tổng quan về chuỗi cung ứng lúa gạo Việt Nam thười kì Covid19, hoạt động sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong và ngoài nước, tác động của đại dịch covid19 đối với hoạt động chuỗi cung ứng lúa gạo Việt Nam và thế giới
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà nẵng, ngày 19 tháng 4 năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
A Mô tả tổng quan về ngành hàng lúa gạo 1
I Giới thiệu tổng quan về ngành hàng lúa gạo ở Việt Nam: 1
II Thực trạng hoạt động xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam 2
Thành tựu trong hoạt động xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam 2
Những khó khăn trong xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam 5
III Chuỗi cung ứng của ngành lúa gạo của Việt Nam 6
Chuỗi cung ứng lúa gạo xuất khẩu: 7
Vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu: 12
B Phân tích tác động của đại dịch Covid-19 tới chuỗi cung ứng của Việt Nam 13
I Nhu cầu tiêu dùng: 13
Nhu cầu tiêu dùng trong nước: 13
Tình hình thị trường lúa gạo thế giới: 14
Tình hình lúa gạo của các thị trường mà Việt Nam xuất khẩu: 16
II Nguồn cung trong nước cho chuỗi lúa gạo Việt Nam hiện nay 20
III Hoạt động sản xuất 20
Trong nước: 20
Diện tích gieo trồng, thu hoạch [18] 20
Tình hình sâu, dịch bệnh, thời tiết 21
Nước ngoài: 22
IV Tác động của đại dịch Covid-19 đối với chuỗi cung ứng Việt Nam 23
Cơ hội: 23
Thách thức: 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 31
A Mô tả tổng quan về ngành hàng lúa gạo
I Giới thiệu tổng quan về ngành hàng lúa gạo ở Việt Nam:
Gạo là nguồn lương thực chính của hơn 50% dân số thế giới, cung cấp 21% năng lượng
và 15% lượng protein cho con người Châu Á là khu vực tiêu thụ gạo nhiều nhất trên thế giới với 90% tổng sản lượng gạo tiêu thụ toàn cầu Trong 2 tháng đầu năm 2019, giá gạo thế giới nhìn chung có sự tăng nhẹ trở lại so với thời điểm cuối năm 2018, tuy nhiên vẫn còn thấp so với thời điểm đầu năm 2017
Việt Nam là một trong những nước có nghề truyền thống trồng lúa nước cổ xưa nhất thế giới Trong một thời gian dài, lúa là một cây trồng đóng vài trò chiến lược trong an ninh lương thực của Việt Nam Trong nhiều thập kỷ qua, chính phủ đã nỗ lực tăng sản lượng lúa gạo trước là cho thị trường nội địa và sau đó là thị trường xuất khẩu Thời tiết thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, đặc biệt là cây lúa
[1]Kết quả sản xuất lúa mùa năm 2019 tăng về năng suất nhưng do nắng nóng đầu vụ tại các địa phương phía Bắc và chuyển đổi cơ cấu mùa vụ của Cà Mau làm diện tích gieo trồng giảm mạnh nên sản lượng toàn vụ giảm Diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước đạt 1,61 triệu ha, giảm 72,3 nghìn ha so với vụ mùa năm 2018; năng suất đạt 50,2 tạ/ha, tăng 1,1 tạ/ha; sản lượng đạt 8,08 triệu tấn, giảm 184,4 nghìn tấn Trong đó, các địa phương phía Bắc gieo cấy được 1.070,8 nghìn ha, giảm 33,4 nghìn ha; năng suất đạt 50,8 tạ/ha, tăng 1,4 tạ/ha; sản lượng đạt 5,44 triệu tấn, giảm 20 nghìn tấn Các địa phương phía Nam gieo cấy được 540,2 nghìn ha, giảm 38,9 nghìn ha; năng suất đạt 48,9 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha; sản lượng đạt 2,64 triệu tấn, giảm 164,4 nghìn tấn.
Về chủng loại gạo xuất khẩu trong 9 tháng đầu năm 2019, gạo trắng chiếm 47% tổng kim ngạch; gạo Jasmine và gạo thơm chiếm 39,8%; gạo nếp chiếm 7,2%; gạo japonica, gạo giống Nhật chiếm 5,7% Về gạo nếp, thị trường xuất khẩu lớn là Trung Quốc chiếm gần 52%
Trang 42
II Thực trạng hoạt động xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam
Thành tựu trong hoạt động xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam
Về xuất khẩu, Việt Nam hiện nằm trong top 3 quốc gia xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới, chỉ sau Ấn Độ và Thái Lan Gạo Việt Nam đã xuất khẩu tới 150 quốc gia và vùng lãnh thổ Thống kê mới nhất năm 2019, diện tích lúa cả nước là 7,53 triệu hecta, năng suất trung bình đạt 58,1 tấn/ha Tuy sản lượng gạo xuất khẩu năm 2019 đạt 6,259 triệu tấn, nhưng chỉ thu về 2,758 tỷ USD, trong khi năm 2018 xuất 6,1 triệu tấn, nhưng mang về 3,060 tỷ USD Nguyên nhân là các thị trường lớn, truyền thống của Việt Nam, nhất là Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh đều giảm nhập khẩu; trong đó, thị trường Trung Quốc giảm mạnh cả về sản lượng lẫn kim ngạch làm cho giá gạo giảm mạnh gần 13% so với năm 2018 và chỉ đạt bình quân 439,3USD/tấn [2]
[3]Trong 9 tháng đầu năm 2019, Philippines đứng đầu thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 1,89 triệu tấn, tương đương 773,78 triệu USD, tăng mạnh 188% về lượng và tăng 159,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018, chiếm 37,3% trong tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước và chiếm 35,1% trong tổng kim ngạch Giá xuất khẩu sang thị trường này giảm 10% so với cùng kỳ, đạt 410,3 USD/tấn
Xuất khẩu gạo sang Trung Quốc - thị trường đứng thứ2 đã sụt giảm rất mạnh, giảm 65,6% về lượng, giảm 66,8% về kim ngạch và giảm 3,5% về giá so với cùng kỳ năm trước, đạt 387.807 tấn, tương đương 192,88 triệu USD, giá xuất khẩu đạt 497,4 USD/tấn, chiếm 7,7% trong tổng lượng xuất khẩu gạo của cả nước và chiếm 8,8% trong tổng kim ngạch Ngược lại, xuất khẩu sang Bờ biển Ngà – thị trường lớn thứ 3 lại tăng mạnh 149,3% về lượng và tăng 81,8% về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 427.762 tấn, tương đương 182,58 triệu USD, chiếm trên 8% trong tổng lượng và tổng kim ngạch
Các thị trường nổi bật về mức tăng mạnh cả về lượng và kim ngạch trong 9 tháng đầu năm nay gồm có: Senegal tăng gấp 577 lần về lượng và tăng gấp 296,8 lần về kim ngạch
so với cùng kỳ, đạt 53.706 tấn, tương đương 16,91 triệu USD; Brunei tăng 304,5% về lượng và tăng 279,4% về kim ngạch, đạt 7.868 tấn, tương đương 3,27 triệu USD; Bỉ tăng 145% về lượng và tăng 189,8% về kim ngạch, đạt 1.278 tấn, tương đương 0,88 triệu USD;
Trang 6(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)
Nguồn: VITIC
Xuất khẩu gạo trước hết làm tăng thu nhập của người nông dân đặc biệt ở các vùng chuyên canh lúa nước Sau nữa, xuất khẩu giúp giải quyết một lượng lớn lao động dư thừa trong nước Khi thực hiện tăng cường xuất khẩu thì kéo theo nó là vấn đề xay xát, chế biến phát triển, vấn đề vận chuyển hàng hoá …những công tác trên thu hút khá nhiều lao động
từ không có trình độ kỹ thuật, quản lý đến có trình độ cao Việc tạo việc làm ổn định cũng chính là một biện pháp hữu hiệu để tăng thu nhập, ổn định xã hội
Trang 75
Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam thì xuất khẩu gạo là một lợi thế lớn Bởi sản xuất và xuất khẩu gạo có những lợi thế căn bản như: đất đai, khí hậu, nguồn nước, nguồn nhân lực … Và đặc biệt yêu cầu về vốn kỹ thuật trung bình, với các lợi thế như vậy tăng cường xuất khẩu gạo là hướng đi đúng đắn nhất
Những khó khăn trong xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam
Mặt khác, gạo cũng là một trong 10 mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, nhưng xét về hiệu quả đóng góp của ngành hàng này cho nền kinh tế thì vẫn còn nhiều hạn chế
Tỷ trọng lúa gạo trong ngành nông nghiệp của Việt nam khá lớn nên những thay đổi về thời tiết hay thị trường xuất khẩu gạo đều có ảnh hưởng đến tăng trưởng của ngành Năm
2016 thời tiết khô hạn do El Nino đã khiến nông nghiệp tăng trưởng âm Năm 2017 và
2019 thời tiết thuận lợi hơn nhưng xuất khẩu gạo lại giảm sút Chỉ riêng năm 2018 ngành nông nghiệp có được thuận lợi cả về thời tiết lẫn thị trường (do Philippines và Indonesia tăng nhập khẩu gạo) nên ngành nông nghiệp đạt tăng trưởng cao kỷ lục +3,74%
[4]Việc Trung Quốc đã áp dụng nhiều rào cản kể từ đầu năm 2018 càng thêm ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo Việt Nam Cụ thể, Trung Quốc đã tăng thuế nhập khẩu gạo nếp từ 5% lên 50% hay kiểm soát chặt nhập khẩu gạo tấm Do đó, xuất khẩu gạo Việt Nam sang Trung Quốc sụt giảm rất mạnh, trong 5 tháng đầu năm 2019 mất 75,4% về lượng và giảm 75,2%
về kim ngạch so với cùng kỳ, với 223.078 tấn, tương đương 111,33 triệu USD, chiếm gần 8,1% trong tổng lượng và chiếm 9,4% trong tổng kim ngạch Giá xuất khẩu sang thị trường này cũng giảm 6,3%, đạt 499 USD/tấn Trung Quốc từ vị trí thị trường xuất khẩu gạo số 1 của Việt Nam đã rơi xuống vị trí số 3 trong 5 tháng đầu năm nay (sau Philippines và Malaysia)
Trung Quốc là thị trường xuất khẩu gạo lớn của Việt nam (chiếm 22% tổng xuất khẩu)
và Việt Nam cũng là nước cung cấp gạo lớn nhất cho Trung Quốc (chiếm 46,2% tổng nhập khẩu) Tuy vậy kể từ đầu năm 2018 Trung Quốc đã áp dụng nhiều rào cản làm ảnh hưởng đến việc nhập khẩu gạo từ Việt Nam như tăng thuế nhập khẩu gạo nếp từ 5% lên 50% hay kiểm soát chặt nhập khẩu gạo tấm
Trang 86
Thời gian gần đây, hầu hết các nước nhập khẩu đã đòi hỏi chất lượng gạo cao hơn, đồng thời siết chặt các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm Các hộ sản xuất lúa qui mô nhỏ thường thiếu những kỹ thuật canh tác phù hợp để sản xuất lúa chất lượng cao Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với người nông trồng lúa ngày càng tăng Hiện nay, việc sản xuất lúa gạo ở Việt Nam vẫn còn sử dụng nhiều phương pháp gây ảnh hưởng xấu cho con người
và môi trường Việt Nam chủ yếu xuất khẩu gạo trắng ở phân khúc thị trường cấp thấp Đây là thách thức lớn đối với hạt gạo Việt Các địa biểu cho rằng, vai trò của các chính sách khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước là rất quan trọng Về phía doanh nghiệp, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất, chế biến và bảo quản lúa gạo để tiết giảm chi phí, gia tăng chất lượng Giữa doanh nghiệp và nông dân cần tiếp tục đẩy mạnh liên kết hợp tác, nhằm xây dựng và phát triển chuỗi giá trị hạt gạo ngay từ khâu đầu vào
III.Chuỗi cung ứng của ngành lúa gạo của Việt Nam
Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các tổ chức/ tác nhân có sự kết nối và phụ thuộc lẫn nhau để cùng hợp tác làm việc, kiểm soát, quản lý và cải thiện dòng chảy của vật liệu và thông tin từ các nhà cung cấp cho đến khách hàng cuối cùng (Christopher, 2010)
Xuất khẩu gạo VN đã có những đóng góp quan trọng vào kinh tế đất nước, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tham gia vào an ninh lương thực toàn cầu, là một trong 10 mặt hàng chính có kim ngạch xuất khẩu lớn của VN trong nhiều năm qua
Phân tích sự phát triển của ngành gạo với mối liên kết của các thành phần trong chuỗi, nhận dạng những điểm mạnh, yếu các tác nhân tham gia nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh Vai trò của thương lái, bộ phận trung gian đã có mặt hầu như xuyên suốt trong chuỗi nói lên tính linh hoạt, khả năng đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, hoạt động giao dịch, buôn bán với khách hàng của mình Quá trình phát triển của ngành lúa gạo đi đôi với hình thành cụm ngành lúa gạo xuất khẩu lớn của cả nước đó là vùng ĐBSCL Sự xuất hiện các cụm ngành tập trung nhỏ hơn với hạt nhân là các nhà máy lau bóng gạo và thực hiện công đoạn cuối
(logictisc) trong vùng ĐBSCL đã cải thiện thêm một bước tình trạng xuất khẩu gạo của
VN
Trang 97
Chuỗi cung ứng lúa gạo xuất khẩu:
[5]Chuỗi cug ứng lúa gạo ở ĐBSCL là một hệ thống kết nối các phân khúc từ cung cấp đầu vào, trồng trọt (và thu hoạch), chế biến (xay xát, lau bóng), phân phối và tiêu thụ cuối cùng Các tác nhân tham gia bao gồm: Nông dân, thương lái, nhà máy xay xát, các công ty cung ứng, công ty xuất khẩu, mạng lưới bán sỉ, bán lẻ, người tiêu dùng Tham gia vào chuỗi còn có các ngành có liên quan, các dịch vụ, cơ sở hạ tầng và các hỗ trợ khác
Trồng trọt, thu hoạch Đầu vào
vào
Chế biến (xay xát, lau bóng)
Cty xuất khẩu và cty cung ứng
Xuất khẩu
Thương lái
Siêu thị
Nhà bán buôn
Nhà bán lẻ
Người tiêu dùng
Trang 108
Sơ đồ dưới đây mô tả mối liên hệ trong chuỗi giá trị lúa gạo đi từ người nông dân trồng lúa đến khâu xay xát, chế biến, xuất khẩu trong mối liên hệ với các yếu tố thể chế và các ngành liên quan
Hình 1 Chuỗi cung ứng lúa gạo xuất khẩu
Nguồn: Tác giả
*Điểm yếu nhất trong chuỗi là những người trồng lúa
Những người trồng lúa là một tập hợp rời rạc của hàng triệu nông hộ sản xuất trên mảnh ruộng của mình ở vùng ĐBSCL Do sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thời tiết, mưa bão, lũ lụt nên nông dân trở thành nhóm sản xuất rất dễ bị tổn thương Biến đổi khí hậu là vấn đề lớn và họ cũng là những người bị tác động rất mạnh Thiếu hệ thống bảo hiểm rủi ro, giao thông đi lại khó khăn, thiếu vốn, thiếu tài sản,…Nông dân là người chịu tác động mạnh nhất khi các yếu tố đầu vào tăng giá, họ cũng là nạn nhân của sự lạm phát
Trang 119
tăng vọt Khi giá lúa tăng, họ cũng không phải là người được hưởng lợi trọn vẹn, nhưng khi giá lúa sụt giảm thì thiệt hại của họ lại rất lớn Để bảo vệ nông dân trước những khó khăn trên Chính phủ thường xuyên theo dõi sát sao hoạt động xuất khẩu lúa gạo và diễn biến thị trường để có những chính sách ứng phó hỗ trợ
Khi chuẩn bị thu hoạch, người nông dân sẽ liên hệ môi giới để tìm thương lái đến xem lúa, chào giá hoạc các thương lái quen tự đến tìm nông hộ theo chu kì Giá cả dongwoif mua đưa ra, sau khi cân nhắc khoản thu nhập đem về, cũng như dựa vào chất lượng lúa và giá cả thương lái chào mua các ruộng khác, ngươi nông dân sẽ đồng ý bán hoặc liên hệ với tương lái khác để tìm kiếm giá cao hơn
Khi giá lúa quá thấp, người nông dân có thể giữ lại lúa chờ giá cao mới bán, nhưng phải chịu thêm khoản chi phí về thuốc trừ sâu, thuốc dưỡng trong thời gian này Nông dân chỉ
có thể chọn giải pháp chậm thu hoạch trong một thời gian ngắn chờ giá lúa lên chứ không thể giữ lại quá lâu Từ đó, ta có thẻ thấy người nông dân hầu như thụ động trong quá trinh quyết định giá bán lúa, mà chủ yếu do thương lái quyết định nên họ thường bị ép giá
* Thương lái:
Thương lái là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong chuỗi cung ứng lúa gạo Thương lái thường được hiểu là người thu gom nông sản, hàng hóa từ nông dân Thương lái có 2 hình thức: (1) thương lái thu gom lúa và gia công chế bến thành gạo (thương lái mua lúa – bán gạo), (2) thương lái chỉ thực hiện chức năng thu gom và bán lại cho các tác nhân khác (thương lái mua lúa – bán lúa)
[6]Tại mắt xích thương lái, lúa gạo được tiêu thụ qua ba đối tác đó là: các nhà máy xay xát (30,3%), các công ty cung ứng (47,8%) và các siêu thị, cửa hàng bán lẻ (15%) .Họ đi đến khắp các thôn xóm mua lúa của nông dân chuyên chở đến các nhà máy xay xát (đối với thương lái mua lúa – bán lúa) Sau đó họ lại chuyên chở số gạo đã xay xát (thường chỉ bóc tách vỏ trấu) đến các cơ sở lau bóng lúa gạo Hơn 95% lúa gạo do nông dân làm ra được thương lái mua và vận chuyển đến các nhà máy xay xát, cơ sở lau bong, sau đó giao lại các công ty kinh doanh Các công ty xuất khẩu mua lại từ các nhà cung cấp trung gian khoảng 70% trong tổng số gạo xuất khẩu Do hoạt động này, người nông dân ngày càng tách rời với các nhà xuất khẩu, các nhà xuất khẩu thì cũng chẳng có mối quan hệ gì với
Trang 1210
nông dân Thương lái đã trở thành lực lượng trung gian, nắm được thông tin và mối quan
hệ ở cả 2 đầu nên đã trở thành lực lượng không thể thiếu trong tổ chức vận hành như của thị trường lúa gạo ở VN hiện nay
* Nhà máy xay xát:
Nhà máy xay xát có vai trò chuyển đổi nguyên liệu lúa thành gạo trong chuỗi cung ứng Bao gồm các nhà máy xay xát, thực hiện công đoạn bóc tách vỏ trấu, chà xát, làm trắng gạo và cung cấp cho thị trường nội địa Một số nhà máy chỉ thực hiện công đoạn bóc tách
vỏ trấu, việc làm trắng gạo và đấu trộn gạo xay xát với tấm do các cơ sở lau bóng lúa gạo thực hiện để cung cấp cho các công ty xuất khẩu Hầu hết các cơ sở xay xát đều được đặt
ở vị trí thuận lợi cho việc vận chuyển, đặc biệt là gần sông ngòi Còn các cơ sở lau bóng thường nằm trong một công ty cung ứng xuất khẩu gạo
Nhà máy xay xát chủ yếu thu mua lúa từ các thương lái là chủ yếu chiếm 62,5% và nông dân chiếm 37,5% Sau đó nhà máy bán chủ yếu cho công ty cung ứng chiếm 45,5%, đại lý sỉ và lẻ là 36,4% và thương lái bán buôn là 18,1% (số liệu năm 2016) Hình thức thanh toán tiền mặt 1 lần và không có hợp đồng mua bán trước, việc quyết định giá cả là
do sự trao đổi thỏa thuận giữa người mua và người bán dựa trên mối quan hệ làm ăn lâu dài.[7]
*Các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam:
Bao gồm các công ty xuất khẩu gạo và các công ty cung ứng gạo xuất khẩu Các công
ty xuất khẩu là người giao dịch, ký kết hợp đồng, thực hiện các qui trình xuất khẩu gạo ra nước ngoài Các công ty xuất khẩu này mua lại gạo từ các công ty cung ứng Các công ty cung ứng gạo cho các công ty xuất khẩu nắm trong tay cơ sở kho tàng, thiết bị lau bóng gạo, thực hiện công đoạn cuối bao gồm làm sạch gạo, tách màu, đấu trộn tấm, bao bì, đóng gói, các dịch vụ giao hàng tới tàu để xuất khẩu So với thương lái, nông dân và các nhà máy, các công ty xuất khẩu vượt trội hơn về trình độ tổ chức, hiểu biết thị trường tâm lý khách hàng bởi họ có bộ máy tổ chức tốt hơn, đội ngũ nhân viên thành thạo hơn
Trang 13Mỗi đại lý bán sỉ/ lẻ gạo có thể mua từ nhiều nguồn: đại lý lớn hơn , nhà máy, công ty… Với người bán lẻ họ thường chọn mua những loại gạo theo nhu cầu người tiêu dùng, không có tiêu cuẩn chọn mua nào Khách hàng mua gạo tại đại lý sỉ/ lẻ là người tiêu dùng địa phương, quán cơm… Hình thức bán chủ yếu là bán lẻ và thanh toán ngay bằng tiền mặt, số khác do có mối liên hệ buôn bán lâu năm nên được thanh toán gối đầu hoặc từng đợt theo sự thỏa thuận miệng giữa hai bên
*Người tiêu dùng:
Người tiêu dùng chủ yếu dùng gạo trong nước do tập quán, thói quen từ xưa, khó mà thay đổi Cũng có một số người tiêu dùng quan tâm đến gạo trong nước chất lượng không đảm bảo, bị pha lẫn gạo chất lượng kém, lo lắng về tình trạng dư lượng thuốc trừ sâu quá mức quy định, nhưng họ vẫn chọn gạo trong nước vì theo họ giá cả của gạo hợp lý Mặt khác họ cũng chọn gạo xuất khẩu do chất luwognj đảm bảo hơn, độ thuần của gạo ít bị pha lẫn Sản phẩm gạo nhập có thương hiệu, nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng đảm bảo chất lượng
Sự giới thiệu của người bán hay người thân, bạn bè cũng là lý do mà người tiêu dùng tin tưởng lựa chọn gạo nhập
=>Kết luận: Tuy hoạt động của chuỗi đã có sự phối hợp giữa các mắc xích, nhưng hoạt
động chuỗi cung ứng lúa gạo ở ĐBSCL còn qua nhiều khâu trung gian, dẫn đến quản lý và kiểm soát chuỗi kém hiệu quả từ đầu vào đến đầu ra cũng như việc chia sẻ thông tin từ đầu
ra trở về đầu vào Vì vậy, lợi nhuận thu được của người nông dân sau một vụ mùa còn rất thấp, không đảm bảo nhu cầu cuộc sống cho chu kỳ gieo trồng kéo dài Với diện tích sản xuất nhỏ lẻ nên đa số đời sống nông dân chưa cải thiện và thu nhập hàng tháng cho một
Trang 1412
lao động còn thấp Hệ thống kho lưu trữ với các thiết bị vận chuyển và bảo quản tốt chưa đáp ứng đủ nhu cầu lưu trữ trong các mùa cao điểm, phần lớn vẫn lưu trữ tự túc
Vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu:
Việt Nam có vai trò ngày càng quan trọng trong phối hợp với các tổ chức đối tác, các nước xuất, nhập khẩu gạo tham gia có hiệu quả trong chuỗi sản phẩm gạo và an ninh lương thực thế giới Việt Nam đóng góp không chỉ về giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng gạo
mà còn tham gia vào thị trường phát triển công nghệ bền vững trong ngành nông nghiệp, đặc biệt là lĩnh vực lúa gạo Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2017 – 2020, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành[10], trong đó tập trung quan tâm phát triển thị trường xuất khẩu gạo để nâng cao hiệu quả và thúc đẩy xuất khẩu gạo; định hướng cho công tác quy hoạch và tổ chức sản xuất lúa gạo hàng hóa trong nước theo hướng đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu tiêu thụ, đáp ứng yêu cầu, quy định của thị trường Đồng thời, gắn phát triển thị trường xuất khẩu gạo với nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dựng thương hiệu của sản phẩm gạo xuất khẩu và thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo Việt Nam trên thị trường, tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, xuất khẩu
Phát triển sản xuất, xuất khẩu lúa gạo chiếm một vị trí quan trọng, đảm bảo an ninh lương thực cho Việt Nam và góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho cả khu vực và thế giới Sau 30 năm đổi mới, sản xuất lúa gạo của Việt Nam đã được những thành quả to lớn, góp phần quan trọng đưa Việt Nam từ cảnh thiếu ăn, đói nghèo, phải nhập khẩu lương thực trở thành một trong 3 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới với sản lượng trung bình hàng năm từ 5-6 triệu tấn Gạo xuất khẩu của Việt Nam đã đến tới 150 quốc gia và vùng lãnh thổ Bên cạnh các thị trường truyền thống là Philippines, Indonesia, Malaysia, Cuba, Trung Quốc, các nước châu Phi, gạo Việt Nam đang hướng tới các thị trường tiềm năng ở châu Âu, châu Mỹ và châu Đại Dương