1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới loãng xương ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An năm 2020

8 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 537,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Loãng xương ở phụ nữ là vấn đề ngày càng được quan tâm do ước tính ảnh hưởng đến 200 triệu người trên toàn thế giới. Bài viết mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến loãng xương ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An, năm 2020.

Trang 1

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI LOÃNG XƯƠNG Ở PHỤ NỮ ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN NĂM 2020

Võ Thị Thanh Hiền 1 , Đinh Thị Thanh Mai 1 ,

Thái Văn Chương 2 , Vũ Văn Thái 1,

TÓM TẮT 38

Đặt vấn đề: Loãng xương ở phụ nữ là vấn

đề ngày càng được quan tâm do ước tính ảnh

hưởng đến 200 triệu người trên toàn thế giới Ở

nữ giới có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng gây loãng

xương và gãy xương do loãng xương như: Tuổi,

chiều cao, cân nặng, hormon, chế độ sinh hoạt,

luyện tập, sử dụng corticoid, tiền sử gia đình, tiền

sử té ngã, mắc một số bệnh lý ảnh hưởng đến

mật độ xương như: Viêm khớp dạng thấp, lupus

ban đỏ hệ thống…

Mục tiêu: Mô tả thực trạng và một số yếu tố

liên quan đến loãng xương ở phụ nữ đến khám

tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An, năm

2020

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành ở 720

phụ nữ có đo mật độ xương, chưa điều trị loãng

xương bao giờ,tự nguyện tham gia nghiên cứu và

phỏng vấn theo bộ câu hỏi

Kết quả: Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ là

54,31%, loãng xương nặng chiếm 8,33% Có liên

quan đến loãng xương ở phụ nữ là từ ≥ 70 tuổi,

có kinh nguyệt muộn trên 16 tuổi, mãn kinh

trước 45 tuổi và số lần sinh con ≥ 5 lần

Từ khóa: loãng xương

1 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng

2 BV Hữu nghị đa khoa Nghệ An

Chịu trách nhiệm chính: Đinh Thị Thanh Mai

Email: dtthanhmai@hpmu.edu.vn

Ngày nhận bài: 12.3.2021

Ngày phản biện khoa học: 15.4.2021

Ngày duyệt bài: 31.5.2021

SUMMARY THE SITUATION OF AND SOME FACTORS RELATED TO OSTEOPOROSIS IN WOMEN EXAMINED AT HUU NGHI GENERAL HOSPITAL IN NGHE AN IN 2020 Rationale: Osteoporosis in women is a

growing concern as it is estimated to affect 200 million people worldwide In women, there are many factors that lead to osteoporosis and fractures due to osteoporosis such as age, height, weight, hormones, lifestyle, exercise, corticoid use, family history, fall history, some diseases affecting bone density namely rheumatoid arthritis, systemic lupus erythematosus…

Objectives: To describe the situation of and

some factors related to osteoporosis in women examined at Huu Nghi General Hospital in Nghe

An in 2020

Subjects and research methods: A

cross-sectional study was conducted in 720 women who had their bone density measured with no osteoporosis treatment before and voluntarily participated in the study and questionnaire interviews

Results: The rate of osteoporosis in women

is 54.31%, severe osteoporosis is 8.33% There is

an association with osteoporosis in women aged

≥ 70 years, having late menstruation over 16 years old, menopause before 45 years old and number of births ≥ 5 times

Keyword: osteoporosis

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Loãng xương là bệnh lý của toàn hệ

thống xương làm suy yếu sức mạnh của

khung xương, gia tăng nguy cơ gãy xương,

ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống có

thể gây tử vong ở người có tuổi, đặc biệt là

phụ nữ [2] Loãng xương với biến chứng

thường gặp là gãy xương dẫn đến chi phí

điều trị tốn kém: Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ

trên 50 tuổi ở miền Bắc Việt Nam năm 2015

là 58,4% [4] Ở nữ giới có rất nhiều yếu tố

ảnh hưởng gây loãng xương và gãy xương

do loãng xương như: Tuổi, chiều cao, cân

nặng, hormon, chế độ sinh hoạt, luyện tập,

sử dụng corticoid, tiền sử gia đình, tiền sử té

ngã, mắc một số bệnh lý ảnh hưởng đến mật

độ xương như: Viêm khớp dạng thấp, lupus

ban đỏ hệ thống…[4]

Ở Việt Nam, đã có rất nhiều công trình

nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm

sàng và các phương pháp điều trị loãng

xương Tuy nhiên, loãng xương là bệnh lý

thầm lặng do vậy cần thiết phải đánh giá

thực trạng và các yếu tố liên quan loãng

xương để góp phần tăng cường hiệu quả dự

phòng, điều trị cho người bệnh Do vậy,

chúng tôi đã tiến hành đề tài với mục tiêu:

Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên

quan đến loãng xương ở phụ nữ đến khám tại

Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An, năm

2020

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề xuất

các biện pháp hữu hiệu nhằm phòng chống

bệnh

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

Khoa Khám bệnh, Bệnh Viện Hữu nghị

Đa khoa Nghệ An

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn

- Nữ giới

- Có đo mật độ xương

- Chưa điều trị loãng xương bao giờ

- Tự nguyện tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân đã hoặc đang điều trị loãng xương

- Bệnh nhân không hợp tác, mất trí nhớ hoặc trí nhớ kém ảnh hưởng đến quá trình thu thập thông tin chính xác

- Đã thay khớp háng nhân tạo

2.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 01/2020 đến tháng 09/2020

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Theo phương pháp nghiên cứu ngang mô

tả

2.4.1 Cỡ mẫu

Công thức tính cỡ mẫu:

2

2 2 / 1

) 1 (

= Zp p

: Mức ý nghĩa thống kê

∆: Khoảng sai lệnh mong muốn

p: Xác suất loãng xương ở phụ nữ theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Lan [4] Với  = 0,05; ∆ = 0,04; p = 0,584 Thay vào công thức ta có n = 584 Để tăng độ tin cậy của nghiên cứu chúng tôi lấy n = 720 người

2.4.2 Cách chọn mẫu

- Mỗi ngày đến khám và đo loãng xương tại phòng khám của bệnh viện có 10 - 15 phụ

nữ Các đối tượng đủ tiêu chuẩn được phỏng vấn đưa vào nghiên cứu

- Lấy đến khi đủ số lượng nghiên cứu

2.4.3 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu

- Thực trạng loãng xương: Mật độ xương trung bình, tỷ lệ loãng xương theo vị trí, tỷ lệ loãng xương chung, phân loại mật độ xương

2.4.4 Phương pháp thu thập thông tin

Trang 3

a Công cụ thu thập số liệu

- Bộ câu hỏi phỏng vấn theo bộ câu hỏi

thống nhất bao gồm các chỉ số và biến số để

tìm hiểu về thực trạng

- Đo mật độ xương bằng phương pháp

hấp thụ tia X năng lượng kép

b Phương pháp thu thập số liệu

* Thăm khám lâm sàng và đánh giá kết

quả

- Cân nặng; Chiều cao:

- BMI: Được tính theo công thức: BMI =

m/h2; m: Cân nặng (kg); h: Chiều cao (m)

Phân loại BMI: Sử dụng phân loại BMI

theo tiêu chuẩn năm 2000 của WHO dành

cho các nước Châu Á Thái Bình Dương

+ Gầy: BMI < 18,5 kg/m2; Bình thường:

18,5 ≤ BMI ≤ 22,9 kg/m2; Thừa cân và béo

phì: BMI ≥ 23 kg/m2

- Giảm chiều cao trên 3 cm: Coi là có khi

bệnh nhân có chiều cao thấp hơn ít nhất trên

3 cm so sánh với chiều cao khi khám sức

khỏe tuổi thanh niên [2]

* Đo mật độ xương

- Thiết bị đo: Bằng phương pháp đo hấp

thụ tia X năng lượng kép (Dual energy Xray

abssorptiometry - DXA)

- Vị trí đo tại cột sống thắt lưng và cổ

xương đùi

+ Đánh giá mật độ xương theo tiêu chuẩn

của WHO năm 1994 [ 3]

Bình thường: Mật độ xương ≥ -1

Khối lượng xương thấp: Mật độ xương từ

-1 đến -2,5

Loãng xương: Mật độ xương ≤ -2,5

Loãng xương nặng: Mật độ xương ≤ -2,5

và có ≥ 1 lần gãy xương

2.5 Sai số và cách hạn chế

- Sai số lớn nhất có thể gặp trong nghiên

cứu này là người bệnh không dám đưa thông tin thật sẽ làm sai lệch kết quả

- Khống chế sai số:

+ Thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn rõ ràng,

dễ hiểu

+ Tập huấn kỹ cho điều tra viên là cán bộ

y tế để lấy số liệu thống nhất

+ Giải thích rõ cho người bệnh về mục tiêu nghiên cứu, tính bảo mật, quyền từ chối hoặc dừng tham gia trả lời phỏng vấn

+ Giám sát quá trình thu thập số liệu nghiên cứu

+ Kiểm tra ngẫu nhiên 5% số phiếu thu thập thông tin, nếu chưa đạt tiêu chuẩn đề nghị làm lại

+ Làm sạch số liệu trước khi tiến hành phân tích

2.6 Xử lý và phân tích số liệu

Nhập số liệu và xử lý số liệu trên máy vi tính bằng phần mềm STATA 14.0

- Tính giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, các tỷ lệ phần trăm

- Dùng thuật toán 2 để so sánh các tỷ lệ quan sát, dùng test T-student để so sánh các giá trị trung bình, sự khác biệt khi p < 0,05

2.7 Đao dức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu đã được sự đồng ý của lãnh đạo Khoa khám bệnh, Ban giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An

- Các đối tượng tham gia nghiên cứu một cách tự nguyện, được cung cấp đầy đủ các thông tin về nghiên cứu, các thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu được đảm bảo giữ bí mật

Tất cả đối tượng nghiên cứu đều được thăm khám bệnh và phỏng vấn theo một mẫu phiếu điều tra thống nhất

Trang 4

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thực trạng loãng xương ở phụ nữ nghiên cứu

Bảng 3.1 Tỷ lệ loãng xương chung của đối tượng nghiên cứu (n = 720)

Nhận xét: Tỷ lệ loãng xương chung của đối tượng nghiên cứu chiếm 54,31%

Hình 3.1 Phân loại mật độ xương ở đối tượng nghiên cứu (n = 720)

Nhận xét: Tỷ lệ loãng xương nặng của đối tượng nghiên cứu chiếm 8,33%

3.2 Một số yếu tố liên quan đến loãng xương ở phụ nữ nghiên cứu

Hình 3.2 Mối liên quan giữa tuổi và mật độ xương (n = 720) Nhận xét: Mật độ xương giảm dần theo tuổi ở cả vị trí cột sống thắt lưng và cổ xương

đùi

Bảng 3.2 Liên quan giữa tuổi với loãng xương (n = 720)

Nhóm mật độ xương Phân loại tuổi

χ 2 = 68,09; OR = 3,69; (2,65 - 5,25); p < 0,001

Trang 5

Nhận xét: Nhóm đối tượng nghiên cứu ≥ 70 tuổi có nguy cơ loãng xương cao gấp 3,69

lần người khác với độ tin cậy 95% (OR = 3,69; 95%CI = 2,65 - 5,25), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Bảng 3.3 Liên quan giữa chỉ số khối cơ thể với loãng xương (n = 720)

Nhóm mật độ xương Phân loại BMI

Loãng xương Không loãng xương

χ 2 = 15,95; OR = 3,40; (1,80 - 6,45); p < 0,001

Nhận xét: Người có BMI thấp (< 18,5 kg/m2) có nguy cơ mắc loãng xương cao gấp 3,40 lần người khác với độ tin cậy là 95% (OR = 3,40; 95%CI = 1,80 - 6,45), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Bảng 3.4 Liên quan giữa tuổi có kinh lần đầu tiên với loãng xương (n = 720)

Nhóm mật độ xương Tuổi có kinh

Loãng xương Không loãng xương

χ 2 = 21,77; OR = 2,04; (1,50 - 2,77); p < 0,001

Nhận xét: Người có chu kỳ kinh lần đầu tiên lúc 16 tuổi trở lên có nguy cơ mắc loãng

xương cao gấp 2,04 lần người khác với độ tin cậy là 95% (OR = 2,04; 95%CI = 1,50 - 2,77),

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Bảng 3.5.Liên quan giữa tuổi mãn kinh hoặc cắt buồng trứng với loãng xương (n=720)

Nhóm mật độ xương Tuổi mãn kinh

hoặc cắt buồng trứng

Loãng xương Không loãng xương

χ 2 = 9,48; OR = 1,71; (1,21 - 2,42); p < 0,01

Nhận xét: Người mãn kinh hoặc cắt buồng trứng trước 45 tuổi có nguy cơ mắc loãng

xương cao gấp 1,71 lần người khác với độ tin cậy là 95% (OR = 1,71; 95% CI = 1,21 - 2,42),

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01

Bảng 3.6 Liên quan giữa số lần sinh con với loãng xương (n = 720)

Nhóm mật độ xương

Số lần sinh con

χ 2 = 55,64; OR = 3,78; (2,59 - 5,50); p < 0,001

Trang 6

Nhận xét: Người có số lần sinh con ≥ 5 có nguy cơ loãng xương cao gấp 3,78 lần người

khác với độ tin cậy 95% (OR = 3,78; 95%CI = 2,59 - 5,50), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Bảng 3.7 Liên quan giữa luyện tập thể dục với loãng xương (n = 720)

Nhóm mật độ xương Lối sống

χ 2 = 33,52; OR = 3,25; (2,13 - 4,95); p < 0,001

Nhận xét: Người không tập luyện thể dục - thể thao có nguy cơ mắc loãng xương cao gấp

3,25 lần người có tập luyện với độ tin cậy là 95% (OR = 3,25; 95%CI = 2,13 - 4,95), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Bảng 3.8 Liên quan giữa sử dụng corticoid kéo dài với loãng xương (n = 720)

Nhóm mật độ xương

Sử dụng

corticoid kéo dài

χ 2 = 7,52; OR = 1,88; (1,19 - 2,98); p < 0,01

Nhận xét: Người có tiền sử sử dụng corticoid kéo dài có nguy cơ mắc loãng xương cao

gấp 1,88 lần khác với độ tin cậy là 95% (OR = 1,88; 95%CI = 1,19 - 2,98), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01

IV BÀN LUẬN

4.1 Thực trạng loãng xương ở phụ nữ

Tỷ lệ loãng xương

- Tỷ lệ loãng xương theo nghiên cứu của

chúng tôi là 54,31% (Bảng 3.1), thấp hơn

của Hoàng Thị Bích (2014) nghiên cứu 650

phụ nữ ≥ 60 tuổi tỷ lệ loãng xương là 69,1%

trong đó loãng xương nặng chiếm 18,7% [1]

tương đương kết quả nghiên cứu của Nguyễn

Thị Ngọc Lan (2015) nghiên cứu 988 phụ nữ

trên 50 tuổi [4] Bởi vì đối tượng nghiên cứu

của chúng tôi bao gồm tất cả phụ nữ tuổi

trưởng thành, do vậy tỷ lệ loãng xương thấp

hơn các tác giả khác khi nghiên cứu ở phụ nữ

sau mãn kinh hoặc trên 50 tuổi hoặc 60 tuổi

- Ngoài ra theo nhiều chuyên gia loãng

xương tại Việt Nam: Lý do cần sử dụng giá trị tham chiếu cho người Việt (tính giá trị T-score cho người Việt Nam) [3] Như vậy, có thể giải thích cho sự khác nhau về tỷ lệ loãng xương trong nghiên cứu của chúng tôi và một số tác giả trong nước [2]

4.2 Một số yếu tố liên quan đến loãng xương ở phụ nữ

4.2.1 Liên quan tuổi với loãng xương

- Theo nhiều nghiên cứu chỉ ra tuổi là một yếu tố nguy cơ độc lập ảnh hưởng tới mật độ xương, tuổi càng cao thì nguy cơ mắc loãng xương càng lớn [4], [6], [7] Trong nghiên cứu của chúng tôi (Hình 3.2) thấy rằng mối tương quan nghịch biến giữa mật

độ xương ở cột sống thắt lưng và cổ xương

Trang 7

đùi với tuổi, có ý nghĩa thống kê với p <

0,001 Như vậy là nếu tuổi tăng lên thì mật

độ xương sẽ giảm đi cả ở cột sống thắt lưng

và cổ xương đùi Kết quả này tương tự như

kết quả Hồ Phạm Thục Lan (2011) [3],

Hoàng Thị Bích (2014) [1], Nguyễn Thị

Ngọc Lan (2015) [4]

- Theo Bảng 3.2, nữ giới ≥ 70 tuổi có

nguy cơ mắc loãng xương cao gấp 3,69 lần

so với nữ giới < 70 tuổi, Kết quả này phù

hợp với Nguyễn Thị Ngọc Lan và cộng sự

khi nghiên cứu mật độ xương trên 988 phụ

nữ ≥ 50 tuổi tại miền Bắc Việt Nam năm

2015

4.2.2 Liên quan giữa chỉ số khối cơ thể

và loãng xương

- Mật độ xương của những người béo cao

hơn rất nhiều so với những người gầy và mật

độ xương tương quan tỷ lệ thuận với cả chiều

cao, cân nặng và BMI đặc biệt là cân nặng và

BMI

4.2.3 Liên quan tình trạng kinh nguyệt

và số lần sinh con với loãng xương

- Tuổi có kinh lần đầu tiên

Người có chu kỳ kinh lần đầu tiên lúc 16

tuổi trở lên có nguy cơ loãng xương gấp 2,04

lần người có kinh trước 16 tuổi (Bảng 3.4)

Một số tác giả trong và ngoài nước cũng

nhận thấy có mối liên quan mật thiết giữa

tuổi có kinh lần đầu tiên và loãng xương [3]

- Tuổi mãn kinh

Trong số 720 đối tượng nghiên cứu có

662 phụ nữ đã mãn kinh chiếm 91,94% Phụ

nữ mãn kinh hoặc cắt buồng trứng trước 45

tuổi có nguy cơ mắc loãng xương cao gấp

1,71 lần người khác có ý nghĩa thống kê với

mức tin cậy 95% (OR = 1,71, 95%CI = 1,21

- 2,42) (Bảng 3.5) Nhiều nghiên cứu trong

nước chỉ ra tuổi mãn kinh là một yếu tố nguy

cơ loãng xương Tào Minh Thúy (2013) [5]

Hoàng Thị Bích (2014) [1]

- Số lần sinh con Trong nghiên cứu của chúng tôi những người sinh con ≥ 5 lần có nguy cơ loãng xương gấp 3,36 lần so với người khác (OR = 3,36, 95%CI = 2,40 – 4,73) (Bảng 3.6) Quá trình mang thai là một yếu tố kích thích làm thay đổi hoạt động của nội tiết tố nữ do vậy làm ảnh hưởng đến chu chuyển xương Phụ

nữ sinh nhiều con sẽ ảnh hưởng tới quá trình chuyển hóa canxi do có sự dịch chuyển canxi

từ mẹ sang con trong quá trình mang thai và cho con bú Do đó nếu không bổ sung đủ lượng canxi cần thiết những phụ nữ sinh nhiều con sẽ có nguy cơ loãng xương cao [8]

-Yếu tố tập luyện

Những người không tập luyện thể dục ở nhóm loãng xương cao hơn nhóm không loãng xương và những người không tập luyện có nguy cơ bị loãng xương cao gấp 3,25 lần người bình thường (OR = 3,25; 95%CI = 2,13 - 4,95) (Bảng 3.7) Có hiện tượng này là do sự vận động của các cơ kích thích sự tạo xương và tăng khối lượng xương, ngược lại sự giảm vận động dẫn đến mất xương nhanh

- Tiền sử sử dụng glucocorticoid kéo dài Những người sử dụng corticoid kéo dài

có nguy cơ bị loãng xương cao hơn gấp 1,88 lần so với người bình thường (Bảng 3.8) Nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cũng cho thấy những bệnh nhân sử dụng glucocorticoid kéo dài có nguy cơ gãy xương cao Glucocorticoid gây ảnh hưởng lên xương xốp nhiều hơn xương vỏ, vì thế sự mất xương xảy ra nhanh và thường gây gãy xương do loãng xương ở thân đốt sống, xương sườn và ở đầu các xương dài [3]

Trang 8

V KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 720 phụ nữ đến khám và

kiểm tra sức khỏe tại Bệnh viện Hữu nghị Đa

khoa Nghệ An chúng tôi rút ra một số kết

luận sau:

+ Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ là 54,31%,

trong đó loãng xương nặng chiếm 8,33%

+ Yếu tố liên quan:

- Tuổi: Người có tuổi ≥ 70 có nguy cơ

mắc loãng xương gấp 3,34 lần so với người

dưới 70 tuổi, p < 0,001

- Tình trạng kinh nguyệt:

+ Phụ nữ có kinh muộn (> 16 tuổi) có

nguy cơ mắc loãng xương gấp 3,42 lần so

với người bình thường, p < 0,001

+ Phụ nữ mãn kinh trước 45 tuổi có nguy

cơ mắc loãng xương gấp 2,30 lần so với

người bình thường, p < 0,05

+ Phụ nữ có số lần sinh con ≥ 5 lần có

nguy cơ mắc loãng xương gấp 4,66 lần so

với phụ nữ có số lần sinh con < 5 lần, p <

0,001

VI KIẾN NGHỊ

Phụ nữ đặc biệt là các đối tượng có nhiều

yếu tố nguy cơ nên được kiểm tra mật độ

xương định kỳ nhằm phát hiện sớm bệnh

loãng xương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hoàng Thị Bích, Nguyễn Thị Ngọc Lan và

Hoàng Hoa Sơn (2014), "Khảo sát yếu tố

nguy cơ loãng xương ở phụ nữ mãn kinh từ

60 tuổi trở lên", Tạp Chí Nội Khoa, tr 185

-190

2 Đỗ Thị Khánh Hỷ (2007), "Một số yếu tố

liên quan gây loãng xương ở người cao tuổi", Tạp chí nghiên cứu y học 53(5), tr 144-149

3 Hồ Phạm Thục Lan, Phạm Ngọc Hoa và Lại Quốc Thái (2011), "Chẩn đoán loãng

xương: ảnh hưởng của giá trị tham chiếu", Thời Sự Y Học 57 (1 và 2)

4 Nguyễn Thị Ngọc Lan và các cộng sự (2015), "Khảo sát yếu tố nguy cơ loãng

xương ở phụ nữ Việt Nam từ 50 tuổi trở lên

và nam giới từ 60 tuổi trở lên", Tạp chí Nghiên cứu y học 75(5), tr 91-98

5 Tào Minh Thúy và Nguyễn Thị Ngọc Lan (2013), "Khảo sát các yếu tố nguy cơ loãng

xương ở phụ nữ miền Bắc Việt Nam từ 50 tuổi trở lên", Tạp chí Nội khoa, tr 243 -249

6 Boschitsch E.P., Durchschlag E.and Dimai H.P (2017), Age-related prevalence of

osteoporosis and fragility fractures: real-world data from an Austrian Menopause and Osteoporosis Clinic, Climacteric, 20,(2), pp 157-163

7 Burge R., Dawson-Hughes B., Solomon D H.and et al (2007), Incidence and economic

burden of osteoporosis-related fractures in the United States, 2005-2025, J Bone Miner Res, 22,(3), pp 465-75

8 Qiao Dou, Liu Xiaotian, Tu Runqiand et

al (2020), Gender-specific prevalence and

influencing factors of osteopenia and osteoporosis in Chinese rural population: the Henan Rural Cohort Study, BMJ Open, 10,(1), p e028593.

Ngày đăng: 26/08/2021, 16:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w