Nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng mất răng và nhu cầu điều trị phục hình của người cao tuổi đến khám tại khoa răng hàm mặt bệnh viện Đại học Y Hải Phòng. Đối tượng nghiên cứu gồm 104 bệnh nhân là người cao tuổi. Khám và ghi nhận tình trạng mất răng và nhu cầu điều trị cũng như là yêu cầu điều trị của bệnh nhân.
Trang 1NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG MẤT RĂNG VÀ NHU CẦU ĐIỀU TRỊ PHỤC HÌNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI KHOA RĂNG HÀM MẶT
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HẢI PHÒNG, 2019
Đồng Thị Mai Hương*, Vũ Thị Hiền*
TÓM TẮT 19
Nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng mất
răng và nhu cầu điều trị phục hình của người cao
tuổi đến khám tại khoa răng hàm mặt bệnh viện
Đại học Y Hải Phòng Đối tượng nghiên cứu
gồm 104 bệnh nhân là người cao tuổi Khám và
ghi nhận tình trạng mất răng và nhu cầu điều trị
cũng như là yêu cầu điều trị của bệnh nhân Kết
quả nghiên cứu cho thấy: Tình trạng mất răng: tỷ
lệ mất răng chung 82,7,%; nữ 84,4%; nam
80,0% Theo phân loại mất răng của Kennedy –
Applegate: loại I 22,6%; loại II 32,8%; loại III
12,5%; loại IV 9,4%; loại V 6,3%; loại VI
16,4% Số răng mất trung bình hàm trên 3,6
chiếc, hàm dưới 3,8 chiếc, số răng mất trung bình
của một người là 7,4 chiếc Tỷ lệ mất toàn hàm
trên 2,3%, mất toàn hàm dưới 2,4% và mất cả hai
hàm 0 % Tỷ lệ bệnh nhân đã có răng giả: 32,6%
Nhu cầu điều trị phục hình và yêu cầu điều trị
phục hình Nhu cầu điều trị theo bác sĩ 70,9%
Tỷ lệ người cao tuổi cần 1 đơn vị phục hình
chiếm 13,1%, nhiều đơn vị phục hình chiếm
50,8%, kết hợp 1 đơn vị phục hình với nhiều đơn
vị phục hình 27,9%, hàm giả toàn phần chiếm
8,2 % Yêu cầu điều trị của bệnh nhân 65,1%
Từ khóa: tình trạng mất răng, nhu cầu điều
trị phục hình, người cao tuổi
*Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
Chịu trách nhiệm chính: Đồng Thị Mai Hương
Email: huongdentist79@gmail.com
Ngày nhận bài: 13.3.2021
Ngày phản biện khoa học: 15.4.2021
SUMMARY RESEARCH ON THE STATUS OF MISING TEETH AND NEEDS FOR RECOMMENDATION TREATMENT
IN ELDERLY AT HUMAN IN HOSPITAL HAI PHONG UNIVERSITY
OF MEDICINE, 2019
The study aims to assess the loss of teeth and the need for prosthetic treatment of the elderly who come to the dental department of Hai Phong Medical University hospital Study subjects include 104 patients are elderly patients Examining and recording the loss of teeth and the need for treatment and treatment requirements of the patient The research results showed that: Status of tooth loss: the rate of common tooth loss 82.7,%; female 84.4%; male 80.0% According to the classification of tooth loss by Kennedy - Applegate: type I 22.6%; grade II 32.8%; grade III 12.5%; grade IV 9.4%; type V 6.3%; type VI 16.4% The average number of missing teeth on jaw is 3.6 pieces, lower jaw 3.8, the average number of missing teeth per person is 7.4 pieces The rate of total loss is over 2.3%, the total loss is less than 2.4% and both functions are 0% Percentage of patients with dentures: 32.6% Restoration treatment needs and prostitution treatment requirements The need for treatment according to doctors is 70.9% The proportion of the elderly who need 1 prosthesis unit accounts for 13.1%, many prostheses units account for 50.8%, combining 1 prosthesis unit with many prostheses unit 27.9%, full prosthesis accounting for 8.2% Treatment requirements of patients 65.1%
Keywords: tooth loss, need for prosthetic
treatment, the elderly
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe răng miệng đặc biệt quan trọng
ở người cao tuổi, vì ngoài các bệnh hệ thống
rất dễ mắc phải thì các tổn thương vùng
miệng cũng có ảnh hưởng trực tiếp hay gián
tiếp đến dinh dưỡng, thể chất, tâm lý, giao
tiếp và cuối cùng là làm giảm chất lượng
cuộc sống ở người cao tuổi Trong đó mất
răng là một tình trạng thường thấy ở người
cao tuổi Khi một răng mất thì các răng đối
diện sẽ trồi, răng kế bên sẽ di lệch, xô lệch,
xương ổ răng sẽ bị tiêu đi, làm mất sức
nhai Bệnh sâu răng, nha chu, chấn thương
khớp cắn phát sinh đưa đến mất thêm những
răng khác Từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng
đến sức khỏe răng miệng, thẩm mỹ của nụ
cười, khuôn mặt và sức khỏe chung của
người cao tuổi[1] Phục hình răng mất cho
người cao tuổi là một việc quan trọng, nó
giúp cải thiện chất lượng sống của họ Tuy
nhiên ở góc độ xã hội, các cơ sở chăm sóc
người cao tuổi, các trung tâm, các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe người cao tuổi của chúng
ta còn thiếu, phát triển còn chưa đồng bộ,
thiếu quy hoạch và chưa đáp ứng yêu cầu về
số lượng và chất lượng Riêng tại thành phố
Hải Phòng với mật độ dân số đông thì nhu
cầu này là rất cấp thiết Từ những điều đó
thúc đẩy trên chúng tôi quyết định tiến hành
nghiên cứu đề tài: “ Tình trạng mất răng,
nhu cầu điều trị và yêu cầu điều trị phục
hình ở người cao tuổi tại khoa răng hàm mặt
bệnh viện Đại học Y Hải Phòng, 2019”, với
các mục tiêu sau: 1.Mô tả tình trạng mất
răng ở bệnh nhân 60 tuổi trở lên đến khám
tại khoa răng hàm mặt bệnh viện Đại học Y
Hải Phòng 2 Xác định nhu cầu điều trị phục
hình và yêu cầu điều trị phục hình của nhóm
đối tượng nghiên cứu
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Đối tượng nghiên cứu: là những
bệnh nhân trên 60 tuổi đến khám răng và điều trị Không mắc bệnh tâm thần, đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
tại bệnh viện Đại học Y Hải Phòng từ tháng
11 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019
2.3 Phương pháp nghiên cứu: nghiên
cứu mô tả cắt ngang
Cỡ mẫu nghiên cứu: Sử dụng công
thức tính cơ mẫu ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với đội chính xác tuyệt đối:
n =
d2
2 α/2 1
p 1 p
- n: Là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu
- p: Tỷ lệ mất răng trong người cao tuổi theo nghiên cứu của Phạm Văn Việt là 91,1%[2]
- Z(1-/2): Hệ số tin cậy ở mức xác suất 95% là 1,96
- d: Là khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ
lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ của quần thể Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn d là 5,5%
Từ đó ta tính được cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu là 104 NCT
Kỹ thuật chọn mẫu: Kỹ thuật chọn mẫu
nghiên cứu trong nghiên cứu của tôi là sử dụng kỹ thuật chọn mẫu có chủ đích, có nghĩa là những bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện Đại học Y hải phòng, có đủ tiêu chuẩn nghiên cứu sẽ được phỏng vấn ngay sau khi khám bệnh, chỉ ngừng thu thập
thông tin khi đến hết thời gian nghiên cứu Công cụ thu thập thông tin: bệnh án
nghiên cứu được thiết kế trên cơ sở mục tiêu, biến số và chỉ số nghiên cứu
Trang 3Phương pháp thu thập thông tin:
phỏng vấn: họ tên, tuổi, giới, điện thoại liên
hệ, khai thác tiền sử và bệnh sử, nguyên
nhân mất răng Khám phát hiện tình trạng
mất răng: dụng cụ khám: khay, gương, gắp,
thám trâm, bông, cồn Nguồn ánh sáng sử
dụng là ánh sáng điện hoặc ánh sáng trời
* Khám trong miệng từ cung 1 đến cung
2,3,4 Cung 1: Đánh giá xem có mất răng
hay không? Vị trí răng mất Số lượng răng
mất Phân loại mất răng theo Kennedy và
Applegate Đã có phục hình chưa, có cần
thay thế ko Khám tương tự ở các cung 2,3,4
Xử lý số liệu: toàn bộ số liệu sau khi
được thu thập sẽ xử lý bằng thuật toán thống
kê y học, chương trình SPSS 20
Đạo đức nghiên cứu: Trước khi tham
gia nghiên cứu bệnh nhân được thông báo về mục đích, ý nghĩa và quyền lợi của bệnh nhân Bệnh nhân có quyền từ chối không tham gia bất kỳ thời gian nào bệnh nhân
muốn, không gò ép
Kiểm soát sai lệch thông tin: mỗi bệnh
nhân được khám xoay vòng 3 lần cho mỗi
điều tra viên
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tình hình mất răng ở người cao tuổi
Biểu đồ 1 Tỷ lệ mất răng chung ở NCT Nhận xét: trong số 104 NCT tham gia nghiên cứu: số NCT mất răng là 86 chiếm 82,7%,
số NCT không mất răng là 18 chiếm 17,3%
Bảng 1 Tỷ lệ NCT mất răng theo tuổi và giới
Nhóm tuổi
Giới tính
Tỷ lệ mất răng chung
P > 0,05
Nhận xét: Trong tổng số 86 NCT bị mất răng, tỷ lệ nữ giới mất răng chung cao hơn nam
giới (62,8% so với 37,2%) Trong đó, ở tất cả các nhóm tuổi, tỷ lệ nữ mất răng đều cao hơn nam Sự khác biệt về tỷ lệ NCT bị mất răng theo nhóm tuổi và giới không có ý nghĩa thống
kê với p>0,05
Trang 4Biểu đồ 2 Vị trí mất răng chủ yếu ở NCT Nhận xét: Kết quả nghiên cứu theo Biểu đồ 2 cho thấy ở NCT mất răng chủ yếu ở cả hàm
trên và hàm dưới là 47 người (chiếm 55,6%), chỉ mất răng ở hàm trên là 17 ( chiếm 20,7% )
và ở hàm dưới là 22 ( chiếm 25,6%)
Bảng 2 Tỷ lệ NCT bị mất răng có răng giả theo nhóm tuổi
Nhóm tuổi
Răng giả
Tổng
Nhận xét: Tổng số 82 NCT bị mất răng có 28 NCT đeo răng giả (chiếm 32,6%) Trong
đó, nhóm tuổi từ 65-74 có tỷ lệ NCT mất răng có đeo răng giả chiếm tỷ lệ cao nhất (35,7%), nhóm tuổi 60-64 tuổi có tỷ lệ NCT mất răng đeo răng giả thấp nhất (28,6%) Sự khác biệt giữa
tỷ lệ NCT bị mất răng có đeo răng giả ở các nhóm tuổi không có ý nghĩa thống kê với p>0,05
3.2 Nhu cầu điều trị phục hình
Biểu đồ 3 Nhu cầu điều trị phục hình thay thế mất răng
Trang 5Nhận xét: kết quả nghiên cứu tại Biểu đồ 3 cho thấy, trong tổng số 86 NCT mất răng , tỷ
lệ NCT có nhu cầu làm nhiều đơn vị phục hình là cao nhất ở cả hàm trên và hàm dưới ( 59,0% và 55,7%)
3.3 Yêu cầu điều trị phục hình
Biểu đồ 4 Yêu cầu điều trị mất răng của NCT Nhận xét: trong số 86 NCT bị mất răng, số NCT được hỏi có yêu cầu điều trị mất răng là
56 người (chiếm 65,1%)
IV BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng
nghiên cứu: Tham gia nghiên cứu có 104
bệnh nhân, trong đó nam chiếm 38,5%,nữ
chiếm 61,5% theo thống kê của bộ môn phục
hình Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt trường
Đại học Y Hà Nội thì tỷ lệ nữ luôn cao hơn
nam, điều này chứng tỏ phần đông nữ giới
vẫn quan tâm đến chăm sóc sức khỏe răng
miệng hơn nam giới Nếu so sánh với nghiên
cứu của TS Lê Văn Hợi (2007) “Thực trạng,
nhu cầu và chi phí chăm sóc sức khỏe NCT
tại một vùng nông thôn Việt Nam”, cũng
triển khai tại huyện Ba Vì, Hà Nội năm 2007
có tỷ lệ nữ là 63,2%, nam là 36,8%, phân bố
tỷ lệ NCT về giới hoàn toàn phù hợp với
nghiên cứu của chúng tôi[3] Tuy nhiên nếu
so sánh với kết quả nghiên cứu của Đoàn
Thu Hương “Đánh giá tình trạng bệnh quanh
răng,sự mất răng và nhu cầu điều trị ở người
cao tuổi tại khoa Răng Hàm Mặt bệnh viện
Hữu Nghị” (2003) có kết quả nam 81%, nữ
19% có sự khác biệt do đặc thù của cơ sở
khám bệnh,tại bệnh viện Hữu nghị dựa vào mức lương để xét tiêu chuẩn được khám bệnh nên tỷ lệ nam cao hơn nữ.Còn đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là tất cả người cao tuổi đến khám bệnh tại bệnh Đại
học y Hải Phòng
4.2 Tình trạng mất răng: Tỷ lệ mất
răng chung là 82,7%, trong đó nhóm tuổi
65-74 là 87,5% và nhóm ≥75 là 80,0% Kết quả này tương đối phù hợp với kết quả nghiên cứu của Trương Mạnh Dũng với tỷ lệ mất răng ở bệnh nhân trên 60 tuổi là 81,73% So sánh với nghiên cứu của Trần Văn Trường [4] với bệnh nhân trên 45 tuổi có tỷ lệ mất răng 89,7% thì kết quả của chúng tôi phù hợp Có thể giải thích sự khác biệt này là do đối tượng nghiên cứu của tác giả tiến hành tại các tỉnh phía Bắc cách đây đã 18 năm nên trang thiết bị còn hạn chế, labo răng giả chưa cập nhật nhiều như bây giờ cộng với điều trị nhổ bỏ răng nhiều hơn là bảo tồn đã làm cho
tỷ lệ mất răng cao Tỷ lệ mất răng của nữ là 84,4%, của nam là 80,0% điều này cho thấy
Trang 6không có sự khác nhau về tỷ lệ mất răng ở
nam và nữ Kết quả này tương đương với kết
quả nghiên cứu của Chu Đức Toàn (2012)
cũng không có sự khác biệt nhau về tỷ lệ mất
răng ở hai giới (89,6% nữ và 89,3% năm)
Số răng mất trung bình ở một người lứa tuổi
60 - 64 là 6,3 chiếc, lứa tuổi 65 - 74 là 6,6
chiếc và trên 75 là 11,7 chiếc Như vậy số
răng mất trung bình của một người tăng dần
theo nhóm tuổi và tuổi càng cao thì số răng
mất trung bình càng nhiều Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi tương tự với nghiên cứu
của Phạm Văn Việt tiến hành nghiên cứu
năm 1999, theo các nhóm tuổi, trung bình
răng mất mỗi người tăng lên dần: từ 5,04 ở
độ tuổi từ 55-64; 9,72 ở độ tuổi 65-74 và
tăng tới 14,5 ở tuổi ≥75 và Chu Đức Toàn
tiến hành nghiên cứu năm 2012, số răng mất
trung bình mỗi người ở nhóm 60-65 là 5,1
chiếc, nhóm 65-69 là 6,3 chiếc và nhóm trên
70 là 7,2 chiếc[5]
4.3 Nhu cầu điều trị phục hình: Theo
nhu cầu điều trị là 70,9% Nếu so sánh với
kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức
Thắng[6] ở miền Bắc thì nhu cầu làm răng
giả là 63,33% thì kết quả của chúng tôi cao
hơn So sánh với kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Mạnh Minh[1] (2007) với tỷ lệ cần
phục hình là 33,4% thì kết quả của chúng tôi
cũng cao hơn, sở dĩ có sự khác biệt là do đối
tượng nghiên cứu của chúng tôi là người cao
tuổi còn tác giả nghiên cứu đối tượng là
người trưởng thành từ 20 - 60 tuổi Tỷ lệ
NCT có nhu cầu làm nhiều đơn vị phục hình
là cao nhất ở cả hàm trên và hàm dưới
(59,0% và 55,7%) Tỷ lệ NCT cần nhiều đơn
vị phục hình chiếm cao nhất 50,8%, thấp
nhất là hàm giả toàn phần chiếm 8,2% tương
tự ở các nhóm tuổi Tương tự như kết quả nghiên cứu của Trương Mạnh Dũng (2007)[7] Cần làm 1 đơn vị phục hình cao nhất ở nhóm tuổi 60-64 (50,0%), thấp nhất ở nhóm tuổi ≥ 75(12,5%) Cần làm hàm giả toàn phần thấp cao nhất ớ nhóm tuổi ≥ 75 (60,0%) tương tự như kết quả của Hồng Xuân Trọng (2014)[8] Không có sự khác
biệt về nhu cầu phục hình giữa nam và nữ 4.4 Yêu cầu điều trị phục hình: Theo
yêu cầu phục hình của bệnh nhân là 65,1% Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ NCT được bác sĩ chỉ định cần điều trị mất răng chiếm tỷ lệ khá cao (70,9%) Nhu cầu điều trị thực tế của NCT bị mất răng được hỏi trong nghiên cứu của chúng tôi cũng chiếm tới 65,1% Sở dĩ có sự khác nhau giữa của hai tỷ lệ là do đối tượng nghiên cứu ở nhóm tuổi 60 – 64 và nhóm tuổi 65 – 69 vẫn cảm thấy rất ổn với tình trạng răng miệng hiện tại của mình So sánh với kết quả nghiên cứu của Hồng Xuân Trọng (2014)[8] về yêu cầu điều trị là 41,6% thì kết quả chúng tôi cao hơn Lí do là Hồng Xuân Trọng nghiên cứu trên đối tượng NCT ở các cơ sở chăm sóc người già như mái ấm, chùa nên trong khi đối tượng của chúng tôi là bệnh nhân tại khoa răng hàm mặt bệnh viện Đại học Y Hải
Phòng
V KẾT LUẬN 5.1 Tình trạng mất răng
- Tỷ lệ mất răng chung 82,7,% Nữ
84,4% Nam 80,0%
- Theo phân loại mất răng của Kennedy
– Applegate: Loại I 22,6% Loại II 32,8% Loại III 12,5% Loại IV 9,4% Loại V 6,3% Loại VI 16,4%
- Số răng mất trung bình hàm trên 3,6
Trang 7chiếc,hàm dưới 3,8 chiếc, số răng mất trung
bình của một người là 7,4 chiếc
- Tỷ lệ mất toàn hàm trên 2,3%, mất toàn
hàm dưới 2,4% và mất cả hai hàm 0%
- Tỷ lệ bệnh nhân đã có răng giả: 32,6%
5.2 Nhu cầu điều trị phục hình và yêu
cầu điều trị phục hình
- Nhu cầu điều trị theo bác sĩ 70,9%
- Tỷ lệ NCT cần 1 đơn vị PH chiếm
13,1%, nhiều đơn vị phục hình chiếm 50,8%,
kết hợp 1 đơn vị PH với nhiều đơn vị PH
27,9%, hàm giả toàn phần chiếm 8,2%
- Yêu cầu điều trị của bệnh nhân 65,1%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Mạnh Minh (2007), “Đánh giá tình
trạng mất răng và nhu cầu phục hình cố định
ở người trưởng thành tại Hà Nội năm 2006 –
2007”, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà
Nội, tr 1-3
2 Phạm Văn Việt (2004), “Nghiên cứu tình
trạng,nhu cầu chăm sóc sức khỏe răng miệng
và đánh giá kết quả hai năm thực hiện nội
dung chăm sóc răng miệng ban đầu ở người
cao tuổi tại Hà Nội”, Luận án tiến sĩ y học,
Đại học Y Hà Nội, tr 14
3 Lê Văn Hợi (2012), Báo cáo Thực trạng,
nhu cầu và chi phí chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại một vùng nông thôn ở Việt Nam, Trường Đại Học Y Hà Nội
4 Trần Văn Trường, Lâm Ngọc Ấn, Trịnh Đình Hải, John Spence A, Thomson K.R (2002), Điều tra sức khoẻ răng miệng toàn
quốc, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 12-18
5 Võ Thế Quang (2000), “Viêm quanh chóp
răng”, Bách khoa thư bệnh học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tập III, tr 523
6 Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Lê Thanh, Phùng Thanh Lý (1990), “Điều tra cơ bản
sức khoẻ răng miệng ở các tỉnh phía Bắc’’, Tạp chí Y học Việt Nam, số 10,11, tập
240-241, tr 7-10
7 Trương Mạnh Dũng (2007), “Tình trạng
mất răng ở người cao tuổi phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội”, Tạp chí Y học thực hành (số 1), tr 4- 5
8 Hồng Xuân Trọng (2014), “Bốn tình trạng
mất răng, nhu cầu và yêu cầu điều trị mất răng ở một số cơ sở chăm sóc người cao tuổi tại thành phố Hồ Chí minh năm 2013 “, Tạp chí Y Học TP Hồ Chí Minh, Tập 18, Phụ bản của Số 1 năm 2014