LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Lý luận của Lênin về Chủ nghĩa tư bản nhà nước là một bộ phận quan trọngtrong toàn bộ hệ thống lí luận của Lênin về chính sách kinh tế mới và đã đượcLênin chỉ đạo, triể
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lý luận của Lênin về Chủ nghĩa tư bản nhà nước là một bộ phận quan trọngtrong toàn bộ hệ thống lí luận của Lênin về chính sách kinh tế mới và đã đượcLênin chỉ đạo, triển khai ở nước Nga Xô Viết đầu những năm 20 của thế kỷ XX
Trước tiên, chúng ta nhận thấy rằng chính sách kinh tế mới của Lênin có ýnghĩa vô cùng quan trọng, nó là những nguyên lí của Chủ nghĩa Mác vừa là sự sángtạo của Lênin về cách mạng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện thực tế, chính sáchkinh tế mới là một quốc sách mang tính chiến lược nhưng lại là một chính sáchmềm dẻo linh hoạt Và lịch sử nước Nga những năm 1917 đến 1924 đã cho thấy rõđiều đó
Chính sách kinh tế mới của Lênin đã chỉ ra các biện pháp về sự vận dụng cáchình thức khác nhau của Chủ nghĩa tư bản nhà nước, xem đó là những cầu nối,những cảng trung gian để xây dựng chủ nghĩa xã hội Vai trò của Chủ nghĩa tư bảnnhà nước là xây dựng cơ sở vật chất cho Chủ nghĩa xã hội, là việc hoàn thiện quan
hệ sản xuất mới, là sự phát triển lực lượng sản xuất và là cách quản lý tiến bộ nhằmđưa nền kinh tế phát triển đạt tới một xã hội mới
Đảng và nhân dân ta đã vận dụng một cách đúng đắn chính sách kinh tế mớicủa Lênin- đó là sự vận dụng nguyên lí của chủ nghĩa Mác, vận dụng tư tưởng HồChí Minh - đây là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động, là vấn đề có tínhnguyên tắc đối với cách mạng Việt Nam, là bước phát triển về nhận thức và tư duy
lí luận của Đảng ta trong công cuộc đổi mới Trong công cuộc đổi mới đất nước, lýluận về Chủ nghĩa tư bản nhà nước trong chính sách kinh tế mới của Lênin là cơ sở
lý luận đồng thời là bài học kinh nghiệm để chúng ta xây dựng mô hình chủ nghĩa
xã hội trong từng lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội Năm 1987, với sự ra đời hai
Trang 2đạo luật: Luật đầu tư trong nước và luật đầu tư nước ngoài khẳng định bước tiếnmới trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
Tôi chọn đề tài “ Chủ nghĩa tư bản nhà nước trong chính sách kinh tế mớicủa V.I.Lênin và vận dụng của Đảng ta trong chính sách thu hút vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài” nhằm nghiên cứu sâu hơn chủ nghĩa tư bản nhà nước trong chínhsách kinh tế mới của Lênin và đường lối, chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài của Đảng ta để thấy sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa tư bản nhà nước ởViệt Nam
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Vấn đề chủ nghĩa tư bản nhà nước và những vấn đề áp dụng thực tiễn ở ViệtNam đã có nhiều công trình khoa học, sách, báo, bài viết của các tác giả trong nước
và nước ngoài đề cập đến Tiêu biểu là bài viết “ Lí luận của Lênin về Chủ nghĩa tưbản nhà nước và thực tiễn vận dụng ở nước ta” của Tiến sĩ Trần Anh Phương; bàiviết “ Chủ nghĩa tư bản nhà nước từ quan niệm của Lênin đến sự vận dụng củaĐảng ta trong công cuộc đổi mới đất nước” của Nguyễn Văn Thức hay trong tạpchí cộng sản, trong báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam nói tới vấn đề này
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đề tài “Chủ nghĩa tư bản nhà nước trong chính sách kinh tế mớicủa V.I.Lênin và vận dụng của Đảng ta trong chính sách thu hút vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài” để giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Chủ nghĩa tư bản nhà nước trongchính sách kinh tế mới của Lênin; vai trò của Chủ nghĩa tư bản nhà nước trong sựphát triển xã hội chủ nghĩa và đường lối của Dảng ta trong việc thực hiện chínhsách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Để tìm hiểu đề tài này cần nắm vững nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng củachính sách kinh tế mới Từ đó thấy rõ lí luận của chủ nghĩa tư bản nhà nước củaLênin Trên cơ sở nhận thức sâu sắc về vai trò và ý nghĩa của Chủ nghĩa tư bản nhà
Trang 3nước đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam nói chung và lĩnh vực kinh tế nóiriêng, nhất là vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài.
4 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, lý luận thựctiễn của Lênin trong bối cảnh nước Nga lúc bấy giờ và những chính sách, đường lốiphát triẻn kinh tế xã hội của Đảng cộng sản Việt Nam Ngoài ra bài viết còn sửdụng các phương pháp như phân tích, phương pháp so sánh
5 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài làm rõ vai trò, ý nghĩa của chủ nghĩa tư bản nhà nuớc trong chính sáchkinh tế mới của lênin, sự vận dụng sáng tạo của đảng ta trong thời lì đổi mới đểphát triển kinh tế
Việc nghiên cứu đề tài giúp sinh viên có nhận thức về đường lối của đangtatrong việc thu hút vốn đầu tư và làm giàu lí luận chính trị
6 KẾT CẤU CỦA TIỂU LUẬN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận kết cấulàm 2 phần, 6 tiết:
I Lý luận của Lênin về Chủ nghĩa tư bản nhà nước trong chính sách kinh
tế mới
1.1 Chính sách kinh tế mới của Lênin
1.2 Lý luận của Lênin về Chủ nghĩa tư bản nhà nước
II Sự vận dụng quan điểm của Lênin trong Chủ nghĩa tư bản nhà nước
về chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam thời kỳ đổi mới
2.1 Quan điểm của Đảng ta về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong công cuộc đổi mới
Trang 42.2 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam từ năm 1988- 2008 2.3 Những vấn đề đặt ra trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam thời gian qua
2.4 Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời gian tới
NỘI DUNG
I LÝ LUẬN CỦA LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC
TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI 1.1 CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI CỦA LÊNIN
Ngay từ đầu tác phẩm “Bàn về thuề lương thực, Lênin đã phân tích tính chấtquá độ của nền kinh tế và chỉ rõ 5 thành phần kinh tế tồn tại ở nước Nga xô viết:Kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một lớn có tính chất tự nhiên; sản xuấthàng hoá nhỏ( bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì), chủ nghĩa tư bản tư nhân,chủ nghĩa tư bản nhà nước, chủ nghĩa xã hội Trong nền kinh tế nhiều thành phầnnày, thành phần tiểu nông dân sản xuất nhỏ chiếm đa số Vì vậy, cuộc cách mạng
xã hội chủ nghĩa chỉ có thể giành thắng lợi được khi có sự liên minh chặt chẽ giữagiai cấp vô sản và nông dân Đó là một nguyên tắc, một đòi hỏi đối với các nướctiểu nông bước vào chủ nghĩa xã hội và Đảng cầm quyền nắm rõ khi triển khaichính sách kinh tế
Sự kiện đánh dấu quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế nước Nga
Xô Viết là quyết định thực hiện thuế lương thực thay cho chế độ trưng thu lươngthực thừa, cho phép tự do buôn bán lúa mì, coi thương nghiệp là mắt xích chủ yếu,
là hình thức các mối quan hệ kinh tế giữa công nghiệp và nông nghiệp; giữa thànhthị và nông thôn, đồng thời là biểu hiện sinh động giữa liên minh công nông trongthời kì quá độ
Trang 5Ngày 8/3/1921, tại Đại hội X Đảng cộng sản Nga, V.I.Lênin đã đề xướngviệc áp dụng chính sách kinh tế mới và đã được đại hội chấp thuận.
Chính sách kinh tế mới của Lênin bao gồm nhiều nội dung quan trọng liênquan đến tất cả các lĩnh vực đời sống, xã hội:
- Thực hiện chế độ thu thuế lương thực, cho phép tự do buôn bán lúa mì, coithương nghiệp là mắt xích chủ yếu, là hình thức cơ bản của các mối liên hệ kinh tếgiữa công nghiệp với nông nghiệp hàng hoá, giữa thành thị với nông thôn và sựliên minh giai cấp về kinh tế giữa công nông
- Áp dụng những hình thức khác nhau của CNTBNN, coi CNTBNN là mắtxích trung gian để xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Sử dụng các quan hệ hàng hoá tiền tệ, thực hiện khuyến khích lợi ích vậtchất và tinh thần đối với mọi người lao động, khai thác mọi nguồn lực để phát triểnsản xuất, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới
- Thực hiện kế hoạch điện khí hoá nước Nga, coi đó như một trong nhữngđiều kiện tiên quyết cho sự ra đời của chế độ xã hội chủ nghĩa
- Củng cố chính quyền Xô Viết, tăng cường vai trò của quản lý, kết hợp chặtchẽ các biện pháp hành chính, tổ chức và kinh tế, thực hiện chế độ kiểm kê kiểmsoát của nhà nước chuyên chính vô sản đối với đời sống kinh tế xã hội; trên cơ sởliên minh kinh tế để tăng cường củng cố liên minh công nông về chính trị
Chính sách kinh tế mới thể hiện rõ quan điểm về việc thừa nhận sự tồn tại vàphát triển quan hệ hàng hoá tiền tệ; khuyến khích lợi ích kinh tế, vật chất đối vớingười lao động Khai thác và sử dụng mọi nguồn lực Một mặt phát triển lực lượngsản xuất, mặt khác củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN
Thực tế nước Nga cho thấy việc tự do buôn bán trong phạm vi trao đổi hánghoá mang trong thị trường lưu thông tiền tệ, hoạt động thương nghiệp yếu kém,
Trang 6chở thành yêu càu bức thiết Chính sách kinh tế mới ra đời dã giải quyết vấn đề đó:Lênin quyết định cho phép tư bản tư nhân sử dụng thương nghiệp vào các quan hệhàng hoá - tiền tệ ở mức độ nhất định và trong thời hạn nhất định, Lênin nhấn mạnhrằng nhà nước chuyên chính vô sản phải giải quyết hai nhiệm vụ cơ bản: một làđiều tiết thương nghiệp và lưu thông tiền tệ; hai là xây dựng lợi ích chủ nghĩa xãhội
Chính sách kinh tế mới đã phân tích những yêu cầu về củng cố chính quyền
Xô viết, nâng cao vai trò quản lý, kết hợp chặt chẽ biện pháp hành chính với cácbiện pháp kinh tế trên cơ sở liên minh kinh tế để củng cố liên minh chính trị “ sau khi tiến đến chỗ có thể và quản lý đất nước, chúng ta đã không tiếc tiền bạc đểthu hút về phía phần tử có văn hoá cao nhất do chủ nghĩa tư bản đào tạo ”[tr261_bvtlt]
Một điểm quan trọng nữa trong chính sách kinh tế mới của Lênin đó là đã chỉ
ra các biện pháp về sự vận dụng các hình thức khác nhau của CNTBNN_ là chiếccầu nối, những cảng trung gian để xây dựng CNXH
1.2 LÝ LUẬN CỦA LÊNIN VỀ CNTBNN
Nếu như trong học thuyết của Mác, vấn đề Chủ nghĩa tư bản nhà nước trongthời kì quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội chưa được bàn tới, thì đếnLênin những luận điểm về Chủ nghĩa tư bản nhà nước với tư cách là một thànhphần kinh tế trong điều kiện chuyên chính vô sản đã được đề cập
Theo Lênin , CNTBNN là sản phẩm của sự can thiệp tích cực của nhà nướcvào hoạt động của các xí nghiệp tư bản Nếu trong nhà nước tư sản thì CNTBNNphục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, trong nhà nước XHCN lại phục vụ lợi ích giaicấp công nhân và nhân dân lao động
CNTBNN cũng như Chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bảnđộc quyền nhà nước đều có chung cội nguồn kinh tế sâu xa- đó là quá trình tập
Trang 7trung hoá và xã hội hoá lực lượng sản xuất một cách tất yếu, khách quan, gắn liềntrước hết các thành tựu khoa học, kĩ thuật hiện đại đạt được cuối thế kỉ XIX- đầuthế kỷ XX Tính chất cạnh tranh ngày càng gay gắt, một mất một còn của nền sảnxuất và tái sản xuất hàng hoá mở rộng không cho phép chủ nghĩa tư bản tiếp tục tồntại ở quy mô tư bản cá biệt hoặc công ty cổ phần của các nhà tư bản đã có từ giaiđoạn tự do cạnh tranh Mặt khác, các quy luật nội tại của phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa ngày càng làm sâu sắc hơn các mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp vôsản và giai cấp tư sản, giữa đế quốc với đế quốc, giữa đế quốc với thuộc địa Đóchính là nguyên nhân cơ bản giải thích sự ra đời tất yếu của CNTBNN với tư cách
sự kết hợp giữa nhà nước với chính các tế bào kinh tế
Vị trí và vai trò lịch sử của CNTBNN được Lênin phân tích rõ ràng trong bàibáo “ Tai họa sắp đến và những phương pháp nhằn nhừa tai học đó”, trong bài báonày Lênin viết “ chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầy
đủ nhất cho CNXH, là phòng chờ đi vào CNXH, là nấc thang lịch sử mà giữa nóvới nấc thang được gọi là CNXH thì không có một nấc thang nào ở giữa cả”
Quan niệm chủ yếu của Lênin là, trong một nước kém phát triển, giai cấp vôsản không thể tự mình xây dựng thành công CNXH Nó cần phải và không thểkhông mượn tay, mượn sức của các giai cấp khác để hoàn thành sự nghiệp đó.CNTBNN trong khuôn khổ đó trở thành hình thức quá độ để vừa mượn được sứccủa giai cấp khác, vừa đảm bảo được tính chất XHCN Theo nghĩa như vậy, quanniệm sử dụng CNTBNN trở thành tư tưởng trung tâm của chính sách kinh tế mới
Lênin khẳng định “ Chủ nghĩa tư bản nhà nước sẽ là một bước tiến so vớitình hình hiện nay trong nước Cộng hoà Xô Viết của chúng ta”[ tr247_bvtlt] Chủnghĩa tư bản nhà nước là một trong những hình thức giúp nước Nga Xô Viết khắcphục tình trạng suy sụp kinh tế sau chiến tranh và ngăn chặn những nảy sinh tựphát của nền sản xuất hàng hoá nhỏ- mầm mống của sự phục hồi Chủ nghĩa tư bản
Trang 8Sở dĩ CNTBNN dưới điều kiện chuyên chính vô sản có ý nghĩa quan trọng và tácdụng to lớn như vậy vì theo định nghĩa của Lênin- đó là một thứ CNTB có liênquan với nhà nước Nhà nước đó là Nhà nước của giai cấp vô sản, là đội tiên phongcủa chúng ta Trong xã hội nước Nga, tồn tại đa dạng kết cấu kinh tế- xã hội, màtrong khi đó đa số lại là nông dân sản xuất hàng hoá nhỏ Và “ cái vỏ Chủ nghĩa tưbản nhà nước đang bị bọn đầu cơ chọc thủng khi ở chỗ này lúc ở chỗnọ”[ tr249_bvtlt] Cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và Chủ nghĩa tư bản nhànước lẫn Chủ nghĩa xã hội ngày càng gay gắt, Lênin lấy ví dụ về việc bỏ ra 300đồng cô- pếch để xây dựng nền trật tự xã hội và tổ chức ổn định Lênin nói rằngChủ nghĩa tư bản nhà nước vẫn là “ một bước tiến to lớn dù cho chúng ta phải trảmột khoản lớn hiện nay vì trả “học phí” là một việc đáng giá, vì cái đó có ích chocông nhân, vì việc chiến thắng được tình trạng hỗn độn, tình trạng suy sụp về kinh
tế và hiện tượng lỏng lẻo ”[ tr252_bvtlt]
Lênin nhấn mạnh Chủ nghĩa tư bản nhà nước “ không có gì là đáng sợ đốivới chính quyền Xô Viết”[ tr 252_bvtlt], vì Xô Viết là một nhà nước mà trong đóchính quyền công nông được đảm bảo Nhà nước chuyên chính vô sản sử dụng chủnghĩa tư bản nhà nuớc như là một hệ thống các chính sách công cụ, biện pháp nhằmđiều tiết mọi hoạt động của các xí nghiệp tư bản tồn tại trong thời kì quá độ, nhằmhướng tới mục đích vừa sử dụng vừa cải tạo bằng phương pháp hoà bình đối vớinền kinh tế tư bản tư nhân và sản xuất nhỏ
“ Chủ nghĩa tư bản nhà nước về kinh tế cao hơn nhiều so với nền kinh tếhiện nay”[ tr 252_bvtlt] Lênin đã lấy ví dụ cụ thể là nước Đức: nước Đức có đỉnhcao về kĩ thuật tư bản chủ nghĩa cũng như có tổ chức chặt chẽ Nước Đức thể hiện
rõ ràng những điều kiện để thực hiện Chủ nghĩa xã hội; một mặt phát triển kinh tế
xã hội, mặt khác là điều kiện chính trị Nước Đức có cơ sở vật chất, có lực lượngsản xuất, là cơ sở xây dựng Chủ nghĩa xã hội
Trang 9Như đã nói ở trên, việc thay chế độ trưng thu bằng thuế lương thực đóng gópvai trò quan trọng Sự tự do buôn bán tồn tại và phát triển, những thành phần tư bảnchủ nghĩa nói chung tồn tại thì Chủ nghĩa tư bản nhà nước có thể coi là phươngtiện, con đường thúc đẩy xã hội hoá và làm tăng năng nhanh lực lượng sản xuất củaChủ nghĩa xã hội Lênin khẳng định có thể kết hợp, liên hợp, phối hợp nhà nước
Xô Viết, nền chuyên chính vô sản với Chủ nghĩa tư bản nhà nước Và ông đãchứng minh Chủ nghĩa tư bản nhà nước là một bước tiến so với thế lực tự phát tưhữu( và tiểu gia trưởng, và tiểu tư sản) Tất cả lí luận đó đặt ra những điều kiện cầnthiết bảo đảm sự chuyển biến từ Chủ nghĩa tư bản nhà nước sang chủ nghĩa xã hộitrong một tương lai gần
Trong thực tiễn những năm 20 ở nước Nga, những tư tưởng về Chủ nghĩa tưbản nhà nước được vận dụng vào quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với cácthành phần kinh tế Tư bản chủ nghĩa và sản xuất nhỏ Có nhiều hình thức khácnhau của Chủ nghĩa tư bản nhà nước đã được sử dụng như tô nhượng, các xí nghiệpkhai thác tài nguyên ở Nga, cho phép các nhà tư bản trong nước được tham gia các
xí nghiệp của nhà nước, lập các công ty hợp doanh giữa nhà nước vô sản với cácnhà tư bản, tổ chức mạng lưới các hợp tác xã tư sản, các đại lí thương nghiệp
Lênin đã lấy ví dụ về việc hướng bước phát triển của Chủ nghĩa tư bản vàocon đường Chủ nghĩa tư bản nhà nước và về cách mà chính quyền Xô Viết “ dunhập” vào Chủ nghĩa tư bản nhà nước là chế độ tô nhượng Lênin viết “ Tô nhượng
là một giao kèo, một sự liên kết, một liên minh giữa chính quyền nhà nước Xô viết,nghĩa là nhà nước vô sản, với chủ nghĩa tư bản nhà nước, chống lại các thế lực pháttriển tư hữu”[ tr 269_bvtlt] So với hình thức khác của Chủ nghĩa tư bản nhà nướctrong lòng chế độ Xô Viết thì chủ nghĩa tư bản nhà nước dười hình thức tô nhượng
là hình thức đơn giản nhất, rành mạch nhất, sáng tỏ nhất, có hình thù rõ rệt nhất.Lênin lí luận “ nhà nước lôi cuốn tư bản với tư cách là một nhà buôn, trả cho họ
Trang 10một số tiền hoa hồng để họ bán sản phẩm của nhà nước và mua sản phẩm của sảnxuất nhỏ”[ tr274_bvtlt] Và việc phát triển lên chủ nghĩa xã hội đối với nước Ngabấy giờ cần thiết phải điện khí hoá, là việc xây dựng trung tâm điện lực địa phương
để phát triển khoa học
Tóm lại có thể hiểu nội dung của CNTBNN qua các mặt sau:
+ Sự kiểm kê, kiểm soát của nhà nước đối với các thành phần kinh tế
+ Các hình thức kinh tế dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp về vốn giữa nhànước XHCN với nền kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước
+ Việc học tập, sử dụng có chọn lọc các thành tựu khoa học kĩ thuật côngnghệ và chuyển giao khoa học kĩ thuật công nghệ và quản lí kinh tế
+ Việc coi trọng lợi ích kinh tế, hiệu quả kinh tế thông qua việc nhà nướcvận dụng cơ chế thị trường với tư cách là động lực kinh tế của sự phát triển nềnkinh tế quốc dân
II SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢNNHÀ NƯỚC TRONG CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI LÌ ĐỔI MỚI
2.1 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI
Trong thời kì trước 1975 do bối cảnh lịch sự nhưng một phần do nhận thứckhông đúng đắn, mang tính chủ quan nóng hổi, muốn đốt cháy giai đoạn để tiếnthẳng lên chủ nghĩa xã hội Trong thực tế, mặc dù trong nghị quyết của Đại hội IIIthừa nhận nền kinh tế có nhiều thành phần nhưng sau khi Miền Nam giải phóngcũng như trước đó chúng ta đã tiến hành cải tạo công nghiệp một cách vội vã theohướng trong nền kinh tế: quốc doanh và tập thể, sở hữu tư nhân bị kìm hãm mộtcách tối đa Trong bối cảnh như vậy, sự vận dụng quan điểm của Lênin trong chính
Trang 11sách kinh tế mới không được xem trọng Kết quả là kinh tế, xã hội nước ta rơi vàokhủng hoảng.
Đại hội Đảng VI đảng cộng sản Việt Nam( 12/1986) đánh dấu bước ngoặt vềđổi mới nhận thức; lí luận và chính sách Những tư tưởng của Lênin trong chínhsách kinh tế mới vượt qua những nhận thức cũ, duy ý chí vấn đề đặt ra là quanđiểm công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Chủ nghĩa tư bản nhà nước trongchính sách kinh tế mới được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong quan điểm thu gútvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Năm 1987, Đảng ta ban hành 2 đạo luật đó là: “Luật đầu tư trong nước vàluật đầu tư nước ngoài “ khẳng định sự đúng đắn trong chủ trương, đường lối chínhsách mở cửa nền kinh tế của Đảng ta Với sự ra đời của “luật đầu tư nước ngoài” đãtạo nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ViệtNam, cũng như việc nhập khẩu trang thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất
Từ năm 1987 đến nay luật đầu tư nứơc ngoài đã được bổ sung, sửa đổi đểphù hợp với kinh tế trong nước và thị trường quốc tế Luật đầu tư được sửa đổi vàocác năm 1990,1992, 1996, 2000 đã tạo nhiều thuận lợi cho sự đầu tư nước ngoài.Đặc biệt vào năm 2005 Quốc hội ban hành luật đầu tư nước ngoài có hiệu lực từngày 01/07/2006 và thay thế cho luật đầu tư nước ngoài và luật khuyến khích đầu
tư trong nước Với luật đầu tư nước ngoài năm 2005 Việt Nam đã khẳng định vớitoàn thế giới rằng: trong luật Việt Nam luôn coi trọng bình đẳng doanh nghiệptrong nước và nước ngoài; đã đơn giản hoá thủ tục đầu tư, đáp ứng các điều kịênyêu câù hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường sự quản lí của nhà nước Sự ra đời củaluật đầu tư năm 2005 đã hoàn thiện hơn hệ thông pháp luật Việt Nam cũng như đápứng sự biến đổi khách quan của quốc tế để nâng cao khả năng thu hút và sử dụng
có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 12Luật đầu tư năm 2005 đã cụ thể hoá việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp đầu tưnước ngoài từ cấp Trung ương đến cấp địa phương Mỗi cấp khác nhau, có nhiệm
vụ khác nhau và cùng hỗ trợ để xây dựng “ đòn bẩy” cho sự phát triển kinh tế
Trong thời gian qua Chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Việt Nam được phát triểnmạnh nhất trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nứoc ngoài Việc đất nước gia nhập
tổ chức ASEAN, WTO càng tạo nhiều cơ hội cho Việt Nam thu hút vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài
2.2 TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TỪ
NĂM 1988- 2008Kinh tế thời mở cửa, việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có ý nghĩa
vô cùng to lớn Giai đoạn 1988- 2008 Đảng và nhân dân ta có nhiều thành tựu vượtbậc trong sự phát triển kinh tế nhất là việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Từ năm 1988 - 1990 Việt Nam có kết quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài là 214 dự án với tổng số vốn đăng kí cấp mới 1,6 tỉ USD Việc đầu tư trựctiếp nước ngoài không ảnh hưởng đến kinh tế xã hội Trong giai đoạn 1991-1995vốn đầu tư nước ngoài tăng lên là 1409 dự án với tổng vốn đăng kí cấp mới là 18,3
tỉ USD Đến thời gian từ năm 1991 -1996 con số thu hút vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài tăng lên nhanh chóng là 1781 dự án được cấp phép trên tổng số vốn đăng kí
là 28,3 tỷ USD Đây là giai đoạn mà môi trường đầu tư tại việt nam thu hút nhiềunhà đầu tư kinh doanh của một số nước trong khu vực Trong 3 năm 1997-1999 có
961 dự án được cấp phép trên tổng số vốn đăng kí hơn 13 tỷ USD chủ yếu là các dự
án vừa và nhỏ Từ năm 2000-2003 dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việtnam có nhiều điểm “khởi sáng” Vốn đăng lí cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD,tăng 2,1% so với năm 1999; năm 2001 so với năm 2000 tăng 18,2%; năm 2003tăng 6% so với năm 2001; năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng 75,4%; vào năm
2007 đạt mức kỉ lục là 20,3 tỉ USD tăng 69% so với năm 2006