi gặp ngời lính năm xa, ngời đã đem đến cho anh sựnổi tiếng, nhng nay chỉ là một ngời cắt tóc bình thờng, cùng với ngời mẹ mùloà Đối diện hiện thực đó anh không thể chạy trốn Đây cũng là yêu cầu màNguyễn Minh Châu đặt ra với ngời nghệ sĩ trớc cuộc sống của ngày hôm nay:nhà văn không thể trốn tránh trách nhiệm của mình với “cái đơng đại đangdiễn ra” Và tin chắc rằng những cầm bút hôm nay đều tự hỏi: “vì sao hômnay lại nh thế này, chứ không phải nh mình hình dung và tin chắc về thuởmình con đánh giặc ” [37, 175] Vì vậy, vị thế của nhà văn cũng đợc đánhgiá lại theo những thang giá trị mới mà anh phát hiện ra.

Đặc biệt, từ sau 1986, mà cụ thể 1987 khi báo Văn nghệ cho đăng

truyện ngắn Tớng về hu của Nguyễn Huy Thiệp, đã báo hiệu một thời kì văn học mới Tớng về hu, bằng một lối viết lạnh lùng, sắc sảo, phơi bày một

hiện thực cha từng thấy trong văn học trớc đó: “sự hoang mang và bất lựccủa một ngời anh hùng trong chiến tranh trớc thực trạng hỗn loạn của xãhội sau chiến tranh” [37, 171] Tác phẩm là một chấn động Một tiếng vanglớn Gây ra nhiều tranh cãi trong ngời đọc, và ngay cả trong giới phê bình.Song dù khen hay chê, dù thừa nhận hay không thừa nhận, nh ng mặc nhiên

có một điều mà ngời cầm bút nào cũng tự nhận thấy: từ nay không thể viết

nh trớc đợc nữa Đã qua rồi thời kỳ của văn học sử thi đầy chất trữ tình vàlãng mạn cách mạng Phải hình thành cho đợc ngôn ngữ mới để chuyển tải

đợc hiện thực mới vô cùng phức tạp và bí ẩn của xã hội và con ngời

Do thay đổi quan niệm về hiện thực, việc kỳ vọng vào khả năng nhận

thức của văn học, vì thế là một nhầm lẫn to lớn Nhà văn họ Vũ trong Bài học

tiếng Việt đã cay đắng nhận thấy: “Vũ trụ là hỗn độn vô minh văn học không phải là tất cả Không nên quá coi trọng văn học Văn học chỉ là từ ngữ.

Huy Thiệp lại khẳng định: “Biết hay không biết đến chỉ là những ớc lệ mơ hồ

có tính chất lịch sử và hạn chế” [68, 158] Điều này cho thấy một ý thức dân

chủ cao trong sáng tạo nghệ thuật Hiện thực do vậy không phải là mục đíchphản ánh của nhà văn, nó chỉ là phơng tiện để nhà văn trình bày cảm xúc, t t-ởng, tình cảm, cách nhìn, cách nghĩ riêng của nhà văn mà thôi Tính hiện thựclịch sử đợc thể hiện bằng tâm trạng, cảm xúc, niềm tin cá nhân

Trong truyện ngắn Việt Nam đơng đại, bên cạnh việc xuất hiện hiệnthực có thể “kiểm chứng đợc”, còn xuất hiện một kiểu hiện thực mới: hiệnthực của cái ảo, của tâm linh Một hiện thực đợc nảy sinh từ trí tởng tợng của

Trang 31

ngời viết nhằm mục đích tạo ra hiện thực thứ hai Đó là một hiện thực khôngthể nhìn thấy bằng mắt thờng, mà phải đợc cảm nhận bằng phần hồn Mà nói

nh Nguyễn Đăng Điệp, đó là thứ hiện thực ngời đọc phải “tự cảm thấy” [17,178] Hiện thực này, ta bắt gặp nhiều trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp,Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, v.v Với hiện thực đó, buộc độcgiả phải thay đổi nhãn quan, kinh nghiệm khi đọc truyện ngắn đơng đại

Nhìn một cách tổng quát, hiện thực trong truyện ngắn Việt Nam đơng

đại đã thực sự thay đổi Đó là một hiện thực không có gì xa lạ với con ngời, làhiện thực cuộc sống vốn có, muôn thở Có đợc sự đổi mới đó không phải điều

dễ dàng Mà đó là cả một quá trình đau đáu, trăn trở, dằn vặt của ngời nghệ sĩvới mong muốn tột bậc là làm sao viết “chạm đáy” đợc vào cái tầng vỉa sâukín về những sự thật của quê hơng, đất nớc, dân tộc mà bao lâu mình đã trốntránh, thậm chí lãng quên Hơn lúc nào hết, ngời nghệ sĩ phải phát huy đầy đủchức năng xã hội của văn học nghệ thuật để khắc phục tình trạng văn nghệ chỉlàm nhiệm vụ minh hoạ chính trị, dẫn đến tình trạng “quy chụp” trong vănhọc Khắc phục thói quen nói theo một chiều, ngời cầm bút hôm nay đã mạnhdạn tìm kiếm và tạo dựng bản sắc riêng của từng ngời, dựa trên những trảinghiệm cá nhân, và cách nhìn riêng biệt về cuộc sống Chính sự thay đổi trongquan niệm về hiện thực, đã đáp ứng đợc tâm lý độc giả, điều đó đã lôi kéo đợc

độc giả trở lại với văn học

1.2.2.2 Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngời

“Văn học là nhân học” (M Gorki), là khoa học đặc thù về thế giới tâmhồn, t tởng con ngời Lịch sử văn học, nhìn theo một giác độ nào đó là lịch sửcủa những quan niệm nghệ thuật về con ngời Quan niệm nghệ thuật về conngời, là hạt nhân cơ bản của t duy nghệ thuật, quy định “những nguyên tắc cắtnghĩa về thế giới và con ngời vốn có của hình thức nghệ thuật” [20, 273].Quan niệm nghệ thuật về con ngời, còn là “nơi đánh dấu trình độ t duy nghệthuật của một thời đại, một trào lu, một tác giả” [8, 206] Chính vì thế, ngời takhông thể miêu tả con ngời nếu nh không hiểu biết, cảm nhận và có các phơngtiện, biện pháp biểu hiện nhất định Theo Trần Đình Sử, “Quan niệm nghệthuật về con ngời là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con ngời đã đợc hoáthân thành các phơng tiện, biện pháp thể hiện con ngời trong văn học, tạo nêngiá trị nghệ thuật thẩm mỹ cho các hình tợng văn học trong đó” [52, 41]

Truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975, phát triển trong hoàn cảnh đặc biệtcủa hai cuộc chiến tranh, nó không thể không bị chi phối của hoàn cảnh đó

Trang 32

Do theo sát nhiện vụ chính trị, tự ý thức mình nh một vũ khí t tởng nên tậptrung vào nhiệm vụ giáo dục con ngời cách mạng, con ngời cộng đồng Nhàvăn thông qua con ngời để biểu hiện lịch sử, con ngời trở thành phơng tiệnkhám phá lịch sử Hình mẫu con ngời đợc khắc hoạ qua các nhân vật lý tởng.Bằng con đờng trởng thành và vẻ đẹp lí tởng của các nhân vật để khẳng định

xu hớng phát triển lạc quan của lịch sử Con ngời trong truyện ngắn thời kìnày nói riêng, văn xuôi nói chung, không có dịp bộc lộ đời sống nội tâm,không có tiếng nói của cá nhân mình Họ chìm khuất trong sự kiện, sự kiệntrở thành đòn bẩy, chất xúc tác làm nổi họ Vì thế con ngời bị đơn giản hoá

đến mức có thể Con ngời thờng đợc quy về những chuẩn mực mang tính chấtkhu biệt: a- Mẫu ngời: ta - địch; b- Hai tâm lí: trung thành - phản động; c-Chiều hớng phát triển: ta thắng - địch thua

Truyện ngắn Việt Nam sau 1975, đổi mới quan niệm nghệ thuật về conngời bằng việc “định vị” (chữ dùng của Phạm Đức Dơng) lại những chuẩnmực giá trị mới về con ngời Con ngời trở thành tâm điểm soi chiếu của lịch sử

và khám phá lịch sử Con ngời từ điểm nhìn lý tởng hoá, anh hùng hoá, đợc

đặt vào điểm nhìn thế sự đời t Cuộc sống đời thờng đã buộc con ngời bộc lộ ýthức cá nhân ngày càng rõ nét, tạo nên một diện mạo về con ngời: đa dạng, bí

ẩn, phức tạp Quả thật, sau nhiều thế kỷ dài liên miên chống ngoại xâm, có thểxem đây là lúc con ngời Việt Nam phải tự đối mặt, không phải với kẻ thù từbên ngoài, mà phải tự đối diện với chính mình, chính bên trong con ngờimình Và có thể nói lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, “con ngời tự phơimình ra trớc con mắt cật vấn của chính mình” [37, 175] Nhà văn bằng nỗ lựckhai phá, chiếm lĩnh đời sống đã nhận ra mỗi con ngời là một “tiểu vũ trụ”,không thể biết hết, không thể biết trớc Không có cái nhìn cuối cùng về nó Nó

là vô tận Đặt con ngời hiện diện trong nhiều mối quan hệ nhân sinh, đa chiều,

đó là cách xử lý phổ biến của các nhà văn Với cách xử lý mới trong việc nhìnngắm con ngời, dễ dẫn đến sự “lệch kênh” giữa ngời đọc và ngời viết, vì kinhnghiệm mỗi bên khác nhau

Năm 1976, truyện ngắn Hai ngời trở lại trung đoàn của Thái Bá Lợi ra

mắt độc giả Ngay lập tức tác phẩm bị phê phán, vì đã có cái nhìn thiên kiến,thiếu chuẩn mực về nhân vật Trí - một sĩ quan có nhiều chiến công trongchiến đấu, lại c xử một cách đê tiện với ngời yêu Nhng rồi sau đó ngời ta phảinhìn nhận lại, khi một loạt tác phẩm của Nguyễn Minh Châu xuất hiện, nh:

Bức tranh, Bến quê, Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Sắm vai, v.v, mỗi

Trang 33

nhân vật nh là một “phát kiến lại” về con ngời của nhà văn Nhân vật tôi trong

truyện ngắn Bức tranh đã phải tự “lộn trái” mình để cật vấn chính hành động

và lơng tâm của mình Để tự nhận thấy con ngời thật của mình là ai? Hay

nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê lại là một cách nhìn khác về con ngời

của Nguyễn Minh Châu: nhìn ra đợc giới hạn của con ngời Còn truyện ngắn

Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành lại đợc tác giả nhìn ngắm con ngời ở

giác độ khác: con ngời không phải là thánh nhân Con ngời không có ai toànthiện Quỳ muốn tìm một con ngời toàn thiện, điều đó là không thể, là ảo t-ởng Quỳ vỡ mộng vì lẽ đó

Năm 1987, Nguyễn Huy Thiệp đã làm nên một cơn “địa chấn” thật sự

khi cho trình làng một loạt tác phẩm, nh: Tớng về hu, Phẩm Tiết, Kiếm sắc,

Vàng lửa, Những ngời thợ xẻ, Bài học nông thôn, Chảy đi sông ơi, Thoáng chút Xuân Hơng, Nguyễn Thị Lộ, v.v Nhiều tác phẩm của nhà văn nhìn con

ngời nh một bản thể tự nhiên Văn xuôi 1945 - 1975, chủ yếu nhìn con ngời ởgiác độ ý thức xã hội, mà quên phần vô thức, tâm linh của con ngời Hay nóicách khác nhà văn quen nhìn “phần xác” mà quên mất “phần hồn” Với cáchnhìn phiến diện, hạn hẹp đó đã làm bó hẹp trí tởng tợng của ngời cầm bút, vàlàm cho văn học thiếu đi tính thuyết phục Rõ ràng, ý thức là tối cần thiết cho

sự tồn tại của con ngời, nhng làm sao có thể tiêu trừ, phủ nhận sạch trơnnhững sức mạnh của bản năng tự nhiên, những tình cảm tự nhiên? Nhân cáchcủa con ngời không chỉ là kết quả của lý trí, mà còn có cả sự tham gia của vôthức, tiềm thức, tâm linh Nguyễn Huy Thiệp không đặt nhân vật của mìnhvào “tháp ngà” mà đặt nhân vật ở cuộc sống thực, ở đời thực để nhân vật tựbộc lộ mình Điều đó lí giải vì sao những con ngời của một thời nh: NguyễnHuệ, Gia Long, v.v, lại có thể nói năng một cách “đời” đến thế Dờng nhNguyễn Huy Thiệp muốn chống lại cái nhìn duy ý chí, hoặc ảo tởng “phongthánh” cho con ngời, nhng anh cũng không có ý định “đào mồ” chôn con ng-

ời, mà chỉ muốn thức tỉnh con ngời bằng cái nhìn phản tỉnh, phản biện sâu sắc

Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngời đã đem lại chiều sâu nhậnthức thẩm mĩ và sự phong phú cho truyện ngắn Việt Nam đơng đại Nhữngsáng tác của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn ThịThu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, v.v, quan tâm nhiều đến hành trình tự ý thứccủa cá nhân con ngời Thế hệ nhà văn trẻ nh: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm ThịHoài, Nguyễn Bình Phơng, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc T, v.v, lại có nhữngphát hiện sắc sảo về con ngời bản năng, vô thức Bảo Ninh, Hồ Anh Thái,

Trang 34

Thuận, v.v, lại trăn trở với cõi tâm linh của con ngời Cái nhìn đa chiều, phứctạp, bí ẩn về con ngời là tiền đề cho sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về conngời Và có thể nhận thấy một cách làm chung của các nhà văn xuôi đơng đại

đều “lấy số phận cá nhân làm gơng soi lịch sử và lấy nội tâm con ngời để nói

về cuộc sống” [34, 47]

1.2.2.3 Đổi mới về phơng thức trần thuật

Văn xuôi 1945 - 1975, vì nhiều lý do khác nhau, đặc biệt u tiên phục vụchính trị, phục vụ chiến đấu, nên lập trờng của ngời trần thuật là duy nhất

đúng, và duy nhất có giá trị đối với mọi đánh giá, thẩm định, lý giải đời sống.Ngời trần thuật nh một nhà thông thái, luôn luôn biết sẵn, biết trớc mọi điều,trở thành ngời phán truyền chân lý Dờng nh ngời trần thuật trong văn xuôi

1945 - 1975, không hề mảy may có một chút băn khoăn, hay do dự về điềumình đang nói, đang miêu tả Hay nói cách khác, ngời cầm bút cha bao giờ có

ý thức tự phê với những điều mình viết Ngời kể chuyện tuyệt đối tin vào điềumình nói, và không cho phép bất cứ một ai có quyền tranh cãi về điều anh ta

đang nói Vì thế, ngời kể chuyện thờng đứng cao hơn hẳn bạn đọc Điểm nhìntrần thuật trong tác phẩm cũng do mình quyết định Mỗi lời nói của nhà văn

nh một ý chỉ, thậm chí nh một lời “tiên chỉ”, phán truyền đến ngời đọc Chonên, mỗi tác phẩm thờng có một điểm nhìn trần thuật, và nhất quan bởi mộtcách nhìn: tốt - xấu

Truyện ngắn sau 1975 đã có nhiều thay đổi trong nghệ thuật trần thuật.Các nhà văn đơng đại từ bỏ sự áp đặt một quan điểm duy nhất đúng, đó là cáinhìn của cộng đồng, của dân tộc Ngời viết hôm nay có thể đa ra nhiều quan

điểm khác nhau, chính kiến khác nhau trớc một vấn đề của cuộc sống Nhng

để đa ra chủ kiến của mình, điểm nhìn trần thuật không phải do nhà văn quyết

định, do mình chi phối nhân vật, mà điểm nhìn trần thuật đợc giao cho nhânvật chủ động Mỗi nhân vật là một chủ thể, có quyền chủ động về phát ngôn,

về lời nói của mình, có quyền đợc đối thoại, thậm chí tranh cãi với nhà văn vềmột vấn đề nào đó Theo cách nói của M Kundera, “Không đợc giọng điệunào lấn át, không một giọng nào đợc phép cho phép làm phần đệm đơn thuần”[30, 79] Sự thay đổi vai kể, cách đa truyện lồng trong truyện, sự đảo ngợc vàxen kẻ các tình tiết, sự việc không theo một trật trự nhất định, tất cả những thủpháp ấy nhằm tạo ra hiệu quả nghệ thuật mới Lời nhà văn không còn là lời

“chúa tể”, lời “tiên chỉ”, lời phán quyết cuối cùng, mà chỉ có thể đợc kiểmnghiệm qua kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân, và sự cộng hởng cộng tác của

Trang 35

độc giả Chính sự thay đổi về kênh trần thuật, đã tạo ra tinh thần dân chủ hoátrong phơng thức trần thuật Quan hệ trần thuật thay đổi Từ quan hệ đơnchiều, độc thoại, thành quan hệ đa chiều, đối thoại Độc giả không còn bị áp

đặt những chân lý hiển nhiên, có sẵn, mà có quyền bình đẳng với nhà văntrong hành trình kiếm tìm chân lý Sự xuất hiện của phơng thức trần thuật từnhiều điểm nhìn, điều đó đã tớc bỏ quyền phán quyết của nhà văn về chân lýcuối cùng, nó cũng mở ra hớng cảm nhận mới từ nhân vật “bao giờ cũng cómột cái gì đó mà chỉ bản thân nó mới có thể khám phá bằng hành động tự docủa sự tự ý thức và của lời nói, điều này không thể nào xác định từ bên ngoài,

từ “sau lng con ngời” [5, 57] Mỗi điểm nhìn là một ý thức độc lập, một t tởng,thậm chí là một quan niệm riêng về đời sống, về nhân sinh, về con ngời Tất

cả đều đợc soi chiếu từ nhiều phía Truyện ngắn Bức tranh của Nguyễn Minh

Châu đợc đặt trong hai điểm nhìn trái ngợc nhau về cuộc sống: Một điểm nhìncủa ngời Hoạ sĩ - nhân vật tôi; và một điểm nhìn của ngời thợ cắt tóc - ngời

chiến sĩ năm xa Bi kịch của ngời đàn bà làng chài trong truyện ngắn Chiếc

thuyền ngoài xa cũng đợc Nguyễn Minh Châu soi chiếu từ nhiều giác độ:

Điểm nhìn của Phùng và Đẩu hoàn toàn khác xa cái nhìn của ngời đàn bà vềhạnh phúc cá nhân Chính vì có cái nhìn khác xa về hạnh phúc cá nhân màPhùng và Đẩu không thể lý giải vì sao ngời đàn bà đó lại không thể từ bỏ ngờichồng vũ phu của mình, và còn cầu xin cho hắn đừng bắt hắn bỏ tù ở truyệnngắn của Nguyễn Huy Thiệp, sự chủ động về t tởng của nhân vật đã đa đếncho tác phẩm của nhà văn luôn là cấu trúc đa tầng, đa nghĩa, ngời đọc không

dễ tìm đợc lời nói cuối cùng của nhà văn Ngay cả bản thân ngời kể chuyệncũng không tin vào mình, có khi còn “đứng thấp hơn nhân vật và bạn đọc”[44, 23] Trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, mỗi nhân vật đều nói tiếngnói của riêng mình, và có lẽ phải của riêng mình Điểm nhìn trần thuật đợc

giao cho nhân vật tự quyết Truyện ngắn Không có vua, mỗi nhân vật trong tác

phẩm bình quyền nhau trong lời nói, họ tranh cãi nhau, đốp chát nhau, thậmchí phỉ báng nhau Gia đình lão Kiền nh một xã hội thu nhỏ, một cái nhìn

“hiện sinh” về cuộc sống của Nguyễn Huy Thiệp ở đó ngời ta phô lộ hếtnhân cách, nhân tính của mình qua ngôn ngữ và cách nhìn về cuộc sống của

mỗi nhân vật Truyện ngắn Giọt máu, chỉ một chi tiết ông Gia đi tìm thầy dạy

chữ cho con, Nguyễn Huy Thiệp đã lập trình đợc một loạt điểm nhìn về vănchơng, khiến cho quan niệm văn chơng trở nên đa chiều, đa nghĩa: Ông đồ tể

“thấy văn chơng có cái gì từa tựa lẽ phải”; Cậu bé con thì “mơ hồ thấy học

Trang 36

đòi văn chơng là nó bớc vào một cõi mà ở đấy, nó không thể nơng tựa vào bất

cứ cái gì ngoài bản thân nó”; còn ông Bình Chi lại cho rằng “văn chơng có nhiều thứ lắm Có thứ văn chơng hành nghề kiếm sống Có thứ văn chơng sửa mình Có thứ văn chơng trốn đời, trốn việc Lại có thứ văn chơng làm loạn”;

với ông Gia “Tôi suy rằng, thịt dọi là thứ vừa phải, nhiều ngời mua, chẳng

bao giờ ế Vậy, có thứ văn chơng nào tơng tự nh thế không, chỉ vừa phải, nhiều ngời theo thì cho cháu học”; ông Bình Chi bảo: “Tôi hiểu rồi Đấy là thứ văn chơng học để làm quan” [68, 245], v.v.

Trần thuật từ nhiều điểm nhìn là minh chứng dân chủ hoá cao nhấttrong văn học, chính phơng thức trần thuật này tạo đợc nhiều t cách độc lậptrong một chỉnh thể nghệ thuật, điều đó làm cho thể loại truyện ngắn đạt tớihiệu quả thẩm mĩ phong phú hơn, bất ngờ hơn nhờ ở tính đa tầng, phức điệucủa nó Mặt khác làm cho nó xích lại gần hơn thể loại tiểu thuyết Sự đổi mớiphơng thức trần thuật trong truyện ngắn cũng chứng tỏ một điều rằng, nhà văncũng không thể viết nh trớc đợc nữa, cũng không thể giữ mãi một điểm nhìntrần thuật theo lối đợc “mớm sẵn” mà nhà văn phải thực sự trăn trở kiếm tìmthì khi đó mới có thể tóm bắt đợc sự phức tạp, bề bộn của cuộc sống Điều nàycũng đồng nghĩa với chủ đề, t tởng trong tác phẩm không còn lộ thiên nh trớcnữa, mà nó rất khó nắm bắt, khó phát hiện, nó buộc độc giả phải thay đổi cách

đọc, thay đổi tâm lý tiếp nhận văn chơng thì mới có thể tiếp cận đợc những giátrị nghệ thuật của văn chơng đơng đại Sự tìm kiếm hình thức đa thanh ở một

số nhà văn đơng đại đã làm thay đổi cách xây dựng cốt truyện, kết cấu, nhânvật, ngôn ngữ trong tác phẩm

1.3 Truyện ngắn Hồ Anh Thái - một cái nhìn khái lợc

1.3.1 Truyện ngắn trên hành trình sáng tạo của Hồ Anh Thái

Hồ Anh Thái sinh năm 1960, thuộc lớp nhà văn trởng thành sau khángchiến chống Mĩ cứu nớc Anh bớc vào nghề văn khá sớm, 17 tuổi viết truyện

ngắn Bụi phấn Hiện nay, Hồ Anh Thái là tiến sĩ văn hoá phơng Đông, chuyên

viên Bộ ngoại giao, tham gia thỉnh giảng một số trờng Đại học ở Mĩ, nh: Đạihọc Tổng hợp Wasingtơn, Đại học ST Mary, v.v, và còn giữ thêm cơng vị Chủtịch Hội nhà văn Hà Nội

Mặc dù không thật nổi bật ngay từ khi mới xuất hiện trên văn đàn nhnhiều nhà văn khác cùng thời, nhng Hồ Anh Thái đã có những thành tựu nhất

định, trong đó có thể loại truyện ngắn Anh đã làm nên một “dòng riêng giữa

Trang 37

nguồn chung” (chữ dùng của Trần Ngọc Vơng), và ngày càng tạo dựng chomình vị trí khá vững chắc trong nền văn xuôi đơng đại, cũng nh chiếm trọnniềm tin ở độc giả qua những trang viết ngày càng chất lợng của mình Đếnnay, Hồ Anh Thái đã cầm bút gần 30 năm, số lợng tác phẩm anh viết tơng đốilớn, bao gồm nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, và khảo cứu văn hóa.Trên 20 đầu sách đợc xuất bản, trong đó có một số tác phẩm đợc dịch ở nhiềunớc nh: Pháp, Mĩ, ấn Độ, v.v Đợc Giải thởng truyện 1983 - 1984 của báo

Văn nghệ với Chàng trai ở bến đợi xe; Giải thởng văn xuôi 1986 - 1990 của

Hội nhà văn Việt Nam và Tổng Liên Đoàn Lao động Việt Nam với tiểu thuyết

Ngời và xe chạy dới ánh trăng; Giải thởng 1995 của Hội Liên hiệp Văn học

Nghệ thuật Việt Nam với tập truyện ngắn Ngời đứng một chân Trong sự

thành công chung của anh về nghiệp văn, không thể không nói đến mảngtruyện ngắn Truyện ngắn của Hồ Anh Thái đã có những sáng tạo của riêngmình trong việc thể hiện cái cái nhìn đa chiều về cuộc sống, sự khám phá conngời nh những “mảnh vỡ”, và sự sáng tạo không biết mệt mỏi về phơng diệnnghệ thuật

Hồ Anh Thái là nhà văn có thái độ nghiêm túc và đam mê với nghiệpvăn của mình Đờng văn của Hồ Anh Thái là một đờng riêng, anh không bắtchớc ai, và cũng không thể trộn lẫn vào ai, vì thế có nhiều ngời cho rằng anhmột trong những nhà văn có tác phẩm đọc đợc hiện nay Hồ Anh Thái cũng lànhà văn có quan điểm sáng tạo nghệ thuật của riêng mình Anh cho rằng:

“Ngời viết văn phải là ngời vật vã lao động trên từng con chữ, mà là chữ sángtạo” [61, 226] Mỗi câu, mỗi chữ đều phải suy ngẫm, lẫy lọc và là sự rút ruộtnhã tơ của ngời cầm bút Dùng ngôn ngữ để nói hết những băn khoăn, trăn trởcủa mình về cuộc sống, về số phận cá nhân con ngời Đúng nh trong một

truyện ngắn cùng tên của nhà văn: Nói bằng lời của mình Dờng nh đó cũng là

một tuyên ngôn nghệ thuật của anh

Lao động nghệ thuật với nhà văn còn là một công việc đòi hỏi sựnghiêm túc, lăn lộn, đục đẽo trên từng con chữ Và điều tối quan trọng là nhàvăn không đợc cẩu thả Điều này đã hơn một lần Nam Cao nhắc nhở: “Sự cẩuthả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lơng rồi Nhng sự cẩu thả trongvăn chơng thì thật là đê tiện” [47, 42] Đứng trớc trang giấy là nh đứng trớcmột vùng đất xa xôi, hiểm trở đòi hỏi ngời viết phải dấn thân, thì lúc đó anh tamới chiếm lĩnh đợc điều mình muốn nói, và mới có điều kiện nói hết đợcnhững suy nghĩ, những trải nghiệm về cuộc sống, về con ngời Hồ Anh Thái là

Trang 38

nhà văn dám nhìn thẳng vào những “mảnh vỡ” cuộc sống, những bi kịch củakiếp ngời Anh không hề né tránh sự thật, không hề né tránh nỗi đau con ngời.

Mà trái lại anh đa ra trớc mắt ngời đọc những sự thật về nỗi đau của con ngờimột cách “trung thực, tỉnh táo” [17, 178] Nỗi đau của những ngời phụ nữ

trong Mảnh vỡ của đàn ông, nỗi đau của NiLam và những đứa trẻ sơ sinh về món hồi môn truyền kiếp trong Tiếng thở dài qua rừng kim tớc, v.v Hồ Anh

Thái có lẽ: “là ngời ít ảo tởng về con ngời, thậm chí có lẽ cũng ít hy vọng”[63, 339] Nhng công bằng mà nói, Hồ Anh Thái đâu chỉ quen với việc thểhiện những bi kịch nhân sinh, việc bỉ bác cái xấu, muốn thanh tẩy cái ác, màanh còn là nhà văn biết khao khát, mơ ớc, và hớng đến cái thiện, tin vào sựthay đổi của con ngời Nếu anh có nói nhiều đến cái xấu, cái ác cũng mongmuốn ngời đời ngộ ra, thức tỉnh làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, an lànhhơn, thanh lơng hơn

Những trang viết của Hồ Anh Thái đã tiệm cận với cái nhìn “suồng sã”,thân mật hoá về đời sống, về con ngời Là nhà văn “ít ảo tởng về con ngời”,anh không đặt con ngời vào tháp ngà văn chơng để ngợi ca, không đặt nhânvật của mình vào bầu “không khí vô trùng” (chữ dùng của N Niculin), sạch sẽcủa đời sống, và anh cũng không quen đi tìm “hạt ngọc ẩn dấu” bên trong tâmhồn nhân vật Anh đi tìm sự thật ở con ngời Những trang viết của Hồ AnhThái luôn có sự “xê dịch”, luôn thay đổi, luôn “tự làm mới mình” (Tôn PhơngLan) Đờng văn Hồ Anh Thái có thể chia làm ba thời kì: a- Thời kỳ tiền ấn

Độ (những tác phẩm viết trớc khi viết về ấn Độ); b- Thời kỳ ấn Độ (những tácphẩm viết về ấn Độ); c- Thời kỳ hậu ấn Độ (viết sau thời kì ấn Độ) Mỗichặng ta nhận ra một Hồ Anh Thái khác biệt Nếu ở thời kỳ đầu tác giả thờngviết về những con ngời trẻ tuổi trong bớc “nhận đờng” về chân giá trị con ngờimình, và bớc đầu nhận thấy những “mảnh vỡ” của cuộc sống, thì ở thời ấn Độtác giả đã thực sự nhìn thấy đợc những nỗi đau của kiếp ngời, là mũi kimchâm trúng văn hoá ấn Độ Còn hiện tại chất hài, chất giễu nhại về cuộc sống

không đến, Cánh võng không ngời, v.v; đến thời kỳ ấn Độ, giọng văn có phần

tỉnh táo, sắc lạnh qua Tiếng thở dài qua rừng kim tớc, Đàn kiến, Đi khỏi thung

Trang 39

lũng mới đến nhà, và có cả giọng chiêm nghiệm triết lý sâu sắc Chuyện cuộc

đời Đức Phật, Kiếp ngời đi qua, Đến muộn, v.v; ở thời hiện tại thì giọng hài

h-ớc, giễu nhại trở thành giọng chủ âm qua các tập truyện Tự sự 265 ngày, Bốn

lối vào nhà cời, v.v.

Truyện ngắn Hồ Anh Thái không chỉ đem đến cho ngời đọc cái nhìnmới về con ngời, về hiện thực đời sống, đem đến cho ngời đọc sự đa dạngtrong giọng điệu, mà còn sự mới mẻ về ngôn ngữ nghệ thuật Hồ Anh Thái,không còn viết bằng thứ ngôn ngữ sử thi, hào hùng, ngợi ca, mà viết bằngngôn ngữ đời thờng, tơi rói, nóng hổi của cuộc sống Một kiểu ngôn ngữ,

“giản dị, trong sáng, linh hoạt, mới mẻ, và rất đỗi Việt Nam” [40, 110] Nhàvăn nh mang hơi thở của cuộc sống vào những trang viết của mình Nếu trớc

đây ngôn ngữ miêu tả phải khuôn thớc trang trọng, lời nói nhân vật cha đợc cáthể hoá, thì nay trong những tác phẩm, Hồ Anh Thái đã tự do đa vào trang viếtcủa mình những ngôn ngữ tuỳ theo cá tính của nhân vật, và ngôn ngữ củanhân vật đợc cá thể cao độ, nhân vật tự do lựa chọn cho mình một ngôn ngữphù hợp tính cách và cá tính của mình Ngôn ngữ không còn bị giới hạn ở mộtvùng nào, nó xông thẳng vào tất cả các mặt của cuộc sống, kể những “vùngcấm” đã bị lãng quên Đọc truyện ngắn Hồ Anh Thái, ta nhận thấy ngoài ngônngữ thô nhám, góc cạnh, v.v, của cuộc sống thờng nhật, còn có hẳn một hệthống ngôn ngữ thị dân trong những sáng tác của nhà văn Ngôn ngữ truyệnngắn của Hồ Anh Thái cũng nh giọng điệu, mỗi thời kỳ là một thứ ngôn ngữkhác Nếu ở thời kỳ tiền ấn Độ ngôn ngữ trong sáng nhẹ nhàng, tơi tắn; ở thời

kỳ ấn Độ ngôn ngữ có phần sắc lạnh, tỉnh táo, và triết lý sâu sắc; ở thời kỳhậu ấn Độ ngôn ngữ hài hớc, giễu nhại là chủ yếu Đọc truyện ngắn Hồ AnhThái, ngời đọc còn bắt gặp đổi mới nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong tácphẩm của anh Cốt truyện trong truyện ngắn không thuộc một khung khổ nào,anh chú trọng đến sáng tạo cốt truyện huyền ảo, cốt truyện phân mảnh, lắpghép Cốt truyện trong tác phẩm của anh có thiên hớng lỏng lẻo, tiện đâu kể

đấy Đổi mới cốt truyện cũng là cách tạo nên sự đa dạng trong lối viết của nhàvăn

Đặt truyện ngắn Hồ Anh Thái trong “dòng chảy” truyện ngắn Việt Nam

đơng đại, ta thấy rõ Hồ Anh Thái đã chọn cho mình một lối đi riêng Chính lối

đi riêng đã tạo nên một Hồ Anh Thái đa phong cách, đa giọng điệu Hồ AnhThái cũng là nhà văn cha bao giờ tự thỏa mãn với chính mình, anh luôn cốgắng bứt phá để “làm mới mình” Mỗi chặng đờng sáng tác, Hồ Anh Thái

Trang 40

luôn làm mới mình trong mắt ngời đọc Dĩ nhiên, đây không phải là sự làmmới theo kiểu bắt chớc “một vài kiểu mẫu đa cho” [47, 42], mà làm mới cóchiều sâu Vì thế, anh luôn mang đến cho độc giả nhiều bất ngờ Đi từ bất ngờnày đến bất ngờ khác Nhà văn Tô Hoài khẳng định: “Trong số ít cây bút đọc

đợc hiện nay có Hồ Anh Thái” [17, 193] Để trở thành nhà văn đọc đợc hiệnnay, có lẽ do sự cật lực lao động sáng tạo trên từng con chữ của nhà văn Nhngtrên hết có lẽ ở Hồ Anh Thái có một t duy truyện ngắn độc đáo - t duy tiểuthuyết

1.3.2 Dung lợng truyện ngắn Hồ Anh Thái

Trong cuốn Truyện ngắn những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại,

tác giả Bùi Việt Thắng cho rằng: “Dung lợng (đợc hiểu là kích cỡ, sức chứa,lớn nhỏ) là khả năng ôm trùm bao quát hiện thực, là sức chứa chất liệu đờisống, dung lợng đợc hiểu theo nghĩa khả năng của nội dung phản ánh hiệnthực của thể loại” [66, 71]

Dung lợng truyện ngắn rất đợc nhiều ngời quan tâm Theo quan niệmchung, một tác phẩm văn học đợc gọi là truyện ngắn thì phải ngắn (vì nóngắn) Nhà nghiên truyện ngắn Pháp D Sanelave khẳng định “ngắn” là “nét

đặc trng nhất, là yếu tố duy nhất thật sự giúp phân biệt truyện ngắn với thể

loại khác” [67, 42] Trong cuốn Truyện ngắn Pháp cuối thế kỉ XX, tác giả

Phạm Thị Thật đã đa ra một số khung mẫu cho kích cỡ truyện ngắn do cácnhà nghiên cứu Pháp đề xuất: Etiemble xem truyện ngắn từ 3 đến 30 trang;Geoges Kolebka xem truyện ngắn kéo dài 100 trang, có khi gây choáng là badòng

Thực ra, đã có không ít ngời khi xem xét dung lợng truyện ngắn đãkhông ngần ngại đặt nó bên cạnh dung lợng tiểu thuyết để phân biệt ở đó ng-

ời ta nhận thấy một độ “vênh” rất lớn về hình thức giữa hai thể loại này Vì lẽ

đó, theo Phạm Thị Thật: “tồn tại một quy định mang tính thoả thuận - một quy

ớc bất thành văn giữa các nhà văn và xuất bản: độ co giãn về kích cỡ củatruyện ngắn là từ 1 đến 100 trang” [67, 43]

Khảo sát tập truyện ngắn Nói bằng lời của mình (gồm 22 truyện) của

Hồ Anh Thái, chúng tôi nhận thấy dung lợng truyện ngắn của anh ở mức độ

bình thờng Cụ thể: Những cuộc kiếm tìm (13 trang), Nói bằng lời của mình (11 trang), Cuộc săn đuổi (13 trang), Sao anh không đến (12 trang), Cánh

võng không ngời (22 trang), Chàng trai ở bến đợi xe (11 trang), Mảnh vở của

đàn ông (17 trang), Bến Ôsin (8 trang), Món dê tái (7 trang), Hàng xóm ở

Ngày đăng: 22/12/2013, 14:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Aristote (2007), Nghệ thuật thi ca, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
[2] Tạ Duy Anh (18/8/1999), “Tiểu thuyết - một cái nhìn cuối thế kỉ”, báo V¨n hãa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết - một cái nhìn cuối thế kỉ
[3] Lại Nguyên Ân (2003), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 2003
[4] Bakhatin. M (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Bộ Văn hoá Thông tin và Thể thao - Trờng Viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhatin. M
Năm: 1992
[5] Bakhatin. M (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: Bakhatin. M
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
[7] Brewter. D & Burrell. J (2003), Tiểu thuyết hiện đại, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết hiện đại
Tác giả: Brewter. D & Burrell. J
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2003
[8] Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 những đổimới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[9] Nam Cao (2005), Về tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[10] Minh Châu su tập (2004), Truyện tích Vu Lan, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện tích Vu Lan
Tác giả: Minh Châu su tập
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phốHồ Chí Minh
Năm: 2004
[11] Nguyễn Minh Châu (2004), Về tác giả và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
[14] Phạm Đức Dơng(2000), Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Namá, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam"á
Tác giả: Phạm Đức Dơng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2000
[15] Nguyễn Tấn Đắc (2000), Văn hoá ấn Độ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ấn Độ
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
[16] Phan Cự Đệ (2000), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[17] Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
[18] Hà Minh Đức (chủ biên - 1994), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[19] Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2002), Những viên ngọc trí tuệ Phật giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những viên ngọc trí tuệ Phật giáo
Tác giả: Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2002
[20] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên - 2007), Từđiển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ"điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[21] Nguyễn văn Hạnh (2007), Rabindranath Tagore với thời kì phục hng ấnĐộ, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rabindranath Tagore với thời kì phục hng ấn"Độ
Tác giả: Nguyễn văn Hạnh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2007
[22] Võ Thị Hảo (2006), Hồn Trinh Nữ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồn Trinh Nữ
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2006
[23] Hoàng Ngọc Hiến (2006), Những ngả đờng vào văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ngả đờng vào văn học
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w