MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Pháp luật nảy sinh từ lịch sử và phát triển theo tiến trình riêng. Pháp luật ra đời từ khi nhà nước xuất hiện. Xét về phương diện khách quan, nhà nước và pháp luật cùng phát sinh từ một nguồn gốc, là kết quả của sự phát triển kinh tế và phân hoá xã hội. Xét về chủ quan, pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và trở thành một phương tiện của nhà nước để bảo vệ địa vị của lực lượng thống trị, điều hành và quản lý xã hội. Trong các tổ chức cộng đồng nguyên thuỷ trước đây, quan hệ giữa các thành viên được điều chỉnh bằng phong tục tập quán, điều chỉnh các quan hệ bình đẳng giữa các cá nhân trong xã hội, gọi là luật tục. Nhưng đến khi xã hội có sự phân hoá về giai cấp, nhà nước được hình thành, quốc gia được xác lập, thì luật tục không còn khả năng điều hành các quan hệ xã hội vốn luôn phát triển cả về phạm vi, mức độ, và tính chất. Để đáp ứng nhu cầu khách quan của xã hội đó, môt loại quy phạm mới đã ra đời, đó là pháp luật . Tuy nhiên, trong lịch sử nhà nước và pháp luật luật tục được sử dụng nhiều trong hệ thống pháp luật của nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến. Trong nhà nước tư sản, luật tục vẫn tồn tại nhiều, nhất là ở các nước có chế độ quân chủ. Riêng ở Việt Nam một quốc gia đa dân tộc, luật tục tồn tại khá nhiều ở các cộng đồng dân tộc ít người nhưng là nguồn của pháp luật, bảo đảm cho pháp luật mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam. Hệ thống luật tục giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng, trong tự quản ở cộng đồng dân cư, điều hòa xã hội, trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em với hơn 4000 năm hình thành và phát triển nên có nền văn hóa dân tộc rất phong phú và đa dạng. 54 dân tộc là 54 giá trị và sắc thái văn hóa riêng nhưng lại cùng chung một tình đoàn kết gắn bó trong việc bảo vệ Tổ quốc từ xưa đến nay. Nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, người Việt Nam đặc biệt là cộng đồng các dân tộc ít người đã chịu sự tác động rất lớn từ những mặt trái của xã hội, công tác tự quản của cộng đồng bản làng, thôn xóm cũng chịu sự tác động đó. Qua những khảo sát sơ bộ cho thấy, cộng đồng bản làng, thôn xóm cũng như công tác tự quản trong cộng đồng có nhiều hạn chế, tệ nạn xã hội phát triển nhanh và nhiều hơn, an ninh trậ tự ngày càng phức tạp, đoàn kết cộng đồng không còn được như trước nữa, tài nguyên môi trường bị xâm hại.... Đứng trước những thách thức về những ảnh hưởng không tốt của nền kinh tế thị trường đối với thuần phong mỹ tục của các dân tộc, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chư viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử , văn hóa. Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm văn hóa của nhân loại 14. Đến Đại hội X một lần nữa Đảng ta lại khẳng định: Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tếxã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội 15. Vấn đề vận dụng phong tục tập quán, luật tục của các dân tộc vào quản lý xã hội, quản lý cộng đồng là yêu cầu khách quan, phù hợp với định hướng lãnh đạo của Đảng Cùng với vai trò gắn kết cộng đồng và điều chỉnh các quan hệ xã hội trong một bản làng, thôn xóm hay một tộc người, tuy nhiên luật tục chưa được coi trọng để kết hợp với pháp luật quản lý và tự quản trong cộng đồng. Từ vị trí và vai trò ý nghĩa và quan trọng của luật tục trong hệ thống pháp luật nêu trên, tôi xin chọn đề tài Mối quan hệ của luật tục với pháp luật trong tự quản cộng đồng cho bài tiểu luận của mình. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa luật tục và pháp luật trong tự quản cộng đồng. Phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm: + Luật tục trong tự quản cộng đồng. + Giải pháp để vận dụng luật tục trong tự quản cộng đồng. 3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài Mục đích của đề tài này là phân tích trên cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất các giải pháp vận dụng luật tục trong tự quản cộng đồng phù hợp với tình hình hiện nay. Phù hợp với mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ sau: Phân tích cơ sở lý luận về vận dụng luật tục trong tự quản cộng đồng, cụ thể là khái niệm, đặc điểm, vai trò của luật tục trong tự quản cộng đồng; khái niệm cộng đồng, tính cộng đồng; mối quan hệ giữa luật tục và luật pháp. Phân tích các yêu cầu vận dụng luật tục trong tự quản cộng đồng, sử dụng luật tục trong hệ thống luật pháp. Đề xuất các giải pháp vận dụng luật tục trong tự quản cộng đồng, sử dụng luật tục tiến bộ trong pháp luật hiện nay. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của đề tài là phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, về dân tộc và các quan điểm của Đảng về đổi mới Nhà nước và pháp luật. Phương pháp nghiên cứu là các phương pháp của triết học biện chứng duy vật lịch sử MácLênin, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp xã hội học và luật học so sánh. 5. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Với quá trình lịch sử phát triển lâu dài và phong phú, đề tài luật tục đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Tiêu biểu có một số công trình nghiên cứu sau: Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam, (kỷ yếu hội thảo khoa học), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000. Tìm hiểu luật tục các dân tộc ở Việt Nam, GS Ngô Đức Thịnh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2003. Luật tục Thái ở Việt Nam, GS Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2003. Luật tục và vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên; những gợi ý nhăm hòa hợp luật thành văn và luật tục châu Á, John Ambler Mỹ, Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000. 6. Kết cấu đề tài:
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật nảy sinh từ lịch sử và phát triển theo tiến trình riêng Phápluật ra đời từ khi nhà nước xuất hiện Xét về phương diện khách quan, nhànước và pháp luật cùng phát sinh từ một nguồn gốc, là kết quả của sự pháttriển kinh tế và phân hoá xã hội Xét về chủ quan, pháp luật do nhà nước banhành hoặc thừa nhận và trở thành một phương tiện của nhà nước để bảo vệ địa
vị của lực lượng thống trị, điều hành và quản lý xã hội
Trong các tổ chức cộng đồng nguyên thuỷ trước đây, quan hệ giữa cácthành viên được điều chỉnh bằng phong tục tập quán, điều chỉnh các quan hệbình đẳng giữa các cá nhân trong xã hội, gọi là luật tục Nhưng đến khi xã hội
có sự phân hoá về giai cấp, nhà nước được hình thành, quốc gia được xác lập,thì luật tục không còn khả năng điều hành các quan hệ xã hội vốn luôn pháttriển cả về phạm vi, mức độ, và tính chất Để đáp ứng nhu cầu khách quan của
xã hội đó, môt loại quy phạm mới đã ra đời, đó là pháp luật
Tuy nhiên, trong lịch sử nhà nước và pháp luật luật tục được sử dụngnhiều trong hệ thống pháp luật của nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến.Trong nhà nước tư sản, luật tục vẫn tồn tại nhiều, nhất là ở các nước có chế độquân chủ
Riêng ở Việt Nam - một quốc gia đa dân tộc, luật tục tồn tại khá nhiều ởcác cộng đồng dân tộc ít người nhưng là nguồn của pháp luật, bảo đảm chopháp luật mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam
Hệ thống luật tục giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc gắn kết cộngđồng, trong tự quản ở cộng đồng dân cư, điều hòa xã hội, trong việc giữ gìnbản sắc dân tộc
Trang 2Nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em với hơn 4000 năm hình thành vàphát triển nên có nền văn hóa dân tộc rất phong phú và đa dạng 54 dân tộc là
54 giá trị và sắc thái văn hóa riêng nhưng lại cùng chung một tình đoàn kếtgắn bó trong việc bảo vệ Tổ quốc từ xưa đến nay
Nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, người Việt Nam đặcbiệt là cộng đồng các dân tộc ít người đã chịu sự tác động rất lớn từ nhữngmặt trái của xã hội, công tác tự quản của cộng đồng bản làng, thôn xóm cũngchịu sự tác động đó Qua những khảo sát sơ bộ cho thấy, cộng đồng bản làng,thôn xóm cũng như công tác tự quản trong cộng đồng có nhiều hạn chế, tệ nạn
xã hội phát triển nhanh và nhiều hơn, an ninh trậ tự ngày càng phức tạp, đoànkết cộng đồng không còn được như trước nữa, tài nguyên môi trường bị xâmhại
Đứng trước những thách thức về những ảnh hưởng không tốt của nềnkinh tế thị trường đối với thuần phong mỹ tục của các dân tộc, văn kiện Đại
hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: "Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân
tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chư viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử , văn hóa Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm văn hóa của nhân loại" [14] Đến Đại hội X
một lần nữa Đảng ta lại khẳng định: "Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng
cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế-xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội" [15].
Vấn đề vận dụng phong tục tập quán, luật tục của các dân tộc vào quản
lý xã hội, quản lý cộng đồng là yêu cầu khách quan, phù hợp với định hướnglãnh đạo của Đảng Cùng với vai trò gắn kết cộng đồng và điều chỉnh các quan
hệ xã hội trong một bản làng, thôn xóm hay một tộc người, tuy nhiên luật tụcchưa được coi trọng để kết hợp với pháp luật quản lý và tự quản trong cộngđồng
Trang 3Từ vị trí và vai trò ý nghĩa và quan trọng của luật tục trong hệ thống
pháp luật nêu trên, tôi xin chọn đề tài "Mối quan hệ của luật tục với pháp
luật trong tự quản cộng đồng" cho bài tiểu luận của mình.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận và thực tiễn mối quan
hệ giữa luật tục và pháp luật trong tự quản cộng đồng
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm:
+ Luật tục trong tự quản cộng đồng
+ Giải pháp để vận dụng luật tục trong tự quản cộng đồng
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của đề tài này là phân tích trên cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm
đề xuất các giải pháp vận dụng luật tục trong tự quản cộng đồng phù hợp vớitình
hình hiện nay
Phù hợp với mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ sau:
- Phân tích cơ sở lý luận về vận dụng luật tục trong tự quản cộng đồng,
cụ thể là khái niệm, đặc điểm, vai trò của luật tục trong tự quản cộng đồng;khái niệm cộng đồng, tính cộng đồng; mối quan hệ giữa luật tục và luật pháp
- Phân tích các yêu cầu vận dụng luật tục trong tự quản cộng đồng, sửdụng luật tục trong hệ thống luật pháp
- Đề xuất các giải pháp vận dụng luật tục trong tự quản cộng đồng, sửdụng luật tục tiến bộ trong pháp luật hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, về dân tộc và các quan điểmcủa Đảng về đổi mới Nhà nước và pháp luật
Trang 4Phương pháp nghiên cứu là các phương pháp của triết học biện chứngduy vật lịch sử Mác-Lênin, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương phápphân tích và tổng hợp, phương pháp xã hội học và luật học so sánh.
5 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Với quá trình lịch sử phát triển lâu dài và phong phú, đề tài luật tục đãđược nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Tiêu biểu
có một số công trình nghiên cứu sau:
- "Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam", (kỷ yếu hội
thảo khoa học), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000
- "Tìm hiểu luật tục các dân tộc ở Việt Nam", GS Ngô Đức Thịnh, NXB
Khoa học xã hội, Hà Nội 2003
- "Luật tục Thái ở Việt Nam", GS Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng, NXB
Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2003
- "Luật tục và vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên; những gợi ý nhăm
hòa hợp luật thành văn và luật tục châu Á", John Ambler - Mỹ, Luật tục và
phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội2000
6 Kết cấu đề tài:
Bài tiểu luận được chia như sau:
A- Phần mở đầu
B- Nội dung
Chương 1: Khái quát về luật tục:
1.1 Khái niệm luật tục
1.2 Đặc điểm của luật tục
1.3 Vai trò của luật tục trong tự quản cộng đồng
Chương 2: Các giải pháp để vận dụng trong tự quản cộng đồng:
2.1 Khắc phục những hạn chế của luật tục
Trang 52.2 Vận dụng luật tục tiến bộ dưới hình thức hương ước mới.
2.3 Kết hợp chặt chẽ giữa luật tục và pháp luật
2.4 Đa dạng hóa các hình thức giáo dục pháp luật, luật tục trong nhân dân.C- Kết luận
D- Danh mục tài liệu tham khảo
CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT VỀ LUẬT TỤC
1.1 Khái niệm về luật tục
Luật tục hay tập quán pháp là một hình thức pháp luật cổ xưa nhất , giữvai trò thống trị trong các xã hội tiền nhà nước Trên thế giới , từ kiểu nhànước chủ nô đến kiểu nhà nước phong kiền, hay ở các nước có chế độ quânchủ trong nhà nước tư sản, luật tục đã được sử dụng khá nhiều trong hệ thốngpháp luật với vai trò là một nguồn luật cơ bản
Đối với Việt Nam, ngay từ nhà nước đầu tiên thời đại Văn Lang - ÂuLạc, luật chung của người Lạc Việt căn cứ theo lời tâu của Mã Viện với vuaHán Quang Vũ ("luật Việt khác luật Hán mười điều") thì rất có thể đó chính làmột thứ luật tục hay tập quán pháp Tài liệu dân tộc học cũng cho biết, ở xãhội các cư dân Tây Nguyên cũng như ở các xã hội sơ khai khác, mỗi cộngđồng tộc người đều có luật tục (hoặc thành văn, hoặc truyền miệng ) Trong
xã hội sau này, kể cả dân tộc đa số như dân tộc Kinh cũng có luật tục (hươngước) và các dân tộc khác đều có luật tục để điều chỉnh quan hệ trong cộngđồng mình
"Luật tục là những qui tắc xử sự chung mang tính chất bắt buộc do cáccộng đồng làng xã xây dựng nên và được truyền từ đời này sang đời khác".[1,
tr 528] Luật tục phần lớn mang tinh thần bình đẳng của cả cộng đồng trên các
Trang 6hội, trật tự xã hội thì được Nhà nước thừa nhận, còn nếu cổ hủ , lạc hậu, mêtín dị đoan thì sẽ bị Nhà nước cấm đoán Luật tục có thể tồn tại bằng truyềnmiệng hoặc có thể được ghi bằng văn bản Văn bản luật tục có thể tồn tại dướihình thức đơn giản như hương ước, nhưng cũng có thể được xây dựng dướidạng bộ luật như bộ luật tục của dân tộc Êđê với 11 chương, 236 điều Luậttục khác với tập quán thông thường ở tính bắt buộc thực hiện bởi vì đó chính
là pháp luật của các cộng đồng làng xã hoặc của cả một dân tộc thiểu số
Luật tục hay tập quán pháp là một hiện tượng phổ biến của nhân loại ởthời kì phát triển tiền công nghiệp và còn tồn tại đến ngày nay ở nhiều tộcngười trên thế giới ,nhất là ở châu Á và châu Phi Ở Việt Nam, luật tục củacác dân tộc thiểu số và hương ước của người Việt còn tồn tại khá phổ biến vàđược nhà nước quan tâm phát triển những bản sắc truyền thống tốt đẹp cùngvới việc thừa nhận chúng là một hình thức pháp luật
Tuy nhiên, luật tục trên thế giới cũng như ở Việt Nam không hoàn toàngiống nhau mà có nét riêng biệt về tín ngưỡng, tôn giáo, các quan hệ xã hội vàtục lệ của mỗi cộng đồng làng xã và dân tộc mình.Chính vì thế, khi thừa nhậnluật tục, nhà nước luôn phải có sự tìm hiểu về văn hóa cũng như tục lệ của địaphương để có sự quản lí tốt hơn về việc tự quản cộng đồng, bảo vệ môitrường, phát triển kinh tế xã hội
1.2 Đặc điểm của luật tục
Luật tục là sản phẩm của những xã hội cổ truyền, phản ánh những điềukiện, đặc điểm riêng của xã hội đó Nội dung của luật tục cũng phản ánhnhững đặc trưng của xã hội cổ truyền ấy Đó là các hình thức sở hữu đất đai,rừng núi, mà phổ biến nhất là hình thức sở hữu của cộng đồng, bản làng
Luật tục có sự hình thành và phát triển trước luật pháp, các nhà nước chủ
nô và phong kiến trước đây thường sử dụng nó làm tiền đề để xây dựng phápluật Hiện nay, luật tục tiến bộ được coi là một hình thức pháp luật (tập quán
Trang 7pháp) nếu được Nhà nước thừa nhận Tuy nhiên, luật tục có những điểmkhông đồng nhất với luật pháp, thậm chí có những điểm còn trái ngược vớiluật pháp.
Giữa luật tục và pháp luật có những điểm tương đồng và cũng có nhiềuđiểm khác biệt nhau :
- Sự tương đồng giữa luật tục và pháp luật :
Trước hết, cả luật tục và pháp luật về cơ bản đều có cùng mục đích là tạo
ra sự trật tự và ổn định cho xã hội, vì chúng điều chỉnh các quan hệ xã hội,định hướng cách cư xử của cá nhân theo khuôn mẫu chung
Hai là, pháp luật và luật tục đều có nội dung điều chỉnh phong phú, liên
quan tới nhiều mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội
Ba là, cơ cấu, tính chất của luật tục có nhiều nét tương đồng với pháp
luật như các quan niệm về tội phạm, về tang chứng, về chế tài
Bốn là, cả luật tục và pháp luật được thực thi trong sự kết hợp với các
yếu tố khác như: đạo đức, dư luận, thiết chế
- Sự khác biệt giữa luật tục với pháp luật :
Một, tuy luật tục và pháp luật đều có mục đích chung là điều hoà các
quan hệ xã hội , nhưng phạm vi điều chỉnh các quan hệ xã hội lại khác nhau.
Pháp luật điều chỉnh trong phạm vi cả nước, còn luật tục điều chỉnh trongphạm vi một cộng đồng hẹp hơn (như dân tộc Êđê hay bản mường của người
Thái) Do vậy, luật tục mang tính riêng, tính đặc thù trái với pháp luật bao giờ cũng mang tính phổ quát
Hai, luật tục thể hiện ý chí và sự đồng thuận của cộng đồng bản làng,
còn pháp luật mang tính nhà nước, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và có
Trang 8Trái lại, mỗi văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước do một nhóm người
soạn thảo, đề xuất, thể hiện ý chí giai cấp thống trị trong xã hội đó.
Bốn, về cơ bản, luât tục tồn tại dưới dạng truyền miệng hay các câu
châm ngôn mang đậm phong tục địa phương (như "Luật Mường" của dân tộcThái) do vậy nó mềm dẻo,uyển chuyển hơn trong thực thi; còn pháp luật thìtồn tại dưới dạng văn bản, người dân phải học, phải đọc mới nhớ
Năm, cơ cấu các điều luật cụ thể và việc thực thi pháp luật của nhà nước
khác biệt nhiều so với luật tục Luật tục có các điều luật đơn giản, cơ độnghơn so với pháp luật; các hình thức chế tài của luật pháp khá chi tiết và chặtchẽ, còn luật tục thì ngoài hình thức khuyên răn, giáo dục là chính thì các hìnhphạt chủ yếu là đền bù tài sản và thực hành nghi lễ để tạ tội; pháp luật đi liềnvới các công cụ tạo án, nhà tù, còn luật tục chủ yếu là hoà giải, không có hìnhphạt giam cầm và nhà tù
Đặc trưng của luật tục đó chính là hình thức trung gian giữa hai yếu tố
"luật" và "tục" Hay nói cách khác, nó là hình thức phát triển cao của phong
tục, tục lệ và là hình thức sơ khai, hình thức tiền luật pháp Chính vì thế, hìnhthức luật tục này phù hợp với xã hội tiền công nghiệp, phù hợp với các cộngđồng nhỏ hẹp gắn với từng nhóm tộc người, từng địa phương cụ thể
Mặt khác, luật tục cũng chính là tấm gương phản chiếu nhiều mặt củađời sống: môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội, thế giới trần tục và thếgiới linh thiêng, quan hệ sản xuất và phân phối trong xã hội, quan hệ xử lítrong gia đình và dòng họ, tổ chức chính trị xã hội, tín ngưỡng và tôn giáo,luật pháp và đạo đức Đặc biệt, luật tục tìm cách xử lý những mối qua hệ giữa
xã hội con người với xã hội linh thiêng Có thể thấy điều đó ở khắp nơi trênthế giới như luật tục của người theo đạo Do Thái được thể hiện theo kinhTalmud, luật tục của người theo đạo Kitô được thể hiện trong kinh thánh, luậttục của người theo đạo Hồi được thể hiện theo kinh Coran Qua các luật tục
ấy có thể thấy rằng luật tục không những chỉ quan tâm tới mối quan hệ giữa
Trang 9con người với con người, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác trong xãhội loài người mà còn quan tâm xử lý mối quan hệ giữa thế giới trần tục vàthế giới linh thiêng, giữa con người và thần linh.
1.3 Luật tục trong tự quản cộng đồng
1.3.1 Cộng đồng và tính cộng đồng
Khái niệm cộng đồng (community) được sử dụng rộng rãi trên các lĩnh vựckinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội (như cộng đồng kinh tế châu Âu, cộng đồng cácquốc gia Đông Nam Á, cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên ) Theo nghĩa này,cộng đồng vừa mang những giá trị chung mà mỗi thành viên thừa nhận và tuântheo, vừa tôn trọng sự phát triển độc lập của mỗi thành viên trong các quan hệ hợptác với nhau Ở Việt Nam, khái niệm cộng đồng được dùng rộng rãi trong các lĩnhvực văn hóa , xã hội như cộng đồng dân cư, cộng đồng làng xã, cộng đồng vănhóa
Theo nhiều nhà khoa học, cộng đồng được hiểu: "là tập hợp người có tínhchất một xã hội, chung sống, có nhiều đặc tính của cải và quyền lợi chung" [5,tr.214]; "là một tập thể có nhiều thành viên gắn bó với nhau bằng những giá trịchung Cộng đồng có một sự cố kết nội tại không phải do những qui tắc rõ ràng,những luật pháp thành văn, mà do những liên hệ sâu hơn: huyết thống, truyềnthống "[2, tr.45]; "là khối người cùng chung một tổ chức" [3, tr.137]: "là toàn thểnhững người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống nhau, gắn bóthành một khối " [4, tr.205]
Như vậy, qua phân tích ở trên có thể rút ra khái niệm cộng đồng một cách
khái quát nhất, chung nhất như sau: Cộng đồng là một tập thể, có những thành
viên gắn bó với nhau thành một tổ chức và cơ bản có chung mục đích.
Khái niệm cộng đồng có quan hệ với khái niệm tính cộng đồng Tính cộng
đồng là một yếu tố gần như bẩm sinh của con người bởi vì con người có nguồn gốc
Trang 10bầy, cộng với một quá trình tiến hóa dài từ cuộc sống bầy đàn mới sang giai đoạn
cá nhân Tính cộng đồng cũng trải qua những thay đổi theo sự phát triển của xãhội Lúc đầu, trong các xã hội cổ xưa, tính cộng đồng lấn át tính cá nhân, khôngcông nhận cá nhân như một thực thể độc lập Trong xã hội có quan hệ hàng hóa -tiền tệ phát triển, các quan hệ sở hữu tư nhân phổ biến, tính cộng đồng chỉ là mộtmặt của đời sống con người, bên cạnh tính cá nhân phát triển ngày càng cao
Mối quan hệ giữa tính cộng đồng và tính cá nhân luôn mang những mâuthuẫn, thậm chí xung đột, nhưng bao giờ cũng có tính hữu cơ, không thể có tính cánhân thật sự mà không có tính cộng đồng thật sự và ngược lại Tìm kiếm một sựkết hợp tối ưu của tính cộng đồng và tính cá nhân là một đòi hỏi không thể thiếuđối với mọi học thuyết về sự phát triển xã hội Người ta càng thấy rõ rằng không
có những cá nhân phát triển thì không thể có một cộng đồng tự do của con người,cũng như không có tính cộng đồng (ý thức trách nhiệm với cộng đồng) thì cũngkhông thể có các cá nhân phát triển
Trong giai đoạn hiện nay, nhiều chương trình của nhiều tổ chức trong nước
và quốc tế đã phải dựa vào cộng đồng để làm cơ sở cho định hướng phát triển, Cácmục tiêu phát triển cộng đồng ở Việt Nam được thể hiện trong rất nhiều chínhsách về văn hóa, xã hội và kinh tế Đây là những chính sách được xây dựng chungcho toàn xã hội và có mục tiêu khuyến khích sự tăng trưởng kinh tế đồng thời duytrì tính công bằng, đoàn kết, thống nhất của các mối quan hệ cộng đồng trong toànquốc Với các khu vực nông thôn nghèo của đất nước, từ lâu Chính phủ đã cónhững chính sách, chương trình tập trung phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là đốivới các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người.Những chính sách, chương trình nói trên là những cơ chế phân phối lại, trong đó
hỗ trợ bộ phận còn yếu của xã hội, những khu vực nghèo của đất nước qua việcchuyển giao tài chính từ ngân sách nhà nước và qua việc nâng cao nhận thức của
xã hội với vấn đề cộng đồng
Trang 111.3.2 Vai trò của luật tục và pháp luật trong tự quản cộng đồng
- Pháp luật và luật tục có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Làm rõ nội
dung mối quan hệ đó có ý nghĩa về nhiều mặt, vừa làm phong phú thêm phápluật vừa đảm bảo hiệu lực điều chỉnh của pháp luật, phát huy được pháp luậttrong hỗ trợ, bổ sung, hoàn thiện luật tục Tuy nhiên, vấn đề này rất phongphú và phức tạp nên trong đề tài này tôi chỉ tập trung làm rõ các nội dung củamối quan hệ trên như sau:
Thứ nhất, luật tục và pháp luật là những yếu tố thuộc thượng tầng kiến
trúc, đều bị quy định bởi cơ sở kinh tế nhất định trên nền tảng kinh tế xã hộiphù hợp Luật tục và pháp luật do vậy có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ nhautrong quá trình điều chỉnh hành vi con người Pháp luật tác động ở phạm virộng, bao quát các quan hệ quan trọng, cơ bản Luật tục tác động ở phạm vihẹp nhưng cụ thể, vì thế mà luật tục như " cánh tay kéo dài" của pháp luật, hỗtrợ, bổ sung cho pháp luật
Thứ hai, luật tục và pháp luật cùng có chức năng điều chỉnh các quan hệ
xã hội, cùng hướng đến trật tự xã hội Nếu pháp luật hướng đến trật tự xã hộichung thì luật tục hướng đến trật tự cộng đồng; pháp luật tạo lập đồng thuận
xã hội thì luật tục tạo lập, củng cố đồng thuận cộng đồng Song, trật tự xã hộichỉ có thể tồn tại trên cơ sở trật tự của các cộng đồng Ngược lại, trậ tự xã hộiđược xác lập sẽ làm cho trật tự cộng đồng thêm vững chắc, ổn định
Thứ ba, trong điều chỉnh quan hệ xã hội, pháp luật có vị trí ưu trội hơn
luật tục về hiệu lực, về cơ chế và hình thức Pháp luật ra đời nhằm duy trì trật
tự trong xã hội đã có sự phân chia thành các giai cấp đối kháng, nên pháp luật
có tính giai cấp Pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp thống trị, đàn
áp sự phản kháng của các giai cấp và tầng lớp khác Pháp luật được thi hànhbằng cưỡng chế của Nhà nước Là luật thành văn nên Nhà nước có thẩmquyền ban hành pháp luật theo một thủ tục, trình tự chung có tính quy phạmchặt chẽ cả về nội dung và hình thức Pháp luật có hiệu lực, hiệu quả cao, có
Trang 12tính thống nhất về nội dung và tính phổ biến rộng rãi Do vậy, trong mối quan
hệ với luật tục, pháp luật có hiệu lực cao hơn, cơ chế điều chỉnh được địnhhình chặt chẽ hơn Trong trường hợp giữa pháp luật và luật tục có sự xung độtthì luật tục phải tuân thủ pháp luật, thể hiện ra ở sự tuân thủ pháp luật Phápluât có vai trò hướng dẫn, định hướng luật tục, làm cho luật tục ngày càng tiến
bộ, phù hợp với sự phát triển của xã hội
Từ mối quan hệ giữa luật tục và pháp luật trong tự quản cộng đồng cóthể thấy luật tục có vị trí độc lập tương đối với pháp luật Và từ đây, việc vậndụng luật tục trong tự quản cộng đồng đòi hỏi một mặt phải coi trọng phápluật, đề cao pháp luật, song phải biết phát huy tính độc lập tương đối của luậttục, cụ thể là chú ý những vấn đề có tính chất phương pháp luận sau:
Một, luật tục trong điều kiện nhất định có khả năng thay thế pháp luật.
Pháp luật có tính thống nhất trong phạm vi quốc gia và phản ánh được trình
độ páht triển chung của xã hội Song, trình độ phát triển ở từng vùng, từng địaphương là khác nhau, thậm chí chênh lệch nhau rất lớn cả về trình độ pháttriển, đời sống văn hoá, tinh thần, do đó không phải ở lúc nào, ở đâu pháp luậtcũng thâm nhập được vào cuộc sống, cũng có tác dụng điều chỉnh Đối vớivùng đồng bào dân tộc thiểu số, những qui định của pháp luật trên nhiều khíacạnh còn xa lạ đối với cộng đồng của họ Trong khi đó, luật tục với những giátrị tích cực của nó lại có tác dụng thay thế cho pháp luật, đóng vai trò quantrọng và chủ yếu trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể Thựctiễn trong giai đoạn hiện nay, ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực khi mà phápluật chưa thật sự thâm nhập sâu vào trong thực tế thì vai trò của luật tục thaythế pháp luật là rất cần thiết, nhất là trong tự quản ở cộng đồng dân cư
Hai, bên cạnh việc có thể thay thế pháp luật, luật tục trong nhiều trường
hợp còn có khả năng bổ sung cho pháp luật Trong điều kiện một quốc gia có
nhiều sắc tộc cùng sinh sống với trình độ phát triển khá chênh lệch nhau, vơi