Trong giải quyết tranh chấp môi trường, các nguyên tắc cơ bản luôn đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, định hướng và áp dụng vào toàn bộ các giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp. Đồng thời, pháp luật cũng quy định khi tiến hành giải quyết tranh chấp môi trường thì cần phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định. Vì vậy, để nghiên cứu, làm rõ hơn việc pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này, em xin chọn đề tài: “ Nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp môi trường.”
Trang 1MỤC LỤC
MỞ BÀI……….……….1
NỘI DUNG……….1
I.Khái quát chung……… ….1
1.Khái niệm……….1
2 Yêu cầu khi giải quyết tranh chấp môi trường……….1
II.Nguyên tắc giải quyết tranh chấp môi trường ……… ……….2
1.Nguyên tắc công quyền can thiệp ……….……….2
2.Nguyên tắc phòng ngừa……… …….4
3.Nguyên tắc phối hợp hợp tác ……….5
4.Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả giá ……….6
5 Nguyên tắc tham vấn chuyên gia ……….9
III Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp môi trường ……….10
1.Kiểm tra, xác minh những nội dung được phản ánh trong các đơn thư khiếu kiện… ……….……….….………10
2 Hướng dẫn bên bị thiệt hại thu thập chứng cứ về sự thiệt hại và xác định yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ……….11
3.Tham gia giải quyết tranh chấp, góp phần điều hòa lợi ích giữa các bên xung đột… ……….……….……11
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ BÀI
Trang 2Trong giải quyết tranh chấp môi trường, các nguyên tắc cơ bản luôn đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, định hướng và áp dụng vào toàn bộ các giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp Đồng thời, pháp luật cũng quy định khi tiến hành giải quyết tranh chấp môi trường thì cần phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định Vì vậy, để nghiên cứu, làm rõ hơn việc pháp luật quy định như thế nào về vấn
đề này, em xin chọn đề tài: “ Nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp môi
trường.”
NỘI DUNG I.Khái quát chung
1.Khái niệm
Tranh chấp môi trường là những xung đột giữa các tổ chức, cá nhân, cộng đồng
dân cư về quyền và lợi ích liên quan đến việc phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, về việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và môi trường, về quyền được sống trong môi trường trong lành và quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản do ô nhiễm môi trường gây nên
Giải quyết tranh chấp môi trường là các hoạt động khắc phục, loại trừ tranh chấp đã phát sinh bằng một phương pháp nào đó, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội
2 Yêu cầu khi giải quyết tranh chấp môi trường.
- Ưu tiên bảo vệ các quyền và lợi ích chung về môi trường của cộng đồng, xã hội
- Đảm bảo duy trì mối quan hệ bảo vệ môi trường giữa các bên để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
- Ngăn chặn sớm nhất sự xâm hại đối với môi trường Do tính chất không thể sửa chữa được đối với những thiệt hại môi trường nên các tranh chấp môi trường nảy sinh khi thiệt hại thực tế chưa xảy ra cũng phải được giải quyết triệt để nhằm ngăn chặn trước hậu quả
- Đảm bảo xác định một cách có căn cứ giá trị thiệt hại về môi trường Do thiệt hại
về môi trường thường rất lớn và khó xác định nên việc đánh giá đầy đủ những thiệt hại xảy ra đối với môi trường cũng như ảnh hưởng của nó đến các mặt kinh tế, xã hội đòi hỏi phải dựa trên những căn cứ khoa học nhất định và sự kết luận của các nhà chuyên môn
Trang 3- Giải quyết nhanh chóng, kịp thời các tranh chấp môi trường nảy sinh.
II.Nguyên tắc giải quyết tranh chấp môi trường.
1.Nguyên tắc công quyền can thiệp.
a) Cơ sở của nguyên tắc
- Xuất phát từ đặc điểm tranh chấp môi trường là xung đột môi trường mà trong
đó lợi ích công, lợi ích tư thường gắn chặt với nhau, chính vì vậy giải quyết tranh chấp môi trường không phải là vấn đề riêng giữa các bên tranh chấp mà nó còn là vấn đề của toàn xã hôi Để đại diện cho lợi ích của toàn xã hội, nhà nước phải có trách nhiệm trong việc giải quyết tranh chấp môi trường
- Hơn nữa chức năng của nhà nước là chức năng thực hiện quản lí xã hội, đảm bảo phúc lợi công công Do vậy nhà nước không thể đứng ngoài những quan hệ xung đột trong lĩnh vực môi trường Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, sự can thiệp của công quyền vào việc giải quyết tranh chấp cần được xem là loại trách nhiệm công vụ
- Cần có một bên thứ ba để điều hòa lợi ích giữa các bên tranh chấp, đồng thời giải quyết triệt để các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh, ổn định môi trường tự nhiên
b)Nội dung.
Khi có tranh chấp môi trường phát sinh, các cơ quan công quyền không thể
đứng ngoài những xung đột trong lĩnh vực này Do đó các cơ quan này với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật trao cho sẽ đề ra những giải pháp, định hướng cho các bên tranh chấp những cách thức giải quyết tranh chấp phù hợp Việc định hướng này mang tính bắt buộc đối với các bên chứ không mang tính tham khảo.Cách tiếp cận bảo vệ môi trường nói chung và giải quyết tranh chấp môi trường nói riêng theo hướng coi sự can thiệp của các cơ quan công quyền là yếu tố không thể thiếu nhưng chỉ nên xem là giải pháp cuối cùng
Để tránh tình trạng tuyệt đối hóa vai trò của Nhà nước, coi bảo vệ môi trường
nói chung, giải quyết tranh chấp môi trường nói riêng là trách nhiệm chỉ của Nhà nước thì cần phải làm rõ mức độ can thiệp của công quyền trong lĩnh vực này, vì điều
đó sẽ triệt tiêu tính tự chủ của người dân trong việc tìm các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường, điều hòa xung đột,thậm chí trong nhiều trường hợp còn đẩy người sử dụng , khai thác các thành phần môi trường vào tình trạng đối phó, trốn tránh trách nhiệm bảo vệ môi trường
c)Ý nghĩa.
Trang 4- Nâng cao hiệu quả của quá trình giải quyết tranh chấp, định hướng cho các bên
giải quyết được mâu thuẫn, xung đột, điều hòa lợi ích, ổn định môi trường tự nhiên
- Khẳng định vị trí là đại diện cho lợi ích của toàn xã hội
d) Liên hệ thực tế.
Nhiều vụ việc giải quyết tranh chấp môi trường đã có sự tham gia tích cực của
cơ quan nhà nước và đã được giải quyết 1 cách triệt đề Như với vụ tranh chấp giữa cộng đồng dân cư của một xã thì vai trò của UBND cấp xã như là một bên tham gia vào quá trình thương lượng là cần thiết Công quyền chính là một bên để cân bằng lợi ích giữa các bên dưới góc độ là đại diện nhà nước gần gũi nhất, vừa đảm bảo sự phát triển kinh tế của địa phương, lại vừa phải đảm bảo môi trường được bảo vệ vì sức khỏe của người dân
Tuy nhiên sự can thiệp quá sâu của công quyền hiện nay cũng đưa tới nhiều vấn
đề Thực tế cho thấy, áp dụng một cách tuyệt đối hóa vai trò nhà nước, áp dụng một cách cứng nhắc phương pháp quản lý hành chính mệnh lệnh, cưỡng chế…đã bộc lộ nhiều bất cập rõ rệt, triệt tiêu tính tự chủ của người dân trong việc tìm ra các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường, điều hòa xung đột Thậm chí, trong nhiều trường hợp còn đẩy người khai thác, sử dụng các thành phần môi trường vào tình trạng đối phó, trốn tránh trách nhiệm bảo vệ môi trường
Trong các vụ tranh chấp môi trường thì chính quyền đứng trung gian, và người
dân mong chờ chính quyền cơ sở can thiệp Trong khi đó, chính quyền cơ sở không phải là bên gây ô nhiễm, nên chỉ tiếp nhận đơn chứ không có trách nhiệm trả lời đơn thư của dân.Trên thực tế, các cơ quan có thẩm quyền chỉ giải quyết các tranh chấp môi trường khi có xung đột xảy ra, với cách nhìn như là giải quyết các xung đột gây mất trật tự an ninh Giải quyết để không còn xung đột chứ không phải giải quyết vấn
đề môi trường, nên không xử lý triệt để được vấn đề
Cách tiếp cận bảo vệ môi trường nói chung, giải quyết tranh chấp môi trường nói
riêng theo hướng coi sự can thiệp của cơ quan công quyền là yếu tố không thể thiếu
nhưng chỉ nên xem là giải pháp cuối cùng đang dần chiếm ưu thế Từ khía cạnh giải
quyết tranh chấp, sử dụng các công cụ, phương pháp kinh tế sẽ giúp các bên tranh chấp có điều kiện lựa chọn các phương thức thương lượng, hòa giải, khi đó giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc của các bên, góp phần làm giảm đáng kể chi phí xã hội
2.Nguyên tắc phòng ngừa
Trang 5a) Cơ sở nguyên tắc.
- Tiền đề của nguyên tắc này là nếu có những điều không chắc chắn hoặc không rõ
về bản chất hoặc mức độ, quy mô của sự nguy hại đến môi trường thì người ra quyết định cần hết sức thận trọng, cần cân nhắc giữa cái được, cái mất để các bên có thể đi đến thống nhất các phương án loại trừ hoặc hạn chế mức thấp nhất tác động xấu đến môi trường từ các hoạt động phát triển
- Nguyên tắc này cũng xuất phát từ đặc điểm tranh chấp môi trường có thể phát sinh từ khi chưa có thiệt hại xảy ra
b) Nội dung.
Nội dung chính của nguyên tắc này xuất phát từ Tuyên bố Rio 1992, Tổ chức Liên hợp quốc về Văn hóa, Khoa học và Giáo dục (UNESCO) liên quan đến quyền con người được sống trong môi trường trong lành
Trong công tác bảo vệ môi trường cũng như giải quyết tranh chấp về môi trường, việc chủ động phòng ngừa các tác động xấu đối với môi trường cũng như hạn chế thấp nhất các tranh chấp có thể xảy ra được đặt lên hàng đầu Nguyên tắc này được hiểu theo hướng khi các hoạt động của con người gây đe dọa thiệt hại nghiêm trọng và không thay đổi được và đó là hợp lý về khoa học thì dù chưa chắc chắn, cũng cần có hành động để tránh và giảm nhẹ đe dọa đó Khi thiếu các căn cứ khoa học chắn chắn đầy đủ để thiết lập mối liên hệ nhân quả giữa hoạt động của con người
và tác động về môi trường, tòa án sẽ áp dụng nguyên tắc phòng ngừa để giải quyết vụ
án này Nguyên tắc này được áp dụng khi có các yếu tố có thể được xem xét như: có mối liên hệ tới tính mạng, sức khỏe con người; sự bất bình đẳng cho thế hệ hiện tại, tương lai; không gây tổn hại đến việc xem xét các quyền môi trường bị ảnh hưởng
c) Ý nghĩa
Nguyên tắc phòng ngừa đặc biệt có ý nghĩa trong việc giải quyết những vụ kiện đòi chấm dứt các mối nguy hiểm tiềm tang đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng từ các hoạt động phát triển, nhất là các dự án có quy mô lớn như: án xây dựng nhà máy hóa chất,các công trình thủy điện,nhiệt điện,đường giao thông…
d) Liên hệ thực tế.
Luật pháp Việt Nam chưa có những quy định rõ ràng về nguyên tắc này, nên khó có căn cứ để giải thích, thuyết phục các bên Thực tiễn có nhiều vụ kiện đòi chấm dứt các mối nguy hiểm tiềm tàng đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng từ
Trang 6các hoạt động phát triển, nhất là các dự án có quy mô lớn như các dự án xây dựng nhà máy háo chất, các công trình thủy điện, nhiệt điện, ddienj nguyên tử,… Do vậy nếu không thể lường trước được những hậu quả mà các dự án đầu tư tác động đến môi trường thì cần phòng ngừa hạn chế đến mức thấp nhất các tác động xấu đến môi trường Điển hình như việc Lào Cai quyết định ngừng 39 dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh vì cho rằng các dự án này có ảnh hưởng tới môi trường sinh thái Đây là sự thể hiện của việc áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong giải quyết tranh chấp môi trường trên thực tế
3.Nguyên tắc phối hợp hợp tác.
a) Cơ sở
Để có thể duy trì mối quan hệ lâu dài giữa các bên tranh chấp trong việc cùng tìm ra các giải pháp khắc phục thiệt hại, cần áp dụng nguyên tắc phối hợp, hợp tác giữa các bên khi tiến hành giải quyết tranh chấp
b) Nội dung
Nguyên tắc này có thể được hiểu là thông qua hoạt động giải quyết tranh chấp
để liên kết tất cả các bên tham gia Khi đó, họ sẽ có cơ hội đối thoại trực tiếp với nhau, thông tin đầy đủ cho nhau và cùng xây dựng những cam kết có tính đồng thuận
xã hội, cùng nhau xác định trách nhiệm, chia sẻ quyền lợi và tìm tiếng nói chung để ngăn chặn nguy cơ hủy hoại môi trường, nhằm hướng tới phát triển bền vững
Rõ ràng trước khi giải quyết tranh chấp, các bên phải thể hiện động cơ tích cực là mong muốn được thương lượng với nhau, bởi vì đây sẽ là yếu tố quan trọng thúc đẩy và dẫn dắt đến sự thành công của quá trình giải quyết tranh chấp Tuy vậy, không phải trong mọi trường hợp, các bên tranh chấp đều có chung thiện ý, nhất là khi vị thế của họ không tương xứng với nhau Trong tranh chấp môi trường vị thế của các bên thường không cân bằng Phần lớn các tranh chấp môi trường có bên tham gia là chủ các dự án phát triển hoặc các cơ quan quản lí, trong khi phía bên kia chỉ là những thường dân với những yêu cầu, đòi hỏi về chất lượng môi trường sống chung của con người Nếu như không có sự phối hợp hợp tác, đi đến thỏa thuận thống nhất thì chỉ cần một bên không có thiện chí là sẽ khó khăn cho các quá trình sau này
c) Ý nghĩa.
Trang 7- Từ phương diện xã hội thì đây được coi là cách tốt nhất để tổng hợp mọi nguồn lực xã hội vào việc khắc phục, cải thiện chất lượng môi trường sống của con người
- Giam thiểu những tranh chấp không đáng có, tạo điều kiện cho các bên hòa hợp, chung tay phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
d) Liên hệ thực tế.
Thực tế hiện nay, hầu hết các tranh chấp diễn ra hiện nay là tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường giữa một bên là công ty lớn gây ô nhiễm hoặc chủ các dự án phát triển, trong khi phía bên kia chỉ là những người dân thường với những yêu cầu vì mục đích bảo vệ môi trường sống chung của họ hoặc các thiệt hại về sức khỏe và tài sản của họ do ô nhiễm môi trường Như vậy, dường như những người dân phải gánh chịu ô nhiễm luôn ở vị trí yếu thế hơn Đây là một minh chứng
rõ cho những khó khăn của việc áp dụng nguyên tắc phối hợp hợp tác khi mà vị thế của hai bên không cân xứng nhau
4)Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả giá.
a) Cơ sở
Nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm cho rằng mỗi người trong xã hội đều có quyền được sống trong một môi trường trong lành, vì vậy nếu có chủ thể nào đó gây
ô nhiễm môi trường thì phải gánh chịu hậu quả, tiến hành các biện pháp khắc phục
và bồi hoàn một khoản tiền cho người bị thiệt hại do những tác động của ô nhiễm môi trường gây ra
b) Nội dung
Pháp luật môi trường của nhiều nước trên thế giới cũng đều sự dụng nguyên tắc này như 1 trong những cách thức chính nhằm cụ thể hóa sự trả giá của những chủ thể gây ra ô nhiễm môi trường
Nội dung của nguyên tắc này là khi thực hiện những hành vi gây nguy hại đến môi trường và con người thì họ sẽ phải gánh chịu những hậu quả nhất định Người đứng đầu trực tiếp của tổ chức phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm pháp luật gây ô nhiễm môi trường của tổ chức mình, phải có trách nhiệm khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra Nếu cá nhân gây ô nhiễm môi trường do thực hiện nhiệm vụ của tổ chức giao thì tổ chức đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trang 8Điều 130 Luật bảo vệ môi trường đã liệt kê các loại thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra Nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 585 BLDS năm 2015, theo đó, các thiệt hại phải được bồi thường đầy đủ và kịp thời, Bộ luật dân sự cũng quy định việc xác định thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, (từ Điều 589 đến Điều 593) Thiệt hại về suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường được quy định tại Điều 131 Luật bảo vệ môi trường
Theo đó người gây ô nhiễm phải áp dụng các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường và phải bồi thường thiệt
hại về môi trường, về tính mạng, sức khỏe và tài sản cho nạn nhân ( nếu có)
c)Ý nghĩa
- Với nội dung này, nguyên tắc người gây ô nhiễm môi trường phải trả giá đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại về môi trường,thiệt hại về con người do người gây ô nhiễm môi trường gây nên
- Nguyên tắc này thể hiện rõ các biện pháp trong bảo vệ môi trường, dùng các lợi ích để tác động vào chính hành vi của các chủ thể theo hướng có lợi cho môi trường
- Nâng cao ý thức trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong vấn đề bảo
vệ môi trường, góp phần răn đe, hạn chế hành vi vi phạm trong lĩnh vực môi trường
d) Liên hệ thực tế.
Ở Việt Nam trong thời gian qua, nhiều công ty gây ô nhiễm môi trường phải trả giá cho hành vi của mình Hiện nay tranh chấp môi trường được coi là xuất hiện ngay
cả khi thiệt hại chưa xảy ra trên thực tế Do đó, phạm vi áp dụng nguyên tắc này mở rộng đối với người có hành vi có khả năng gây thiệt hại Những người này có trách nhiệm hỗ trợ về mặt tài chính cho những người thuộc diện sẽ phải chịu những ảnh hưởng của môi trường do mình gây nên và vẫn phải bồi thường thiệt hại(nếu có) Trên thực tế, nguyên tắc người gây ô nhiêm phải trả giá được áp dụng khá đầy
đủ, khi gây ô nhiễm môi trường, đa phần các chủ thể đều tiến hành khắc phục và bồi
thường cho người dân khi có thiệt hại xảy ra Chẳng hạn như vụ gây ô nhiễm môi
trường trên sông Bưởi (Thanh Hóa) xảy ra từ tháng 3 và 4-2016 do nhà máy mía đường Hòa Bình (Hòa Bình) ở thượng nguồn sông Bưởi xả nước thải chưa qua xử lý
ra môi trường, gây ô nhiễm hạ lưu sông Bưởi, làm cá sông và cá nuôi lồng bè chết hàng loạt ở huyện Thạch Thành (Thanh Hóa).Nước thải của nhà máy đã làm nước sông Bưởi ô nhiễm, đổi màu đục, nổi bọt và bốc mùi hôi thối Nguồn nước sông ô
Trang 9nhiễm đã đe dọa đến nguồn nước sinh hoạt của người dân 15 xã huyện Thạch Thành (Thanh Hóa).Nhà máy mía đường Hòa Bình cũng đã nhận trách nhiệm và bồi thường 1,4 tỉ đồng cho người dân khu vực chịu thiệt hại
Tuy nhiên thời gian qua vẫn nhiều doanh nghiệp, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Ngoài việc bị phạt tiền, họ còn bị buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả Tuy nhiên, nhiều nơi chỉ đóng phạt, không thực hiện hoặc thực hiện chưa triệt để các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường.Các cơ sở pháp lý, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường về các loại tội phạm còn hạn chế chưa đủ mạnh Cụ thể, có rất ít trường hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lý hình sự, còn các biện pháp xử lý khác như: buộc phải di dời ra khỏi khu vực ô nhiễm, đóng cửa và đình chỉ hoạt động của cơ sở gây ô nhiễm môi trường cũng không được áp dụng nhiều, hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức năng thiếu kiên quyết nên doanh nghiệp lỳ đòn
Điển hình là vụ Vedan đưa nước thải vào môi trường gây ô nhiễm, đã tác động đến hệ sinh thái, hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân.Vedan phải đền bù thiệt hại cho người dân Đây là minh chứng rõ ràng cho những khó khăn của việc áp dụng nguyên tắc trên Người vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường thì tùy tính chất mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Vấn đề gây ô nhiễm, suy thoái, thiệt hại cho môi trường tự nhiên thường do
nhiều chủ thể gây ra và phạm vi tác động, gây ô nhiễm rất rộng (dòng sông, lưu vực sông, ao hồ, vùng biển, cánh đồng…) Vì vậy, việc xác định chính xác chủ thể trực tiếp gây thiệt hại để yêu cầu chịu trách nhiệm là rất khó Hơn nữa việc xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường là vấn đề không đơn giản bởi hành vi vi phạm gây ô nhiễm môi trường thường kéo dài trong nhiều năm nên người dân không có đủ điều kiện để phát hiện và chứng minh thiệt hại, do đó không có chế tài đối với các cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường khi các cơ quan này không hỗ trợ người dân xác định thiệt hại thì chế định bồi thường thiệt hại do hành vi ô nhiễm môi trường gây ra mãi vẫn chỉ nằm trên giấy bởi người dân hiện nay rất khó khăn, thậm chí là không thể xác định thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra
5 Nguyên tắc tham vấn chuyên gia.
a)Cơ sở
Trang 10Do xuất phát từ thiệt hại môi trường rất khó xác định, nên để xác định một cách
có căn cứ khoa học thiệt hại xảy ra đối với môi trường, sức khỏe và tài sản của các nạn nhân trong các tranh chấp môi trường cần sử dụng cơ chế tham vấn chuyên gia
b) Nội dung.
Các chuyên gia sẽ dựa vào các phương tiện kĩ thuật đo đạc, xét nghiệm mẫu, từ
đó có các kết luận khách quan,trung thực về mối liên hệ giữa nguyên nhân và hậu quả,về mức độ thiệt hại Khi đó các số liệu mới trờ thành căn cứ khoa học pháp lý giúp các bên tranh chấp cũng như cơ quan có thẩm quyền đánh giá,dự báo và kết luận đầy đủ về tính chất, mức độ cũng như những ảnh hưởng đến các vấn đề môi trường, để đưa ra các phán quyết đảm bảo tính chính xác, khách quan
Các chuyên gia có thể làm việc trong rất nhiều lĩnh vực như: kinh tế học, y học, sinh học, hóa học, vật lý học, khoa học quản lý và bảo vệ môi trường Những bằng chứng góp phần làm sáng tỏ nội dung các vụ kiện về môi trường phải là kết quả làm việc của tập thể các chuyên gia,các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực như:
c)Ý nghĩa.
- Việc tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong quá trình giải quyết tranh chấp
môi trường là điều rất cần thiết để giai quyết các tranh chấp 1 cách chính xác
- Sự tham gia của các chuyên gia trong quá trình giải quyết tranh chấp dóng vai trò khá quan trọng, góp phần xác định 1 cách có căn cứ khoa học thiệt hại xảy ra đối với môi trường, tính mạng, sức khỏe và tài sản của các nạn nhân, đảm bảo việc giải quyết được chính xác nhất có thể
- Trong số các nguyên tắc được vận dụng khi giải quyết tranh chấp môi trường, nguyên tắc ưu tiên sử dụng là người gây ô nhiễm phải trả giá và tham vấn chuyên gia
d) Liên hệ thực tế.
Gần đây, trong các vụ tranh chấp môi trường ở nước ta, nguyên tắc này đã được hiện thực hóa Trong vụ Vedan, để xác định chính xác thiệt hại mà người dân phải gánh chịu, Viện Tài nguyên và Môi trường đã cùng tham gia vào quá trình xác định thiệt hại
Tuy nhiên thực tế cho thấy, nhiều vụ tranh chấp môi trường mang nhiều dấu hiệu, tình tiết phức tạp nhưng vẫn được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục thường mà không đề cập đến vấn đề tham vấn, hỏi ý kiến của các chuyên gia, những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực môi trường Việc này dẫn đến vụ việc