1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo án lịch sử tư tưởng phương đông và việt nam

76 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 492 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1

  • LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘ CỔ - TRUNG ĐẠI

    • 1.1. NHỮNG TIỀN ĐỂ CƠ BẢN CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ

      • 1.1.1. Điều kiện kinh tế và lịch sử xã hội

      • 1.1.2. Tiền đề tư tưởng (các bộ kinh Vệ đà và chú giải)

    • 1.2. ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

    • 1. 3. CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

      • 1.3.1. Khái lược về các trường phái chính thống

      • 1.3.2. Khái lược về các trường phái không chính thống

  • Về xã hội: Quan niệm đời là khổ (khổ do bị bóc lột, do thiên nhiên khắc nghiệt…) từ đó chủ trương sống khổ hạnh, thanh thản, tự nguyện chết cho khỏi khổ. Không làm tổn sinh đời sống của sinh vật khác. Chủ trương bất bạo động, không dùng bạo lực để giải quyết các vấn đề chính trị.

    • 1.4. PHẬT GIÁO

      • 1.4.1. Sự ra đời

      • 1.4.2. Thế giới quan Phật giáo

      • 1.4.3. Nhân sinh quan Phật giáo

  • LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRUNG QUỐC CỔ TRUNG ĐẠI

    • 2.1. NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ RA ĐỜI CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC

      • 2.1.1. Điều kiện kinh tế xã hội thời Xuân thu – Chiến quốc

      • 2.1.3. Tiền đề tư tưởng: Thuyết Âm dương – Ngũ hành

    • 2.2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

    • 2.3. CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ ĐẠO ĐỨC Ở TRUNG QUỐC

      • 2.3.1. Nho gia

      • 2.3.2. Đạo gia

      • 2.3.3. Mặc gia

      • 2.3.4. Pháp gia.

  • Chương 3

  • TAM GIÁO TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM

    • 3.1. TƯ TƯỞNG NHO GIÁO Ở VIỆT NAM

      • 3.1.1. Sự du nhập Nho giáo vào Việt Nam thời Bắc thuộc

      • 3.1.2. Bước đầu phát triển Nho giáo thời Lý – Trần

      • 3.1.3. Sự độc tôn Nho giáo thời Lê – Nguyễn

      • 3.1.4. Nho giáo Việt Nam đầu thế kỷ XX

    • 3.2 . TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM

      • 3.2.1. Sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam thời Bắc thuộc

      • 3.2.2. Sự phát triển cực thịnh Phật giáo thời Lý – Trần

      • Các nhà tư tưởng tiêu biểu: Trần Thái Tông (1218-1277) được coi là người đặt nền móng cho sự ra đời của phái Trúc Lâm. Ông có tác phẩm như: Thiền tông chỉ nam, Khoá hư lục, Lục thì sám hối khoa nghi…

    • 3.3. TƯ TƯỞNG ĐẠO GIÁO Ở VIỆT NAM

      • 3.3.1. Sự ra đời và tư tưởng Đạo giáo ở Trung Quốc

      • 3.3.2. Sự du nhập Đạo giáo vào Việt Nam thời Bắc thuộc

      • 3.3.3. Đạo giáo ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

    • 3.4. KHUYNH HƯỚNG TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM

  • MỘT SỐ TÔN GIÁO KHÁC Ở VIỆT NAM

    • 4.1. ĐẠO THIÊN CHÚA

    • 4.2. ĐẠO CAO ĐÀI

  • MỘT SỐ TRÀO LƯU TƯ TƯỞNG VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

    • 5.1. TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ TƯ SẢN

      • 5.1.1. Tư tưởng Phan Bộ Châu

      • 5.1.2. Tư tưởng dân chủ, cải lương Phan Châu Trinh (1872 - 1926)

    • 5.3. SỰ TRUYỀN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC-LENIN VÀO VIỆT NAM

Nội dung

Ấn Độ là một bán đảo lớn thuộc Nam á với diện tích trên 3 triệu km2 có một nền văn minh lâu đời (khoảng 2.500 năm TCN đã có Nhà nước và chữ viết, nhưng họ lại không sử dụng chữ viết vào việc ghi chép những tư tưởng của con người về thế giới mà lại ghi lại những tư tưởng đó vào ký ức, sau đó truyền lại cho người sau bằng miệng, vì vậy một kinh có thể chuyển thành nhiều kinh, hay có sự nhầm lẫn hàng vài thế kỷ) và có một nền triết học đồ sộ. Ấn Độ là một trong ba cái nôi của triết học thế giới...

Lịch sử tư tưởng Ấn Độ cổ - Trung đại

Đặc điểm tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại

Triết học Ấn Độ cổ đại có năm đặc điểm cơ bản như sau:

1 Triết học ấn Độ cổ đại là một nền triết học xuất hiện từ rất sớm – khoảng 2.500 năm TCN Kinh Veda được coi là tác phẩm triết học đầu tiên của triết học Ấn Độ cổ đại

2 Triết học cổ đại Ấn Độ gắn liền với tôn giáo, vì vậy triết học khó tránh khỏi những yếu tố duy tâm, hữu thần.

3 Trong triết học Ấn Độ cổ đại những yếu tố duy vật, và duy tâm, vô thần và hữu thần thường tồn tại đan xen vào nhau, khó nhận thấy Ranh giới giữa CNDV và CNDT còn mờ nhạt, không rạch ròi

4 Triết học Ấn Độ cổ đại ít bàn đến những vấn đề thuộc về bản thể luận, nhận thức luận và lôgic học, mà chủ yếu bàn đến những vấn đền thuộc về con người, về thế giới tâm linh của con người.

5 Trong triết học Ấn Độ cổ đại chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng sơ khai có giá trị như cho rằng thế giới vật chất là vĩnh hằng, nhưng không đứng yên, mà biến chuyển không ngừng từ dạng này sang dạng khác (Samkhya),rằng tồn tại vừa bất biến, lại vừa biến chuyển.

Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại

1.3.1 Khái lược về các trường phái chính thống

1.3.1.1.Trường phái Mimansa : Đây là phái duy vật và vô thần.

Mimansa là một phương pháp tư duy khảo sát nhằm chứng minh sự tồn tại của kinh Vêda, được xây dựng và hệ thống bởi Jamini và hoàn thành bởi Ukurasa Hệ thống này nhấn mạnh giá trị âm thanh của kinh Vêda, cho rằng việc đọc kinh Vêda một cách ấm áp và thân thiết sẽ làm sáng tỏ nhận thức của con người Âm thanh không chỉ mang ý nghĩa mà còn có linh hồn, và âm thanh của kinh Vêda được coi là không sai lệch.

Quan niệm đời người là khổ từ đó đặt ra vấn đề giải thoát con người. Muốn giải thoát phải thực hiện lễ hiến sinh (thiêu sống).

Thế giới quan cho thấy rằng thế giới tồn tại và được phân chia thành các phạm trù cùng thuộc tính của chúng Các phạm trù này bao gồm: Thực thể, như Đất, Nước, Lửa, Gió, Hư không, Thời gian, Không gian, và Linh hồn; Tính chất hay Đức, bao gồm màu sắc, hương vị, xúc giác, số lượng, tính dị biệt, tính kết hợp, tính phân ly, xa, gần, sướng và khổ Ngoài ra, còn có khái niệm về Vận động, với các hình thức như đi lên, đi xuống, co lại, duỗi ra và tiến hành, cùng với các yếu tố Phổ biến, Phi tồn tại và Nội thuộc.

Thế giới được tạo thành từ nguyên tử và vận động nhờ vào luật Kama (nghiệp) Con người bao gồm cả xác và linh hồn, trong đó linh hồn tồn tại trong thể xác và có khả năng rời khỏi thể xác để sống mãi mãi.

Nhận thức luận chỉ ra rằng mục đích và nghĩa vụ của con người là hiểu biết về kinh Vêda, từ đó khám phá nguồn gốc và phương pháp nhận thức Việc này không chỉ giúp con người nâng cao tri thức mà còn định hình cách tiếp cận và lý giải thế giới xung quanh.

Nguồn gốc của nhận thức chủ yếu đến từ “Chứng ngôn,” tức là các âm thanh trong kinh Vêda, bên cạnh đó, kinh nghiệm hàng ngày cũng đóng vai trò quan trọng Có 6 phương pháp nhận thức bao gồm Tri giác, Suy lý, Loại tỷ, Suy định, Chứng ngôn, và Phi tồn tại Những phương pháp này thể hiện quan điểm duy vật và tư tưởng vô thần.

Vedanta, có nghĩa là "kết thúc Veda", là một hệ thống triết học làm sáng tỏ các kinh Vêda, được dịch sang tiếng Trung Quốc là Viên thành Vệ đà Nó tiếp tục phát triển những tư tưởng trong kinh Upanisad, với Badarayana (IITCN) là người biên tập chính Hệ thống này bao gồm 555 câu cách ngôn và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tư tưởng của Bàlamôn giáo và Ấn Độ giáo (Đạo Hindu) Mối liên hệ giữa Vêda, Upanisad, Vedanta và Hindu thể hiện sự phát triển tư tưởng sâu sắc trong văn hóa Ấn Độ.

Brahman được coi là nguồn gốc sáng tạo ra Atman, trong khi Atman là phần tinh thần cá nhân thuộc về Brahman Sự đồng nhất giữa Brahman (tinh thần thế giới) và Atman (tinh thần cá nhân) cho thấy rằng thế giới vật chất chỉ là một ảo ảnh, không có thực, được sinh ra từ sự vô minh Tất cả các yếu tố tự nhiên như đất, nước, lửa, gió và hư không đều xuất phát từ Brahman.

Trong thế giới Brahman là vị thần cao nhất, ngoài ra còn có Visnu là thần giữ gìn, bảo vệ; Shiva thần phá huỷ.

Nhận thức luận: Bàn về ba vấn đề cơ bản sau:

Mục đích của nhận thức là hiểu rõ bản thể trong sự không ổn định và biến đổi liên tục Điều này giúp con người yên tâm sống với tinh thần tự do, từ đó thoát khỏi những chi phối của cuộc sống hàng ngày.

Phương pháp nhận thức bao gồm nội tỉnh, tức là suy nghĩ về những điều mình đã biết, và trực giác, là khả năng hiểu ngay sự vật mà không cần qua quá trình phân tích Để đạt được nhận thức sâu sắc, cần có ý chí và yêu cầu giải thoát, từ đó giúp Atman trở về với Brahman.

Phương pháp giải thoát bao gồm việc tự chủ, kiên định và bình tĩnh để vượt qua mọi cám dỗ trong cuộc sống vật chất Điều quan trọng là luôn giữ vững tư tưởng và tập trung vào mục đích đưa Atman trở về với Brahman.

1.3.1.3 Trường phái Samkhuya: Đây là trường phái có tư tưởng duy vật.

Samkhya nghĩa là số, đếm (Trung Quốc dịch là số luận) Phái này do Kapila xây dựng lên (TK IV TCN).

Thế giới quan: Trung Quốc gọi là số luận vì nó liệt kê, tính toán các yếu tố của thế giới (gồm 24 yếu tố) phân ra thành các loại:

- Ngũ duy: Thanh, xúc, sắc, vị, hương.

- Ngũ đại: Đất, nước, lửa, gió, không khí.

- Ngũ căn: (5 giác quan của con người): mắt, mũi, lưỡi, tai, thân người.

- Ngũ tác căn: hành động của ngũ căn bao gồm: cơ quan phát thanh như họng, lưỡi; cơ quan bài tiết; cơ quan sinh thực khí, tay, chân…

Những người Samkhya gạt bỏ Brahman và phủ nhận sự tồn tại của thần, đồng thời đưa ra thuyết nhân quả, cho rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có nguyên nhân Mỗi loại sự vật đều có nguyên nhân riêng, và trong nguyên nhân đó đã bao hàm kết quả; từ kết quả, chúng ta có thể hiểu được tính chất của nguyên nhân, thể hiện qua câu nói nổi tiếng: “Trồng Sali được Sali, trồng Vrihi được Vrihi” Dựa trên thuyết nhân quả, người Samkhya cho rằng thế giới vật chất có nguyên nhân, coi Prakriti là yếu tố vật chất đầu tiên, nhưng không phải là dạng vật chất cụ thể, mà là một dạng vật chất tinh tế, tiềm ẩn, không thể cảm nhận bằng mắt thường, bao gồm 3 yếu tố.

+ Sattva: nhẹ nhàng, trong sáng, tươi vui.

+ Razas: năng động, kích thích.

+ Tamas: nặng nề, khó khăn.

Mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới đều được hình thành từ ba yếu tố cơ bản Khi Prakriti ở trạng thái không biểu hiện, nó sẽ duy trì sự cân bằng và ổn định Tuy nhiên, khi sự cân bằng này bị phá vỡ, đó chính là khởi đầu cho quá trình vận động và sự tiến hóa của thế giới.

Những người theo phái này cho rằng vật chất là vĩnh hằng nhưng không đứng yên mà biến chuyển không ngừng từ dạng này sang dạng khác.

Nhưng những người Samkhya đã không giữ vững lập trường duy vật này, mà đến hậu kỳ một số người Samkhya lại cho rằng bên cạnh Prakriti còn có

Purusa, hay linh hồn, biểu thị cho thế giới với hai khởi nguyên song song tồn tại Sự kết hợp giữa hai khởi nguyên này tạo ra những sự vật và hiện tượng phong phú trong cuộc sống.

Nhận thức luận: Nhận thức trải qua 3 bước

Tri giác là khả năng nhận thức sự vật xung quanh, nhưng nó có 8 hạn chế quan trọng: không thể nhận thức được những vật ở xa, khó khăn trong việc nhận diện những vật gần, ảnh hưởng từ các giác quan bị hỏng, tâm trạng không ổn định, kích thước quá nhỏ, bị che khuất, sự hiện diện nhưng lại bị ẩn giấu, và sự tương đồng của các vật thể ở cùng một vị trí.

Suy lý: từ biết suy ra cái chưa biết

Để chứng minh một điều, cần thiết phải có các điều kiện sau: trước hết, cần lấy tồn tại của ngoại giới để đối chiếu với nhận thức nhằm xác định tính chính xác; tiếp theo, cần xem xét xem các giác quan có thích ứng với đối tượng ngoại giới hay không; đồng thời, cần phân biệt giữa đối tượng cảm quan và cơ quan cảm quan bằng cách sử dụng tâm trí; cuối cùng, cần dùng "tự ngã ý thức" để đánh giá các vật thể.

Phật Giáo

Phật giáo, một tôn giáo xuất hiện vào cuối thế kỷ VI trước Công nguyên tại miền Bắc Ấn Độ, đã ra đời như một phản kháng mạnh mẽ đối với sự thống trị của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt trong xã hội cổ đại Ấn Độ Tôn giáo này kêu gọi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội, đồng thời lý giải nguồn gốc của nỗi khổ đau và tìm kiếm con đường giải thoát cho nhân loại khỏi vòng luân hồi Người sáng lập Phật giáo là Siddhartha Gautama, hay còn được biết đến với tên gọi Tất Đạt Đa trong tiếng Trung Quốc.

Thích Ca Mâuni, thuộc dòng dõi quý tộc, là con trai của vua Vương quốc Ca – tì – la – vệ (Kapilavastu) hiện nay thuộc Nepal, và mẹ là công chúa của vương quốc lân cận Khi 16 tuổi, ông kết hôn và có một con trai, nhưng không mặn mà với vai trò vua, ông quyết định xuất gia để tìm kiếm con đường cứu thế Ông qua đời ở tuổi 80, theo phong tục Ấn Độ, thi thể ông được hỏa táng, và tro của ông biến thành những viên xá lợi cứng như sắt, lấp lánh như ngọc.

Sau khi Đức Phật qua đời, các đệ tử của Ngài đã tập trung tại thành Rajagriha để tưởng nhớ và ghi chép lại những lời dạy của Ngài Họ đã biên soạn các kinh điển Phật giáo, bao gồm Kinh tạng, Luật tạng và các tác phẩm Luận Những kinh sách này là nền tảng quan trọng cho việc truyền bá và gìn giữ giáo lý của Phật giáo.

Sau 100 năm kể từ khi Đức Phật nhập Niết Bàn, lần kết tập thứ hai diễn ra tại Vaisali, nhưng nội bộ giáo đoàn Phật giáo xuất hiện mâu thuẫn Một số đông mong muốn sửa đổi luật tạng, dẫn đến việc họ bị trục xuất khỏi kết tập Nhóm này tự tổ chức và tự xưng là phái Mahasamghika (Đại chúng bộ), trong khi phái chính thống được gọi là Theravada (Thượng toạ bộ) Từ Đại chúng bộ, những tư tưởng của đại thừa đã bắt đầu hình thành.

Nội dung của triết học Phật giáo vô cùng đa dạng, phong phú bao gồm các quan niệm về vũ trụ, về nhân sinh, về nhận thức…

1.4.2 Thế giới quan Phật giáo

Phật giáo trình bày thuyết nhân duyên sinh, khẳng định rằng thế giới không tồn tại nguyên nhân đầu tiên Tất cả các sự vật và hiện tượng trong thế giới đều gắn liền với mối quan hệ nhân quả.

+ Nhân: là cái đưa đến cái khác.

+ Quả: là cái xuất hiện do nhân sinh ra.

+ Duyên: là điều kiện, hoàn cảnh giúp nhân chuyển thành quả.

VD: Hạt giống  cây (hạt giống: nhân ; cây: quả ; nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm: duyên).

Theo Phật giáo mọi cái đều do nhân duyên mà ra Phật tổ đã từng nói

Chủ pháp tòng duyên sinh và chủ pháp tòng duyên diệt thể hiện mối liên hệ nhân quả vô tận, không có khởi đầu hay kết thúc Mọi sự vật đều có sự liên kết chặt chẽ, không hỗn độn; nhân nào quả nấy, như việc trồng dưa sẽ thu hoạch dưa, trồng đậu sẽ thu hoạch đậu, và trồng cà sẽ thu hoạch cà.

Dựa trên thuyết nhân quả trong Phật giáo, quan niệm về nguyên nhân đầu tiên của thế giới bị phủ nhận, dẫn đến việc bác bỏ Brahman như là đấng tối cao sáng tạo vũ trụ và cũng phủ nhận cả khái niệm Atman.

Phật giáo đưa ra thuyết “Vô thường”, “Vô ngã”, “Vô tạo giả”.

Vô thường là khái niệm chỉ sự không tồn tại vĩnh cửu của mọi sự vật trong thế giới Tất cả đều không bất biến mà luôn trong trạng thái biến đổi liên tục, diễn ra nhanh chóng hơn cả một niệm, được gọi là “niệm niệm vô thường” Tuy nhiên, sự biến đổi này không phải là hỗn độn mà tuân theo một chu kỳ nhất định, được biết đến là “nhất kỳ vô thường”.

VD: Đối với con người: Sinh – lão – bệnh – tử. Đối với sinh vật: Thành – trụ – dị – diệt. Đối với vũ trụ: Thành – trụ – hoại – không.

Sự biến đổi ấy cũng diễn ra theo một trình tự thời gian nhất định từ quá khứ đến hiện tại, đến tương lai.

Theo Phật giáo thế giới là vô cùng, vô tận, không có giới hạn: “Hằng hà, sa số”, nhiều như “cát sông Hằng”.

1 thế giới bao gồm: quả đất, mặt trời, mặt trăng, các tinh tú khác.

1 nghìn thế giới = 1 tiểu thiên vũ trụ.

1 nghìn tiểu thiên vũ trụ = 1 trung thiên vũ trụ.

1 nghìn trung thiên vũ trụ = 1 đại thiên vũ trụ…

Như vậy, mọi cái đều là vô thường, không vĩnh hằng, mà luôn luôn biến đổi (cả con người lẫn thế giới vật chất)

+ Vô ngã: Ngã là cái tôi (con người), vô ngã tức là cái tôi không thường còn.

Ngã (con người) theo quan điểm ngũ uẩn được hợp bởi 5 yếu tố: sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý), thức (ý thức).

Theo quan điểm lục đại con người được hợp bởi 6 yếu tố: Địa (đất), thuỷ (nước), hoả (lửa), phong (gió), không (khoảng không trống rỗng), thức (ý thức).

Con người được hình thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần, nhưng những yếu tố này chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định trước khi tan biến Do đó, không thể có cái tôi vĩnh hằng hay bất tử, bởi vì có sinh thì ắt có tử Như lời dạy trong Phật giáo: “Duyên hợp ngũ uẩn thành ta, duyên tan ngũ uẩn thì ta không còn”, cho thấy rằng mọi thứ đều là vô thường.

Phật giáo khẳng định rằng mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới, bao gồm cả con người, không phải do một lực lượng thần bí nào tạo ra, mà chúng tự vận động và phát triển theo cách riêng của mình.

1.4.3 Nhân sinh quan Phật giáo

Nhân sinh quan Phật giáo được thể hiện trong tứ diệu đế (4 chân lý huyền diệu) gồm Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.

Khổ đế trong Phật giáo nhấn mạnh rằng cuộc sống con người đầy rẫy khổ đau, được thể hiện qua tám nỗi khổ cơ bản: sinh, lão, bệnh, tử, ái thụ biệt ly, oán tăng hội, sở cầu bất đắc và thủ ngũ uẩn khổ.

Tập đế trong Phật giáo chỉ ra rằng nỗi khổ của con người có nguyên nhân rõ ràng, được xác định qua 12 yếu tố gọi là thập nhị nhân duyên, bao gồm: Vô minh, Hành, Thức, Danh – sắc, Lục nhập, Xúc, Thụ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh, và Lão – tử Chuỗi nguyên nhân này tạo thành điều kiện dẫn đến nỗi khổ, bên cạnh đó, nỗi khổ còn phát sinh từ nghiệp báo và vòng luân hồi.

Nghiệp (Karma) là sự tạo tác từ hành động, lời nói và suy nghĩ của con người, gây ra vòng luân hồi tương ứng Con người có ba loại nghiệp: thân nghiệp (hành động), khẩu nghiệp (lời nói) và ý nghiệp (suy nghĩ, tư tưởng) Vòng luân hồi này bao gồm sáu kiếp: Địa ngục, ma đói, súc vật, Atula, người và trời.

Phật giáo tin rằng nỗi khổ của con người có thể được tiêu diệt và mọi người có thể đạt tới trạng thái Niết bàn (Nirvana) – nơi hư vô và tuyệt diệt, chấm dứt vòng luân hồi và nghiệp Đạo đế chỉ ra con đường dẫn đến việc tiêu diệt nỗi khổ, giúp con người vươn tới Niết bàn.

Phật giáo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện đạo đức cá nhân thông qua Bát chính đạo, bao gồm 8 phương pháp cơ bản: chính kiến (hiểu biết đúng về tứ diệu đế), chính tư duy (suy nghĩ đúng đắn), chính ngữ (lời nói chân thực), chính nghiệp (giữ cho nghiệp không bị tác động xấu), chính mệnh (tiết chế dục vọng), chính tinh tiến (rèn luyện và truyền bá chân lý), chính niệm (niềm tin vào sự giải thoát), và chính định (tập trung tư tưởng vào tứ diệu đế và những khái niệm về vô thường, vô ngã).

Ngoài ra còn có con đường tam học: Học giới, học tuệ, học định.

Lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ trung đại

Những tiền đề cơ bản cho sự ra đời của tư tưởng triết học Trung Quốc

2.1.1 Điều kiện kinh tế xã hội thời Xuân thu – Chiến quốc

Từ thế kỷ VIII đến III TCN, xã hội Tây Chu trải qua những biến động lớn, đánh dấu thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc (Đông Chu) Đây là giai đoạn tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và sự hình thành chế độ phong kiến tại Trung Quốc, với Xuân Thu diễn ra từ 771 đến 481 TCN và Chiến Quốc từ 480 đến 221 TCN.

Đồ sắt đã trở nên phổ biến, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền nông nghiệp và thủ công nghiệp, bao gồm các nghề như luyện sắt, rèn, đúc, mộc và làm gốm Kinh tế thương nghiệp cũng bắt đầu hình thành, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều thành phố buôn bán nhộn nhịp như Tần, Hán, Tề và Sở.

Giai cấp quý tộc nhà Chu dần mất vai trò trong chính trị và kinh tế, dẫn đến việc các nước chư hầu không còn chịu khuất phục nữa và thường xuyên xảy ra xung đột Sự giao thoa giữa xã hội cũ và mới tạo ra nhiều mâu thuẫn phức tạp trong xã hội.

2.1.1.3 Về khoa học và văn hoá

Khoa học tự nhiên, bao gồm địa lý, thiên văn, vật lý, toán học, y học, sinh vật học và nông học, đã có những bước tiến vượt bậc, giúp con người hiểu rõ về giải phẫu cơ thể và phát triển các phương pháp chẩn đoán bệnh hiệu quả.

Văn hoá thời kỳ này có nhiều tác phẩm nổi tiếng như “Kinh thi và Sở từ”.

Trong lĩnh vực sử học, có nhiều bộ sử có giá trị như Xuân Thu và Tả Truyện, chúng ghi chép lại tình hình xã hội từ thời Xuân Thu đến đầu Chiến Quốc Những tài liệu này không chỉ cung cấp thông tin lịch sử mà còn phản ánh những biến động xã hội và văn hóa của thời kỳ đó.

Thời kỳ hoàng kim của triết học Trung Quốc, được biết đến với tên gọi “Bách gia chư tử” và “Bách gia tranh minh”, đã chứng kiến sự ra đời của nhiều nhà tư tưởng vĩ đại cùng những học thuyết triết học, chính trị và đạo đức có giá trị.

2.1.2 Các giai đoạn lịch sử phong kiến Trung Quốc

2.1.2.1 Thời kỳ thượng cổ Trung Quốc

2.1.2.2 Hạ, Thương, Tây Chu, Xuân Thu (XXI TCN – V TCN)

2.1.2.3 Chiến Quốc, Tần, Hán (V TCN – III SCN)

2.1.2.4.Tam Quốc, Tây Tấn, Đông Tấn, Nam Bắc triều (III SCN – V SCN) 2.1.2.5 Tùy, Đường, Năm đời ( V SCN – X SCN)

2.1.2.6 Tống, Liêu, Kim, Nguyên (X SCN – XIV SCN)

2.1.2.7 Minh, Thanh ( XIV SCN – XX SCN)

2.1.3 Tiền đề tư tưởng: Thuyết Âm dương – Ngũ hành Đại biểu tiêu biểu của phái này là Trâu Diễn ở TK III TCN.

Người Trung Quốc cổ đại tin rằng thế giới bắt nguồn từ hai yếu tố âm và dương Âm tượng trưng cho bóng tối, trong khi dương đại diện cho ánh sáng Dù âm và dương là hai mặt đối lập, chúng lại thống nhất và ràng buộc lẫn nhau, tạo thành nền tảng cho sự tồn tại của mọi sự vật Hai yếu tố này không chỉ là nguyên nhân cho mọi sự vật mà còn thúc đẩy sự phát triển và biến động trong vũ trụ.

Âm – dương thể hiện qua các cặp đối lập như mặt trời và mặt trăng, sáng và tối, dài và ngắn, rộng và hẹp, nhanh và chậm, nóng và lạnh, quân tử và tiểu nhân, nam và nữ, thông minh và ngu đần Mỗi khía cạnh thuộc về dương hoặc âm, nhưng mọi sự vật và hiện tượng đều là sự kết hợp thống nhất của cả hai Trong dương luôn có âm và ngược lại, âm – dương luôn tương tác và chuyển hóa lẫn nhau, không có gì là thuần âm hay thuần dương.

Có thể biểu thị mối quan hệ âm – dương bằng sau đồ sau:

Phần sáng được gọi là thái dương và phần tối là thái âm, trong đó thái dương có thiếu âm và thái âm có thiếu dương Âm – dương luôn xoay vần và chuyển hóa lẫn nhau; khi thiếu dương trong thái âm phát triển đến mức tối đa, sẽ xảy ra sự chuyển hóa từ âm thành dương, và ngược lại Trong mối quan hệ này, dương được coi là yếu tố chủ đạo.

Năng động và tích cực thường được coi là mặt tích cực, trong khi âm và thụ động lại mang tính tiêu cực Tuy nhiên, để xác định rõ ràng điều gì là tích cực hay tiêu cực, cần xem xét chúng trong bối cảnh, mục đích, địa điểm và thời gian cụ thể.

Người Trung Quốc cho rằng tốt nhất là đạt được sự cân bằng âm – dương, mọi sự thái quá về âm hoặc về dương đều là không tốt.

Âm – dương biểu hiện qua ngũ hành, bao gồm năm yếu tố vật chất cơ bản của vũ trụ: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ Mỗi yếu tố mang những đặc tính riêng: thuỷ (nước) lạnh và chảy xuống thấp; hoả (lửa) nóng và bốc lên cao; mộc (gỗ) có tính đàn hồi; kim (kim loại) phụ thuộc; thổ (đất) nuôi dưỡng hạt giống Ngũ hành luôn vận động, biến đổi và chuyển hoá liên tục thông qua quá trình tương khắc và tương sinh.

Thổ sinh kim, kim sinh thuỷ, thuỷ sinh mộc, mộc sinh hoả, hoả sinh thổ rồi lại thổ sinh kim.

Thổ khắc thuỷ, thuỷ khắc hoả, hoả khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắc thổ là quy luật tương sinh tương khắc trong triết lý ngũ hành của người Trung Quốc, phản ánh sự tương tác giữa các yếu tố tự nhiên Cụ thể, đất (thổ) có khả năng thấm nước và ngăn chặn dòng chảy của nước (thuỷ), trong khi nước có thể dập tắt lửa (hoả) Những quy luật này được hình thành qua quá trình quan sát và tích lũy kinh nghiệm sống lâu dài của người dân.

Những người theo thuyết Ngũ hành dùng 5 yếu tố này để giải thích nguồn gốc, chủng loại của các hiện tượng tự nhiên.

Ngũ sắc: Vàng (do thổ sinh ra) – trắng (do kim) - đen (do thuỷ) – xanh

(do mộc) - đỏ (do hoả).

Ngũ vị: Ngọt (do thổ sinh ra) – cay (do kim) – mặn (do thuỷ) – chua (do mộc) - đắng (do hoả).

Ngũ tạng: Tỳ vị (lá lách, dạ dày) – phế (phổi) – thận – can (gan) – tâm

4 mùa: Xuân (do mộc sinh ra) – hạ (do hoả) – thu (do kim) - đông (do thuỷ) - điều hoà 4 mùa (do thổ).

4 phương: Đông (do mộc sinh ra)– Tây (do kim)– Nam (do hoả)– Bắc

(do thuỷ) – ở giữa các phương (do thổ).

Thuyết âm - dương và ngũ hành giải thích nguồn gốc và vận hành của thế giới từ lập trường duy vật, mặc dù mang tính chất đơn giản và máy móc Nó đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại quan điểm duy tâm tôn giáo và mục đích luận về tự nhiên, đồng thời là cơ sở lý luận cho nhiều phát minh vĩ đại trong khoa học tự nhiên như Thiên văn, Lịch pháp và Y học Tuy nhiên, khi áp dụng vào các vấn đề lịch sử xã hội, các nhà triết học đã làm mất đi tính duy vật và làm nghèo nàn đi tính biện chứng của nó.

Đặc điểm cơ bản của Triết học Trung Quốc cổ đại

Triết học Trung Quốc cổ đại có sáu đặc điểm cơ bản như sau:

1 Triết học Trung Quốc cổ đại là một nền triết học xuất hiện rất sớm (khoảng 2000 năm TCN) đồng thời là một nền triết học đồ sộ, gồm nhiều trường phái khác nhau như: Âm dương gia, Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, Danh gia, Tạp gia, Nông gia, Tung hoành gia.

2 Triết học Trung Quốc cổ đại phát triển mạnh vào thời kỳ tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và bắt đầu hình thành chế độ phong kiến.

3 Triết học Trung Quốc cổ đại đề cập nhiều đến vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức của con người mà ít chú ý nghiên cứu các vấn đề thuộc về bản thể luận, nhận thức luận, lôgic học

4 Triết học Trung Quốc cổ đại nhấn mạnh sự hài hoà thống nhất giữa tự nhiên và xã hội Hầu hết các trường phái đều phản đối cái thái quá, cái bất cập, mà thường xuất hiện các phạm trù: “Thiên nhân hợp nhất”, “Tri hành hợp nhất”, “Thể dụng như nhất”, “Tâm vật dung hợp”.

5 Triết học Trung Quốc cổ đại có lối tư duy trực giác tức là thông qua cảm nhận và thể nghiệm lâu dài, bỗng chốc giác ngộ Vì vậy, các nhà triết học thường coi trọng cái Tâm, coi Tâm là gốc rễ của nhận thức, lấy “Tâm để bao quát vật”.

6 Trong triết học Trung Quốc cổ đại các yếu tố duy vật và duy tâm, vô thần và hữu thần thường tồn tại đan xen vào nhau, nhiều khi rất khó nhận thấy.

Các trường phái triết học, chính trị xã hội và đạo đức ở Trung Quốc

2.3.1.1 Nguồn gốc, sự hình thành và phát triển của Nho gia

Nho giáo, một học thuyết chính trị và xã hội do Khổng Tử sáng lập vào khoảng thế kỷ VI TCN, đã có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Trung Hoa cổ đại và tiếp tục phát triển qua bốn thời kỳ khác nhau.

Nho giáo sơ kỳ, với các nhân vật tiêu biểu như Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử, đã thảo luận về những vấn đề cốt lõi như Nhân, Lễ, Chính danh, bản tính con người và Thiên mệnh Những tư tưởng này không chỉ định hình nền tảng đạo đức mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa và xã hội phương Đông.

Hán Nho, phát triển vào thế kỷ II TCN, với các đại biểu nổi bật như Đổng Trọng Thư, Lưu Hướng và Lưu Hâm, đã đạt đến mức độ cực đoan trong tư tưởng duy tâm Thời kỳ này chứng kiến sự xuất hiện của những khái niệm như “Tam cương, Ngũ thường” và “Thiên nhân tương cảm”, nhằm củng cố vai trò của chế độ phong kiến trung ương tập quyền.

Tống Nho vào thế kỷ X, với các đại biểu như Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, Trương Tải và Chu Hy, đã thảo luận về bản thể của thế giới và vũ trụ Khái niệm chủ yếu trong Tống Nho là “Khí” và “Lý”, đánh dấu sự phát triển của Nho học theo hướng duy tâm khách quan.

Vào thế kỷ XV, Nho học phát triển mạnh mẽ với sự xuất hiện của các trường phái như Vương Dương Minh phái, “Tâm học”, “Bạch Sa phái” và “Hà Đông phái” Thời kỳ này đánh dấu sự chuyển hướng của Nho học theo xu hướng duy tâm chủ quan.

2.3.1.2 Thế giới quan của Nho giáo

Nho gia tin vào khái niệm "Trời" và "Thiên mệnh", theo đó Khổng Tử cho rằng vũ trụ bắt đầu từ một khối hỗn mang mờ mịt, trong đó tồn tại một lý vô hình huyền diệu gọi là Thái cực Thái cực bao gồm hai yếu tố động và tĩnh, thể hiện qua dương và âm, luôn biến đổi lẫn nhau; khi dương đạt đến cực độ, nó chuyển thành âm và ngược lại Từ sự biến đổi này, trời đất và vạn vật được hình thành, phản ánh bản chất không ngừng thay đổi của vũ trụ.

Con người được sinh ra từ trời đất, mang trong mình những phẩm chất quý báu như đức tính của thiên nhiên và khí chất của vũ trụ Tin tưởng vào sự tồn tại của trời như chúa tể của vũ trụ, mọi hoạt động và biến đổi của con người đều phải tuân theo Thiên mệnh Thành bại, thịnh suy trong cuộc sống đều do Thiên mệnh quyết định.

“Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.

Khổng Tử tin rằng có sự hiện diện của quỷ thần, coi đó là khí thiêng liêng của trời đất, mặc dù chúng ta không thể nhìn thấy Ông cho rằng quỷ thần hiện hữu ở khắp nơi, vì vậy cần phải tế lễ với lòng thành kính.

Qua những điều trên cho thấy thế giới quan của Khổng Tử có sự giao động giữa duy vật và duy tâm, vô thần và hữu thần

Mạnh Tử thể hiện sự giao động giữa lập trường duy tâm khách quan và duy tâm chủ quan, trong khi Tuân Tử khẳng định lập trường duy vật khi cho rằng khí là yếu tố vật chất tạo ra thế giới Ông thừa nhận sự tồn tại khách quan của trời theo quy luật, đồng thời nhấn mạnh rằng con người có khả năng quyết định số phận của mình Đổng Trọng Thư lại thể hiện lập trường duy tâm khách quan và tư tưởng hữu thần, cho rằng trời là chúa tể sinh ra vạn vật, và vua cũng do trời ban mệnh để cai trị dân.

2.3.1.3 Học thuyết chính trị - xã hội và đạo đức của Nho giáo

Về chính trị: Các nhà nho đề ra đường lối “đức trị”

Nội dung tư tưởng đức trị của Khổng Tử được thể hiện trong các phạm trù Nhân, Lễ và Chính danh

Khổng Tử coi Nhân, hay đức nhân, là phẩm chất đạo đức cao quý và là khái niệm trung tâm trong học thuyết chính trị - xã hội của ông Nhân đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ giữa con người với nhau và với xã hội.

Luận Ngữ đề cập đến khái niệm nhân nhiều lần, nhưng quan niệm của ông về nhân không đồng nhất Tùy thuộc vào năng lực và phẩm hạnh của từng học trò, ông giảng giải về nhân theo những cách khác nhau Tuy nhiên, có thể tóm gọn khái niệm nhân trong ba nội dung chính.

Nhân được hiểu là yêu thương con người và vạn vật, thể hiện qua khái niệm "ái nhân" mà Phàn Trì đã nhấn mạnh Người có nhân luôn sống với tình yêu thương tự nhiên, không điều kiện, mong muốn sự tốt đẹp cho mọi thứ xung quanh Họ có tâm hồn sáng láng, an lặng và hành xử với lòng thiện, công bằng Ngược lại, người bất nhân chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, với tâm trí mờ tối và hành vi độc ác, dẫn đến sự yêu ghét mù quáng.

Khi học trò Trọng Cung hỏi về nhân, ông đã chia sẻ những nguyên tắc quan trọng: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác), “Kỷ dục đạt nhi đạt nhân” (mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt), và “Kỷ dục lập nhi, lập nhân” (mình muốn lập thân thì cũng giúp người khác lập thân) Tuy nhiên, tư tưởng này cũng thể hiện sự phân biệt giữa các mối quan hệ trên dưới, thân sơ, quý tiện.

Nhân là sự tôn trọng các nguyên tắc kỷ cương xã hội một cách tự giác, và theo ông, "khắc kỷ phục lễ vi nhân" nghĩa là sửa mình theo lễ để đạt được nhân Nhân là nền tảng để phân biệt đúng sai, tốt xấu, phù hợp với đạo nhân Đạt được nhân là đạt đến đạo của người quân tử, trong khi chỉ có người quân tử mới có nhân, còn kẻ tiểu nhân thì không Ông nhấn mạnh rằng, mặc dù người quân tử có thể phạm vào điều nhân, nhưng kẻ tiểu nhân thì chưa bao giờ làm được điều này.

Chữ Lễ có nhiều nội dung quan trọng, bao gồm tế lễ thần thánh, có nguồn gốc từ thời nhà Hạ, Thương, Ân, Chu Lễ không chỉ là nguyên tắc tổ chức hoạt động của nhà nước mà còn là nền tảng cho xã hội, thể hiện qua các câu như “Vi quốc dĩ lễ” và “tề chi dĩ lễ” Lễ tạo ra trật tự, kỷ cương và quy định hành vi của mỗi cá nhân Theo quan điểm của nhiều học giả, nguyên nhân dẫn đến xã hội loạn lạc và vô đạo là do không giữ gìn lễ Do đó, để đạt được bình yên và thịnh trị, việc khôi phục lễ là rất cần thiết Người có lễ sẽ không làm điều gì trái với quy tắc lễ nghĩa.

Lễ còn là nếp sống có văn hoá Khổng Tử nói: “Chiếu trải không ngay ngắn không ngồi”, “Thịt thái không vuông không ăn”.

giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

Một số tôn giáo khác ở Việt Nam

Một số trào lưu tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX

Ngày đăng: 26/08/2021, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Quang Hưng - Một số vấn đề lịch sử Thiên Chúa giáo ở Việt Nam - Tủ sách Đại học Tổng hợp Hà Nội.2 .Nguyễn văn Khánh- Cơ cấu kinh tế -xã hội Việt Nam thời thuộc địa(1858-1945), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa(1858-1945)
Tác giả: Nguyễn văn Khánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
5.3.2. Nội dung tư tưởng cách mạng Việt Nam tiếp thu được trong quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin trước 1930.Những nội dung tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin mà cách mạng Việt Nam tiếp thu được tập trung chủ yếu trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, thể hiện cụ thể ở đường lối, cương lĩnh, điều lệ hoạt động của các tổ chức Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên, ở 3 tổ chức cộng sản sau này.Đường cách mệnh đánh dấu bước đầu rất quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cứu nước ở Việt Nam. Đó là ngọn cờ chỉ đạo cách mạng Việt Nam trong thời kỳ chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và những thời kỳ cách mạng tiếp theo. Tác phẩm đã đặt cơ sở lý luận cho Đảng ta đề ra Cương lĩnh tóm tắt trong Hội nghị hợp nhất, cho Luận cương chính trị 10/1930. Tác phẩm nêu lên những tư tưởng cơ bản sau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường cách mệnh
2. Sự truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam và những tư tưởng cơ bản tiếp thu được từ sự truyền bá này.TÀI LIỆU SINH VIÊN CẦN ĐỌC A. Tài liệu bắt buộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: A
1. Phan Bội Châu – Nhà văn hóa, Nguyễn Đình Chú, trung tâm Văn hóa học 2.Tác phẩm Đường Cách Mệnh, Nxb Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, H 1996 B. Tài liệu tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường Cách Mệnh
Tác giả: Phan Bội Châu, Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Năm: 1996
5.1.2. Tư tưởng dân chủ, cải lương Phan Châu Trinh (1872 - 1926)Phan Châu Trinh hiệu là Tây Hồ, sinh ra trong một gia đình quan lại cũ tại phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Năm 1901 ông đỗ phó bảng rồi ra làm quan với chức Thừa biện bộ Lễ. 1904 gặp Phan Bội Châu, ông từ quan về quê dốc lòng vào công cuộc tìm đường cứu nước Khác
24/2/1930 theo đề nghị của Đông Dương Cộng Sản Liên đoàn, Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã kết nạp Đông Dương Cộng Sản Liên đoàn vào Đảng. Như vậy, 3 tổ chức cộng sản của Việt Nam đã được hợp nhất. Từ đây cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của chính đảng duy nhất đã bước sang một trang mới Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w