1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU các điều KIỆN có HIỆU lực của hợp ĐỒNG dân sự THỰC tế một số TRƯỜNG hợp của hợp ĐỒNG dân sự vô HIỆU

22 59 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 103,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khuôn khổ của một bài tiểu luận, tác giả không có tham vọng trìnhbày tất cả các vấn đề liên quan tới chế định hợp đồng dân sự mà chỉ xin tậptrung làm sáng tỏ một vài điểm theo chủ

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG SƠ KHẢO

Môn: LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

Kính gửi giảng viên: Nguyễn Thị Tuyết

Tên đề tài: TÌM HIỂU CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THỰC TẾ MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỦA HỢP ĐỒNG

DÂN SỰ VÔ HIỆU

1 Lý do chọn đề tài

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3 Phương pháp nghiên cứu

4 Bố cục của tiểu luận

I NHẬN THỨC CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG

1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng dân sự

2 Quan hệ giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại

3 Vị trí của chế định hợp đồng dân sự

4 Vai trò của chế định hợp đồng dân sự

II CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG

1 Điều kiện chủ thể

2 Điều kiện về mặt ý chí của các bên tham gia hợp đồng

3 Điều kiện mục đích và nội dung của hợp đồng

4 Điều kiện về hình thức của hợp đồng

III THỰC TẾ MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU, VAI TRÒCỦA VIỆC QUY ĐỊNH ĐIỀU KIỆN VÔ HIỆU CỦA HỢP ĐỒNG

1 Vi phạm điều kiện về chủ thể:

2 Vi phạm điều kiện về ý chí và sự tự nguyện của các bên

Trang 2

3.vi phạm về nội dung và mục đích của hợp đồng trái pháp luật va đạo đức xãhội.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb Chính trị Quốc gia 2005

2 Bộ luật dân sự năm 1995, Nxb Lao động xã hội 1996

3 Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2, Nxb Công an nhân dân 2008

4 Hiến pháp Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1992 (bổ sung,sửa đổi năm 2001), Nxb Chính trị Quốc gia, 2005

5 Hoàng Lê, 101 hỏi đáp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb

Lao động, 2007

6 Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận các hợp đồng thông dụng trong Luật

dân sự Việt Nam, Nxb Trẻ - TP HCM 2006

7 Nguyễn Ngọc Khánh, Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt

Nam, Nxb Tư pháp 2007

8 Nguyễn Mạnh Bách, Luật dân sự Việt Nam( lược khảo) - Tài sản và

quyền sở hữu, Nxb Lao động xã hội

9 Phan Thông Anh - Công ty Luật hợp danh Việt Nam, Những sửa đổi

bổ sung cơ bản của Bộ luật dân sự Việt Nam 2005, nxb Lao động, 2007

10 Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1996

Website:

Thongtinphapluatdansu.wordpress.com

Trang 3

www.vietlaw.gov.vn

www.luathoc.vn

www.google.com

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Hợp đồng là một trong những chế định luật đóng vai trò xương sống trongngành luật tư của bất kỳ một quốc gia nào Trong hệ thống pháp luật của ViệtNam, đặc biệt là trong ngành luật dân sự, chế định hợp đồng là chế định trụ cột.Những quy định của nó có đối tượng và phạm vi điều chỉnh tương đối rộng, baotrùm lên nhiều mối quan hệ kinh tế xã hội khác nhau Do vậy, tìm hiểu các quyđịnh của pháp luật về hợp đồng là vô cùng cần thiết Vì gần như tất cả nội dungcủa mối quan hệ pháp luật được xác lập đều được thể hiện trực tiếp hay gián tiếpthông qua hợp đồng nên hợp đồng được coi là hình thức pháp lý của mối quan

hệ pháp luật Các vấn đề liên quan tới hợp đồng dân sự tương đối rộng và đadạng Trong đó, vấn đề điều kiện có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa thiết thựckhông chỉ đối với các chủ thể của hợp đồng mà còn có ý nghĩa sâu sắc cho quátrình áp dụng và thực thi luật, đặc biệt là rất hữu dụng cho những học viên đanghọc nghề luật và chuẩn bị cho các vị trí công tác liên quan tới việc giải thích vàthực thi luật Đó cũng chính là lý do tác giả bài tiểu luận đi sâu nghiên cứu đề tài

“ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự”

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.

Trong khuôn khổ của một bài tiểu luận, tác giả không có tham vọng trìnhbày tất cả các vấn đề liên quan tới chế định hợp đồng dân sự mà chỉ xin tậptrung làm sáng tỏ một vài điểm theo chủ quan của tác giả là quan trọng liên quantới các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, từ đó đề xuất một số điểm cần lưu ý

về các quy định của pháp luật đối với các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồngcũng như đối với những người thực thi pháp luật, đặc biệt là đối với các thẩmphán khi giải quyết vụ án dân sự liên quan tới vấn đề này

3 Phương pháp nghiên cứu

Trang 5

Bài tiểu luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phântích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, so sánh đối chiếu, quy nạp, diễndịch

4 Bố cục của tiểu luận

Ngoài mục lục, phần mở đầu và kết luận, bài tiểu luận được kết cấu thànhbốn phần la mã và trong từng phần đó, tác giả bài viết đã tiến hành nghiên cứu

và tìm hiểu và phân tích chi tiết những vấn đề liên quan đến chế định hợp đồngdân sự

Trong phạm vi bài viết này, mặc dù đã hết sức cố gắng tìm hiểu và nghiêncứu nhưng do lượng kiến thức tích luỹ được chưa nhiều, nhiều vấn đề còn thiếuthực tế, khả năng nhận thức còn hạn chế Vì vậy, trong bài viết này em khó cóthể tránh khỏi được những thiếu sót Do đó, em rất mong nhận được sự thôngcảm của các thầy cô giáo

Em xin chân thành cám ơn!

Trang 6

I NHẬN THỨC CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG

1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng dân sự.

Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổihoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Ý chí và bầy tỏ ý chí của các bên là tiền đề để đưa đến sự thoả thuậnnhằm hình thành một hợp đồng Mọi hợp đồng (bất luận là loại hợp đồng nào)đều là sự thoả thuận nhưng không phải sự thoả thuận nào của các bên cũng đều

là hợp đồng

Ở hầu hết pháp luật các quốc gia trên thế giới đều xem xét một thoả thuậnđược coi là hợp đồng khi đáp ứng được các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, sự thoả thuận phải phù hợp với ý chí đích thực của các bên Để

có một hợp đồng ý chí của các bên phải gặp nhau tại một điểm thể hiện sự ưngthuận đích thực giữa các bên Các bên thực sự mong muốn hướng đến điều đó(tính nghiêm túc, đích thực của các bên) Tuy nhiên, sự ưng thuận đích thực đócủa các bên cũng phải hợp lẽ công bằng, không trái pháp luật, đạo đức xã hội.Mọi giao kết dưới sự tác động của lừa dối, đe doạ, cưỡng bức đều xa lạ với bảnchất của hợp đồng và cho dù có sự thoả thuận cũng không được coi là hợp đồng(đều đưa đến sự vô hiệu của hợp đồng)

Thứ hai, sự thoả thuận của các bên phải nhằm vào đối tượng xác định.Mọi hợp đồng phải có đối tượng xác định, cụ thể Không thể có một hợp đồng

mà đối tượng được các bên thoả thuận hướng đến lại mơ hồ, chung chung không

có tính xác thực Vì vậy, đối tượng mà các bên nhằm tới phải cụ thể, xác thực vàphải có tính hợp pháp Ví dụ đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá là hànghoá trong thương mại, cũng có thể đối tượng của hợp đồng là những hành vi,công việc cụ thể Đó phải là những công việc thực tế, tức là có thể thực hiệnđược và không trái pháp luật, đạo đức xã hội

Trang 7

Thứ ba, sự thoả thuận này phải được thực hiện bởi người có năng lựchành vi dân sự và có thẩm quyền đại diện Pháp luật của các nước khác nhau cóthể khác nhau trong việc xác định độ tuổi của người có năng lực hành vi dân sự.Pháp luật của các quốc gia đều không thừa nhận hiệu lực của những hợp đồng

do người không có năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sựxác lập, thực hiện Ngoài ra, những thoả thuận của người tuy có đầy đủ năng lựchành vi dân sự nhưng không có thẩm quyền đại diện (theo quy định của phápluật hoặc theo uỷ quyền) thì cũng không phát sinh hiệu lực pháp luật

Thứ tư, sự thoả thuận đó phải được đặt trong hình thức thích hợp Ngoàicác yêu cầu nêu trên, để một thoả thuận được coi là hợp đồng thì sự thoả thuận

đó phải được đặt trong hình thức thích hợp phù hợp với ý chí chung của nhànước Pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới coi hình thức của thoả thuận làđiều kiện để xem xét tính hiệu lực của thoả thuận đó Nếu pháp luật quy địnhphải tuân thủ những hình thức nhất định mà thoả thuận của các bên không tuânthủ đúng hình thức thì thoả thuận đó bị vô hiệu Ngược lại, một số nước khôngcoi hình thức là điều kiện xác định hiệu lực của hợp đồng (điển hình như Pháp)

do vậy hình thức của thoả thuận chủ yếu có ý nghĩa chứng minh (chứng cứ) màkhông có ý nghĩa xác định hiệu lực của hợp đồng

Như vậy, bản chất pháp lý của mọi hợp đồng đều là sự thoả thuận nhưngkhông phải mọi sự thoả thuận đều là hợp đồng mà muốn được coi là hợp đồng,thoả thuận đó phải thoả mãn những điều kiện nhất định

2 Quan hệ giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại.

Theo pháp luật hiện hành, Việt Nam tồn tại 2 loại hợp đồng là hợp đồngthương mại và hợp đồng dân sự Trước đây, tồn tại loại hợp đồng kinh tế theopháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 song văn bản này đã hết hiệu lực thi hành

Bộ luật dân sự đưa ra khái niệm hợp đồng dân sự ở mức độ khái quát,mang bản chất của hợp đồng nói chung không phụ thuộc mục đích của các bêntham gia quan hệ hợp đồng Điều 394 Bộ luật dân sự quy định: "Hợp đồng dân

Trang 8

sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt cácquyền và nghĩa vụ dân sự" Theo quy định của luật thương mại, ngoài các đặcđiểm của hợp đồng nói chung, hợp đồng thương mại còn có một số đặc trưngpháp lý riêng biệt để phân biệt với hợp đồng dân sự về chủ thể hợp đồng, vềmục đích xác lập hợp đồng …

- Về chủ thể của hợp đồng: trong hợp đồng thương mại phải có ít nhấtmột bên là các thương nhân

- Về mục đích của hợp đồng: Mục đích của các bên trong hợp đồngthương mại là mục đích kinh doanh Mục đích kinh doanh được hiểu là mongmuốn hướng đến lợi nhuận, lấy lợi nhuận làm mục tiêu cho hành động của cácbên tham gia giao kết hợp đồng Trong khi đó, theo cách tiếp cận khi xây dựng

Bộ luật dân sự , khái niệm hợp đồng dân sự đã được mở rộng, bao trùm lên tất

cả mọi lĩnh vực, mọi chủ thể và mọi mục đích sinh hoạt, tiêu dùng, thuê laođộng hay kinh doanh Trong điều kiện đó, hợp đồng thương mại không còn làhợp đồng độc lập bên cạnh hợp đồng dân sự mà được coi là dạng đặc thù củahợp đồng dân sự trong các lĩnh vực kinh doanh Nó mang đầy đủ các đặc điểmcủa hợp đồng dân sự và chứa đựng thêm một vài nét đặc thù Điều này phù hợpvới quan điểm lập pháp của Việt Nam khi xây dựng Bộ luật Dân sự 2005 với tưcách là luật chung áp dụng cho mọi giao dịch trong đời sống, Luật Thương mại

2005 với tư cách là đạo luật riêng Những yếu tố không được quy định tại LuậtThương mại 2005 sẽ được điều chỉnh bởi các điều khoản của Bộ luật dân sự

Xác định đúng đắn mối quan hệ giữa hợp đồng thương mại với hợp đồngdân sự không chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thựctiễn to lớn Xác định được mối quan hệ này không chỉ giúp chúng ta lựa chọnchính xác nguồn luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong kinh doanh mà còn tạo

cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng nói chung và phápluật về hợp đồng trong kinh doanh nói riêng

3 Vị trí của chế định hợp đồng dân sự.

Trang 9

Như đã phân tích ở trên, hợp đồng là một trong những chế định luật đóngvai trò xương sống trong ngành luật tư của bất kỳ một quốc gia nào Trong hệthống pháp luật của Việt Nam, đặc biệt là trong ngành luật dân sự, chế định hợpđồng là chế định trụ cột Những quy định của nó có đối tượng và phạm vi điềuchỉnh tương đối rộng, bao trùm lên nhiều mối quan hệ kinh tế xã hội khác nhau.Như vậy, chế định hợp đồng dân sự có vị trí đặc biệt quan trọng trong lĩnh vựcdân luật tại các nước trên thế giới nói chung và ở tại Việt Nam nói riêng.

4 Vai trò của chế định hợp đồng dân sự

Từ vị trí hết sức quan trọng của chế định hợp đồng dân sự trong hệ thốngpháp luật Việt Nam nên nó cũng sẽ có vai trò hết sức to lớn trong đời sống và xãhội Chế định này nó đã góp phần điều chỉnh các quan hệ dân sự hàng ngày, nó

đã tạo ra khung pháp lý cần thiết và quan trọng cho các dao dịch dân sự diễn rathuận lợi và tránh được những tranh chấp trong quá trình người dân tiến hànhcác dao dịch của mình Hơn thế nữa, chế định này còn là nền tảng cho việc nhànước xây dựng các chế định hợp đồng trong thương mại Có thể nói chế địnhhợp đồng dân sự đã điều chỉnh một cách bao trùm toàn bộ các hoạt động củangười dân khi tham gia tiến hành giao dịch dân sự Trong một số trường hợp,các chủ thể tham gia ký kết các hợp đồng thương mại nhưng do có những thoảthuận không rõ ràng và cụ thể, khi xảy ra tranh chấp, các cơ quan nhà nước sẽcăn cứ vào những quy định nền tảng của chế định hợp đồng dân sự để điềuchỉnh

II CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG

Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự được quyền định tại điều

122 Bộ luật Dân sự 2005, theo đó, hợp đồng dân sự có hiệu lực khi có đủ cácđiều kiện sau:

- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

Trang 10

- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của phápluật, không trái đạo đức xã hội.

- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

Ngoài ra, hình thức của hợp đồng dân sự là điều kiện có hiệu lực của giaodịch dân sự trong trường hợp pháp luật có quy định

Đối với cá nhân, dưới góc độ lý luận, năng lực hành vi dân sự của cá nhân

có thể chia làm 3 cấp độ:

- Người không có năng lực hành vi dân sự: Là người dưới 6 tuổi, khôngthể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự mà phải do người đại diệnxác lập và thực hiện thay

- Người có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ: là những người từ đủ 6tuổi đến dưới 18 tuổi, có thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhỏphục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi Các giao dịchkhác phải được sự chấp thuận của người đại diện

Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tàisản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện cácgiao dịch dân sự mà không cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luậttrừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Trang 11

- Năng lực hành vi dân sự đầy đủ: Là những người trên 18 tuổi, không bịTòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự

Đối với tổ chức, năng lực hành vi và năng lực pháp luật được phát sinhđồng thời từ khi tổ chức đó được thành lập hợp pháp Như vậy, điều kiện tiênquyết để xem xét một hợp đồng dân sự có hiệu lực hay không là yếu tố chủ thểtham gia ký kết hợp đồng Hợp đồng sẽ không phát sinh hiệu lực nếu chủ thể kýkết không có năng lực hành vi để tham gia vào giao dịch đó hoặc chủ thể không

có thẩm quyền đại diện để xác lập và thực hiện các quan hệ đó Ngoài ra, cũngcần phải lưu ý một số loại hợp đồng dân sự cụ thể quy định các loại hình chủ thể

cụ thể tham gia và có thể kèm theo một số điều kiện đặc thù khác Những điềukiện này do pháp luật quy định, là một nội dung của năng lực pháp luật của cácchủ thể và hợp đồng chỉ có thể phát sinh hiệu lực nếu như các chủ thể đã thỏamãn tất cả các điều kiện này

2 Điều kiện về mặt ý chí của các bên tham gia hợp đồng.

Hợp đồng là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí ý chí đích thực củacác bên tham gia phải phù hợp với ý chí các bên tuyên bố và thể hiện trong hợpđồng Sự tự nguyện, tự do ý chí trong hợp đồng được biểu hiện ở nhiều khíacành khác nhau, song tập trung chủ yếu ở các vấn đề:

- Các chủ thể phải được tự do lựa chọn các loại quan hệ hợp đồng mìnhtham gia Muốn vậy, các chủ thể của quan hệ phải bảo đảm được quyền thôngtin đầy đủ, trung thực về quan hệ mình sẽ xác lập, về đối tác cũng như đốitượng của hợp đồng

- Trên cơ sở nắm giữ đầy đủ các thông tin cần thiết về hợp đồng sẽ thamgia, các bên phải được tự do lựa chọn đối tác tham gia từng quan hệ xác thực

- Nội dung quan trọng nhất trong điều kiện này là các bên phải được tự dothỏa thuận về các điều khoản của hợp đồng không bên nào được ép buộc và

Trang 12

cưỡng ép bên nào Những điều khoản hợp đồng phải là kết quả của quá trìnhthương thảo một cách bình đẳng, trung thực, thẳng thắn và thiện chí của các bên.

3 Điều kiện mục đích và nội dung của hợp đồng.

Hợp đồng có hiệu lực khi mục đích và nội dung của hợp đồng không viphạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội

Theo điều 123, mục đích của hợp đồng dân sự là những lợi ích hợp pháp

mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó Mục đích các bênhướng đến hay nói cách khác chính là khách thể của quan hệ hợp đồng giữa cácbên chỉ có thể đạt được thông qua việc tác động vào đối tượng của hợp đồngtheo ý chí của mỗi bên và theo thỏa thuận hợp đồng Điều này nói lên rằng, mụcđích của hợp đồng có quan hệ chặt chẽ với nội dung của hợp đồng Theo tinhthần của Bộ luật dân sự 2005 thì cả mục đích và nội dung của hợp đồng phảiđồng thời không trái với các quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xãhội

Khi mục đích xác lập quan hệ và nội dung của hợp đồng trái với các quyđịnh của pháp luật thì đương nhiên, pháp luật không thừa nhận tính hợp phápcủa nó Việc xác định mục đích và nội dung của hợp đồng có trái các quy tắccủa pháp luật và đạo đức xã hội không không phải là điều đơn giản và dễ dàng

4 Điều kiện về hình thức của hợp đồng

Theo Bộ luật dân sự 2005 thì hình thức của hợp đồng chỉ là điều kiện cóhiệu lực của hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định Đây là một trongnhững điểm mới rất tiến bộ của Bộ luật dân sự 2005 so với Bộ luật dân sự 1995.Hình thức của hợp đồng dân sự không được coi là một điều kiện đương nhiên đểxác định tính có hiệu lực của hợp đồng mà phải xem xét trong từng quan hệ cụthể với các quy định cụ thể của pháp luật về điều kiện hình thức của hợp đồng.Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác Như vậy, nếu trong từng trường loại hợp

Ngày đăng: 26/08/2021, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w