1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân nội trú có mẫu nước tiểu cấy vi khuẩn dương tính tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Hải Phòng năm 2019

7 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 461,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đã tiến hành hồi cứu trên 129 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân có mẫu nước tiểu cấy dương tính điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc Tế Hải Phòng năm 2019 nhằm thực hiện hai mục tiêu chính là mô tả đặc điểm của những bệnh nhân có mẫu cấy nước tiểu định danh vi khuẩn dương tính và phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh trên những bệnh nhân có mẫu cấy nước tiểu định danh vi khuẩn dương tính từ đó có những biện pháp đề xuất phù hợp.

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH Ở BỆNH NHÂN NỘI TRÚ CÓ MẪU NƯỚC TIỂU CẤY VI KHUẨN DƯƠNG TÍNH

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ HẢI PHÒNG NĂM 2019

Nguyễn Thị Thu Phương 1,2 , Trần Thị Ngân 1,2 , Ngô Thị Quỳnh Mai 1 TÓM TẮT 1

Nghiên cứu đã tiến hành hồi cứu trên 129 hồ

sơ bệnh án của bệnh nhân có mẫu nước tiểu cấy

dương tính điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc

Tế Hải Phòng năm 2019 nhằm thực hiện hai mục

tiêu chính là mô tả đặc điểm của những bệnh

nhân có mẫu cấy nước tiểu định danh vi khuẩn

dương tính và phân tích thực trạng sử dụng

kháng sinh trên những bệnh nhân có mẫu cấy

nước tiểu định danh vi khuẩn dương tính từ đó có

những biện pháp đề xuất phù hợp Kết luận: Tỷ

lệ sử dụng phác đồ kháng sinh sau khi cấy định

danh vi khuẩn phù hợp chiếm 85.27% và không

phù hợp chiếm 14.73% Kết quả điều trị khi ra

viện: tỷ lệ bệnh nhân đỡ giảm sau khi điều trị

chiếm 85.27% Mối liên quan giữa việc sử dụng

kháng sinh sau khi cấy được vi khuẩn phù hợp

với kết quả điều trị: nguy cơ có kết quả không đỡ

ở nhóm sử dụng kháng sinh không phù hợp cao

gấp 4.62 lần so với nhóm sử dụng kháng sinh

phù hợp (OR=4.62 (CI95%=1.17-18.30)

Từ khóa: kháng sinh, nhiễm khuẩn tiết niệu

SUMMARY

SURVEY ON THE USE OF

ANTIBIOTICS IN INPATIENTS WITH

POSITIVE BACTERIAL URINE

1 Trường Đại Học Y Dược Hải Phòng

2 Bệnh viện Đa Khoa Quốc Tế Hải Phòng

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Thu Phương

Email: nttphuong@hpmu.edu.vn

Ngày nhận bài: 21.3.2021

Ngày phản biện khoa học: 22.4.2021

Ngày duyệt bài: 20.5.2021

CULTURES AT HAI PHONG INTERNATIONAL HOSPITAL IN 2019

The study has retrospectively conducted on

129 medical records of patients with positive urine cultures treated at Hai Phong International General Hospital in 2019 to accomplish two main goals: to describe the characteristics of these patients patients with urine cultures identifying positive bacteria and analyzing the current situation of antibiotic use in patients with positive bacterial cultures from which appropriate measures can be proposed Conclusion: The rate of using antibiotic regimen after culture to identify suitable bacteria accounted for 85.27% and unsuitable accounted for 14.73% Treatment results at hospital discharge: the rate of patients getting better after treatment accounted for 85.27% The relationship between antibiotic use after inoculation of appropriate bacteria with treatment results: the risk of poor results in the group using inappropriate antibiotics was 4.62 times higher than in the group using antibiotics suitable (OR=4.62 (CI95%=1.17-18.30)

Key words: antibiotic, UTI

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự ra đời của kháng sinh đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc trong việc phòng và điều trị bệnh do vi khuẩn gây ra Tuy nhiên, việc

sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý làm tăng thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện, tỷ lệ kháng thuốc của vi khuẩn, tỷ lệ tử vong và tăng chi phí điều trị

Trang 2

cho bệnh nhân Khoảng 50% bệnh nhân nội

trú tại các cơ sở y tế được kê đơn thuốc

kháng sinh, trong đó có 30% – 50% đơn

thuốc được coi là không phù hợp hoặc không

cần thiết [1], [2], [3] Tại Việt Nam tỷ lệ mắc

các bệnh lý nhiễm khuẩn rất cao, đứng hàng

thứ hai (16,7%) chỉ sau các bệnh lý tim mạch

(18,4%), cùng với tình hình kháng kháng

sinh luôn ở mức báo động khiến cho việc lựa

chọn sử dụng kháng sinh hợp ý đang là thách

thức lớn [4] Chính vì vậy, chúng tôi thực

hiện đề tài: “Khảo sát tình hình sử dụng

kháng sinh ở bệnh nhân nội trú có mẫu nước

tiểu cấy vi khuẩn dương tính tại bệnh viện đa

khoa quốc tế Hải Phòng năm 2019” với 2

mục tiêu sau:

1 Mô tả đặc điểm của những bệnh nhân

có mẫu cấy nước tiểu định danh vi khuẩn

dương tính

2 Phân tích thực trạng sử dụng kháng

sinh trên những bệnh nhân có mẫu cấy nước

tiểu định danh vi khuẩn dương tính từ đó có

những biện pháp đề xuất phù hợp

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm

nghiên cứu

Bệnh án điện tử của bệnh nhân có kết quả

cấy nước tiểu định danh vi khuẩn dương tính

được điều trị tại bệnh viện Đa khoa quốc tế

Hải Phòng thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và

tiêu chuẩn loại trừ có thời gian vào viện từ

01/01/2019 đến 31/12/2019 Tiêu chuẩn lựa

chọn: Bệnh nhân có mẫu nước tiểu cấy định

danh vi khuẩn dương tính, Bệnh nhân có thời

gian nằm viện ít nhất 24 giờ, Bệnh nhân

được điều trị bằng ít nhất 1 loại kháng sinh

và có kết quả kháng sinh đồ tương ứng Tiêu

chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không được sử

dụng kháng sinh, bệnh nhân có kết quả cấy

nước tiểu là nấm, các bệnh án không đủ

thông tin thu thập theo phiếu thu thập thông tin

2.2 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp hồi cứu mô tả

Cỡ mẫu nghiên cứu

Công thức tính cỡ mẫu:

n

Trong đó: n: cỡ mẫu

Z: giá trị phân phối tương ứng với độ tin cậy lựa chọn

p: ước tính tỷ lệ % của tổng thể e: sai số cho phép

Với độ tin cậy 95%, tỷ lệ gặp kê đơn kháng sinh không hợp lý là 23.1% [5], sai số cho phép là 7% thì cỡ mẫu nghiên cứu tính theo công thức trên là: n ≥ 98 (bệnh án)

Cỡ mẫu thực tế trong nghiên cứu của tôi

là n=129 bệnh án

2.3 Phương pháp thu thập thông tin:

Chọn theo phương pháp thuận tiện

Đánh giá sử dụng kháng sinh phù hợp về phổ: Từ kết quả kháng sinh đồ vi khuẩn vẫn còn nhạy và theo Sanford Guide 2019 [6] kháng sinh có phổ bao trùm vi khuẩn thì kháng sinh này được sử dụng là phù hợp Đánh giá kháng sinh sử dụng phù hợp về liều dùng, đường dùng, chỉnh liều dựa vào hướng dẫn của IDSA (Infectious Disease Society of America)[7]

2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu Dữ liệu được nhập và xử lí trên phần

mềm SPSS 2010 Các biến định tính được tính bằng tần suất và phần trăm, các biến định lượng được tính bằng trung bình và độ lệch chuẩn Kiểm tra mối quan hệ giữa hai biến định tính bằng phép thử Chi square, giữa biến định tính và biến định lượng bằng T-test Sự khác nhau có ý nghĩa thống kê khi

p < 0,05

Trang 3

2.5 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Việc tiến hành nghiên cứu có sự cho phép

của Bộ môn Dược Lâm Sàng Đại học Y

Dược Hải Phòng và Bệnh viện Đa khoa Quốc Tế Hải Phòng

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1 Các tác nhân gây bệnh

Vi khuẩn

Gram âm

P<0,05

Klebsiella pneumoniae 7 5,43 Pseudomonas aeruginosa 5 3,88 Klebsiella pneumonia ESBL 4 3,1 Morganella morganii 3 2,33

Vi khuẩn Gram âm khác 8 6,2

Vi khuẩn

Gram dương

Streptococcus agalactiae 5 3,88 Enterococcus faecalis 2 1,55

Vi khuẩn Gram dương khác 1 0,78

ESBL: Extended-spectrum

beta-lactamases;

Từ bảng trên ta thấy, tác nhân gây bệnh

chủ yếu là vi khuẩn gram âm, chiếm 93.79%

Trong đó vi khuẩn E.coli ESBL và E.coli

chiếm tỷ lệ lớn nhất, lần lượt là 38.76% và

32.56%, tiếp theo là Klebsiella pneumonia

chiếm 5.43%, Pseudomonas aeruginosa

chiếm 3.88% Các vi khuẩn gram dương chỉ

chiếm tỷ lệ nhỏ (6.21%) như vi khuẩn

Enterococcus faecalis chiếm 1.55%,

Streptococcus agalactiae chiếm 3.88%, các

vi khuẩn khác chỉ chiếm 0.78% E.coli ESBL

có tỷ lệ kháng cao nhất với nhóm Beta-lactam: kháng cefotaxim 98%, ceftriaxon (96%), ceftazidime (66%), tỷ lệ kháng ciprofloxacin cũng ở mức cao: 83.67% Vi khuẩn kháng với amoxicillin 36.73% và amikacin 8% Vi khuẩn vẫn còn nhạy 100% với nhóm carbapenem: ertapenem, imipenem/cilastatin, meropenem

Bảng 2 Các kháng sinh sử dụng

Beta-lactam

Penicillin/Betalactamase 13(4.35%)

154 p<0.05 Cephalosporin thế hệ 1 1(0.33%)

Cephalosporin thế hệ 3 97(32.44%) Carbapennem 43(14.38%)

Trang 4

Fluoroquinolon 96(32.12%) 96

Beta-lactam là nhóm kháng sinh được sử

dụng nhiều nhất (51.51%) Trong đó,

cephalosporin thế hệ 3 được sử dụng nhiều

nhất với 32.44 % số lượt sử dụng phân nhóm

này, bao gồm: ceftazidim (16.72%),

ceftriaxon (10.7%) và cefotaxim (5.02%)

Nhóm Carbapenem chiếm 14.38% lượt sử

dụng, trong đó ipmipenem/cilastatin chiếm

6.69%, meropenem là 4.01% và ertapenem chiếm 3.68% Nhóm fluoroquinolon cũng được sử dụng đến 32.12%, trong đó: levofloxacin (1.0%) và ciprofloxacin (31,1%) Các nhóm kháng sinh còn lại được

sử dụng với tỷ lệ nhỏ: marcrolid 0.33%, peptid 1%, cyclin chiếm 2.68 %

Bảng 3: Kết quả điều trị

Kết quả điều trị

Từ bảng trên ta thấy tỷ lệ bệnh nhân có kết quả điều trị đỡ giảm chiếm tỷ lệ cao: 85.27%

Tỷ lệ không thay đổi kết quả hay nặng hơn sau điều trị thấp: 7.76%

Bảng 4 Mối liên quan giữa việc sử dụng kháng sinh sau khi cấy định danh vi khuẩn và kết quả điều trị

Tiêu chí đánh giá

Sử dụng kháng sinh phổ rộng để điều trị nhiễm khuẩn

nhạy cảm (có: 6/69; không: 4/50)

0.92 (0.247-3.432) 0.901

Sử dụng FQs IV khi không có CCĐ đường uống

(có:4/58; không:6/61)

1.426 (0.383-5.314) 0.595 Liều dùng

(KPH: 1/3; PH:9/116)

0.233 (0.022-2.472) 0.19 Phồ kháng khuẩn của kháng sinh sau cấy (KPH: 3/13;

PH: 7/106)

0.286 (0.066-1.245) 0.079

Sử dụng kháng sinh phù hợp (KPH: 4/15; PH: 6/104)

4.622 (1.167-18.301) 0.019 KPH: không phù hợp; PH: phù hợp

Trang 5

Từ bảng trên ta thấy việc sử dụng kháng

sinh sau khi cấy định danh vi khuẩn phù hợp

có mối liên hệ với kết quả điều trị: tỷ lệ kết

quả không đỡ của việc sử dụng kháng sinh

không phù hợp cao gấp 4.622 lần

(95%Cl=1.167-18.301) kết quả không đỡ

của việc sử dụng kháng sinh phù hợp Có thể

thấy việc sử dụng kháng sinh phù hợp (phù

hợp cả phổ kháng khuẩn và liều dùng) sẽ cải

thiện được kết quả điều trị cho bệnh nhân

IV BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của tôi, các vi khuẩn

gây nhiễm khuẩn tiết niệuthường gặp phân

lập được rất đa dạng, họ vi khuẩn đường ruột

là căn nguyên chủ yếu, đặc biệt E coli là tác

nhân gây bệnh hàng đầu chiếm 36.43%

Đứng thứ 2 là các E.coli kháng ESBL chiếm

34.88% Nghiên cứu của tôi phù hợp với các

tác giả trong và ngoài nước khi nhận định E

coli là nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm

khuẩn tiết niệu, tuy nhiên cũng có sự khác

biệt giữa tỷ lệ các loài vi khuẩn gây bệnh

chủ yếu giữa nghiên cứu của chúng tôi với

các tác giả khác Sự khác biệt này có thể là

do sự khác nhau về địa điểm, đối tượng

nghiên cứu và trên các đối tượng có bệnh lý

khác nhau Theo nghiên cứu của Simon Zec

tại Sirbia (2015), E coli là nguyên nhân

hàng đầu gây NKTN với tỷ lệ 36.5%; đứng

thứ hai là Enterococcus chiếm 23% Các vi

khuẩn khác là Klebsiella 12.9% và

P.aeruginosa 7.3% Về kháng sinh được sử

dụng trong nghiên cứu này, Kết quả của tôi

khác với nghiên cứu của Trần Ngọc năm

2018 với nghiên cứu phân tích sử dụng

kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn bệnh

viện do vi khuẩn gram âm tại khoa hồi sức

tích cực – chống độc, bệnh viện Đa khoa

Tây Ninh: các nhóm kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là quinolon (94.5%), cehphalosporin thế hệ 3 (61.8%), aminoglycosid (38.2%), carbapenem (36.4%) Có sự khác nhau này có thể do mô hình sử dụng thuốc ở các bệnh viện khác nhau nhưng nhìn chung có thể thấy các kháng sinh này đều là các kháng sinh phổ rộng, có hoạt tính kháng sinh trên nhiều loại

vi khuẩn gây bệnh và ít hoặc không có độc tính trên thận nên chúng được sử dụng khá phổ biến cho phác đồ điều trị Tuy nhiên việc sử dụng rộng rãi các loại kháng sinh này có thể tiềm ẩn nguy cơ gia tăng kháng kháng sinh Tỷ lệ sử dụng nhóm aminoglycosid là 12.37% Các nhóm kháng sinh còn lại được sử dụng với tỷ lệ nhỏ: marcrolid 0.33%, glycopeptid với hoạt chất chính là vancomycin chiếm 1%, cyclin chiếm 2.68 % Tỷ lệ sử dụng phác đồ kháng sinh ban đầu trước khi cấy vi khuẩn phù hợp theo hướng dẫn sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm của Bộ Y tế 2015 và Sanford guide chiếm tỷ lệ 100% có thể được giải thích do hầu hết các bác sĩ lựa chọn kháng sinh bao phủ được các căn nguyên gây bệnh phổ biến đã được thống kê trong các y văn nên việc sử dụng kháng sinh của phác đồ kháng sinh trước cấy có tỷ lệ phù hợp cao Việc sử dụng kháng sinh chủ yếu là nhóm quinolone và cephalosporin là phù hợp với đặc điểm vi sinh của mẫu nghiên cứu với tác nhân gây bệnh chủ yếu là E coli Ở phác đồ

sử dụng kháng sinh sau cấy định danh vi khuẩn, có 58.14% bệnh nhân được sử dụng kháng sinh phổ rộng để điều trị nhiễm khuẩn nhạy cảm, tỷ lệ này khá cao cho thấy việc sử dụng kháng sinh ở bệnh viện chưa thực sự

Trang 6

tối ưu Thói quen sử dụng kháng sinh phổ

rộng trong những trường hợp nhiễm khuẩn

nhẹ có ý nghĩa làm tăng thêm tỷ lệ nhiễm

khuẩn và tỷ lệ vi khuẩn đề kháng và gây khó

khăn cho việc điều trị Theo nguồn của

CDC, việc sử dụng bừa bãi kháng sinh phổ

rộng hiện nay làm tăng nguy cơ gấp 2 lần

khả năng nguy cơ nhiễm vi khuẩn đề kháng

Tỷ lệ sử dụng phác đồ kháng sinh sau khi

cấy định danh vi khuẩn phù hợp chiếm tỷ lệ

cao, 85.27% và không hợp lý chiếm 14.73%

Đa phần các trường hợp thay đổi sử dụng

phác đồ kháng sinh sau khi cấy định danh vi

khuẩn đều dựa trên kết quả vi sinh và kháng

sinh đồ nên tỷ lệ sử dụng phù hợp của phác

đồ sau cấy cao Các trường hợp không phù

hợp có thể do nguyên nhân như khi bệnh

nhân có thai không thể sử dụng thuốc kháng

sinh vì cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ với

thai nhi, hoặc do tình trạng lạm dụng sử

dụng kháng sinh nên vi khuẩn đã kháng với

kháng sinh được điều trị cho bệnh nhân Tuy

nhiên, bên cạnh đó, do test đánh giá độ nhạy

của vi khuẩn với kháng sinh trên in vitro

không giúp dự kiến hoạt tính của thuốc trên

in vivo nên 1 số trường hợp bác sĩ vẫn dùng

kháng sinh đó cho bệnh nhân nhưng bệnh

nhân vẫn có đáp ứng tốt với kháng sinh và

tình trạng bệnh được cải thiện [8]

Các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

được hiệu chỉnh liều cho bệnh nhân suy thận

với số liều phù hợp chiếm tỷ lệ cao

(97.67%), tuy nhiên không phải tất cả trong

số đó đều phù hợp với khuyến cáo, với tỷ lệ

không phù hợp là 2.33%: đó là ở những

trường hợp không chỉnh liều trên bệnh nhân

suy thận và dùng thuốc có liều cao hơn trong

tài liệu tham chiếu: như fosfomycin

11g/ngày Điều này là phù hợp với thực tế bởi bệnh viện đã có phần mềm quản lý liều dùng trong lâm sàng Việc liều dùng chưa hợp lý có thể do nồng độ Creatinin huyết thanh của bệnh nhân thay đổi liên tục nên việc đánh giá chức năng thận có thể sẽ không chính xác, dẫn tới việc đưa liều dùng

có thể không phù hợp trong quá trình điều trị cho bệnh nhân

V KẾT LUẬN

Sau khi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân có mẫu cấy nước tiểu định danh vi khuẩn dương tính tại bệnh viện Đa khoa quốc tế Hải Phòng từ 01/2019-12/2019” theo phương pháp mô tả cắt ngang

dữ liệu từ bệnh án tại bệnh viện năm 2019, nhóm nghiên cứu đưa ra một số kết luận như sau:Tác nhân gây bệnh trong mẫu nghiên cứu chủ yếu là vi khuẩn Gram âm (93.79%),

vi khuẩn Gram dương chiếm tỷ lệ ít hơn với 6.21% E.coli ESBL có tỷ lệ kháng cao nhất với nhóm Beta-lactam: 66% - 98%, tỷ lệ kháng ciprofloxacin cũng ở mức cao: 83.67%, còn nhạy 100% với nhóm carbapenem: ertapenem, imipenem/ cilastatin, meropenem E.coli có tỷ lệ kháng cao nhất với nhóm quinolon: Ciprofloxacin (43.9%), tiếp theo là nhóm cephalosporin kháng 40.78%, còn nhạy cảm với nhóm carbapenem từ 97.56% - 100%, fosfomycin 100%, amikacin 97.62% Nhóm kháng sinh beta-lactam được sử dụng nhiều nhất với 51.51%, trong đó, cephalosporin thế hệ 3 được sử dụng nhiều nhất với 32.44 % Các kháng sinh được dùng chủ yếu là đường tiêm, chiếm 52.31% Có 58.14% bệnh nhân được sử dụng kháng sinh phổ rộng để điều

Trang 7

trị nhiễm khuẩn nhạy cảm Tỷ lệ liều dùng

được sử dụng phù hợp với khuyến cáo là

96.9% Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng

fluoroquinolons đường tĩnh mạch để điều trị

trong khi không có chống chỉ định đường

uống khá cao 48.06% Tỷ lệ sử dụng phác đồ

kháng sinh sau khi cấy định danh vi khuẩn

phù hợp chiếm 85.27% và không phù hợp

chiếm 14.73% Có mối liên quan giữa việc

sử dụng kháng sinh sau khi cấy được vi

khuẩn phù hợp với kết quả điều trị: nguy cơ

có kết quả không đỡ ở nhóm sử dụng kháng

sinh không phù hợp cao gấp khoảng 5 lần ở

nhóm sử dụng kháng sinh phù hợp Không

có khác biệt về mặt thống kê về thời gian

nằm viện trung bình và thời gian sử dụng

kháng sinh trung bình của việc sử dụng

kháng sinh phù hợp và không phù hợp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 eFridkin, S., et al., Vital signs: improving

antibiotic use among hospitalized patients

2014 63(9): p 194

2 Magill, S.S., et al., Prevalence of antimicrobial use in US acute care hospitals,

May-September 2011 2014 312(14): p

1438-1446

3 Van De Sande-Bruinsma, N., et al.,

Antimicrobial drug use and resistance in

Europe 2008 14(11): p 1722

4 Bộ Y Tế, Hướng dẫn sử dụng kháng sinh

2015, Hà Nội: Nhà xuất bản Y học

5 Smieszek, T., et al., Potential for reducing

inappropriate antibiotic prescribing in English

primary care 2018 73(suppl_2): p ii36-ii43

6 Antimicrobial Therapy, I., Sanford guide

collection 2020

7 Spivak, E.S., S.E Cosgrove, and A

Srinivasan, Measuring Appropriate Antimicrobial Use: Attempts at Opening the

Black Box Clin Infect Dis, 2016 63(12): p

1639-1644

8 Vũ Lê Chuyên và cs, Hướng dẫn điều trị

nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở Việt Nam Hội Tiết niệu Thận học Việt Nam, 2013

Ngày đăng: 26/08/2021, 16:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm