Bởi vậy, nghiên cứu chế định thừa kế có ý nghĩa sâu sắc về lý luận vàđời sống thực tế.Bộ luật dân sự năm 2005 BLDS được thông qua tại kỳ họp thứ 7,quốchội khóa 11 vào ngày 14/6/2005 gồ
Trang 2tạp cao Bởi vậy, nghiên cứu chế định thừa kế có ý nghĩa sâu sắc về lý luận vàđời sống thực tế.
Bộ luật dân sự năm 2005 ( BLDS ) được thông qua tại kỳ họp thứ 7,quốchội khóa 11 vào ngày 14/6/2005 gồm 7 phần, 36 chương,777 điều, điều chỉnhcác quan hệ xã hội được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự thỏa thuận, tựnguyện và tự chiu trách nhiệm giữa các chủ thể; hạn chế sự can thiệp của nhà
Trang 3nước vào các quan hệ dân sự BLDS năm 2005 có nhiều điểm mới so với BLDSnăm 1995, những điểm mới này thể hiện những thành tựu của nhà nước trongcông tác xây dựng pháp luật.
Chế định thừa kế là một chế định quan trọng của pháp luật dân sự quagần 10 năm thi hành BLDS năm 1995 nói chung và chế định thừa kế nói riêngcho thấy những quy định về pháp luật thừa kế đã đi vào cuộc sống về cơ bản phù
Trang 4hợp với thực trạng quan hệ thùa kế Tuy nhiên trước sự phát triển nhanh chóngcủa đời sống kinh tế xã hội nhiều quy định đã bộc lộ hạn chế cần sửa đổi và bổsung, hoàn thiện Chính việc ban hành BLDS năm 2005 đã có sửa đổi bổ sungnhằm hoàn thiện hơn chế định thừa kế và đáp ứng nhưng phản ánh từ thực tiễnthi hành chế định này, phải bảo đảm sự ổn định giữa những người thừa kế và ổnđịnh trong mọi giao dịch dân sự.
Trang 5So sánh giữa BLDS năm 2005 so với BLDS năm 1995 tìm thấy nhữngđiểm mới trong chế định thừa kế là một việc làm nghiêm túc và hết sức cần thiếtđồng thời cũng rất thiết thực trong vấn đề nghiên cứu pháp luật Việt Nam Nógiúp cho chúng ta hiểu được ý nghĩa của việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung vàhoàn thiện pháp luật thừa kế nói riêng và pháp luật dân sự nói chung Đồng thờivạch rõ những thành tựu trong việc xây dựng pháp luật nhà nước ta Mặt khác,
Trang 6việc so sánh này giúp chúng ta thuận lợi trong việc hiểu tinh thần, tính chất, nộidung của chế định thừa kế và BLDS năm 2005.
Qua tìm hiểu BLDS năm 2005 và BLDS năm 1995 nói chùng và tì hiểu
pháp luật thừa kế nói riêng, tôi đã chọn đề tài “ Những điểm mới trong chế
định thừa kế của bộ luật dân sự năm 2005 so với năm 1995” Nhằm góp phần
Trang 7nhỏ giúp chúng ta hiểu rõ vè thừa kế, vạch ra những điểm mới của BLDS năm
2005 trong phàn thừa kế
Với ý nghĩa đó, bài viết phân tích các quy định trong Bộ luật Dân sự vềchế định thừa kế theo hướng đề xuất các phương án nhằm hoàn thiện chế địnhnày trong Bộ luật Dân sự năm 1995
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 8Từ khi BLDS năm 2005 ban hành cho đến nay đã có nhiều công trìnhnghiên cứu, sách báo…viết về nhưng điểm mới của BLDS năm 2005 so vớiBLDS năm 1995, đáng chú ý có các công trình: Bộ tư pháp của Đinh Thị Mai
Phương (chủ biên),nội dung và những điểm mới cơ bản của bộ luật dân sự
2005…Những tác phẩm này bao gồm việc chỉ ra những điểm mới trong pháp
luật thừa kế
Trang 9Tạp chí chuyên ngành cũng có nhiều bài viết đề cập đến những điểm mới
của nội dung này,các tác phẩm như:Tiến trình phát triển pháp luật thừa kế Việt
Nam trong 60 năm qua của Phùng Trung Tập trên tạp chí Nhà Nước và Pháp
Luật số 2 năm 2006;Quan điểm khác nhau về những vụ kiện quyền sử dụng đất
của Trần Thế Hợi trên tạp chí Dân Chủ và Pháp Luật số11 năm 2005…
Trang 10Thời gian tới có rất nhiều bài viết nghiên cứu về chuyên đề này từ thựctiễn áp dụng pháp luật thừa kế
Trang 11Đề tài nhằm mục đích: từ việc đưa ra lý luận chung về thừa kế và quyềnthừa kế, đề tài chỉ rõ những điểm mới của BLDS năm 2005 so với BLLDS năm
1995 trong phần thừa kế, góp phàn hiểu được ý nghĩa của việc xây dưng, sửađổi, hoàn thiện pháp luật thừa kế của nhà nước
Trang 12Đề tài có nhiệm vụ chỉ ra cơ sở lý luận của thừa kế và quyền thừa kế, tìmhiểu những nội dung mới cuả phần thưa kế trong BLDS của năm 2005 so vớiBLDS năm 1995.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu những điểm mới trong phần thừa kế của BLDS năm
2005 so với năm 1995 Từ việc nghiên cứu phần thừa kế của hai bộ luật chỉ ra
Trang 13những điểm mới để khẳng định những thành tựu trong việc xây dựng pháp luậtcủa nhà nước Việt Nam.
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, đề tài sử dụng phương pháp: phân tích – tổnghợp, so sánh – thống kê, logic – lịch sử…
6 Kết cấu đề tài
Trang 14Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đượckết cấu thành 2 chương, 7 phần.
Chương I: Cơ sở lý luận về thừa kế và quyền thừa kế
Chương II: Những nội dung mới trong chế định thừ kế của Bộ Luật Dân
sự năm 2005 so với Bộ Luật Dân sự năm 1995
Trang 15B NỘI DUNG
Trang 16Chương I: Cơ sở lý luận về thừa kế và quyền thứa kế
1.1 Khái niệm và nguyên tắc.
1.1.1 Khái niệm.
Thừa kế: Là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các qui phạm
pháp luật điều chỉnh và chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo
Trang 17di chúc hoặc theo một trình tự của pháp luật, qui định phạm vi, quyền nghĩa vụ
và phương thuacs bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế
Phạm trù thừa kế xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thời kì sơ khai của xã hộiloài người, mục đích của việc này là chuyển tài sản của người chết sang chongười đang sống dựa trên quan hệ huyết thống hoặc do những phong tục tập
quán riêng của mỗi thị tộc bộ lạc Trong tác phẩm “ Nguồn gốc của gia đình,
Trang 18của chế độ tư hữu và nhà nước” Ph.Ăngghen đã đặt vấn đề thừa kế: “theo chế
độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tụcthừa kế nguyên thủy trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâunay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản cho những bà con thân thíchnhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với mẹ”[1,tr.79]
Trang 19Mặt khác quan hệ sở hữu xuất hiện rất sớm đó là quan hệ giữa người vớingười đối với việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội, trong quá trình sảnxuất, lưu thông và phân phối sản phẩm, quá trình này diễn ra giữa người này vớingười khác, chính quan hệ này là cơ sở và tiền đề của quan hệ thừa kế xuất hiện
và phát triển cùng với quan hệ sở hữu
Trang 20Quan hệ thừa kế là loại quan hệ có nội dung kinh tế xã hội sâu sắc, qua hệthừa kế có tác dụng duy trì quan hệ sở hữu.
Quyền thừa kế: “theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là pháp luật thừa kế là
tổng hợp các qui phạm pháp luật qui định trình tự dịch chuyển tài sản của ngườichết cho ngững người còn sống” “Hiểu theo cách đơn giản quyền thừa kế là
Trang 21quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản, quyền này khôngđược trái với pháp luật mà phải phù hợp với các qui định của pháp luật nóichung và các qui định của pháp luật về thừa kế nói riêng.con người sống và tạo
ra của cái vật chất, trước khi chết họ có quyền để lại tài sản của mình cho bất kỳ
ai, đó là quyền thiêng lieng của họ và người được nhận di sản có quyền đồng ýhoặc không đồng ý, tuy nhiên các quyền này đều phải tuân thủ theo pháp luật
Trang 22Bất kỳ quan hệ nào cũng có chủ thể và đối tượng của nó Xét ở quan hệ thừa kếthì đối tượng của nó là các tài sản, quyền tài sản thuộc quyền của người chết đẻlại Thực tế thì một số quyền gắn liền với nhân thân của người chết không thểchuyển cho người thừa kế cụ thể: tiền cấp dưỡng Hiểu rộng hơn về đối tượngthừa kế thì trong xã hội phong kiến và tư bản chủ nghĩa, giai cấp thống tri khichết để lại di sản cho con cháu không chỉ là tài sản, quyền lợi về tài sản à còn cả
Trang 23quyền về chính trị để duy trì sự áp bức bóc lột của họ đối với nhân dân lao động:
có thể khẳng định thừa kế là công cụ để duy trì chế độ sở hữu của giai cấp thôngtrị
Ở nước ta quyền sở hữu nói chung và quyền thừa kế nói riêng là cácquyền cơ bản của công dân được nhà nước ghi nhận và bảo hộ, Điều 58 Hiếnpháp năm 1992 (sửa đỏi bổ sung nảm 2001) quy định “nhà nước bảo hộ quyền
Trang 24sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” Quyền thừa kế là công cụcũng cố sở hữu của công dân, cũng cố quyền quan hệ hôn nhân và gia đình, bảo
vệ lợi ích của người chưa thành niên, người thành niên mất khả năng lao động.Tuy nhiên cần thừa nhận rằng, mỗi chế độ khác nhau thì quy định về quyền thừa
kế cũng khác nhau, tùy thuộc vào tính chất xã hội của chế độ đó Trong chế độ
xã hội tư bản chủ nghĩa mà nền tảng kinh tế xã hội dựa trên chế độ chiếm hữu tư
Trang 25nhân về tư liệu sản xuất thì thừa kế sẽ bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột Còntrong xã hội chủ nghĩa, chế độ dựa trên nền tảng công hữu về tư
liệu sản xuất chủ yếu Quyền thừa kế là quyền thừa hưởng các quyền và lợi íchhợp pháp mà nhà nước cho phếp chuyển dịch, công dân có quyền để lại thừa kếtài sản thuộc quyền sở hữu của minh cho người khác
Trang 26Quyền thừa kế có những dặc điểm chính sau:
Quyền thừa kế là phương thức kế thừa quyền sở hữu tài sản của mộtngười sau khi chết để lại (quyền tài sản và quyền sở hữu tài sản đó được chuyểngiao cho người thừa kế hợp pháp theo một trong những hình thức thừa kế)
Quyền thừa kế chỉ có hiệu lực sau khi người để lại di sản chết và tài sảncủa người đó vẫn còn
Trang 27Quyền sở hữu tài sản chi phối trực tiếp quyền thừa kế.
1.1.2 Các nguyên tắc của quyền thừa kế.
Nguyên tắc thứ nhất: Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của cá nhân,
điều này quy định ngay phần thứ 4 BLDS năm 2005 đã đề ra cụ thể nguyên tắc
đó tại Điều 631: quyền thừa kế của cá nhân “cá nhân có quyền lập di chúc để
định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp
Trang 28luật, hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”cá nhân được đảm bảo
quyền định đoạt tài sản của mình sau khi chết thông qua việc lập di chúc,nếu cánhân không lập di chúc thì việc thừa kế được giải quyết theo pháp luật.Ngườithừa kế được pháp luật đảm bảo việc hưởng di sản của người chết để lại,ta cũngbiết có hai phương thức hưởng thừa kế.một là,theo y nguyện cuối cùng của
Trang 29người để lại di sản hay còn gọi là thừa kế theo di chúc;thứ hai,nếu không có dichúc thì theo quy định của pháp luật.
Chúng ta cũng khẳng định rằng bất kì tài sản nào thộc sở hữu hợp phápcủa công dân sẽ trở thành di sản khi người đó chết.và người đó có quyền địnhđoạt số phận của những tài sản và quyền này được pháp luật bảo hộ.đay cũng lànguyên tắc thứ nhất của quyền thừa kế
Trang 31Nguyên tắc thứ hai:Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế.Ngay
Điều 52 Hiến pháp năm 1992 nêu:”trong quan hệ dân sự,các bên đều bình
đẳng,không được lấy lý do khác biệt về dân tộc,giới tính thành phan xã hội,hoàn cảnh kinh tế,tín ngưỡng,tôn giáo,trình độ văn hóa,nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau”.các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự bình
đẳng với nhau.Mọi cá nhân không có một sự phân biệt nào đều có quyền để lại
Trang 32di sản cho bẩt cứ ai và có quyền hưởng di sản của người khác theo di chúc hoặctheo quy định của pháp luật.
Nguyên tắc thứ ba:Tôn trọng quyền định đoạt của người có tài sản,người
hưởng di sản.Ngưởi chết để lại di chúc thì việc thừa kế sễ tiến hành theo di chúctức là theo ý chí,ý nguyện của người chết,theo ddinhj đoạt của người trước khichết.Mặt khác ý chí,ý nguyện này sẽ bị hạn chế bởi Điều 669 của BLDS năm
Trang 332005.Người nhận di sản có quyền nhận hoặc không nhận di sản thừa kế.khi nhận
di sản người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại trong phạm vi
di sản đã nhận,điều này sẽ dẫn đến hai trường hợp,người thừa kế không nhận disản thừa kế để trốn tránh trách nhiệm, nghĩa vụ kèm theo di sản,trường hợp hai
là người thừa kế nhận di sản và tự giác thực hiện nghĩa vụ kèm theo,thậm trí có
Trang 34trường hợp nghĩa vụ vượt khỏi phạm vi di sản nhưng người thừa kế vẫn thựchiện.Dù trường hợp nò pháp luật tôn trọng quyền định đoạt của các bên.
Nguyên tắc thứ tư:củng cố giữ vững tình thương yêu và đoàn kết trong gia
đình Gia đình là tế bào của xã hội,pháp luật Việt Nam luôn bảo hộ về hôn nhân
và gia đình,nhằ xây dụng gia đình đoàn kết,hạnh phúc và bền vững.đây cungchính là xuất phát từ nguyên tắc thứ tư.Yêu cầu là tinh thần đoàn kết phải luôn
Trang 35được phát huy và giữ vững kể cả khi gia đình có người chết và vấn đề thừa kếđặt ra.nguyên tắc này dẫn đến hai hệ quả:thứ nhất,giúp các nhà làm luật xác địnhchính xác hang thừa kế theo pháp luật:hệ quả hai là bảo vệ quyền lợi của nhữngngười thành niên nhưng
Trang 36không có khả năng lao động ,buộc phải sống nhờ vào sự chăm sóc của anhem,họ hàng.
1.2 Những quy định chung
Nhưng quy định chung của phần thừa kế nằm ở chương 22 của BLDSnăm 2005 bao gồm 15 điều,từ điều 631 đến điều 645
Trang 37Những quy định chung của phần thừa kế trong pháp luật dân sự bao gồmnhững vấn đề:con người;tài sản thừa kế;thời gian; thời điểm; địa điểm mở thừa
kế được cụ thể như sau:
Người để lại di sản thừ kế: tức là người có tài sản để lại cho người cònsống sau khi chết theo ý chí của mình thể hiện trong di chúc hay theo qui địnhcủa pháp luật, tất nhiên người để lại di sản là cá nhân và không có sự phân biệt
Trang 38giữa họ.Đối với pháp nhân thì tham gia vào quan hệ thừa kế chỉ với tư cách làngười được hưởng di sản theo di chúc Pháp luật qui định công dân có quyền sởhữu hợp pháp các thu nhập của mình, khi chết có quyền lập di chúc để lại chobất kỳ ai nếu họ không lập di chúc saiu khi chết thì tài sản của họ sẽ tiến hànhchia thừa kế theo qui định của pháp luật.
Trang 39- Người thừa kế: Là người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc
theo pháp luật.Theo qui định của pháp luật dân sự người thừa kế theo pháp luậtchỉ có thể là cá nhân và là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôidưỡng người để lại di sản Người thừa kế theo di chúc đa dạng hơn, có thể lấcnhân có thể là tổ chức cũng có thể là nhà nước Pháp luật dân sự cũng qui địnhcác quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại cho người thừa kế
Trang 40Người thừa kế: Pháp luật dân sự ghi nhận quyền thừa kế của cá nhân, tổ
chức Điều 638 BLDS quy định:
1 Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa
kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trướckhi người để lại di sản chết
Trang 412 Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thìphải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Tất nhiên, người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân, còn ngườithừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức Vấn đề đặt ra cần làm rõ là:
Thứ nhất: Hiểu như thế nào về ” người còn sống vào thời điểm mở thừa kế “,
đặc biệt trong trường hợp những người thừa kế chết mà không xác định được ai
Trang 42chết trước, ai chết sau Thực tế chỉ ra rằng, có nhiều trường hợp những người cóquyền thừa kế di sản của nhau chết cách nhau một khoảng thời gian rất ngắn, vụviệc tranh chấp thừa kế một thời gian dài sau đó mới phát sinh, do vậy việc xácminh thời điểm chết của từng người rất khó khăn, tạo phức tạp trong quá trìnhgiải quyết vụ án.
Trang 43Điều 644 BLDS quy định: trong trường hợp những người có quyền thừa
kế di sản của nhau đều chết trong cùng một thời điểm hoặc được coi là chếttrong cùng một thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước, thì
họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa
kế của người đó hưởng
Trang 44Thứ hai: Điều luật cho phép người đã thành thai trước thời điểm mở thừa
kế nhưng sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế vẫn có quyền thừa kế tàisản Vấn đề ở chỗ: trường hợp nào được coi là sinh ra và còn sống? Đứa trẻ rađời có thể chỉ sống được 30 phút, 01 giờ, 7giờ, 24 giờ, 7 ngày… sau đó mớichết Việc xác định khi nào đứa trẻ đó được coi là người thừa kế có ảnh hưởngrất lớn đối với kỷ phần thừa kế của những người khác
Trang 45Điều luật chưa có quy định cụ thể về vấn đề này nên có nhiều cách hiểukhác nhau trong quá trình áp dụng Theo chúng tôi, nên vận dụng quy định củaNghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch: đứa trẻ sinh ra
và còn sống được 24 giờ rồi chết thì phải khai sinh và khai tử để từ đó xác địnhkhoảng thời gian được coi là sinh ra và còn sống của đứa trẻ (24 giờ) Tuynhiên,Điều này cũng cần được ghi nhận rõ ngay trong BLDS