Loãng xương ở phụ nữ là vấn đề ngày càng được quan tâm do ước tính ảnh hưởng đến 200 triệu người trên toàn thế giới. Bài viết mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến loãng xương ở phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An, năm 2020.
Trang 1THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI LOÃNG XƯƠNG Ở PHỤ NỮ ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN NĂM 2020
Võ Thị Thanh Hiền 1 , Đinh Thị Thanh Mai 1 ,
Thái Văn Chương 2 , Vũ Văn Thái 1,
TÓM TẮT 38
Đặt vấn đề: Loãng xương ở phụ nữ là vấn
đề ngày càng được quan tâm do ước tính ảnh
hưởng đến 200 triệu người trên toàn thế giới Ở
nữ giới có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng gây loãng
xương và gãy xương do loãng xương như: Tuổi,
chiều cao, cân nặng, hormon, chế độ sinh hoạt,
luyện tập, sử dụng corticoid, tiền sử gia đình, tiền
sử té ngã, mắc một số bệnh lý ảnh hưởng đến
mật độ xương như: Viêm khớp dạng thấp, lupus
ban đỏ hệ thống…
Mục tiêu: Mô tả thực trạng và một số yếu tố
liên quan đến loãng xương ở phụ nữ đến khám
tại Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An, năm
2020
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành ở 720
phụ nữ có đo mật độ xương, chưa điều trị loãng
xương bao giờ,tự nguyện tham gia nghiên cứu và
phỏng vấn theo bộ câu hỏi
Kết quả: Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ là
54,31%, loãng xương nặng chiếm 8,33% Có liên
quan đến loãng xương ở phụ nữ là từ ≥ 70 tuổi,
có kinh nguyệt muộn trên 16 tuổi, mãn kinh
trước 45 tuổi và số lần sinh con ≥ 5 lần
Từ khóa: loãng xương
1 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
2 BV Hữu nghị đa khoa Nghệ An
Chịu trách nhiệm chính: Đinh Thị Thanh Mai
Email: dtthanhmai@hpmu.edu.vn
Ngày nhận bài: 12.3.2021
Ngày phản biện khoa học: 15.4.2021
Ngày duyệt bài: 31.5.2021
SUMMARY THE SITUATION OF AND SOME FACTORS RELATED TO OSTEOPOROSIS IN WOMEN EXAMINED AT HUU NGHI GENERAL HOSPITAL IN NGHE AN IN 2020 Rationale: Osteoporosis in women is a
growing concern as it is estimated to affect 200 million people worldwide In women, there are many factors that lead to osteoporosis and fractures due to osteoporosis such as age, height, weight, hormones, lifestyle, exercise, corticoid use, family history, fall history, some diseases affecting bone density namely rheumatoid arthritis, systemic lupus erythematosus…
Objectives: To describe the situation of and
some factors related to osteoporosis in women examined at Huu Nghi General Hospital in Nghe
An in 2020
Subjects and research methods: A
cross-sectional study was conducted in 720 women who had their bone density measured with no osteoporosis treatment before and voluntarily participated in the study and questionnaire interviews
Results: The rate of osteoporosis in women
is 54.31%, severe osteoporosis is 8.33% There is
an association with osteoporosis in women aged
≥ 70 years, having late menstruation over 16 years old, menopause before 45 years old and number of births ≥ 5 times
Keyword: osteoporosis
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Loãng xương là bệnh lý của toàn hệ
thống xương làm suy yếu sức mạnh của
khung xương, gia tăng nguy cơ gãy xương,
ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống có
thể gây tử vong ở người có tuổi, đặc biệt là
phụ nữ [2] Loãng xương với biến chứng
thường gặp là gãy xương dẫn đến chi phí
điều trị tốn kém: Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ
trên 50 tuổi ở miền Bắc Việt Nam năm 2015
là 58,4% [4] Ở nữ giới có rất nhiều yếu tố
ảnh hưởng gây loãng xương và gãy xương
do loãng xương như: Tuổi, chiều cao, cân
nặng, hormon, chế độ sinh hoạt, luyện tập,
sử dụng corticoid, tiền sử gia đình, tiền sử té
ngã, mắc một số bệnh lý ảnh hưởng đến mật
độ xương như: Viêm khớp dạng thấp, lupus
ban đỏ hệ thống…[4]
Ở Việt Nam, đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm
sàng và các phương pháp điều trị loãng
xương Tuy nhiên, loãng xương là bệnh lý
thầm lặng do vậy cần thiết phải đánh giá
thực trạng và các yếu tố liên quan loãng
xương để góp phần tăng cường hiệu quả dự
phòng, điều trị cho người bệnh Do vậy,
chúng tôi đã tiến hành đề tài với mục tiêu:
Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên
quan đến loãng xương ở phụ nữ đến khám tại
Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An, năm
2020
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề xuất
các biện pháp hữu hiệu nhằm phòng chống
bệnh
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Khoa Khám bệnh, Bệnh Viện Hữu nghị
Đa khoa Nghệ An
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Nữ giới
- Có đo mật độ xương
- Chưa điều trị loãng xương bao giờ
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân đã hoặc đang điều trị loãng xương
- Bệnh nhân không hợp tác, mất trí nhớ hoặc trí nhớ kém ảnh hưởng đến quá trình thu thập thông tin chính xác
- Đã thay khớp háng nhân tạo
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01/2020 đến tháng 09/2020
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Theo phương pháp nghiên cứu ngang mô
tả
2.4.1 Cỡ mẫu
Công thức tính cỡ mẫu:
2
2 2 / 1
) 1 (
−
= Z − p p
: Mức ý nghĩa thống kê
∆: Khoảng sai lệnh mong muốn
p: Xác suất loãng xương ở phụ nữ theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Lan [4] Với = 0,05; ∆ = 0,04; p = 0,584 Thay vào công thức ta có n = 584 Để tăng độ tin cậy của nghiên cứu chúng tôi lấy n = 720 người
2.4.2 Cách chọn mẫu
- Mỗi ngày đến khám và đo loãng xương tại phòng khám của bệnh viện có 10 - 15 phụ
nữ Các đối tượng đủ tiêu chuẩn được phỏng vấn đưa vào nghiên cứu
- Lấy đến khi đủ số lượng nghiên cứu
2.4.3 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu
- Thực trạng loãng xương: Mật độ xương trung bình, tỷ lệ loãng xương theo vị trí, tỷ lệ loãng xương chung, phân loại mật độ xương
2.4.4 Phương pháp thu thập thông tin
Trang 3a Công cụ thu thập số liệu
- Bộ câu hỏi phỏng vấn theo bộ câu hỏi
thống nhất bao gồm các chỉ số và biến số để
tìm hiểu về thực trạng
- Đo mật độ xương bằng phương pháp
hấp thụ tia X năng lượng kép
b Phương pháp thu thập số liệu
* Thăm khám lâm sàng và đánh giá kết
quả
- Cân nặng; Chiều cao:
- BMI: Được tính theo công thức: BMI =
m/h2; m: Cân nặng (kg); h: Chiều cao (m)
Phân loại BMI: Sử dụng phân loại BMI
theo tiêu chuẩn năm 2000 của WHO dành
cho các nước Châu Á Thái Bình Dương
+ Gầy: BMI < 18,5 kg/m2; Bình thường:
18,5 ≤ BMI ≤ 22,9 kg/m2; Thừa cân và béo
phì: BMI ≥ 23 kg/m2
- Giảm chiều cao trên 3 cm: Coi là có khi
bệnh nhân có chiều cao thấp hơn ít nhất trên
3 cm so sánh với chiều cao khi khám sức
khỏe tuổi thanh niên [2]
* Đo mật độ xương
- Thiết bị đo: Bằng phương pháp đo hấp
thụ tia X năng lượng kép (Dual energy Xray
abssorptiometry - DXA)
- Vị trí đo tại cột sống thắt lưng và cổ
xương đùi
+ Đánh giá mật độ xương theo tiêu chuẩn
của WHO năm 1994 [ 3]
Bình thường: Mật độ xương ≥ -1
Khối lượng xương thấp: Mật độ xương từ
-1 đến -2,5
Loãng xương: Mật độ xương ≤ -2,5
Loãng xương nặng: Mật độ xương ≤ -2,5
và có ≥ 1 lần gãy xương
2.5 Sai số và cách hạn chế
- Sai số lớn nhất có thể gặp trong nghiên
cứu này là người bệnh không dám đưa thông tin thật sẽ làm sai lệch kết quả
- Khống chế sai số:
+ Thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn rõ ràng,
dễ hiểu
+ Tập huấn kỹ cho điều tra viên là cán bộ
y tế để lấy số liệu thống nhất
+ Giải thích rõ cho người bệnh về mục tiêu nghiên cứu, tính bảo mật, quyền từ chối hoặc dừng tham gia trả lời phỏng vấn
+ Giám sát quá trình thu thập số liệu nghiên cứu
+ Kiểm tra ngẫu nhiên 5% số phiếu thu thập thông tin, nếu chưa đạt tiêu chuẩn đề nghị làm lại
+ Làm sạch số liệu trước khi tiến hành phân tích
2.6 Xử lý và phân tích số liệu
Nhập số liệu và xử lý số liệu trên máy vi tính bằng phần mềm STATA 14.0
- Tính giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, các tỷ lệ phần trăm
- Dùng thuật toán 2 để so sánh các tỷ lệ quan sát, dùng test T-student để so sánh các giá trị trung bình, sự khác biệt khi p < 0,05
2.7 Đao dức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu đã được sự đồng ý của lãnh đạo Khoa khám bệnh, Ban giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An
- Các đối tượng tham gia nghiên cứu một cách tự nguyện, được cung cấp đầy đủ các thông tin về nghiên cứu, các thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu được đảm bảo giữ bí mật
Tất cả đối tượng nghiên cứu đều được thăm khám bệnh và phỏng vấn theo một mẫu phiếu điều tra thống nhất
Trang 4III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng loãng xương ở phụ nữ nghiên cứu
Bảng 3.1 Tỷ lệ loãng xương chung của đối tượng nghiên cứu (n = 720)
Nhận xét: Tỷ lệ loãng xương chung của đối tượng nghiên cứu chiếm 54,31%
Hình 3.1 Phân loại mật độ xương ở đối tượng nghiên cứu (n = 720)
Nhận xét: Tỷ lệ loãng xương nặng của đối tượng nghiên cứu chiếm 8,33%
3.2 Một số yếu tố liên quan đến loãng xương ở phụ nữ nghiên cứu
Hình 3.2 Mối liên quan giữa tuổi và mật độ xương (n = 720) Nhận xét: Mật độ xương giảm dần theo tuổi ở cả vị trí cột sống thắt lưng và cổ xương
đùi
Bảng 3.2 Liên quan giữa tuổi với loãng xương (n = 720)
Nhóm mật độ xương Phân loại tuổi
χ 2 = 68,09; OR = 3,69; (2,65 - 5,25); p < 0,001
Trang 5Nhận xét: Nhóm đối tượng nghiên cứu ≥ 70 tuổi có nguy cơ loãng xương cao gấp 3,69
lần người khác với độ tin cậy 95% (OR = 3,69; 95%CI = 2,65 - 5,25), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.3 Liên quan giữa chỉ số khối cơ thể với loãng xương (n = 720)
Nhóm mật độ xương Phân loại BMI
Loãng xương Không loãng xương
χ 2 = 15,95; OR = 3,40; (1,80 - 6,45); p < 0,001
Nhận xét: Người có BMI thấp (< 18,5 kg/m2) có nguy cơ mắc loãng xương cao gấp 3,40 lần người khác với độ tin cậy là 95% (OR = 3,40; 95%CI = 1,80 - 6,45), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.4 Liên quan giữa tuổi có kinh lần đầu tiên với loãng xương (n = 720)
Nhóm mật độ xương Tuổi có kinh
Loãng xương Không loãng xương
χ 2 = 21,77; OR = 2,04; (1,50 - 2,77); p < 0,001
Nhận xét: Người có chu kỳ kinh lần đầu tiên lúc 16 tuổi trở lên có nguy cơ mắc loãng
xương cao gấp 2,04 lần người khác với độ tin cậy là 95% (OR = 2,04; 95%CI = 1,50 - 2,77),
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.5.Liên quan giữa tuổi mãn kinh hoặc cắt buồng trứng với loãng xương (n=720)
Nhóm mật độ xương Tuổi mãn kinh
hoặc cắt buồng trứng
Loãng xương Không loãng xương
χ 2 = 9,48; OR = 1,71; (1,21 - 2,42); p < 0,01
Nhận xét: Người mãn kinh hoặc cắt buồng trứng trước 45 tuổi có nguy cơ mắc loãng
xương cao gấp 1,71 lần người khác với độ tin cậy là 95% (OR = 1,71; 95% CI = 1,21 - 2,42),
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01
Bảng 3.6 Liên quan giữa số lần sinh con với loãng xương (n = 720)
Nhóm mật độ xương
Số lần sinh con
χ 2 = 55,64; OR = 3,78; (2,59 - 5,50); p < 0,001
Trang 6Nhận xét: Người có số lần sinh con ≥ 5 có nguy cơ loãng xương cao gấp 3,78 lần người
khác với độ tin cậy 95% (OR = 3,78; 95%CI = 2,59 - 5,50), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.7 Liên quan giữa luyện tập thể dục với loãng xương (n = 720)
Nhóm mật độ xương Lối sống
χ 2 = 33,52; OR = 3,25; (2,13 - 4,95); p < 0,001
Nhận xét: Người không tập luyện thể dục - thể thao có nguy cơ mắc loãng xương cao gấp
3,25 lần người có tập luyện với độ tin cậy là 95% (OR = 3,25; 95%CI = 2,13 - 4,95), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Bảng 3.8 Liên quan giữa sử dụng corticoid kéo dài với loãng xương (n = 720)
Nhóm mật độ xương
Sử dụng
corticoid kéo dài
χ 2 = 7,52; OR = 1,88; (1,19 - 2,98); p < 0,01
Nhận xét: Người có tiền sử sử dụng corticoid kéo dài có nguy cơ mắc loãng xương cao
gấp 1,88 lần khác với độ tin cậy là 95% (OR = 1,88; 95%CI = 1,19 - 2,98), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01
IV BÀN LUẬN
4.1 Thực trạng loãng xương ở phụ nữ
Tỷ lệ loãng xương
- Tỷ lệ loãng xương theo nghiên cứu của
chúng tôi là 54,31% (Bảng 3.1), thấp hơn
của Hoàng Thị Bích (2014) nghiên cứu 650
phụ nữ ≥ 60 tuổi tỷ lệ loãng xương là 69,1%
trong đó loãng xương nặng chiếm 18,7% [1]
tương đương kết quả nghiên cứu của Nguyễn
Thị Ngọc Lan (2015) nghiên cứu 988 phụ nữ
trên 50 tuổi [4] Bởi vì đối tượng nghiên cứu
của chúng tôi bao gồm tất cả phụ nữ tuổi
trưởng thành, do vậy tỷ lệ loãng xương thấp
hơn các tác giả khác khi nghiên cứu ở phụ nữ
sau mãn kinh hoặc trên 50 tuổi hoặc 60 tuổi
- Ngoài ra theo nhiều chuyên gia loãng
xương tại Việt Nam: Lý do cần sử dụng giá trị tham chiếu cho người Việt (tính giá trị T-score cho người Việt Nam) [3] Như vậy, có thể giải thích cho sự khác nhau về tỷ lệ loãng xương trong nghiên cứu của chúng tôi và một số tác giả trong nước [2]
4.2 Một số yếu tố liên quan đến loãng xương ở phụ nữ
4.2.1 Liên quan tuổi với loãng xương
- Theo nhiều nghiên cứu chỉ ra tuổi là một yếu tố nguy cơ độc lập ảnh hưởng tới mật độ xương, tuổi càng cao thì nguy cơ mắc loãng xương càng lớn [4], [6], [7] Trong nghiên cứu của chúng tôi (Hình 3.2) thấy rằng mối tương quan nghịch biến giữa mật
độ xương ở cột sống thắt lưng và cổ xương
Trang 7đùi với tuổi, có ý nghĩa thống kê với p <
0,001 Như vậy là nếu tuổi tăng lên thì mật
độ xương sẽ giảm đi cả ở cột sống thắt lưng
và cổ xương đùi Kết quả này tương tự như
kết quả Hồ Phạm Thục Lan (2011) [3],
Hoàng Thị Bích (2014) [1], Nguyễn Thị
Ngọc Lan (2015) [4]
- Theo Bảng 3.2, nữ giới ≥ 70 tuổi có
nguy cơ mắc loãng xương cao gấp 3,69 lần
so với nữ giới < 70 tuổi, Kết quả này phù
hợp với Nguyễn Thị Ngọc Lan và cộng sự
khi nghiên cứu mật độ xương trên 988 phụ
nữ ≥ 50 tuổi tại miền Bắc Việt Nam năm
2015
4.2.2 Liên quan giữa chỉ số khối cơ thể
và loãng xương
- Mật độ xương của những người béo cao
hơn rất nhiều so với những người gầy và mật
độ xương tương quan tỷ lệ thuận với cả chiều
cao, cân nặng và BMI đặc biệt là cân nặng và
BMI
4.2.3 Liên quan tình trạng kinh nguyệt
và số lần sinh con với loãng xương
- Tuổi có kinh lần đầu tiên
Người có chu kỳ kinh lần đầu tiên lúc 16
tuổi trở lên có nguy cơ loãng xương gấp 2,04
lần người có kinh trước 16 tuổi (Bảng 3.4)
Một số tác giả trong và ngoài nước cũng
nhận thấy có mối liên quan mật thiết giữa
tuổi có kinh lần đầu tiên và loãng xương [3]
- Tuổi mãn kinh
Trong số 720 đối tượng nghiên cứu có
662 phụ nữ đã mãn kinh chiếm 91,94% Phụ
nữ mãn kinh hoặc cắt buồng trứng trước 45
tuổi có nguy cơ mắc loãng xương cao gấp
1,71 lần người khác có ý nghĩa thống kê với
mức tin cậy 95% (OR = 1,71, 95%CI = 1,21
- 2,42) (Bảng 3.5) Nhiều nghiên cứu trong
nước chỉ ra tuổi mãn kinh là một yếu tố nguy
cơ loãng xương Tào Minh Thúy (2013) [5]
Hoàng Thị Bích (2014) [1]
- Số lần sinh con Trong nghiên cứu của chúng tôi những người sinh con ≥ 5 lần có nguy cơ loãng xương gấp 3,36 lần so với người khác (OR = 3,36, 95%CI = 2,40 – 4,73) (Bảng 3.6) Quá trình mang thai là một yếu tố kích thích làm thay đổi hoạt động của nội tiết tố nữ do vậy làm ảnh hưởng đến chu chuyển xương Phụ
nữ sinh nhiều con sẽ ảnh hưởng tới quá trình chuyển hóa canxi do có sự dịch chuyển canxi
từ mẹ sang con trong quá trình mang thai và cho con bú Do đó nếu không bổ sung đủ lượng canxi cần thiết những phụ nữ sinh nhiều con sẽ có nguy cơ loãng xương cao [8]
-Yếu tố tập luyện
Những người không tập luyện thể dục ở nhóm loãng xương cao hơn nhóm không loãng xương và những người không tập luyện có nguy cơ bị loãng xương cao gấp 3,25 lần người bình thường (OR = 3,25; 95%CI = 2,13 - 4,95) (Bảng 3.7) Có hiện tượng này là do sự vận động của các cơ kích thích sự tạo xương và tăng khối lượng xương, ngược lại sự giảm vận động dẫn đến mất xương nhanh
- Tiền sử sử dụng glucocorticoid kéo dài Những người sử dụng corticoid kéo dài
có nguy cơ bị loãng xương cao hơn gấp 1,88 lần so với người bình thường (Bảng 3.8) Nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cũng cho thấy những bệnh nhân sử dụng glucocorticoid kéo dài có nguy cơ gãy xương cao Glucocorticoid gây ảnh hưởng lên xương xốp nhiều hơn xương vỏ, vì thế sự mất xương xảy ra nhanh và thường gây gãy xương do loãng xương ở thân đốt sống, xương sườn và ở đầu các xương dài [3]
Trang 8V KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 720 phụ nữ đến khám và
kiểm tra sức khỏe tại Bệnh viện Hữu nghị Đa
khoa Nghệ An chúng tôi rút ra một số kết
luận sau:
+ Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ là 54,31%,
trong đó loãng xương nặng chiếm 8,33%
+ Yếu tố liên quan:
- Tuổi: Người có tuổi ≥ 70 có nguy cơ
mắc loãng xương gấp 3,34 lần so với người
dưới 70 tuổi, p < 0,001
- Tình trạng kinh nguyệt:
+ Phụ nữ có kinh muộn (> 16 tuổi) có
nguy cơ mắc loãng xương gấp 3,42 lần so
với người bình thường, p < 0,001
+ Phụ nữ mãn kinh trước 45 tuổi có nguy
cơ mắc loãng xương gấp 2,30 lần so với
người bình thường, p < 0,05
+ Phụ nữ có số lần sinh con ≥ 5 lần có
nguy cơ mắc loãng xương gấp 4,66 lần so
với phụ nữ có số lần sinh con < 5 lần, p <
0,001
VI KIẾN NGHỊ
Phụ nữ đặc biệt là các đối tượng có nhiều
yếu tố nguy cơ nên được kiểm tra mật độ
xương định kỳ nhằm phát hiện sớm bệnh
loãng xương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hoàng Thị Bích, Nguyễn Thị Ngọc Lan và
Hoàng Hoa Sơn (2014), "Khảo sát yếu tố
nguy cơ loãng xương ở phụ nữ mãn kinh từ
60 tuổi trở lên", Tạp Chí Nội Khoa, tr 185
-190
2 Đỗ Thị Khánh Hỷ (2007), "Một số yếu tố
liên quan gây loãng xương ở người cao tuổi", Tạp chí nghiên cứu y học 53(5), tr 144-149
3 Hồ Phạm Thục Lan, Phạm Ngọc Hoa và Lại Quốc Thái (2011), "Chẩn đoán loãng
xương: ảnh hưởng của giá trị tham chiếu", Thời Sự Y Học 57 (1 và 2)
4 Nguyễn Thị Ngọc Lan và các cộng sự (2015), "Khảo sát yếu tố nguy cơ loãng
xương ở phụ nữ Việt Nam từ 50 tuổi trở lên
và nam giới từ 60 tuổi trở lên", Tạp chí Nghiên cứu y học 75(5), tr 91-98
5 Tào Minh Thúy và Nguyễn Thị Ngọc Lan (2013), "Khảo sát các yếu tố nguy cơ loãng
xương ở phụ nữ miền Bắc Việt Nam từ 50 tuổi trở lên", Tạp chí Nội khoa, tr 243 -249
6 Boschitsch E.P., Durchschlag E.and Dimai H.P (2017), Age-related prevalence of
osteoporosis and fragility fractures: real-world data from an Austrian Menopause and Osteoporosis Clinic, Climacteric, 20,(2), pp 157-163
7 Burge R., Dawson-Hughes B., Solomon D H.and et al (2007), Incidence and economic
burden of osteoporosis-related fractures in the United States, 2005-2025, J Bone Miner Res, 22,(3), pp 465-75
8 Qiao Dou, Liu Xiaotian, Tu Runqiand et
al (2020), Gender-specific prevalence and
influencing factors of osteopenia and osteoporosis in Chinese rural population: the Henan Rural Cohort Study, BMJ Open, 10,(1), p e028593.