1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề tôn giáo ở việt nam và chính sách tôn giáo của đảng và nhà nước

31 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 134 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, tôn giáo đãtrở thành nét đặc trưng trong đời sống tinh thần của một bộ phận nhân dân.Đối với Đảng ta, tôn giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đạiđoàn kết toàn dân

Trang 1

A - MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, ra đời và biến đổi theo sự biếnđộng của điều kiện kinh tế – xã hội Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xãhội, tôn giáo vẫn tồn tại và đã có những chuyển biến nhất định

Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng tôn giáo vàđang có chiều hướng phát triển trên phạm vi cả nước Hiện nay, tôn giáo đãtrở thành nét đặc trưng trong đời sống tinh thần của một bộ phận nhân dân.Đối với Đảng ta, tôn giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đạiđoàn kết toàn dân để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đạihoá đất nước, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủvăn minh” Vì vậy để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước, đòi hỏiĐảng ta phải đổi mới tư duy, và nhìn nhận đúng về vấn đề tín ngưỡng tôngiáo

Hiện nay, tình hình chính trị thế giới và trong nước đang có nhiều biếnđộng phức tạp, các thế lực thù địch đang mưu toan lợi dụng vấn đề tôn giáo

để thực hiện mục đích chính trị Với tình hình đó thì việc nghiên cứu cácchính sách của Đảng và nhà nước về tôn giáo là một điều rất cần thiết để hiểu

rõ vấn đề tôn giáo tại Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Tôn giáo là vấn đề mang tính chính trị và nhạy cảm, đặc biệt trong giaiđoạn hiện nay Xung quanh vấn đề này đã xuất hiện nhiều tranh cãi, nhiềuđánh giá, nhiều quan điểm khác nhau Điều đó cũng chứng tỏ tôn giáo là vấn

đề rất được nhiều người quan tâm

Đã có nhiều văn bản, nghị quyết về chính sách tôn giáo được ban hành

Do vậy quá trình nghiên cứu về vấn đề tôn giáo Việt Nam để thấy được mộtcách tổng quan về những điểm tiến bộ cũng như những điểm hạn chế trongchính sách về tôn giáo Việt Nam nhằm sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện thêm Do

Trang 2

đó, với việc thực hiện đề tài này có thể coi là một công trình khoa học mà các

cơ quan hữu quan cần quan tâm

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Do thời gian có hạn, ở đề tài này chỉ xin nghiên cứu vấn đề tôn giáo ởViệt Nam và chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước nhằm xây dựng khốiđại đoàn kết dân tộc

4 Nhiệm vụ của đề tài

Đề tài này có nhiệm vụ là phân tích được tình hình, đặc điểm của tôngiáo ở Việt Nam Đề tài còn có nhiệm vụ chỉ ra những điểm tiến bộ trongchính sách phát triển tôn giáo của Đảng từ đó đề ra những phương hướng giảipháp để giải quyết vấn đề tôn giáo nhằm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ởViệt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác Lênin và những tài liệu thu thập, tôi sử dụng các phương pháp: Lịch sử kếthợp với lôgic, phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, … để làm

-rõ nội dung nghiên cứu Trong đó phương pháp phân tích là phương pháp chủđạo

6 Ý nghĩa của đề tài

Nội dung nghiên cứu của đề tài có thể làm tư liệu cho việc giảng dạy,nghiên cứu, học tập và có thể làm tài liệu tham khảo của các cơ quan hữuquan về tôn giáo Việt Nam

Đề tài đã chỉ ra một số vấn đề tôn giáo ở nước ta trong thời đại mới Dovậy đã nêu lên được mặt tiến bộ cũng như những hạn chế về vấn đề tôn giáo

từ đó đề ra được những chính sách phù hợp trong tôn giáo ở Việt Nam

Trang 3

B- PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO I- QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO

1 Nguồn gốc, bản chất tôn giáo

1.1 Một số định nghĩa về tôn giáo

Khi bàn đến tôn giáo, thì vấn đề được đặt lên hàng đầu cho những nhànghiên cứu và các nhà hoạt động xã hội là trả lời câu hỏi: Tôn giáo là gì? vàcho đến nay thì các nhà nghiên cứu tôn giáo hay tất cả các nhà thần hcọ cùngchưa có được quan điểm thống nhất với nhau về vấn đề tôn giáo Điều đócàng cho thấy tính chất phức tạp và phong phú của tôn giáo

Phái duy tâm khách quan cho rằng: Tôn giáo là món quà vô giá màthượng đế mang cho con người

Phái duy vật trước Mác: Tôn giáo ra đời từ thời nguyên thuỷ, từ thờimẫu hệ

Quan điểm sinh học lại cho rằng: Tôn giáo như là một sản phẩm bảnnăng, một phản ứng đặc biệt của con người với hoàn canh xung quanh Vàtheo Xphrớt thì tôn giáo là chứng loạn thần kinh tổng hợp về sự ám ảnh dướihình thức tự vệ đối với cảm giác thiếu tin tưởng và đối với sự sợ hãi nội tâm

Theo chủ nghĩa Mác – Lênin thì: Tôn giáo là một hình thái ý thức xãhội, tôn giáo đồng thời là một thực thể xã hội Với tư cách là một hình thái ýthức xã hội tôn giáo phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực kháchquan qua sự phản ánh đó những sức mạnh tự phải của tự nhiên và xã hội đãnhuốm màu sắc thiên nhiên, thần bí

Trong lịch sử phát triển hàng năm của mình, tôn giáo ngày càng lớnmạnh và bao trùm trong đó nhiều yếu tố Tôn giáo không chỉ là một hình thái

ý thức xã hội mà còn là cơ sở hạ tầng xã hội, là kiến trúc thượng tầng xã hội.Khi xét một tôn giáo người ta thường xét đến 3 lĩnh vực chủ yếu

Trang 4

Thứ nhất: Tôn giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội bao gồm:những giáo lý, tư tưởng, quan niệm, tình cảm, tâm lý tôn giáo, … Ở đây tôngiáo hiện ra như một niềm tin vào cái siêu nhiên, hiển hiện dưới hình thứcnhững giáo lý, tín điều, những quy định của tôn giáo.

Thứ hai: Tôn giáo với tính cách là một nghi lễ, nghi thức được thựchành trong đời sống tôn giáo Ở bình diện này tôn giáo thuộc về văn hoá,phong tục, tập quán… nhiền hơn là thuộc về ý thức xã hội

Thứ ba: Tôn giáo với tính cách là các tổ chức, các thiết chế tôn giáo Ởbình diện này tôn giáo cũng có những nhân tố thuộc về ý thức xã hội nhưng

về cơ bản nó thuộc về kiến trúc thượng tầng xã hội

1.2 Nguồn gốc của tôn giáo

Tôn giáo xuất hiện rất sớm trong lịch sử xã hội loài người, sự xuất hiện,phát triển và biến đổi của tôn giáo gắn liền với sự phát triển, của các quan hệkinh tế, chính trị, xã hội, sự xuất hiện và liên đới của tôn giáo bắt nguồn từcác nguồn gốc sau:

1.2.1 Nguồn gốc kinh tế – xã hội

Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, do trình độ lực lượng sản xuất thấpkém, con người cảm thấy yếu đuối và bất lực trước thiên nhiên rộng lớn và bí

ẩn Vì vậy, họ đã gán cho tự nhiên những sức mạnh quyền lực to lớn và thầnthánh hoá những sức mạnh đó Đó chính là hình thức tồn tại đầu tiên của tôngiáo

Khi xã hội xuất hiện những giai cấp đối kháng, bên cạnh cảm giác yếuđuối trước sức mạnh của tự nhiên, con người lại cảm thấy bất lực trước nhữngsức mạnh tự phải của thế lực nào đó của xã hội Không giải thích được nguồngốc của sự phân hoá giai cấp, của áp bức bóc lột, … và của những yếu tốngẫu nhiên, may rủi, con người hướng niềm tin ảo tưởng vào “thế giới bênkia” dưới hình thức tôn giáo

Trang 5

Như vậy sự yếu kém về trình độ phát triển lực lượng sản xuất và sự bầncùng về kinh tế, áp bức về chính trị, thất vọng bất lực trước những bất công

xã hội là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo

1.2.2 Nguồn gốc nhận thức

Các nhà duy vật trước Mác thường nhấn mạnh về nguồn gốc nhận thứccủa tôn giáo Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin lại quan điểmtrước hết đến nguồn gốc kinh tế – xã hội của tôn giáo Tuy nhiên chủ nghĩaMác – Lênin không phủ nhận nguồn gốc nhận thức của tôn giáo mà còn làmsáng tỏ một cách có cơ sở khoa học nguồn gốc đó

Ở những giai đoạn lịch sử nhất định, nhận thức của con người về tựnhiên, xã hội và bản thân mình có giới hạn khoa học, có nhiệm vụ khám phánhững điều chưa biết, song khoảng cách giữa cái đã biết và cái chưa biết luôntồn tại, điều gì mà khoa học chưa giải thích được thì điều đó dễ bị tôn giáothay thế

Sự xuất hiện và tồn tại của tôn giáo gắn liền với đặc điểm nhận thứccủa con người Con người ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn thếgiới khách quan và khái quát hoá thành các phạm trù, khái niệm Nhưng càngkhái quát hoá, trừu tượng hoá đến mức hư ảo thì sự vật, hiện tượng được conngười nhận thức càng có khả năng xa rời hiện thực và dễ phản ánh sai lệchhiện thực Sự nhận thức bị tuyệt đối hoá, cường điệu hoá của chủ thể nhậnthức sẽ dẫn đến sự thiếu khách quan, mất dần cơ sở hiện thực, dễ rơi vào ảotưởng, thần thánh hoá đối tượng

Khi nhấn mạnh đến nguồn gốc nhận thức của tôn giáo là nằm ngaytrong đặc điểm của quá trình nhận thức V.I Lênin viết: Sự phân đôi của nhậnthức của con người và tính khả năng của chủ nghĩa duy tâm, đã có trong cáitrừu tượng đầu tiên, tối sơ…

1.2.3 Nguồn gốc tâm lý

Trang 6

Các nhà duy vật cổ đại đã đưa ra luận điểm “sự sợ hãi sinh ra thầnlinh” V.I Lênin đã tán thành luận điểm đó và phân tích thêm: Sự sợ hãi trướcthế lực mù quáng của tư bản … sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫunhiên” làm họ bị diệt vong… dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốcsâu xa của tôn giáo hiện đại.

Ngoài sự sợ hãi trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội, tín ngưỡng tôngiáo còn làm nảy sinh những tình cảm như lòng biết ơn, sự kính trọng, tìnhyêu trong quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người Đó

là những giá trị tích cực của tín ngưỡng tôn giáo

Tín ngưỡng tôn giáo đã đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phậnnhân dân, góp phần bù đắp những hụt hẫng trong cuộc sống, nỗi trống vắngtrong tâm hồn, an ủi, vỗ về xoa dịu cho các số phận lúc xa cơ lỡ vận

Vì thế, dù tôn giáo chỉ mang đến hạnh phúc hư ảo nhưng nhiều ngườivẫn tin, vẫn bám víu vào Các Mác đã nói: “tôn giáo là trái tim của giới không

có trái tim, cũng giống như nó là một tinh thần của trạng thái xã hội không cótinh thần”

Như vậy, sự xuất hiện của tôn giáo không phải là một hiện tượng ngẫunhiên mà nó có nguồn gốc từ những điều kiện cụ thể của kinh tế – xã hội, từnhận thức và từ tình cảm của con người khi giải quyết những mối quan hệ với

tự nhiên và xã hội Trong đó nhân tố kinh tế – xã hội luôn giữ vai trò quyếtđịnh trong sự hình thành, tồn tại, phát triển của tôn giáo

1.3 Bản chất của tôn giáo

1.3.1 Tính lịch sử của tôn giáo

Bản thân các tôn giáo khi mới ra đời thì mang tính chính trị nhữngtrong xã hội có giai cấp đối kháng thì càng ngày lợi ích của giai cấp chính trịcũng được thể hiện trong các tôn giáo

Ngày nay tôn giáo đang còn có chiều hướng phát triển đa dạng, phứctạp không chỉ thể hiện tính tự phát của nhân dân, mỗi địa phương, mỗi quốc

Trang 7

gia… mà còn có tổ chức ngày càng chặt chẽ rộng lớn ngoài phạm vi địaphương, quốc gia Và trên thực tế, tôn giáo đã và đang bị các thế lực chính trị– xã hội lợi dụng cho việc thực hiện các mục đích ngoài tôn giáo của họ.

1.3.2 Tính chính trị của tôn giáo

Bản thân các tôn giáo khi mới ra đời thì mang tính chính trị nhưngtrong xã hội có giai cấp đối kháng thì càng ngày lợi ích của giai cấp chính trịcũng được thể hiện trong các tôn giáo

Ngày nay tôn giáo đang còn có chiều hướng phát triển đa dạng, phứctạp không chỉ thể hiện tính tự phát của nhân dân, mỗi địa phương, mỗi quốcgia… mà có thể tổ chức ngày càng chặt chẽ rộng lớn ngoài phạm vi địaphương, quốc gia và trên thực tế, tôn giáo đã và đang bị các thế lực chính trị– xã hội lợi dụng cho việc thực hiện các mục đích ngoài tôn giáo của họ

1.3.3 Tính quần chúng của tôn giáo

Tính quần chúng của tôn giáo trước hết được biểu hiện ở một số lượngtín đồ đông đảo của tôn giáo Hiện nay tín đồ của các tôn giáo chiếm tỷ lệ khácao Khoảng 1/3 đến 1/2 dân số thế giới

Mặc khác tính quần chúng của tôn giáo còn thể hiện ở chỗ các tôn giáo

là nơi sinh hoạt văn hoá, tinh thần của một bộ phận lớn quần chúng lao động

Dù tôn giáo hướng con người có niềm tin vào hạnh phúc hư ảo của thế giớibên kia song nó luôn phản ánh khát vọng của tầng lớp bị áp bức về một xã hội

tự do, bình đẳng, bác ái… Bởi vì tôn giáo thường có tính nhân văn, nhân đạo

và hướng thiện Vì vậy rất nhiều người ở trong các tầng lớp khác nhau của xãhội tin theo

2 Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về giải quyết vấn đề tôn giáo.

Chủ nghĩa Mác – Lênin coi tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội,phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan Nhưng chủnghĩa Mác – Lênin cũng thừa nhận vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội,

Trang 8

thừa nhận tôn giáo là một hiện tượng xã hội còn tồn tại lâu dài, đồng thời tôntrọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân Theo chủnghĩa Mác – Lênin, để giải quyết vấn đề tôn giáo cần gắn liền với quá trìnhvận động cách mạng, cải biến xã hội và nâng cao nhận thức của quần chúng.Trên quan điểm đó, chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải quyết đúng đắn vấn đề tôngiáo, cụ thể là:

2.1 Khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo gắn liền với cuộc vận động của toàn dân đoàn kết cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.

Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định: Do tôn giáo là một hình thái ýthức xã hội, nên để thay đổi ý thức xã hội trước hết cần làm thay đổi tồn tại xãhội Muốn xoá bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người phải xoá bỏnguồn gốc gây nên ảo tưởng mới Đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cựccủa tôn giáo là đấu tranh với cái thế giới đang cần có ảo tưởng chứ khôngphải là trực tiếp tấn công vào thần thánh và những biểu hiện tiêu cực của tôngiáo là đấu tranh với cái thế giới đang cần có ảo tưởng chứ không phải là trựctiếp tấn công vào thần thánh và những biểu hiện tín ngưỡng khác Muốn xoá

bỏ những ước mơ về thiên đường hư ảo ở “thế giới bên kia” thì con người cầnphải từng bước xây dựng “thiên đường” có thực trên trần gian Đó là một quátrình lâu dài, gắn liền với công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới,nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và trí tuệ cho con người

Để khắc phục có hiệu quả những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phảikiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ vì sự khácnhau về tín ngưỡng tôn giáo

Ngoài ra để khắc phục những yếu tố tiêu cực của tôn giáo cũng cầnquan tâm đến cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, coi trọng tuyên truyềngiáo dục thế giới quan duy vật biện chứng, phương pháp luận khoa học choquần chúng nhân dân các tín đồ

2.2 Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân

Trang 9

Trong chủ nghĩa xã hội, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng được xem làmột nguyên tắc Quyền ấy được thể hiện về mặt pháp lý và trên thực tiễn.Những người cộng sản luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng củaquần chúng theo tôn giáo cũng như quyền không theo một tôn giáo nào.

Bất kỳ ai cũng được hoàn toàn tự do theo hoặc không theo những tôngiáo nào Nhà nước xã hội chủ nghĩa thừa nhận và đảm bảo cho mọi công dân

có hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo đều được bình đẳng về quyền lợi vànghĩa vụ các tôn giáo được nhà nước thừa nhận đều bình đẳng trước phápluật

Đồng thời nhà nước cũng nghiêm cấm những kẻ lợi dụng tôn giáo tínngưỡng để hành nghề mê tín dị đoan và những âm mưu lợi dụng tôn giáo vìnhững mục đích chính trị phản động

2.3 Phải có quan điểm lịch sử

Cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo ở những thời kỳ lịch sử khácnhau, vai trò tác động của tôn giáo đối với đời sống xã hội không giống nhau

Vì vậy khi thực hiện nhất quán nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đổi xử,cần phải có quan điểm lịch sử – cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đốivới những vấn đề liên quan đến tôn giáo Bởi có những tôn giáo khi mới xuấthiện được xem như là một phong trào bảo vệ lợi ích của người nghèo người

bị áp bức và nô lệ Nhưng rồi tôn giáo ấy lại biến thành công cụ của giai cấpthống trị bóc lột

2.4 Phải phân biệt ở mặt chính trị và tư tưởng trong vịêc giải quyết vấn đề tôn giáo

Mặt tư tưởg thể hiện sự tín ngưỡng trong tôn giáo Khắc phục mặt này

là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài gắn liến với quá trình xây dựng chủ nghĩa

xã hội

Mặt chính trị thể hiện sự lợi dụng tôn giáo để chống lại sự nghiệp đấutranh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những phần tử phản động đội lốt tôn giáo

Trang 10

Đấu tranh loại bỏ mặt chính trị phản động là nhiệm vụ thường xuyên đòi hỏiphải nâng cao cảnh giác kịp thời chống lại những âm mưu và hành động củacác thế lực thù địch Giải quyết vấn đề này vừa phải khẩn trương, kiên quyếtvừa thận trọng và có sách lược đúng.

II- TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VẤN

ĐỀ TÔN GIÁO

1 Tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo

1.1 Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tôn giáo như một di sản văn hoá của loài người

Vào những ngày đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Ngườiviết:

“ Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cánhân,

Tôn giáo của của chúa Giê – su có ưu điểm là lòng bác ái cao cả

Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp biện chứng

Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách “Tam dân” thích hợpvới điều kiện nước ta”

Khổng Tử, Giê – Su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểmchung đó sao? Các vị ấy đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầuhạnh phúc chung cho xã hội Nếu các vị ấy còn sống trên cõi đời này, nếu các

vị ấy họp lại một chỗ, tôi tin rằng các vị ấy nhất định sống chung với nhau rấthoàn mỹ như những người bạn thắm thiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏcủa các vị ấy”

Dĩ nhiên, Người khẳng định những lý tưởng cao đẹp của các tôn giáo,hoàn toàn không có nghĩa Người đồng nhất thế giới quan duy vật và thế giớiquan duy râm Người đã từng nói rằng “Chủ nghĩa duy linh và chủ nghĩa duyvật là ngược nhau rõ ràng là thế” Nhưng Người cũng chỉ ra rằng: Không phải

Trang 11

vì vậy mà bài xích, nghi kỵ, đối đầu nhau; cần phải tôn trọng tự do tínngưỡng.

Như vậy, chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ giá trị nhân bản của tôn giáo; lýtưởgn của tôn giáo có nhiều khía cạnh phù hợp với lý tưởng của người cộngsản, cũng như đạo đức của tôn giáo có nhiều điều mang ý nghĩa tích cực trongviệc giáo dục con người mới

1.2 Tôn trọng tự do tín ngưỡng và nhu cầu tôn giáo của nhân dân.

Ngày 3-9-1945, chỉ 1 ngày sau khi tuyên bố nước Việt Nam độc lập, tạiphiên họp đầu tiên của chính phủ, Người nêu 6 nhiệm vụ cấp bách của nhànước Việt Nam dân chủ cộng hoà Về nhiệm vụ thứ 6, Người nói: “Thực dân

và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương,

để dễ bề thống trị Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do vàlương giáo đoàn kết”

Hiến pháp đầu tiên của nhà nước dân chủ công hoà Việt Nam và lờikêu gọi toàn quốc kháng chiến của Người cũng khẳng định tư tưởng đó Ngày3-3-1951 trong lời phát biểu kết thúc buổi ra mắt của Đảng lao động ViệtNam, Người nêu rõ: “Chúng tôi xin nói thêm 2 điểm, nói rõ để tránh mọi sự

I của sắc lệnh là: : “Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng” và điều 1 khẳng định:

“Chính phủ bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng và tự do thờ cũng của nhân dân.Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy Mỗi người Việt Nam đều có quyền

tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào”

Tư tưởng đó nhất quán từ trước đến sau và Người đã thể hiện nó mộtcách chân thành, có hiệu quả to lớn

Trang 12

1.3 Đoàn kết, không phân biệt lương – giáo

Nhận thức rõ giá trị nhân văn của tôn giáo, từ tôn trọng tự do tínngưỡng, Người đã thực hiện đoàn kết toàn dân để tiến hành cách mạng cứunước, cứu nhà, xây dựng cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc Đoàn kết khôngphân biệt lương – giáo là một bộ phận trong tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đạiđoàn kết” của Hồ Chí Minh Người luôn ân cần thăm hỏi, nhắc nhở đồng bàocông giáo thực hiện tốt lòng kính chúa và yêu nước, tức là giải quyết tốt mốiquan hệ giữa tín đồ và công dân, việc đạo và việc đời

Tháng 8/1962, Người đến thăm một lớp mặt trận do Mặt trận Trungương tổ chức Tại đây về vấn đề tôn giáo, Người nói rõ với anh, chị em họcviên: “Phải đoàn kết chặt chẽ đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùngnhau xây dựng đời sống hoà thuận, ấm no, xây dựng Tổ quốc Phải chấp hànhđúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng đối với tất cả các tôn giáo”

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định rằng “lương giáo đoàn kết,toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi trongcông cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc và xây dựng mộtnước Việt Nam hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”

Tuy nhiên, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng kiên quyết phê phán nhữnghành vi lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tín ngưỡng để kích động hoạt độngchống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân, xâm phạm lợi ích chung củađất nước, của dân tộc

Như vậy, với lòng nhân ái bao la, bằng trí tuệ sáng suốt của mình, chủtịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những bài học vô giá về nhận thức vàphương pháp xử lý các vấn đề tôn giáo Những bài học đó vấn giữ nguyên giátrị đối với toàn Đảng, toàn dân ta trong công tác tôn giáo hôm nay Đứngtrước những thời cơ mới, vận hội mới của đất nước, trước đòi hỏi về sự ổnđịnh xã hội và đoàn kết toàn dân, những bài học mà chủ tịch Hồ Chí Minh để

Trang 13

lại càng có ý nghĩa hết sức to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcgiàu đẹp.

2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác tôn giáo

Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh về vấn đề tôn giáo, trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảngcộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề tôn giáo, coi đó là vấn đề chiếnlược có ý nghĩa quan trọng Tính nhất quan trong quan điểm, chính sách củaĐảng về tôn giáo thể hiện ở sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡngcủa nhân dân

Ngay từ những ngày đầu cách mạng, trong chỉ thị về việc thành lập hộiphản đế đồng minh ngày 18/11/1930, Đảng đã nêu rõ: “Phải đảm bảo quyền

tự do tín ngưỡng của quần chúng” Và trong chương trình hành động của Mặttrận Việt Minh (1941) đã ghi rõ: “Thi hành phổ thông đầu phiếu, ban hànhcác quyền tự do dân chủ như tự do xuất bản, tự do ngôn luận, tự do tínngưỡng…”

Vì vậy khi cách mạng tháng Tám 1945 thành công, quyền tự do tínngưỡng tôn giáo được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên của nước Việt Namdân chủ cộng hoà (1946): “Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự

do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng…”

Có thể khẳng định rằng: Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,với chính sách “Tín ngưỡng tự do, lương – giáo đoàn kết” của Hồ Chí Minh

và Đảng ta đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đoàn kết toàn dân đấu tranhdành độc lập, tự do cho đất nước

Bước sang thời kỳ đổi mới nói chung, Đảng cộng sản Việt Nam đã cónhững quan điểm mới về vấn đề tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo, thẻhiện rõ trong: Nghị quyết 24 của Bộ chính trị (1990); Cương lĩnh xây dựngđất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991); Hiến pháp (1992)

và trong các văn kiện Đại hội Đảng, chỉ thị của Đảng Đặc biệt, tại hội nghị

Trang 14

lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (3/2003) Đảng cộng sảnViệt Nam đã ban hành nghị quyết 25-NQ/TW về công tác tôn giáo với nhữngquan điểm, chính sách thiết thực nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thầncủa đồng bào có đạo, tăng cường đoàn kết lương giáo Điều đó, khẳng định sựđổi mới trong tư duy, nhìn nhận và đánh giá đúng đắn vấn đề tín ngưỡng tôngiáo của Đảng ta.

Trang 15

Chương II VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA

ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

I VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

1 Các tôn giáo ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có nhiều tín ngưỡng tôn giáo Với vị trí địa

lý nằm trong khu vực Đông Nam Á và 3 mặt giáp biển, Việt Nam rất thuậnlợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việcthâm nhập các luồng văn hoá, các tôn giáo trên thế giới

Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc ở phương Đông như:Phật giáo, lão giáo, nho giáo Có tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như:Thiên chúa giáo, tin lành Có tôn giáo được sinh ra tại Việt Nam như Cao đài,Phật giáo Hoà Hảo Có những tôn giáo hoàn chỉnh, cũng có những hình thứctôn giáo sơ khai Có những tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định, cónhững tôn giáo chưa ổn định đang trong quá trình kiếm đường hướng mới chophù hợp

Ước tính ở Việt Nam hiện nay có khoảng 80% dân số có đời sống tínngưỡng tôn giáo, trong đó có khoảng 20 triệu tín đồ tôn giáo đang hoạt độngbình thường, ổn định, chiém 25% dân số:

1.1 Phật giáo:

Phật giáo ở Việt Nam có gần 10 triệu tín đồ, có mặt hầu hết ở các tỉnh,thành phố trong cả nước, trong đó tập trung đồng nhất ở Hà Nội, Bắc Ninh,Nam Định, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Đồng Nai,Lâm Đông, Cần Thơ…

Phật giáo truyền vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên Thời

kỳ đầu phật giáo được truyền bá vào Việt Nam chủ yếu trực tiếp từ Ấn Độqua đường biển cùng với các thương nhân, một số tăng sỹ Ấn Độ Nơi sinhhoạt tôn giáo của phật giáo là chùa Quy mô của mỗi ngôi chùa khác nhau,

Ngày đăng: 26/08/2021, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quá trình CNXH khoa học, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình CNXH khoa học
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
2. Giáo trình triết học Mác – Lênin, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác – Lênin
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
3. Về công tác tôn giáo, Chính trị quốc gia Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công tác tôn giáo
4. Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của ĐCSVN, Chính trị quốc gia Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của ĐCSVN
5. Tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam (hỏi và đáp), NXB Quân đội nhân dân – Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam (hỏi và đáp)
Nhà XB: NXBQuân đội nhân dân – Hà Nội 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w