TÀI LIỆU THAM KHẢO, TỔNG QUAN, PHƯƠNG PHÁP, CÁCH BIỆN LUẬN NGHIÊN CỨU TỪ CAO CỦ NGHỆ ĐEN, TÊN CHUỘT CÓ TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐẦY ĐỦ TÀI LIỆU THAM KHẢO, TỔNG QUAN, PHƯƠNG PHÁP, CÁCH BIỆN LUẬN NGHIÊN CỨU TỪ CAO CỦ NGHỆ ĐEN, TÊN CHUỘT CÓ TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐẦY ĐỦ
Trang 1zedoaria Berg.) TRÊN CHUỘT NHẮT TRẮNG
(Mus musculus Var Albino)
MỤC LỤC
29
\ 29 30
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bỏng là chấn thương thường gặp trong lao động sản xuất cũng nhưsinh hoạt thường ngày Ở nước ta, bỏng đứng hàng thứ 3 trong số các chấnthương ngoại khoa nói chung [28] với 844.000 bệnh nhân mỗi năm, chiếmgần 1% dân số [10] Bỏng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đóbỏng nhiệt thường gặp nhất chiếm khoảng 84-94% số ca bỏng [5] Bệnhnhân bỏng thường phải điều trị dài ngày, tốn kém Nếu không được điều trịtốt, bỏng có thể để lại nhiều di chứng lâu dài, ảnh hưởng tới sinh hoạt hàngngày, khả năng lao động, thẩm mỹ và tâm lý của người bệnh [5][33]
Điều trị tại chỗ có vai trò quan trọng đối với quá trình điều trị bỏng.Mục đích điều trị tại chỗ là loại bỏ mô hoại tử, ngăn ngừa nhiễm khuẩn, đẩynhanh quá trình liền vết thương, hạn chế di chứng Có nhiều nhóm thuốcđược sử dụng để điều trị tại chỗ vết thương bỏng như: thuốc kháng khuẩn,thuốc làm rụng hoại tử, thuốc làm khô se vết bỏng, thuốc kích thích biểu môhóa… [5] Tuy nhiên, ngay cả những thuốc được sử dụng phổ biến nhất vẫn
có rất nhiều tác dụng không mong muốn, thậm chí làm chậm quá trình liềnvết thương Chính vì vậy, việc tìm kiếm các thuốc mới tốt hơn nhằm hỗ trợhoặc thay thế các thuốc hiện tại luôn là yêu cầu bức thiết đối với công tácđiều trị bỏng hiện nay
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, thêm vào đó là kho tàng cây thuốcdân gian đồ sộ, nước ta có thuận lợi rất lớn trong việc nghiên cứu và điều chếthuốc từ các cây dược liệu quý hiếm Cây nghệ, đặc biệt là nghệ đen là câythuốc dân gian lâu đời ông bà ta dùng để chữa bệnh đường ruột, dạ dày, vàchữa bỏng liền sẹo Nghiên cứu của một số tác giả trong và ngoài nước cho
Trang 4thấy các hoạt chất chính trong Nghệ đen là curcumin và curcuminoid Chínhnhững hợp chất trên quy định hoạt tính dược lý mà nghệ đen mang lại [3][10].
Bỏng để lại những gánh nặng thương tật nặng nề, đồng thời lànguyên nhân gây tử vong đáng lo ngại Thống kê của tổ chức Y tế Thếgiới năm 2004 cho thấy mỗi năm có hơn 310.000 bệnh nhân tử vong dobỏng lửa, chưa kể đến các loại bỏng khác, trong đó hơn 30% bệnh nhândưới 20 tuổi [11] Tại Việt Nam, trong nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật vàchấn thương ở Việt Nam 2008” của Nguyễn Thị Trang Nhung kết quảthống kê tỷ lệ tử vong do bỏng là 243/100.000 dân, cao hơn rất nhiều sovới tỷ lệ chung của khu vực và thế giới [9] Cũng theo nghiên cứu này, sốnăm sống tàn tật hiệu chỉnh (DALYs) mà tai nạn bỏng để lại lên tới15.717 năm/100.000 dân [9]
1.1.2 Tác nhân gây bỏng và mức độ tổn thương vết bỏng
Đối với tổn thương bỏng, phản ứng của cơ thể, diễn biến của quátrình liền vết thương, nguy cơ xuất hiện các biến chứng và hậu quả dobỏng để lại tùy thuộc vào mức độ nặng của tổn thương Để đánh giá mức
độ nặng của tổn thương bỏng, có thể dựa vào các yếu tố sau: độ sâu của
Trang 5tổn thương, diện tích vết bỏng, tác nhân gây bỏng trên vị trí cơ thể và thểtrạng của bệnh nhân Cụ thể:
1.1.2.1 Tác nhân gây bỏng
Có 4 nguyên nhân chính gây bỏng: nhiệt (84- 93%), hóa chất 11%), dòng điện và bức xạ [34][35]
(2 Nhiệt: là nguyên nhân gây bỏng thường gặp nhất (84(2 93%), gồm:
•Bỏng do nhiệt nóng được chia làm 2 nhóm: nhiệt ướt và nhiệt khô.Trong đó, bỏng do nhiệt ướt có đặc điểm là nhiệt độ gây bỏng thườngkhông cao nhưng tác dụng kéo dài trên da, có thể gây bỏng sâu như nướcsôi, nước nóng, thức ăn nóng sôi, dầu mỡ sôi, nhựa đường, hơi nước Cònbỏng do nhiệt khô có đặc điểm nhiệt độ gây bỏng cao từ 800-1400 độ C
Để gây bỏng, tác nhân nhiệt độ phải gây tác động trực tiếp đến cơ thể vàthường gây vết bỏng sâu
•Bỏng do nhiệt lạnh: là vết bỏng được tạo ra do một vùng cơ thể bịtổn thương khi tiếp xúc với những tác nhân có nhiệt độ lạnh như nitơlỏng chẳng hạn, băng đá lạnh
•Bỏng do lửa: đây là loại bỏng thường hay gặp Khi cơ thể tiếp xúcvới lửa, lửa gây ra tổn thương từ vừa đến rất nặng và có thể gây tử vong
-Hóa chất: Là nguyên nhân gây ra khoảng 2-11% tổng số ca bệnh bịtổn thương do bỏng, trong đó có khoảng 30% ca bỏng do hóa chất dẫnđến tử vong Hầu hết các trường hợp tử vong do bỏng hóa chất xảy ởđường tiêu hóa Bỏng hóa chất có thể được gây ra bởi hơn 25.000 chất,hầu hết trong số đó là các chất oxi hóa mạnh (55 %) hoặc axit mạnh(26%) [11] Các nhóm chất thường gặp bao gồm: axit sulfuric được tìmthấy trong chất tẩy rửa nhà vệ sinh, sodium hypochlorite được tìm thấytrong thuốc tẩy, và hydrocarbon halogen hóa được tìm thấy trong chất tẩy
Trang 6sơn [14] Axit fluorid hydrogen có thể gây bỏng đặc biệt sâu mà có thểkhông có triệu chứng cho đến khi biểu hiện rõ ràng sau một thời gian tiếpxúc Axit formic có thể hủy hoại đáng kể các tế bào máu [ 33] Mức độ tổnthương phụ thuộc vào các đặc tính hoá lý, nồng độ, thời gian tác dụng củahóa chất, đặc điểm của vùng cơ thể bị bỏng và cách sơ cứu ban đầu Tỷ lệbỏng do hoá chất chiếm khoảng 5-6% trong các loại bỏng ở thời bình.Trong chiến tranh, bỏng hóa chất thường rất đa dạng Phổ biến các chấtgây bỏng thường là:
•Dung dịch của các axit, như H2SO4, HNO3, HCl, axit Tricloroaxetic,axit Flohydric, axit Phenic Một số axit gây độc cho cơ thể như axitfocmic, axit cromic, axit muriatic, axit sunfuric
•Muối một số kim loại nặng
•Dung dịch các chất kiềm mạnh, như vôi tôi Ca(OH)2, NaOH, KOH,Amonihydroxit (NH4OH)
•Các chất oxy hóa mạnh như thuốc tím, các chất khác như phospho,phenol
-Dòng điện: cũng là một trong những nguyên nhân gây bỏng cho cơthể Khi luồng điện dẫn truyền vào cơ thể sẽ gây các tổn thương sinh lýtoàn thân (như choáng điện, ngừng tim, ngừng hô hấp) hoặc tại chỗ (nhưhoại tử da, xương, cân, cơ ) Vết thương bỏng bị gây ra bởi dòng điệnthường sâu, trong một số trường hợp, tổn thương tới cơ xương và mạchmáu Bỏng do điện thường chia làm hai loại:
•Bỏng do tia lửa hồ quang điện, loại bỏng này có nhiệt độ rất cao từ
3200 - 48000C, thời gian tác dụng rất ngắn 0,2- 1,5 giây; 80% nhiệt năngbức xạ ánh sáng của tia lửa điện là chùm tia hồng ngoại thường gây nênbỏng nông, bỏng các phần hở của cơ thể và bỏng phía cơ thể hướng về
Trang 7phía tia lửa điện Nếu điện thế cao trên 1000 von có thể gây bỏng trung bì
và bỏng sâu Sét đánh cũng là một hiện tượng bỏng điện có hiệu thế caohàng triệu von[6] [33]
•Tổn thương do luồng điện dẫn truyền vào cơ thể như các dòng điện
hạ thế hay luồng điện có hiệu thế cao thế từ 1000 von đến 50.000 von.Luồng điện khi dẫn truyền qua cơ thể sẽ theo con đường nào ít điện trởnhất Luồng điện đi qua tim, não thường gây nguy hiểm đến tính mạngngười bị bỏng
- Ngoài ra, bỏng còn được gây ra bởi bức xạ Mức độ tổn thương vếtbỏng do bức xạ phụ thuộc vào loại tia (tia hồng ngoại, tia tử ngoại, tiaronghen, lade,tia phóng xạ, tia X), mật độ của chùm tia, khoảng cách từnguồn tia đến da, thời gian tác dụng [10]
1.1.2.2 Diện tích tổn thương vết bỏng
Đối với các vết thương bỏng, trong đó có bỏng ở vùng da, diện tíchvết bỏng là một trong các tiêu chí để đánh giá mức độ nặng của tổnthương: diện tích càng rộng, mức độ tổn thương càng nặng [11] Vết bỏng
có diện tích rộng có nguy cơ nhiễm khuẩn vết bỏng, nhiễm khuẩn toànthân cao [11], [19], [27], thời gian liền vết thương kéo dài, để lại sẹo xấu[11] Tổng diện tích bỏng trên cơ thể quá lớn còn có thể dẫn đến sốc tuầnhoàn và tử vong [11] Thống kê ở các nước thu nhập thấp cho thấy nguy
cơ tử vong do bỏng lên đến 30% tổng diện tích bề mặt cơ thể là 50% đốvới bỏng trên 50% điện tích bề mặt cơ thể gần là 100% [9]
1.1.2.3 Độ sâu tổn thương bỏng
Các vết thương bỏng ở da, độ sâu tổn thương bỏng quyết định ảnh hưởngcủa vết bỏng đến tình trạng toàn thân, nguy cơ nhiễm khuẩn, khả năng tự liềnvết thương, thời gian liền vết thương và hậu quả sau bỏng [6], [32]
Trang 8Dựa trên độ sâu tổn thương, có thể phân loại thành 5 cấp độ:
- Bỏng độ I: biểu hiện viêm cấp, vùng da tổn thương chuyển sangmàu đỏ
- Bỏng độ II: tổn thương biểu bì, phần đáy còn nguyên vẹn, tự khỏisau 7-10 ngày nhờ biểu mô từ phần còn lại của tế bào mầm đáy biểu bì, đểlại nền nhạt màu hơn màu da lành xung quanh [32]
- Bỏng độ III nông: tổn thương tới lớp nhú, còn ống, gốc lông, tuyến
mô hôi, tuyến bã nhờn Tự khỏi sau 12-15 ngày nhờ biểu mô hóa từ cácphần phụ còn lại của da [32]
- Bỏng độ III sâu: tổn thương tới lớp lưới trung bì, chỉ còn phần sâucủa tuyến mồ hôi Hình thành đảo biểu mô từ phần còn lại của tuyến mồhôi Bỏng độ III sâu rất dễ chuyển thành bỏng sâu [32]
- Bỏng độ IV: tổn thương sâu hết lớp da, tất cả các thành phần củabiểu mô đều bị phá hủy, không có khả năng tự liền do không có các thànhphần của biểu mô [32]
- Bỏng độ V: tổn thương qua da tới lớp cơ, gân, xương, nội tạng,thường để lại hậu quả nặng nề [6]
Trang 9Hình 1.1: Phân loại độ sâu tổn thương bỏng
1.1.3 Hậu quả của bỏng
Da là cơ quan có nhiều chức phận quan trọng đối với cơ thể Đây làhàng rào bảo vệ các cơ quan bên trong trước các yếu tố vật lý, hóa học và
vi sinh vật bên ngoài Da còn là cơ quan cảm giác, miễn dịch, bài tiết,điều hòa nhiệt độ Tính toàn vẹn về cấu trúc và chức năng của da có ýnghĩa quan trọng đối với cơ thể Vì vậy khi da bị tổn thương, cơ thể sẽphản ứng lại bằng các quá trình sinh lý để thiết lập lại trạng thái ban đầucủa da, các quá trình này gọi là quá trình liền vết thương da Liền vếtthương da là quá trình sinh lý phức tạp, gồm nhiều giai đoạn, diễn ra theotrình tự nhất định và chồng gối lên nhau
1.1.4 Các giai đoạn hồi phục vùng da tổn thương do bỏng
Hình ảnh mô học của tổn thương bỏng được Jackson D mô tả gồm 3vùng: vùng hoại tử, vùng phù ứ và vùng xung huyết Vùng chịu tác động trựctiếp của tác nhân gây bỏng bị hoại tử mô tế bào Vùng kế cận bị phù ứ, phảnứng viêm xảy ra mạnh mẽ, các tế bào bị tổn thương Vùng ngoài cùng là vùng
Trang 10xung huyết với hiện tượng giãn mạch, các tế bào ít bị tổn thương.
Hình 1.2: Mô hình 3 vùng trong tổn thương bỏng của Jackson D.
(1: vùng hoại tử, 2: vùng phù ứ, 3: vùng xung huyết)
Da có cấu trúc 3 lớp chính: thượng bì, các phần phụ của thượng bì,
bì, hạ bì Da còn là cơ quan cảm giác, miễn dịch, bài tiết, điều hòa nhiệt
độ Tính toàn vẹn về cấu trúc và chức năng của da có ý nghĩa quan trọngđối với cơ thể Vì vậy khi da bị tổn thương, cơ thể sẽ phản ứng lại bằngcác quá trình sinh lý để thiết lập lại trạng thái ban đầu của da, các quátrình này gọi là quá trình liền vết thương da Liền vết thương da là quátrình sinh lý phức tạp, gồm nhiều giai đoạn, diễn ra theo trình tự nhất định
và chồng gối lên nhau Có thể phân quá trình liền vết thương da làm bagiai đoạn chính: (1) giai đoạn viêm cấp, (2) giai đoạn tăng sinh, (3) giaiđoạn sửa chữa vết thương và hình thành sẹo [6], [11], [16], [32]
- Giai đoạn viêm cấp: đây là giai đoạn có vai trò ngăn ngừa sự lanrộng của các tác nhân gây hại đến mô lân cận, loại bỏ các mầm bệnh vàcác vụn tế bảo, tạo cơ sở cho quá trính phục hồi [1], [16] [32] Dịch rỉviêm được hình thành tại vị trí viêm, với hai nhóm thành phần cơ bản(protein huyết tương, các chất điện giải, hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu…)
Trang 11và các thành phần mới hình thành do rối loạn chuyển hóa và tổn thương
mô (histanin, serotomin, acetylcholin, bradykinin, các chất gây sốt, cácacid nhân, các enzym…)[16]
- Giai đoạn tăng sinh: là giai đoạn hình thành mô mới, các vết bỏngnông nhưng bỏng độ II có thể tự liền nhờ sự phân bào của các tế bào đáybiểu bì và phân biệt hóa thành các tế bào của biểu bì [5], [32] Với bỏngsâu từ độ III trở đi, quá trình tạo mô bao gồm sự hình thành mô hạt và quátrình kín mô hạt bằng các tế bào biểu mô
- Giai đoạn sửa chữa vết thương và hình thành sẹo: là quá trình dài nhấtcủa quá trình vết thương [11] Mô liên kết được tạo ra và liên tục được sửachữa để đảm bảo tạo sẹo bền chắc Các sợi collagen được hình thành
1.1.5 Các hợp chất trị bỏng và công trình nghiên cứu về bỏng
Hiện nay, vết thương bỏng đã được điều trị bằng rất nhiều phươngpháp khác nhau: phương pháp đông y và phương pháp tây y
Trong các phương pháp đông y, thuốc đông y được sử dụng trongđiều trị bỏng được chia thành các nhóm [7]
- Nhóm thuốc se khô tạo màng thuốc che phủ vết bỏng: cao đặc xoantrà, lá sim, khảo nhậm, khảo vào, hu đay, săng lẻ, sú, nâu, sòi, sến
- Nhóm thuốc làm rụng nhanh các hoại tử của vết bỏng: mã đề, dungdịch đu đủ, bạch đông nữ, dứa xanh, ráy dại
- Nhóm thuốc ức chế vi khuẩn, kháng khuẩn: vàng đắng, lăng to uyn,
lá sắn thuyền, sài đất, bột bù cu vẽ, lá móng tay, lá sòi, lá dung sạn, lá địahành, xuyên tâm liên, lá diếp cá, sến
- Nhóm thuốc ảnh hưởng đến tái tạo mô hạt và biểu mô hoá ở vếtbỏng: mỏ quạ, rau má, cao mỡ vàng, dầu mù u, mật ong và trứng gà
Nghệ (bao gồm nghệ đen, nghệ trắng và nghệ vàng) là loại dược liệu có
cả 4 tác dụng của 4 nhóm trên, do đó có khả năng ổn định và toàn diện nhất
Trang 12Trong các phương pháp tây y thuốc điều trị vết bỏng bao gồm: Tanin,axit Tanic 5% và dung dịch Nitrat bạc 10%, bột Alumin… được sử dụngnhằm tạo kết tủa protein làm thành lớp màng che phủ vết bỏng.[18][23].
- Các chất tạo màng bằng Polyrethan, Polyretrafluoroethylen,Polyvinyl, Polyvinyllcool, các chất tạo keo đơn phân tử bôi lên vết bỏngnông Bên cạnh đó một số loại thuốc khác được sử dụng ngoài mục đíchtạo lớp màng che phủ vết bỏng còn có tác dụng kháng khuẩn, rút ngắnthời gian rụng vẩy như: Cream Silver sulfadiazine 1% [4][9][16], AxitBoric, Dung dịch Nitrat bạc (AgNO3) Mỡ Maduxin, Axit salyxilic 40%,Các enzyme Trypsin, pepsin, chymotrypsin, dầu gan cá thu, dầu gấc (Bảnchất là các vitamin A,D)…
1.2 TỔNG QUAN VỀ CHUỘT NHẮT TRẮNG
Phân loại khoa học
Trang 14thí nghiệm y học và sinh học ở các trường đại học vì thủ tục cấp phépthực nghiệm trên động vật của chúng dễ dàng hơn so với các động vậtkhác.
Chuột nhắt trắng trưởng thành thường chiều dài cơ thể (tính từ mũiđến gốc đuôi) là 7,5-10 cm và chiều dài đuôi là 5-10 cm Khối lượng cơthể chúng vào khoảng 10-25 g Lông chuột ngắn, trắng và mịn, ở tai vàđuôi thì ít lông hơn Chân sau của chuột khá ngắn, cỡ khoảng 15-19 mm;sải chân bình thường khi chạy đạt 4,5 cm, nhưng chúng có thể nhảy caođến 45 cm Tiếng kêu của chuột nhắt trắng có âm vực rất cao và chuộtnhắt thường đứng, đi hoặc chạy bằng cả bốn chân, nhưng khi ăn, khi đánhnhau hoặc khi cần định hướng thì chúng chỉ đứng trên hai chân sau, cóđuôi hỗ trợ Chuột nhắt trắng giỏi nhảy, leo trèo và bơi lội
1.2.2 Vòng đời và sức sinh sản[26]
Chuột nhắt trắng đực lôi kéo chuột cái bằng cách phát ra tiếng kêusiêu âm đặc trưng, những tiếng kêu này thường xuyên nhất trong thời giancon đực đánh hơi thấy và theo sau con cái
Thai kỳ của chuột nhắt trắng vào khoảng 19-21 ngày và mỗi lứachuột mẹ sinh 3-14 chuột con (trung bình 6-8) Mỗi chuột cái có thể đẻ 5-
10 lứa mỗi năm, vì vậy tổng số cá thể chuột nhắt có thể tăng rất nhanh.Chuột nhắt sinh sản quanh năm (tuy nhiên, trong điều kiện sống tự nhiên,chúng không sinh sản trong những tháng quá lạnh, mặc dù chúng khôngngủ đông) Chuột sơ sinh không mở mắt được ngay và không có lông Bộlông bắt đầu phát triển vài ba ngày sau khi sinh, đôi mắt mở sau khi sinhkhoảng 1-2 tuần Con đực trưởng thành sinh dục sau khoảng 6 tuần và concái là khoảng 8 tuần, nhưng cả hai giới có thể sinh sản sớm từ khi đượcnăm tuần
Trang 15Sống trong môi trường hoang dã, chuột nhắt trắng có tuổi thọ dưới 1năm Nguyên nhân là do trong môi trường này, chuột nhắt trắng là conmồi của các động vật ăn thịt và chúng phải sống trong môi trường khắcnghiệt Trong các môi trường được bảo vệ, chuột nhắt trắng thường sống
Hình 1.4 Củ nghệ đen
Mô tả: Cây thân thảo cao đến 1,5m Thân rễ hình nón có khía chạydọc, mang nhiều củ có thịt màu vàng tái Ngoài những củ chính, còn cónhững củ phụ có cuống hình trứng hay hình quả lê màu trắng Lá có đốm
Trang 16đỏ ở gân chính, dài 30-60cm, rộng 7-8cm Cụm hoa ở đất, thường mọctrước khi có lá Lá bắc dưới xanh nhợt, lá bắc trên vàng và đỏ Hoa vàng,môi lõm ở đầu, bầu có lông mịn.
Bộ phận dùng: Thân rễ và rễ củ - Rhizoma et Radix CurcumaeZedoariae, thường gọi là Nga Truật
Nơi sống và thu hái: Gốc ở Himalaya, Xri Lanca, Đông Á và ĐôngNam Á, mọc hoang và cũng được trồng Ở Việt Nam, thường gặp nghệđen mọc tự nhiên ở nhiều địa phương miền núi và trung du phía Bắc (HàGiang, Lào Cai, Yên Bái…) và một số tỉnh miền Trung [12] Trồng bằngthân rễ vào mùa mưa Để dùng làm thuốc, đào lấy củ từ tháng 12 đếntháng 3, cắt bỏ rễ con, rửa sạch, thái lát, phơi khô, khi dùng tẩm giấm saovàng
1.3.2 Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học.
Trần Việt Hoa và cộng sự trong công trình nghiên cứu :” thành phần
hóa học và tính kháng oxi hóa của nghệ đen Curcuma zedoaria Berg
trồng ở Việt Nam vào năm 2007 đã tách chiết được 43 hợp chất tựnhiên từ củ nghệ đen,trong đó các hợp chất chính được xác định là: γ
-Elemen (15,28 ± 1,25%), Curzeren (34,27 ± 2,02%),
6-Tert-butyl-1-4-metylcoumarin (6,72 ± 0,31%), còn Germacron chỉ chiếm 3,33 ± 0,04%.
Ngoài ra trong củ nghệ đen còn chứa các chất vi lượng khác δ-Elemen,
β-Elemen, α-Humulen, Germacren D,α-Cubeben, α-Guaien Camphor; Isoborneol; Borneol; Curzeren; Guaian; Cycloisolongifolen,8,9-dihydro-
formyl; Spathulenol; Germacron; Isoaromadendren epoxid;
9-Octadecynoid acid, methyl ester, Leden oxid; Cyclocostunoli… Bên cạnh
đó, hoạt tính chông oxi hóa của các cao chiết từ củ nghệ đne đã đượckhảo sát Kết quả cho thấy cao chiết ete từ củ nghệ đen có hoạt tínhchống oxi hóa cao nhất [14]
Trang 17- Tính vị, tác dụng: Thân rễ Nghệ đen có vị đắng, cay, mùi thơmhăng, tính hơi ấm; có tác dụng phá tích tán kết, hành khí chỉ thống, khai vịhoá thực, thông kinh Công dụng của cây nghệ đen: Thân rễ được dùng đểchữa ung thư cổ tử cung và âm hộ, ung thư da; Đau kinh, bế kinh huyếttích, kinh nguyệt không đều; Khó tiêu, đầy bụng, mửa nước chua; Các vếtthâm tím trên da, bỏng da.
Trang 18CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu những tài liệu liên quan làm cơ sở lý luận cho đề tài Các tàiliệu được sử dụng như :
- Tài liệu nghiên cứu về quá trình bỏng và các phương pháp nghiên cứugây bỏng và điều trị vết bỏng trên động vật thực nghiệm
- Tài liệu nghiên cứu về chuột nhắt trắng
- Tài liệu nghiên cứu về cây nghệ đen
2.4.2 Phương pháp chiết dịch nghiên cứu
Mẫu nghệ tươi sau khi thu hái tại… Được rửa sạch, loại bỏ tạp chất, xaynhuyễn làm nguyên liệu cho quá trình thu chiết mẫu dịch Mẫu nghệ đượcngâm trong dung môi Ethanol 96% theo tỷ lệ 1:2 trong 24 giờ Lọc lấy dịchloại bỏ cặn Hỗn hợp dịch thu được sẽ được loại bỏ dung môi bằng máy côquy chân không để thu cao chiết sử dụng trong nghiên cứu
2.4.3 Phương pháp gây bỏng trên chuột
Gây bỏng chuột dựa theo phương pháp đã được Pocidalo J.J (1955) vàHladovec J (1961) với những thay đổi phù hợp với điều kiện phòng thínghiệm Di truyền- Giải phẫu- Sinh lí động vật thuộc khoa Sinh- Môi trườngđại học Sư Phạm Đà Nẵng [7] [13] [15] sử dụng mô hình gây bỏng ở nhiệt
độ 100°C dưới áp lực 1 kg
Dụng cụ được đun trong nước sôi ở nhiệt độ 100% trong khoảng thờigian 15 phút, áp dụng cụ lên vùng da gây bỏng và giữ nguyên vị trí trongkhoảng thời gian xác định tùy theo nhóm nghiên cứu
Với mục đích tạo ra những vết bỏng ở các cấp độ khác nhau, thờigian để dụng cụ gây bỏng tiếp xúc trên bề mặt da thay đổi lần lượt là
25, 30, 35 giây ở các nhóm nghiên cứu Mô hình bố trí thí nghiệm được trình