Để góp thêm một phần kiến thức cho việc tìm hiểu về tội trộm cắptài sản nhằm làm rõ những dấu hiệu định tội cụ thể cũng như tìm hiểunghiên cứu các hình phạt, với mục đích đấu tranh phòng
Trang 1MỤC LỤC
Trang
A: Phần mở đầu:
21.Tính cấp thiết của đề tài 2
2.Tình hình nghiên cứu 3
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4.Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
5.Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp về mặt khoa học và ý nghĩa của đề tài 4
B: Phần nội dung: 5
Chương1: Một số vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản theo quy định của
PLHSVN 5
1.1 Khái niệm về tội trộm cắp tài sản 5
1.1.1.Tội trộm cắp tài sản được quy định trong bộ luật hình sự năm 1985 5
1.1.2.Tội trộm cắp tài sản được quy định trong bộ luật hình sự năm 1999 10
1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài 13
Trang 21.2.1.Mặt khách thể của tội trộm cắp tài sản 14
1.2.2.Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản……… 14
1.2.3.Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản……… 15
1.2.4.Mặt chủ thể của tội trộm cắp tài sản……… 15
1.3 Hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản……… 16
1.3.1.Hình phạt chính……… 16
1.3.2 Hình phạt bổ sung……… 17
Chương 2: Thực tiễn xét xử tội trộm cắp tài sản trong những năm gần đây 19
2.1 Thực trạng về tội trộm cắp tài sản trong những năm gần đây 19
2.2 Pháp luật hình sự và áp dụng đối với hoạt động xét xử tội trộm cắp tài sản 20
2.3 Nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng tội trộm cắp tài sàn hiện nay 26
2.4 Giải pháp nhằm ngăn chặn tội trộm cắp tài sản 26
C: Phần kết luận 28
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trang 3Hiện nay xã hội ngày càng phát triển bộ mặt đất nước ngày càngkhởi sắc, hòa chung trong không khí sục sôi của sự nghiệp đổi mới côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đất nước tiến sâu vào hội nhập quốc tếngày càng sâu sắc Nền kinh tế nước nhà ngày càng phát triển và đang trên
đà tiến sâu vào nền kinh tế thị trường toàn cầu, khoa học công nghệ ngàycàng hiện đại tinh vi Cùng đó thì xã hội cũng có những diễn biến phức tạp,tội phạm ngày càng nhiều và càng có nhiều thủ đoạn, mánh khóe ranh ma,tinh vi, tàn bạo hoạt động lộng hành khắp mọi nơi hơn để vượt qua hàngrào luật pháp
Trong cuộc đấu tranh phòng chống các vi phạm nói chung và tộiphạm nói riêng, thì tội trộm cắp tài sản là một trong những tội quan trọngcần được đẩy lùi Trộm cắp tài sản gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế, văn hóa
và xã hội Vì vậy, việc phòng chống và đẩy lùi các tệ nạn trộm cắp tài sảnkhông chỉ là vấn đề của các cơ quan chức năng mà là của toàn thể nhân dân
mà còn là của các nhà nghiên cứu khoa học
Để góp thêm một phần kiến thức cho việc tìm hiểu về tội trộm cắptài sản nhằm làm rõ những dấu hiệu định tội cụ thể cũng như tìm hiểunghiên cứu các hình phạt, với mục đích đấu tranh phòng chống tội phạmgiữ vững trật tự an toàn xã hội cũng như giáo dục pháp luật cho người dân,trước yêu cầu cấp thiết của thực tiễn đất nước, sự nóng bỏng trước côngcuộc đổi mới của Đảng và nhà nước ta Xét trên những tình hình phạm tộingày càng gia tăng của tội trộm cắp tài sản hiện nay, xin được ngiên cứu
với đề tài “Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam- Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn”
2.T×nh h×nh nghiªn cøu
Trang 4Tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật hỡnh sự đó được nhiều ngườinghiờn cứu theo nhiều khớa cạnh khỏc nhau,Trờn cơ sở lý luận chung về tộitrộm cắp tài sản được quy định tại điều 138 Bộ luật hỡnh sự của nước ta, tụi
đi sõu nghiờn cứu tỡnh hỡnh tội phạm về tội trộm cắp tài sản trong nhữngnăm gần đõy để thấy được tầm quan trọng của nú trong nền kinh tế ViệtNam cũng như ảnh hưởng của nú đối với tỡnh hỡnh an ninh trật tự xó hộihiện nay Nhằm mục đớch giỏo dục và nõng cao ý thức phỏp luật cho họ,động viờn khuyến khớch nhõn dõn tớch cực tham gia vào cuộc đấu tranhphũng chống, tố giỏc tội phạm
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đõy là một đề tài cú phạm vi nghiờn cứu phức tạp, với đề tài này tụikhụng cú ý định đi sõu nghiờn cứu cỏc vấn đề chi tiết mà tụi chỉ đi vào tỡmhiểu vào hai vấn đề sau:
- Một số vấn đề lý lý luận về tội trộm cắp tài sản theo quy định củaPhỏp luật Hỡnh sự Việt Nam
- Thực tiễn về tội trộm cắp tài sản trong những năm gần đõy
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Là một trong những đề tài nghiờn cứu mang tớnh khoa học phỏp lý,khoa học luật Hỡnh sự cú nhiệm vụ nghiờn cứu lý luận, thực tiễn và đưa ramột số vấn đề luận cứ khoa học nhằm gúp phần tỡm hiểu rừ hơn, sõu hơn vềluật Hỡnh sự núi chung cũng như cỏc quy định về tội trộm cắp tài sản đượcquy định tại điều 138 Bộ luật hỡnh sự năm 1999
5.Cơ sở khoa học và phơng pháp nghiên cứu
Trang 5Để thực hiờn đề tài bờn cạnh dựa trờn cư sở lý luận chung thỡ trongquỏ trỡnh nghiờn cứu đó sử dụng nhiều phương phỏp:
- Phương phỏp phõn tớch tổng hợp;
- Phương phỏp kết hợp lụgic và lich sử;
- Phương phỏp duy vật biện chứng
- Phương phỏp so sỏnh;
- Phương phỏp trừu tượng húa khoa học;
6 Đóng góp về mặt khoa học và ý nghĩa của
đề tài
Để gúp phần cung cấp một số luận cứ khoa học tiện cho việc tỡmhiểu về phỏp luật hỡnh sự Việt Nam núi chung cũng như tội trộm cắp tài sảnnúi riờng, và giỳp cho cụng dõn tỡm hiểu phỏp luật, cũng như cú ý thứcphỏp luật hơn trong cuộc sống Đề tài này khụng chỉ cú ý nghĩa về mặt lýluận mà cũn cú ý nghĩa về mặt thực tiễn
Trang 6B NỘI DUNG
Chương1: Một số vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài
sản theo quy định của PLHSVN
1.1Khái niệm về tội trộm cắp tài sản
Hiện nay chưa có một tác giả nào đưa ra một khái niệm nào về tộitrộm cắp tài sản, nhưng dựa vào pháp luạt hính sự cũng như dựa vào hành
vi của chủ thể chúng ta có thể hiểu tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm
đoạt tài sản của người khác có tính chất lén lút, và chiếm đoạt tài sản đang
về hình sự, nổi bật nhất là đã kế thừa và phát huy vốn di sản lập pháp củacha ông để lại Đó là một công cụ có hiệu quả giúp Nhà nước ta quản lý xãhội đạt được nhiều thắng lợi, bảo vệ chế độ XHCN, nền kinh tế, văn hóamới của nước nhà
Bộ luật hình sự được xây dựng dựa trên cơ sở kế thừa và phát huynhững nguyên tắc, chế định pháp luật hình sự của nước ta, cũng như nhữngbài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạmtrong nhiều thập kỷ qua của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bộ luật hình sự thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiênquyết đấu tranh chống tội phạm và thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục,cảm hoá, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; qua đó, bồidưỡng cho mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ
Trang 7pháp luật, chủ động tham gia phòng ngừa và chống tội phạm Thi hànhnghiêm chỉnh Bộ luật hình sự là nhiệm vụ chung của tất cả các cơ quan, tổchức và toàn thể nhân dân.
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu đểđấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệđộc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp củacông dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lýkinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội vàsinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao Đồng thời, pháp luậthình sự góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trìnhđổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêudân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Tội trộm cắp tài sản được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985,tại điều 155 Tội trộm cắp Theo Bộ luật hình sự năm 1985 thì tội trộm cắptài san nói chung được chia thành hai loại đó là tội trộm cắp tài sản xã hộichủ nghĩa, và tội trộm cắp tài sản của công dân ( Điều 132, 155 BLHS1985)
a Tội trộm cắp tài sản của công dân.
Điều 155 Tội trộm cắp tài sản của công dân.
1- Người nào trộm cắp tài sản của người khác thì bị phạt cải tạokhông giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm
2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từhai năm đến mười năm;
a) Có tổ chức;
Trang 8b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát;c) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọngkhác;
d) Tái phạm nguy hiểm
3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từbảy năm đến hai mươi năm
Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: “Công dân có quyền sởhữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệusản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chứckinh tế khác…
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của côngdân”
Như vậy, sở hữu của công dân về tài sản là một trong những quyền
cơ bản nhất, được Hiếp pháp và pháp luật bảo hộ, đây cũng là quyền lợithiết thân không kém gì các quyền tình mạng, danh dự, nhân phẩm, vì đó lànhững điều kiện cần thiết để mọi người có được cuộc sống ấm no, hạnhphúc- mục tiêu của chế độ XHCN
Thu nhập hợp pháp tức là những tài sản có được phù hợp với chínhsách và pháp luật của Nhà nước, về cơ bản là do sức lao động làm ra, hoặc
do những tài sản được thừa kế, cho, tặng
Đó còn là những của cải để giành, nhà ở, các tư liệu sinh hoạt đểthỏa nãm các nhu cầu đa dạng và ngày càng cao về vật chất và tinh thầncủa con người hợp thành một bộ phận quan trọng nhất và phổ biến nhấttrong khối tài sản của công dân
Trang 9Trong tình hình xã hội hiện nay còn nhiều khó khăn và tiêu cực nhưhiện nay, mặc dù Nhà nước ta có nhiều cố gắng trong việc đảm bảo trật tự
an toàn xã hội, nhưng các tài sản của công dân cũng như tài sản của nhànước luôn bị bọn tội phạm xâm phạm, từ bọn lưu manh, côn đồ, bọn làm ănbất chính, trộm cướp, lừa đảo… đến những kẻ thoái hóa, sa đọa, lạm dụngchức quyền chiếm đoạt tài sản của công dân Vì vậy việc trừng trị bọn xâmphạm tài sản là một trong những yêu cầu quan trọng của pháp luật hình sự
Lợi dụng nhiều sơ hở của nhân dân, nhiều đối tượng trộm cắp đãphạm tội gây thiêt hại cho nhân dân, làm cho cuộc sống của nhân dân đãkhó khăn trở nên khó khăn hơn Đối tượng của các vụ án trộm cắp tài sảnchủ yếu là những đối tượng lười lao động, phạm vào các tệ nạn của xã hộinhư nghiện hút, cờ bạc…
b Tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa
Điều 132: Tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa
1- Người nào trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạokhông giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm
2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ
ba năm đến mười hai năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
c) Hành hung để tẩu thoát;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;
đ) Tái phạm nguy hiểm
Trang 103- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từmười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định:
“Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơcấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinhdoanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, sở hữu tưnhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.”
Theo đó tài sản Nhà nước thuộc sở hữu toàn dân bao gồm nhiều loại:
- Tài sản thuộc sở hữu XHCN như “đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồnnước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa vàcùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, côngtrình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹthuật, ngoại giao, quốc phòng và an ninh cùng các tài sản khác mà phápluật quy định là của nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân”.( điều 17 Hiếnpháp năm 1992)
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành nhiều biện pháp
để bảo vệ tài sản XHCN, và trong từng thời gian đã thu được những kết quảnhất định
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, tình hình xâm phạm tài sảnXHCN vẫn nghiêm trọng và phổ biến, nhất là ở các khâu kho tàng , vậnchuyển, lưu thông, phân phối và tập trung vào các mặt hàng chiến lượcquan trọng như: lương thực, phân bón, than, xi măng, xăng dầu, thuốc tândược… Ngoài bọn lưu manh, côn đồ, bọn chuyên làm ăn bất chính dùngmọi thủ đoạn trộm cắp để làm của riêng
Trang 11Để góp phần tăng cường bảo vệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, trên cơ sởrút kinh nghiệm các văn bản pháp luật đã ban hành trước đây về vấn đềnày, Bộ luật hình sự năm 1985 đã quy định một chương riêng – Chương IV– các tội xâm phạm sở hữu XHCN, với nội dung về cơ bản giống như cáctội tương ứng đã được nêu trong văn bản pháp luật trước đây, nhưng cũng
có một số bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với thực tế diễn biến của loại tộiphạm này
Đối tượng trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa thuộc hầu như là cácnhóm lười lao động, không có thu nhập trong khi đó lại sa vào các thói ănchơi Nhóm tội phạm này thường tinh vi và xảo quyệt hơn so với nhóm tộiphạm trộm cắp tài sản của công dân
Tội trộm cắp tài sản dù được quy định riêng hay chung trong Bộ luậthình sự 1985 đều đã gây ra nhiều thiệt hại cho nền kinh tế xã hội, cũng nhưgây hoang mang, lo lắng trong đời sống nhân dân, cũng như gây mất niềmtin trong nhân dân đối với các cơ quan chức năng, ảnh hưởng đến an ninhquốc gia, gây mất uy tín đối với các bạn bè quốc tế Làm cho đất nước gặpnhiều khó khăn trên con đường sánh bước cùng các cường quốc trên thếgiới, làm cho bạn bè quốc tế ngần ngại khi sang đầu tư tại Việt Nam
Nhằm mục đích ổn định xã hội, công bằng dân chủ, mang lại sự antoàn về tài sản cũng như đảm bảo quyền lợi và tính mạng của công dâncũng như Nhà nước thì những nhà làm luật đã xây dựng Bộ luật hình sựnăm 1985
1.1.2 Tội trộm cắp tài sản được quy định trong bộ luật hình sự năm 1999
Đất nước ngày càng thay da đổi thịt, xã hội ngày càng phát triển, đờisống của nhân dân ngày càng được nâng cao đó là những chuyển biến theo
Trang 12chiều hướng đi lên, để cùng hội nhập với nền kinh tế,văn hóa thế giới Bêncạnh với những thành quả tốt đẹp mà nước ta đã đạt được thì tình hình tộiphạm ngày càng tăng lên với mức độ đáng kể và diễn biến phức tạp hơn,làm cho nền kinh tế có phần bị ảnh hưởng, đời sống xã hội trở nên phứctạp, nguy hiểm hơn Bộ luật Hình sự ra đời thể hiện tình nghiêm khắc củaPháp luật Việt Nam, cũng như tính nhân đạo của nó.
Trước tình hình đó, Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội sửađổi và bổ sung dựa trên Bộ luật Hình sự năm 1985
Bộ luật hình sự năm 1999, của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 và có hiệu lực từ ngày 01tháng 7 năm 2000
Bộ luật hình sự này thay thế cho Bộ luật Hình sự được Quốc hộithông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985 và các luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 12 năm
1989, ngày 12 tháng 8 năm 1991, ngày 22 tháng 12 năm 1992 và ngày 10tháng 5 năm 1997
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối caotrong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự mình hoặcphối hợp tổ chức việc rà soát các văn bản hướng dẫn thi thi hành Bộ luậtHình sự hiện hành để hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mớicho phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự này, bảo đảm hiệu lực của
Bộ luật từ ngày 01 tháng 7 năm 2000
Tình hình tội phạm trong giai đoạn này ngày càng gia tăng, trong đótội phạm về lĩnh vực trộm cắp tài sản gia tăng không ngừng, làm ảnh hưởngđến đời sống nhân dân
Trang 13Tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hình sự năm 1985, được quy địnhtại điều 132 về tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, và điều 155 về tộitrộm cắp tài sản của công dân Tại Bộ luật Hình sự năm 1999 thì tôi trộmcắp tài sản được quy định tại điều 138.
Điều 138 Tội trộm cắp tài sản
1 Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệuđồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gâyhậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạthoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn viphạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáutháng đến ba năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từhai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới haitrăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từbảy năm đến mười lăm năm:
Trang 14a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới nămtrăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từmười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến nămmươi triệu đồng
1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản
Cơ sở pháp lý của tội trộm cắp tài sản được quy định tại điều 138 Bộluật Hình sự, qua xét xử có thể hiểu:
Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ
và thuộc một trong các trường hợp sau:
-Tài sản trộm cắp có giá trị từ 500.000 đồng trở lên;
- Gây hậu quả nghiêm trọng;
- Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản;
- Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích.Dấu hiệu pháp lý được xem là những dấu hiêu để nhận biết tội phạm,cũng như để phân biệt tội trộm cắp tài sản điều 138 BLHS với các tội khácđược quy định tại chương XIV về nhóm tội xâm phạm sở hữu
Trang 151.2.1 Mặt khách thể của tội trộm cắp tài sản
Mặt khách thể của tội phạm là một trong những dấu hiệu để nhậnbiết tội phạm và mức độ phạm tội, từ những dấu hiệu đó để nhận biết đượctính chất của tội phạm có mức độ nguy hiểm như thế nào đối với xãhội,cũng như dựa vào đó để áp dụng các hình phạt đối với loại tội này
1.2.2 Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản
Về phương diện lý luận, tội “Trộm cắp tài sản” là một loại tội phạm
có dấu hiệu hành vi khách quan khá đơn giản: “Trộm cắp tài sản là hành vilén lút chiếm đoạt tài sản của người khác” (Bình luận KHBLHS phần cáctội phạm, Tập 2-Đinh Văn Quế- NXB TPHCM-2002- Trang 196) Tuynhiên trong thực tiễn, hành vi trộm cắp tài sản, mà cụ thể là hành vi “lénlút” được diễn ra rất đa dạng, biến hoá, gây nhiều tranh cãi trong vấn đềđịnh tội danh giữa các nhà áp dụng luật
Đối tượng mà tội phạm hướng tới để thực hiện hành vi lén lút chiếmđoạt tài sản, mà ta cần làm rõ bao gồm: chủ sở hữu tài sản và người quản lýtài sản
- Chủ sở hữu tài sản
Theo pháp luật dân sự, chủ sở hữu tài sản là người có đầy đủ 3 quyềnnăng: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theoquy định của pháp luật Có đầy đủ 3 quyền này mới là chủ sở hữu hợp phápđối với tài sản và được pháp luật bảo vệ Hay nói cách khác, chủ sở hữu làngười có quyền: tự nắm giữ, quản lý, chi phối tài sản theo ý mình màkhông bị hạn chế, gián đoạn về thời gian; có quyền khai thác các côngdụng, lợi ích, giá trị của tài sản và quyết định về số phận của tài sản đó