Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 thì:“Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân s
Trang 11.Giá trị pháp lý của văn bản công chứng”.
a)Khái niệm công chứng.
Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 thì:“Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiến gnước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”
b)Đặc điểm của công chứng.
- Hoạt động công chứng do CCV của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện CCV là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định và phải được Bộ trưởng BộTư pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng Còn tổ chức hành nghề công chứng bao gồm Phòng Công chứng và Văn phòng Công chứng được tổ chức và thành lập theo quy định của pháp luật
- Hoạt động công chứng tạo lập và cung cấp văn bản công chứng có giá trị pháp lí
- Nội dung công chứng là xác định tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch
- Hoạt động công chứng góp phần bảo đảm pháp chế XHCN, phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường quản lí nhà nước bằng pháp luật
2 Văn bản công chứng
a) Khái niệm văn bản công chứng
- Theo quy định của LuậtCôngchứng tại khoản 4 Điều 2 thì: “văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được Công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật này” Nhưvậy, văn bản công chứng là những tài liệu đã được CCV chứng nhận tính xác
thực, tính hợp pháp, không trái với đạo đức xã hội Hợp đồng, giao dịch là sự thỏa thuận bằng văn bản của các bên trong quan hệ dân
sự, thương mại, đấ tđai,…,
- Bản dịch chính là văn bản, giấy tờ được dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếngViệt
- Văn bản công chứng có hiệu lựckể từ ngày được CCV ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng
b) Đặc điểm của văn bản công chứng
- Chính xác về ngày tháng năm công chứng, chủ thể, địa điểm;
- Chính thức hoá, công khai các sự kiện pháp lý;
- Nội dung trong văn bản công chứng phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội;
- Có sự tuân thủ về mặt hình thức của văn bản công chứng
- Tuân thủ các nguyên tắc về thủ tục, trình tự công chứng
II.Giá trị pháp lý của văn bản công chứng
1.Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành với các bên.
Căn cứ theo Khoản 2 Điều 5 Luật Công chứng 2014 quy định thì :“ Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác”
1
Trang 2Các bên liên quan trong hợp đồng, giao dịch bao gồm 2 bên ký kết hợp đồng, giao dịch và có thể có bên thứ ba là những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung của hợp đồng, giao dịch Ví dụ A lấy xe máy của B đưa cho C để vay tiền, thì B chính là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nói văn bản công chứng có giá trị thi hành có nghĩa là những gì đã thoả thuận trong văn bản công chứng thì có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên trong hợp đồng, giao dịch đồng thời đối với cả bên thứ ba Trước hết, xét trong mối quan hệ giữa các bên giao kết hợp đồng thì hiển nhiên là những gì mà họ đã cam kết trong hợp đồng, giao dịch thì họ phải có nghĩa vụ thực hiện, không được bội ước Chẳng hạn 1 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được các bên kí kết và đã được công chứng thì các cơ quan và cá nhân có liên quan cũng phải công nhận và làm các thủ tục có liên quan
Thực tế thì quy định này của Luật Công chứng chính là dựa trên nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên cũng như quyềntự do giao kết hợp đồng của các chủ thể Hợp đồng thể hiện sự thống nhất về ý chí của các bên giao kết hợp đồng, vậy nên khi các bên đã thỏa thuận những nội dung gì thì phải có nghĩa vụ thực hiện những nội dung đó Việc các bên ký kết hợp đồng, đã thể hiện
sự chấp nhận ràng buộc với các quy định của pháp luật liên quan đến nội dung đã thỏa thuận; tức là những hợp đồng, giao dịch dù không quy định phải côngchứng thì vẫn được các bên tự giác chấp hành Việc quy định thêm hợp đồng, giao dịch cần phải công chứng hoặc các bên yêu cầu công chứng chỉ làm nâng cao giá trị pháp lý của văn bản này, đồng thời cũng làm nâng cao ý thức thực hiện hợp đồng của các bên
Luật xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp 1 bên không thực hiện nghĩa vụ của của mình trong văn bản công chứng là Tòa án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Có thể nói việc quy định hiệu lực thi hành của văn bản công chứng như trên là phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta hiện nay, đồng thời cũng dần tiếp cận với các quy định về hiệu lực thi hành của văn bản công chứng theo các nước thuộc trường phái công chứng Latine trên thế giới
2 Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ
Giá trị chứng cứ của văn bản công chứng được quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật Công chứng như sau:“Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu”
Các văn bản công chứng có giá trị xác thực, giá trị pháp lý và độ tin cậy hơn hẳn các loại giấy tờ không có chứng nhận xác thực hoặc chỉ trình bày bằng miệng Chính vì vậy, văn bản công chứng còn có giá trị được xem như là chứng cứ chứng minh khi xảy ra tranh chấp Thậm chí trong một số trường hợp, việc thực hiện công chứng được xem là một trong những điều kiện để hợp đồng có hiệu lực, điều này có nghĩa là nếu các bên không thực hiện công chứng theo quy định thì hợp đồng sẽ bị vô hiệu về mặt hình thức dẫn đến việc các bên có thể phải chấm dứt hợp đồng, và bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại cho bên còn lại theo quy định pháp luật về dân sự Vấn đề giá trị chứng cứ của văn bản công chứng không phải chứng minh cũng đã được quy định tại khoản 9 Điều 94 BLTTDS
năm 2015 Tiếp đó tại Điều 95 Bộ luật này về xác định chứng cứ có quy định: “văn bản côngchứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việccôngchứng, chứng thực được thực hiện theođúng thủ tục do pháp luật quy định” Văn bản công chứng theo đó có thể là nguồn
chứng cứ đồng thời cũng có thể là chứng cứ (khi cả văn bản được sử dụng) Cơ sở của quy định này xuất phát từ việc thừa nhận chức năng của Công chứng viên về chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giao dịch Tính xác thực do Công chứng viên chứng nhận biến các tình tiết, sự kiện có trong hợp đồng, giao dịch trở thành chứng cứ hiển nhiên trước tòa
Vấn đề không phải chứng minh cũng được quy định trong Điểm c, Khoản 1 Điều 92 BLTTDS : “ Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính”
Trang 3Đây không phải là quy định mới, mà ngay cả trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 cũng đã quy định về việc này Những quy định này xuất phát từ nội dung của hoạt động công chứng, đó là chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp Khi người có yêu cầu côngc hứng đến thực hiện các thủ tục thì CCV phải thực hiện những biện pháp nghiệp vụ để xác định năng lực chủ thể của người yêu cầu, tìm hiểu vấn đề liên quan đến nội dung cần công chứng,… và CCV phải chịu trách nhiệm về những nội dung được công chứng
Pháp luật công chứng cũng khẳng định giá trị chứng cứ của văn bản công chứng sẽ bị bác bỏ khi bị Tòa án tuyên là vô hiệu Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật Như vậy có nghĩa là Tòa án không thể tuyên văn bản công chứng vô hiệu một cách tùy tiện Một người muốn yêu cầu Tòa án tuyên bố một văn bản công chứng là vô hiệu thì phải chứng minh được văn bản công chứng đó được lập một cách trái pháp luật Nếu không chứng minh được điều đó thì văn bản công chứng sẽ được công nhận là chứng cứ hiển nhiên trước Tòa án Như vậy, vai trò phòng ngừa của Công chứng viên thể hiện ở chỗ ngay khi lập hợp đồng, các bên giao kết hợp đồng đã củng cố chứng cứ về việc ký kết hợp đồng đó để đề phòng các tranh chấp về sau
3 Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch.
Việc dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt để công chứng phải do người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện.Cộng tác viên phải chịu trách nhiệm đối với tổ chức hành nghề công chứng về tính chính xác, phù hợp của nội dung bản dịch do mình thực hiện.Công chứng viên chứng nhận chữ ký trong bản dịch đúng là chữ ký của người phiên dịch; chứng nhận nội dung bản dịch là chính xác, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội1 Chính những quy định này đã thể hiện trách nhiệm của công chứng viên và người dịch đối với bản dịch, đồng thời làm cho bản dịch có tính xác thực trước pháp luật, được pháp luật thừa nhận và có giá trị sử dụng như những giấy tờ, văn bản được dịch
2
Khái niệm
Theo khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng 2014:
Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng
Theo khoản 2,3,4 Nghị định 23/2015/NĐ-CP:
Chứng thực là việc cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính, hoặc chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực
Bản chất pháp lý
- Bảo đảm nội dung của một hợp đồng, một giao dịch, công chứng
viên chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó
và qua việc bảo đảm tính hợp pháp để giảm thiểu rủi ro
- Mang tính pháp lý cao
- Chứng nhận sự việc, không đề cập đến nội dung, chủ yếu chú trọng về mặt hình thức là đã giống với bản chính
Thẩm quyền
Thực hiện bởi Công chứng viên từ 2 tổ chức:
- Phòng công chứng (do UBND cấp tỉnh quyết định thành lập, là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng)
- Văn phòng công chứng (do 02 công chứng viên hợp danh trở lên thành lập theo loại hình tổ chức của công ty hợp danh, có con dấu
và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác)
- Phòng Tư pháp
- UBND xã, phường
- Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự và Cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài
- Công chứng viên
Giá trị pháp lý - Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên- Bản sao được chứng thực từ bản chính
1Xemthêm Điều 61 LuậtCôngchứng 2014
3
Trang 4ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.
- Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác
- Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu
- Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch
có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Chữ ký được chứng thực có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ
ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản
- Hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch
3.Hỏi: Những văn bản không được chứng thực khác do pháp luật quy định là những văn bản nào ?
Đáp: Điều 16 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/5/2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực
bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký quy định trường hợp không được chứng thực bản sao từ bản chính như sau:
- Bản chính được cấp sai thẩm quyền hoặc giả mạo
- Bản chính đã bị tẩy xoá, sửa chữa, thêm, bớt hoặc đã bị hư hỏng, cũ nát không thể xác định rõ nội dung
- Bản chính không được phép phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật - Đơn, thư và các giấy
tờ do cá nhân tự lập không có chứng nhận, chứng thực hoặc xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
- Các giấy tờ, văn bản khác mà pháp luật quy định không được sao
Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về các văn bản khác không được chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền chứng thực theo Nghị định số 79/2007/NĐ-CP Nhưng từ thực tế và theo một số văn bản khác thì có một số giấy tờ, văn bản sau không chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định số 79/2007/NĐ-CP như sau:
1 Bản án của Tòa án:
Điều 241 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về việc Cấp trích lục bản án, bản án:
- Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày kết thúc phiên toà, các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện được Toà án cấp trích lục bản án
- Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày tuyên án, Toà án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp
Với quy định trên thì việc sao bản án được thể hiện dưới hình thức trích lục và được thực hiện bởi cơ quan ra bản án là tòa án Tuy nhiên có nhiều ý kiến cho rằng việc sao y bản án phải được thực hiện theo Nghị định số 79/2007/NĐ-CP và Ủy ban nhân dân cấp xã
có thẩm quyền chứng thực bản án, hơn nữa quy định tại Điều 241 Bộ luật Tố tụng dân sự nêu trên không quy định rõ, bản án chỉ được trích lục bởi tòa án mà không được chứng thực bản sao từ bản chính Nhưng vấn đề này vẫn còn nhiều bàn cãi Và trên thực tế thì việc sao bản án vẫn được thực hiện bởi tòa án dưới hình thức trích lục
2 Hóa đơn, chứng từ tài chính (biên lai thu lệ phí, phí …): Nghị định số 79/2007/NĐ-CP không quy định cụ thể về việc không được chứng thực hóa đơn, chứng từ tài chính nhưng so sánh với các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính (Thông tư 153/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ …) thì UBND cấp xã và các cơ quan chứng thực theo quy định tại Nghị định số 79/2007/NĐ-CP không có thẩm quyền chứng thực những loại giấy tờ này Việc sao hóa đơn, chứng từ tài chính sẽ do cơ quan phát hành hóa đơn, chứng từ đó thực hiện theo quy định
3 Văn bản là bản sao, như: Giấy khai sinh bản sao, giấy đăng ký kết hôn bản sao … Những loại văn bản này đương nhiên không được chứng thực vì việc sao y phải được thực hiện từ bản chính
Trên đây là một số ví dụ về văn bản không được chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định số
79/2007/NĐ-CP Ngoài ra, có một số văn bản khác đang còn nhiều ý kiến trái ngược về việc có được chứng thực theo thủ tục quy định tại Nghị
Trang 5định số 79/2007/NĐ-CP hay không, như: Hợp đồng, giao dịch dân sự ký kết giữa các cá nhân, tổ chức chưa được cơ quan có thẩm quyền xác nhận
4
Chào anh/chị! Cảm ơn anh/chị đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, Đối với yêu cầu hỗ trợ
của anh/chị chúng tôi tư vấn như sau:
Theo quy định, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bắt buộc phải được công chứng hoặc chứng thực mới phát sinh giá trị pháp lý Hợp đồng của bạn giao kết vào năm 2015, chưa được công chứng, chứng thực Nếu phát sinh tranh chấp và yêu cầu tòa án giải quyết, tòa sẽ yêu cầu các bên đi công chứng hoặc chứng thực, một trong các bên không có thiện chí thực hiện việc công chứng, chứng thực hợp đồng thì hợp đồng này bị tuyên vô hiệu về mặt hình thức Bạn sẽ phải trả lại đất và được nhận lại số tiền đã đưa cho bên bán Đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với giá trị đã bỏ ra để xây dựng nhà
Đây là quy định trong bộ luật dân sự năm 2005, tuy nhiên đến ngày 1/1/2017 là thời điểm có hiệu lực của bộ luật dân sự
2015 Khi đó, hợp đồng chưa được công chứng, chứng thực nhưng đã thực hiện được 2/3 nghĩa vụ của hợp đồng thì tòa án sẽ vẫn công nhận hiệu lực của hợp đồng viết tay này
5 “Hình thức tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay”
I/ Khái quát về các hình thức tổ chức hành nghề lu t sư ở Vi t Nam.ật sư ở Việt Nam ệt Nam
1 Đi u ki n thành l p t ch c hành ngh lu t s ều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư ện thành lập tổ chức hành nghề luật sư ập tổ chức hành nghề luật sư ổ chức hành nghề luật sư ức hành nghề luật sư ều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư ập tổ chức hành nghề luật sư ư.
Theo khoản 3 Điều 32 Luật Luật sư, để thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải đáp ứng hai điều kiện sau:
Thứ nhất, luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm
việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định của Luật Luật sư
Một luật sư chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một tổ chức hành nghề luật sư Trong trường hợp luật sư ở các Đoàn luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập một công ty luật thì có thể lựa chọn thành lập và đăng ký hoạt động tại địa phương nơi có Đoàn luật sư mà một trong các luật sư đó là thành viên
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày cấp Giấy đăng ký hoạt động, các luật sư thành lập, tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư không phải là thành viên của Đoàn luật sư nơi có tổ chức hành nghề luật sư phải chuyển về gia nhập Đoàn luật sư nơi có tổ chức hành nghề luật sư hoặc chi nhánh của tổ chức hành nghề theo quy định tại Điều 20 Luật Luật sư 2012
Thứ hai, tổ chức hành nghề luật sư phải có trụ sở làm việc.
Bên cạnh việc có trụ sở làm việc cố định, các tổ chức hành nghề luật sư còn có thể thành lập các chi nhánh hoặc văn phòng giao dịch ở trong hoặc ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tổ chức hành nghề luật sư đăng ký hoạt động Tuy nhiên, văn phòng giao dịch không được thực hiện việc cung cấp dịch vụ pháp lý Ngoài ra, Luật Luật sư cũng cho phép các tổ chức hành nghề luật sư được đặt cơ sở hành nghề luật sư ở nước ngoài nếu như được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép
2 Các hình th c t ch c hành ngh lu t s Vi t Nam hi n nay ức hành nghề luật sư ổ chức hành nghề luật sư ức hành nghề luật sư ều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư ập tổ chức hành nghề luật sư ư ở Việt Nam hiện nay ện thành lập tổ chức hành nghề luật sư ện thành lập tổ chức hành nghề luật sư.
Khoản 1 Điều 32 Luật Luật sư 2012 quy định hai hình thức tổ chức hành nghề luật sư chính ở Việt Nam bao gồm Văn phòng luật sư và Công ty luật
a) Văn phòng luật sư.
Văn phòng luật sư là tổ chức hành nghề luật sư do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân
Luật sư thành lập Văn phòng luật sư là Trưởng văn phòng và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa
vụ của văn phòng Trưởng văn phòng là người đại diện theo pháp luật của văn phòng
5
Trang 6Tên của văn phòng luật sư do luật sư lựa chọn và theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhưng phải bao gồm cụm từ “ văn phòng luật sư”, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề luật sư khác đã được đăng ký hoạt động, không
được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc
b) Công ty luật.
Công ty luật bao gồm công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn Thành viên của công ty luật phải là luật sư Công ty luật hợp danh do ít nhất hai luật sư thành lập Công ty luật hợp danh không có thành viên góp vốn Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do ít nhất hai luật sư thành lập Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một luật
sư thành lập và làm chủ sở hữu
Các thành viên công ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thoả thuận cử một thành viên làm Giám đốc công ty Luật sư làm chủ sở hữu công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên là Giám đốc công ty
Tên của công ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do các thành viên thoả thuận lựa chọn, tên của công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do chủ sở hữu lựa chọn và theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhưng
phải bao gồm cụm từ “công ty luật hợp danh” hoặc “công ty luật trách nhiệm hữu hạn”, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với
tên của tổ chức hành nghề luật sư khác đã được đăng ký hoạt động, không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch
sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc
3 Ph m vi ho t đ ng c a t ch c hành ngh lu t s ạm vi hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư ạm vi hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư ộng của tổ chức hành nghề luật sư ủa tổ chức hành nghề luật sư ổ chức hành nghề luật sư ức hành nghề luật sư ều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư ập tổ chức hành nghề luật sư ư.
- Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật
- Thực hiện tư vấn pháp luật
- Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật
- Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định như giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giúp đỡ về pháp luật trong trường hợp giả quyết khiếu nại, dịch thuật, xác nhận giấy tờ, các giao dịch,…
4 Th t c đăng ký ho t đ ng c a các t ch c hành ngh lu t s ủa tổ chức hành nghề luật sư ạm vi hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư ộng của tổ chức hành nghề luật sư ủa tổ chức hành nghề luật sư ổ chức hành nghề luật sư ức hành nghề luật sư ều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư ập tổ chức hành nghề luật sư ư.
Tổ chức hành nghề luật sư đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn luật sư mà Trưởng Văn phòng luật sư hoặc Giám đốc công ty luật là thành viên Công ty luật do luật sư ở các Đoàn luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập thì đăng ký hoạt động tại Sở tư pháp ở địa phương nơi có trụ sở của công ty
Tổ chức hành nghề luật sư phải có hồ sơ đăng ký hoạt động gửi Sở Tư pháp Hồ sơ gồm có:
a) Giấy đề nghị đăng ký hoạt động theo mẫu thống nhất;
b) Dự thảo Điều lệ của công ty luật;
c) Bản sao Chứng chỉ hành nghề luật sư, bản sao Thẻ luật sư của luật sư thành lập văn phòng luật sư, thành lập hoặc tham gia thành lập công ty luật;
d) Giấy tờ chứng minh về trụ sở của tổ chức hành nghề luật sư
Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Sở Tư pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động cho tổ chức hành nghề luật sư; trong trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lí do, người bị từ chối cấp Giấy đăng ký hoạt động có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật
Trang 7Tổ chức hành nghề luật sư được hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể
từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, Trưởng văn phòng luật sư hoặc Giám đốc công ty luật phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao Giấy đăng ký hoạt động cho Đoàn luật sư mà mình là thành viên
II/ Điểm mới của Lu t Lu t sư 2012 về hình thức tổ chức hành nghề lu t sư ở Vi t Nam ệt Nam.
Thứ nhất, về điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư, theo quy định tại Luật Luật sư 2006, bất kỳ luật sư nào có Chứng
chỉ hành nghề luật sư và có Thẻ luật sư đều có thể thành lập tổ chức hành nghề luật sư Việc thiếu các quy định chặt chẽ về điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư trong đó có yêu cầu về kinh nghiệm hành nghề và trụ sở của các tổ chức hành nghề luật sư
đã dẫn đến tình trạng nhiều tổ chức hành nghề được thành lập tràn lan, dịch vụ cung cấp cho khách hàng không được đảm bảo Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và tính chuyên nghiệp của nghề luật sư Vì vậy, Luật Luật sư 2012 đã bổ sung quy định
cụ thể về số năm kinh nghiệm hành nghề là hai năm đối với người thành lập, tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư và điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất của tổ chức hành nghề (có trụ sở làm việc) nhằm nâng cao chất lượng hành nghề luật sư
Thứ hai, nếu như Luật Luật sư 2006 quy định Văn phòng luật sư có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật thì
đến Luật Luật sư 2012 đã bỏ quy định này Đốichiếu với các quy định của Bộ luật dân sự và Luật Doanh nghiệp, văn phòng luật sư
sẽ không được xem là doanh nghiệp tư nhân, không có tư cách pháp nhân, do đó, cũng không được mở tài khoản riêng theo quy định tại khoản 3 Điều 33 Luật Luật sư 2006 Đây là sự thay đổi giúp nâng cao tính đồng bộ của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung
Thứ ba, Luật Luật sư 2012 cũng bổ sung quy định về quyền của tổ chức hành nghề luật sư trong việc tham gia xây dựng chính
sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia tư vấn, giải quyết các vụ việc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi được yêu cầu Quy định này nhằm huy động một cách sâu rộng vai trò và thể hiện sự đóng góp quan trọng của luật sư đối với công cuộc cải cách tư pháp, đồng thời tạo điều kiện để nâng cao vị trí, vai trò của tổ chức hành nghề luật sư
Thứ ba, nhằm nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp của tổ chức hành nghề luật sư, Luật Luật sư 2012 đã quy định tổ chức
hành nghề có nghĩa vụ thực hiện việc quản lý, bảo đảm cho luật sư của tổ chức mình tuân thủ pháp luật, Điều lệ của Liên đoàn luật
sư Việt Nam, tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam và thực hiện nghĩa vụ báo cáo về tổ chức và hoạt động của tổ chức mình theo quy định của pháp luật Quy định mới này sẽ nâng cao vai trò tự quản của tổ chức hành nghề luật sư và phù hợp với quy định tại Điều 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư, bởi từ trước đến nay, việc quản lý, giám sát luật sư và hành nghề luật sư được hiểu là chức năng của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, điều này không phù hợp với tính chất của nghề luật sư và thông lệ hành nghề quốc tế
Ngoài ra, quy định mới còn bổ sung nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư trong việc tạo điều kiện cho luật sư của tổ chức mình tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng cho luật sư; nhận người tập sự hành nghề luật sư và cử luật sư có đủ điều kiện hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho người tập sự được tập sự, giám sát quá trình tập sự của người tập sự hành nghề luật sư; thực hiện nghĩa vụ báo cáo về tổ chức và hoạt động của tổ chức mình theo quy định của pháp luật
III/ Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hình thức tổ chức hành nghề luật sư.
Trên thực tế, có thể thấy số lượng các tổ chức hành nghề luật sư trên cả nước là tương đối lớn, tập trung chủ yếu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Hầu hết các tổ chức hành nghề luật sư hoạt động đúng theo nội dung đăng ký được ghi trong Giấy Đăng
ký hoạt động và đa số các tổ chức hành nghề luật sư chấp hành tốt các quy định về luật sư Dịch vụ tư vấn pháp luật – hoạt động chủ yếu của các tổ chức hành nghề đã định hướng cho hoạt động của các cá nhân, tổ chức theo đúng quy định của pháp luật, góp phần tích cực trong việc nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, cơ quan và tổ chức, trong đó có những tổ chức hành nghề thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí và trợ giúp pháp lý cho các đối tượng chính sách
Một số tổ chức hành nghề luật sư đã thực sự phát huy được thế mạnh và từng bước khẳng định vai trò của mình trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài, còn lại là các tổ chức hành nghề luật sư hoạt động trong tất cả các lĩnh vực
7
Trang 8hành nghề luật sư, mà lĩnh vực chủ yếu vẫn là tham gia tố tụng Điều này cho thấy tính chuyên môn hoá về lĩnh vực hoạt động của
tổ chức hành nghề luật sư còn khá hạn chế
Cơ sở vật chất của đa số các tổ chức hành nghề luật sư được đảm bảo, hoạt động tại trụ sở có địa điểm cố định Trụ sở làm việc
có thể đặt tại nhà riêng hoặc thuê trụ sở tại các toà nhà văn phòng, Quy mô của tổ chức hành nghề luật sư đã có sự phát triển, tuy nhiên đối với hình thức Văn phòng luật sư thì số lượng dưới mười luật sư vẫn chiếm tỉ lệ cao Một số công ty luật đã có nhu cầu, khả năng và trong thực tế đã thuê luật sư nước ngoài về làm việc cho công ty mình Khách hàng của các tổ chức hành nghề luật sư trong những năm gần đây cũng tăng lên với tốc độ rất nhanh không chỉ về mặt số lượng mà còn phong phú cả về đối tượng khách hàng, đó không chỉ là cá nhân mà còn là các cơ quan, tổ chức trong nước cũng như ngoài nước
Tuy nhiên, vẫn còn có các tổ chức hành nghề luật sư quản lý hoạt động của mình một cách tuỳ tiện, lỏng lẻo Bên cạnh phần lớn các tổ chức hành nghề luật sư chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng, vẫn còn một bộ phận các tổ chức hành nghề luật sư vi phạm như: hoạt động không đúng trụ sở đã đăng ký; thực hiện chế độ báo cáo với Sở Tư pháp và Đoàn luật sư không đầy đủ; hợp đồng dịch vụ pháp lý không đúng quy định chẳng hạn như hợp đồng không được thiết lập bằng văn bản hoặc có thiết lập nhưng nội dung không đầy đủ, một số nội dung đã thoả thuận với khách hàng như mức thù lao không được ghi rõ trong nội dung hợp đồng dịch vụ pháp lý…
Thông qua việc thanh tra cũng đã phát hiện ra một số những vi phạm về việc sử dụng biển hiệu của tổ chức hành nghề luật sư như sau:
- Tổ chức hành nghề luật sư hoạt động không đúng trụ sở đã đăng ký Đây là trường hợp của Công ty luật hợp danh Nghiêm & Chính, khi Đoàn thanh tra tra kiểm tra tại địa chỉ trụ sở ghi trên Giấy đăng ký hoạt động thì thấy rằng tại địa chỉ đó không có biển hiệu nào của công ty và cũng như không có dấu hiệu nào cho thấy Công ty có hoạt động tại địa chỉ đó Cụ thể, trong Giấy Đăng ký hoạt động số 41.03.0086 do Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/7/2007, địa chỉ trụ sở của Công ty luật hợp danh Nghiêm & Chính được ghi tại số 6/19, Cách Mạng Tháng Tám, phường Bến Thành, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh nhưng thực tế Công ty chưa bao giờ hoạt động tại trụ sở nêu trên mà lại hoạt động tại: số 8, Nam Kỳ, Khởi Nghĩa, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh Mặc dù ngang nhiên sử dụng trụ sở không đúng địa chỉ được ghi trong Giấy đăng ký hoạt động trong một thời gian khá dài nhưng không có quy định cụ thể nào về vấn đề này nên Đoàn thanh tra không có cơ sở pháp luật để xử lý
- Tình trạng không ghi tên đầy đủ theo tên đã đăng ký và được Sở Tư pháp ghi trong Giấy Đăng ký hoạt động mà chỉ ghi tên giao dịch của tổ chức hành nghề luật sư trên biển hiệu Đây là lỗi phổ biến của nhiều tổ chức hành nghề luật sư, nhất là đối với các tổ chức đặt trụ sở tại các toà nhà cao tầng
- Việc chấp hành quy định của pháp luật về sử dụng biển hiệu của các tổ chức hành nghề luật sư còn có nhiều sai phạm,
cụ thể là Công ty luật trách nhiệm hữu hạn nhưng lại sử dụng biện hiệu là Văn phòng luật sư, việc sử dụng biển hiệu như vậy dễ gây nhầm lẫn cho khách hàng về khả năng chịu trách nhiệm của tổ chức hành nghề luật sư
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, trước hết, Bộ Tư pháp cần ra văn bản hướng dẫn, chỉ đạo kịp thời đối với các khó khăn, vướng mắc của địa phương trong quá trình quản lý và đăng ký hoạt động động của tổ chức hành nghề luật sư Việc đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước góp phần giúp các tổ chức hành nghề luật sư tuân thủ một cách nghiêm túc các quy định của pháp luật trong quá trình hoạt động của mình
Đồng thời, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng về nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra công tác tư pháp, đặc biệt là kiểm tra, thanh tra họat động của tổ chức hành nghề luật sư cho địa phương là rất quan trọng và cần thiết
Bên cạnh đó, cần có quy định cụ thể về mức xử phạt vi phạm hành chính với các tổ chức hành nghề luật sư không tuân thủ đúng các quy định của Luật Luật sư cũng như các quy định có liên quan Cũng cần quy định cụ thể về vấn đề “giấy tờ chứng minh trụ sở” khi đăng ký hoạt động, thay đổi trụ sở của tổ chức hành nghề luật sư, tránh tình trạng áp dụng ở mỗi địa phương là khác nhau do quy định của pháp luật quá chung chung Bên cạnh đó, bổ sung quy định về thời hạn cấp lại Giấy đăng ký hoạt động của Sở
Trang 9Tư pháp khi tổ chức hành nghề luật sư thay đổi nội dung đăng ký hoạt động cũng rất cần thiết, bởi điều này đảm bảo cho việc hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư không bị gián đoạn, trì trệ, ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng
6 “ Phân tích thực trạng quản lý Nhà nước về công chứng ở Việt Nam hiện nay”
i.Một số vấn đề lý luận về quản lý Nhà nước đối với hoạt động công chứng
a) Khái niệm:
Khái niệm là thuộc về mặt nhận thức, mỗi người lại có một quan điểm khác nhau và quan niệm về công chứng cũng có nhiều ý kiến khác nhau, chưa có sự thống nhất
Tiến sĩ Dương Khánh cho rằng: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực của các hoạt động giao dịch và các sự kiện pháp lý khác theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và giá trị thi hành đối với cá nhân, tổ chức có liên quan, trừ trường hợp bị Tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu”
Hay Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy quy định của pháp luật phải công chứng hoặc
cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Mỗi người lại tiếp cận khái niệm công chứng thông qua một góc độ khác nhau nhưng chưa đầy đủ Theo em, khái niệm công chứng cần được hiểu:
Công chứng, với tư cách là một hoạt động bổ trợ tư pháp, là việc công chứng viên, các chủ thể có thẩm quyền theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức hoặc theo quy định của pháp luật, chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của giao dịch bằng văn bản nhằm tạo
ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ lợi ích của nhà nước cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, phòng ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa.
b) Đặc điểm:
Chủ thể thực hiện công chứng: công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng; Cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc công chứng
Mục đích: xác nhận tính xác thực ( thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, người yêu cầu công chứng và năng lực hành vi của họ, đối
tượng của hợp đồng, giao dịch…) và xác nhận tính hợp pháp (thủ tục, nội dung đúng quy định của pháp luật)
Phạm vi công chứng rộng, bao gồm hợp đồng buộc phải công chứng ( hợp đồng mua bán, cho thuê, thế chấp nhà, chuyển nhượng, góp
vốn bằng quyền sử dụng đất…) và hợp đồng được công chứng do yêu cầu của các bên tham gia giao kết hợp đồng yêu cầu
Chức năng:
+ Đảm bảo an toàn pháp lý cho các giao dịch, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, phòng ngừa tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức lien quan đến giao dịch
+ Đóng vai trò là chứng cứ không phải chứng minh trước Tòa khi có tranh chấp xảy ra
Cơ quan Hành chính Nhà nước có hai chức năng: chức năng thứ nhất là quản lý hành chính nhà nước bằng phương pháp mệnh lệnh – phục tùng, chức năng thứ hai là chức năng phục vụ, cung ứng nhu cầu của xã hội như giáo dục và đào tạo, dịch vụ y tế, khám chữa bệnh, văn nghệ, nghệ thuật…và trong đó có dịch vụ công chứng Công chứng là một loại hình dịch vụ đặc biệt bao gồm Phòng Công chứng do nhà nước trực tiếp thực hiện việc cung ứng và Văn phòng công chứng do các tổ chức phi Nhà nước thực hiện việc cung ứng
Ta có thể rút ra định nghĩa quản lý nhà nước về công chứng như sau:
Quản lý Nhà nước về công chứng là những cách thức, biện pháp mà các cơ quan nhà nước có thâm quyền tác động lên quá trình thực hiện hoạt động công chứng nhằm bảo đảm quản lý theo đúng mục tiêu, định hướng nhà nước đặt ra và mong muốn đạt tới,
đó là làm cho các hoạt động này diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh
tế, thương mại…, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, duy trì trật tự an toàn xã hội.
b) Đặc điểm:
Chủ thể có thẩm quyền quản lý: Chính phủ, Bộ Tư pháp ( và các Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan), UBND tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương
Nội dung quản lý: Có 2 nội dung chính
9
Trang 10+ Quản lý xây dựng, hoàn thiện pháp luật về công chứng: xây dựng, ban hành văn bản, sửa đổi văn bản quy phạm không còn phù hợp,
bổ sung văn bản còn thiếu để điều chỉnh…
+ Quản lý tổ chức thực hiện pháp luật về công chứng: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về công chứng; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong lĩnh vực công chứng; báo cáo thống kê, đánh giá để biết và rút kinh nghiệm trong quản lý nhà nước và công chứng…
Chuyển đổi Phòng công chứng từ đơn vị Hành chính đặt dưới sự quản lý của Giám đốc Sở Tư pháp thành đơn vị sự nghiệp công
lập, trực thuộc Sở Tư pháp
Việc chuyển đổi các Phòng công chứng sang đơn vị sự nghiệp công lập có tác dụng rất lớn trong việc khuyến khích các Phòng công chứng chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, tinh giảm biên chế giúp cho hoạt động quản lý Nhà nước tốt hơn và gánh nặng tài chính được giảm nhẹ, đồng thời, cũng tạo động lực cho các công chứng viên đem hết sức mình phục vụ nhân dân, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng
Số lượng tổ chức hành nghề công chứng và công chứng viên:
Hoạt động công chứng được thực hiện và phát triển mạnh mẽ theo hướng xã hội hóa Theo quy định của pháp luật hiện nay thì có hai
hình thức tổ chức hành nghề công chứng đó là Phòng công chứng và Văn phòng công chứng (VPCC) So với các văn bản trước, Luật Công chứng 2006 đã mở rộng thêm một hình thức tổ chức hành nghề công chứng, đó là VPCC Quy định này của pháp luật đã thể hiện chủ trương xã hội hóa công chứng của nhà nước ta Trước khi Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực thì cả nước có tất cả 84
phòng công chứng Tuy nhiên, tính đến ngày 26/1/2014 sau khi Luật Công chứng có hiệu lực được 8 năm thì trên toàn quốc đã có 730
tổ chức hành nghề công chứng, trong đó có 144 Phòng công chứng và 586 Văn phòng công chứng Tính đến nay, Văn phòng công
chứng đã được thành lập ở 61/63 tỉnh thành trực thuộc trung ương trừ Bắc Cạn và Lai Châu Ở Hà Nội có 93 Văn phòng công chứng, thành phố Hồ Chí Minh là 43 văn phòng công chứng, Thanh Hóa có 25 và Nghệ An có 23 văn phòng công chứng…
Tính đến ngày 26/1/2014 trên cả nước đã có 1463 công chứng viên so với trước khi có Luật công chứng cả nước chỉ có 393 công chứng viên được bổ nhiệm Điều đó cho thấy, không chỉ có số lượng phòng, văn phòng công chứng tăng cao mà đội ngũ công chứng
viên cũng ngày càng đông đảo đáp ứng yêu cầu công chứng ngày càng cao của người dân Không những gia tăng về số lượng mà 100% công chứng viên đều có trình độ cử nhân luật trở lên Sự ra đời của các VPCC đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp trong các giao dịch dân sự Sự ra đời của các VPCC đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp trong các giao dịch dân sự
Hoạt động công chứng bước đầu phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa
Một trong những điểm nổi bật mới căn bản quan trọng hàng đầu của Luật Công chứng, được hỗ trợ đắc lực bởi Nghị định số 79/2007/
NĐ – CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ số gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, là việc tách bạch và phân biệt rõ về bản chất, chức năng, nhiệm vụ, đối tượng và nguyên tắc hoạt động của công chứng và chứng thực mà trước đó còn bị lẫn lộn trong cả quy định pháp luật lẫn thực tiễn thi hành Sự tách bạch giữa công chứng và chứng thực theo tinh thần
nói trên đã tạo điều kiện cho các tổ chức hành nghề công chứng tập trung thực hiện đúng chức năng của mình theo hướng chuyên nghiệp hóa, nhiệm vụ chứng nhận hợp đồng, giao dịch đã thành nhiệm vụ chủ yếu của các tổ chức hành nghề công chứng hợp đồng,
giao dịch góp phần tạo tính chuyên nghiệp đúng nghĩa cho nghề công chứng Chính vì thế sẽ tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các văn phòng công chứng với nhau và giữa các văn phòng công chứng với phòng công chứng Từ đó, các tổ chức hành nghề công chứng
sẽ phải thay đổi cung cách phục vụ, đáp ứng nhiều tiện ích cho khách hàng ( nhận hồ sơ qua emai, fax, thủ tục thực hiện nhanh chóng, không phiền hà, quan liêu…)
Từ việc phân biệt rõ ràng này mà công chứng từ chỗ được hiểu là một hoạt động mang tính chất thủ tục hành chính đơn thuần của các
cơ quan hành chính nhà nước – mệnh lệnh phục tùng thì nay đã được coi là một loại hình dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính với một bên cung cấp dịch vụ và một bên trả tiền để hưởng những dịch vụ đó Chính vì thế mà khi có sai xót, thiệt hại xảy ra thì công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng của mình.Từ đó mà mỗi công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng sẽ phải làm việc có trách nhiệm hơn, tận tâm, tích cực và ý thức được công việc mình đang làm
Tác động tích cực lên nền kinh tế - xã hội
Việc thực hiện xã hội hóa về công chứng không những đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân mà còn có tác động lên nền kinh tế của đất nước Số lượng Văn phòng công chứng và công chứng viên trong các phòng công chứng tăng trong cả nước góp phần tinh giảm biên chế và giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước rất nhiều
Bên cạnh đó, theo Báo cáo số 201/BC – BTP ngày 30/8/2013 của Bộ Tư pháp về tình hình quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng trong cả nước từ 7/7/2007 đến 30/8/2013 thì trong 6 năm thi hành Luật Công chứng, các tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện được khoảng gần 7 triệu hợp đồng, giao dịch, tổng số phí công chứng thu được khoảng hơn 200 tỷ, tổng số tiền thu và nộp ngân sách nhà nước khoảng gần 1.000 tỷ đồng Điều này cho thấy hoạt động công chứng không những tạo bảo đảm pháp lý cho các hợp