1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo đề tài: Tạo hứng thú nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở tiểu học

17 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu có kiến thức căn bản vững chắc về toán, trẻ em sẽ có khuynh hướng học tốt các môn khoa học,cũng như các môn liên quan khác.Việc học giỏi toán gắn liền với sự thành công của học sinh

Trang 1

BÁO CÁO ĐỀ TÀI THÔNG TIN CHUNG VỀ BÁO CÁO

1 Tên sáng kiến: “Một số biện pháp tạo hứng thú và nâng cao chất lượng giảng dạy môn Toán”

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 4A2 (2019-2020) và 4A1 (2020-2021)

: Trường Tiểu học Yên Thọ - Ý Yên – Nam Định

3 Thời gian áp dụng sáng kiến: Năm học 2019-2020 và Năm học 2020-2021

4 Tác giả:

Họ và tên: Đỗ Thị Hà

Năm sinh: 20-11-1988

Nơi thường trú: Yên Bình- Ý Yên- Nam Định

Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm

Chức vụ công tác: Giáo viên

Nơi làm việc: Trường Tiểu học Yên Thọ - Ý Yên – Nam Định

Địa chỉ liên hệ: Trường Tiểu học Yên Thọ - Ý Yên – Nam Định

5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:

Tên đơn vị: Trường Tiểu học Yên Thọ - Ý Yên – Nam Định

Địa chỉ: Yên Thọ - Ý Yên – Nam Định

Trang 2

MỤC LỤC

A Đặt vấn đề ……… ……….………… Trang 3

B Giả quyết vấn đề ……… …… ……….………… Trang 4 Phần 1: Thực trạng công tác dạy và học môn Toán ……….………… Trang 4 Phần 2: Các biện pháp và thực nghiệm sư phạm ……….………… Trang 5

2.1 Biện pháp 1: Phát triển kiến thức mới dựa vào kiến thức đồng tâm … Trang 5 2.2 Biện pháp 2: Phân tích các thuật ngữ Toán học ……… … Trang 6 2.3 Biện pháp 3: Hướng dẫn lập sơ đồ tư duy ……… ……… … Trang 8 2.4 Biện pháp 4: Tăng cường trải nghiệm, sáng tạo ……… Trang 10 2.5 Biện pháp 5: Tăng cường các bài tập ứng dụng ……… … Trang 12

Phần 3: Hiệu quả của các biện pháp ……… ……… Trang 14

C Cam kết ……… …… ……….… … … Trang 15

Trang 3

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Toán học là một trong những môn học cơ bản và quan trọng nhất đối với trẻ em Nếu có kiến thức căn bản vững chắc về toán, trẻ em sẽ có khuynh hướng học tốt các môn khoa học,cũng như các môn liên quan khác.Việc học giỏi toán gắn liền với sự thành công của học sinh trong quá trình học ở bậc phổ thông và đối với cả tương lai

về sau Đồng thời, nó còn giúp các em phát triển tư duy toàn diện: Học sinh có kĩ năng nắm vững kiến thức, giải thích ý nghĩa của các qui luật, có khả năng sử dụng kiến thức khoa học tự nhiên vào thực tế, kiểm tra, khái quát, sáng tạo… Để đạt được điều đó thì việc học môn toán của học sinh không đơn thuần là chỉ thực hành và ghi nhớ Mà trên hết là các em phải thấu hiểu các khái niệm, các quy luật của khoa học tự nhiên một cách thấu đáo và có các thao tác tư duy đúng cách Vì vậy, việc hỗ trợ của giáo viên để các em trở nên thông minh hơn, tự tin và năng động hơn, từ đó các em biết cách giải quyết các vấn đề trong toán học nói riêng, trong các môn học khác nói chung và trong cuộc sống hằng ngày là điều hết sức quan trọng và cần thiết Giáo viên hướng dẫn học sinh học toán, giỏi toán là cách tốt nhất để phát triển tư duy Các

em sẽ nắm được chìa khóa mở cánh cửa tri thức, và trở thành những con người thành đạt sau này Môn toán có vai trò hết sức quan trọng bởi đó không phải là những con

số, phép tính khô khan mà nó rất cần thiết trong cuộc sống hàng ngày Nhưng không phải học sinh nào cũng yêu thích toán và giỏi toán Một câu hỏi đặt ra là: “Làm sao giúp các em có lòng say mê toán học và ngày càng giỏi toán hơn mà không tạo áp lực cho các em?” Đó là vấn đề mà chúng ta cần phải có giải pháp giải quyết Hiện nay, hiện tượng nhiều học sinh có cảm giác sợ học toán và có xu hướng giải toán một cách máy móc, theo các bước định sẵn, theo trí nhớ mà không thật sự hiểu rõ ý nghĩa, bản chất của các khái niệm hay phép tính Do đó, khả năng giải toán của các em thường chỉ bó hẹp trong phạm vi các dạng bài toán cụ thể mà các em đã được dạy Mục tiêu nhằm giúp học sinh thay đổi thái độ học tập đối với môn toán, trở nênyêu thích, giỏi toán hơn và nâng cao tinh thần học tập của các em Chúng ta cần áp dụng những phương pháp dạy học tích cực để giúp học sinh “thấu hiểu” toán, học toán một cách hứng thú nhẹ nhàng Điều đó phát triển rất tốt tư duy logic, sáng tạo cho học sinh Tình hình thực tế của học sinh 4A2 và 4A1 - các lớp tôi chủ nhiệm: Học sinh chưa được khơi gợi nhiều về sự hứng thú học tập, hầu hết các em đều chưa ý thức được mục đích của việc học tập Điều đó dẫn tới thụ động tiếp nhận kiến thức và thực hiện

cơ bản theo yêu cầu của giáo viên Một số em còn phải nhắc nhở, đốc thúc mới thực hiện các nhiệm vụ học tập được giao Qua nghiên cứu và trải nghiệm của bản thân, tôi lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp tạo hứng thú và nâng cao chất lượng giảng

dạy môn Toán”

Trang 4

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Nội dung báo cáo gồm:

- Phần 1: Thực trạng công tác dạy và học môn Toán trong trường tiểu học Yên Thọ.

- Phần 2: Các biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy và thực nghiệm sư phạm.

- Phần 3: Minh chứng về hiệu quả của các biện pháp.

Phần 1: Thực trạng công tác dạy và học môn Toán trong trường tiểu học Yên Thọ.

I Ưu điểm

1 Được sự quan tâm của nhà trường trong những năm gần đây, tôi luôn được

tham gia đầy đủ các buổi tập huấn, sinh hoạt chuyên môn do trường, phòng giáo dục

& đào tạo tổ chức để nâng cao trình độ chuyên môn

2 Giáo viên trong nhà trường có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình trong

công tác Luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao

3 Nhà trường, tổ chuyên môn thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn, dự

giờ góp ý, trao đổi học tập kinh nghiệm để nâng cao trình độ cho giáo viên

4 Cơ sở vật chất khang trang.

II Hạn chế và nguyên nhân hạn chế

1 Đối với giáo viên:

1.1: Giáo viên chưa mạnh dạn trong việc đổi mới phương pháp dạy học Còn phụ

thuộc hoàn toàn vào quy trình, các hoạt động trong sách hướng dẫn Ngại điều chỉnh các hoạt động cho phù hợp với đối tượng học sinh

1.2: Nhiều giáo viên còn hạn chế về công nghệ thông tin.

1.3: Trong quá trình dạy học còn nặng về truyền thụ lý thuyết, ít vận dụng các kiến

thức toán vào thực tiễn cuộc sống

1.4: Nhiều giáo viên chưa tìm hiểu kĩ về kiến thức toán tiểu học của từng khối lớp

dẫn đến chưa hiểu sâu về kiến thức đồng tâm của môn học

2 Đối với học sinh:

2.1: Học sinh chưa có ý thức tự học, chưa có hứng thú với môn toán Thụ động

trong học tập, thực hiện máy móc dập khuôn những kiến thức giáo viên truyền thụ, lười tư duy sáng tạo

Trang 5

2.2: Khả năng chú ý, tập trung của học sinh ngắn hạn, mau quên.

2.3: Kĩ năng đọc – hiểu, phân tích đề bài của học sinh chưa tốt nên khó khăn trong

việc định hướng các bước giải bài toán

2.4: Học sinh không hiểu rõ bản chất, mục đích của dạng toán Vì vậy việc vận

dụng kiến thức phát triển mở rộng kiến thức đồng tâm lên các lớp trên còn khó khăn, hạn chế

Phần 2: Các biện pháp tạo hứng thú, nâng cao chất lượng giảng dạy

và thực nghiệm sư phạm.

2.1 Biện pháp 1: Phát triển kiến thức mới dựa vào kiến thức cũ đồng tâm.

Môn Toán ở Tiểu học là một hệ thống kiến thức đồng tâm mở rộng giữa các khối lớp Kiến thức cũ là tiền đề phát triển cho kiến thức mới

Khi dạy bài mới tôi thường bắt đầu từ những kiến thức cũ đồng tâm mà các em

đã biết và phát triển lên để giúp các em tự mở ra kiến thức mới Từ đó các em dễ dàng tiếp nhận kiến thức mới, giúp các em cảm thấy mạnh dạn, tự tin, hào hứng hơn với môn Toán

Ví dụ: Khi dạy bài so sánh các phân số khác mẫu tôi thường đưa ra tình huống:

1. Hãy so sánh hai phân số và

2 So sánh hai phân số và ?

- Nhận xét về mẫu số của hai phân số

- Khi nào có thể so sánh được hai phân số này?

Từ đó kích thích suy nghĩ, tư duy sáng tạo của học sinh để học sinh tự tìm ra các

cách làm để so sánh hai phân số khác mẫu từ các kiến thức cũ có liên quan là:

+ Cách 1: Đưa hai phân số trên về cùng mẫu bằng cách quy đồng mẫu số

+ Cách 2: Cùng so sánh với 1

+ Cách 3: Đưa về cùng tử số (đối với học sinh khá giỏi)

Trang 6

2.2 Biện pháp 2: Phân tích (giải nghĩa) các thuật ngữ toán học (Khái niệm) cho học sinh.

Ở tiểu học học sinh mới được làm quen và gọi tên các dạng toán bằng những

thuật ngữ Toán học Nên các em còn rất mơ hồ, chưa hiểu hết mục đích, ý nghĩa, tác dụng của các dạng Toán Vì vậy giáo viên cần giúp các em phân tích các thuật ngữ Toán học (tên bài) từ đó các em tìm ra được các thuật toán (cách làm bài) Qua đó học sinh tự nhận thấy vai trò quan trọng của môn học và ứng dụng linh hoạt vào

giải các bài toán thực tiễn trong cuộc sống

Ví dụ 1: Khi dạy bài tính chu vi hình chữ nhật

Gv đưa ra bài toán: Mẹ muốn quây kín một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài là 19m chiều rộng 15m Hỏi mẹ cần mua bao nhiêu mét giấy bóng (ni lông) để quây kín thửa ruộng?

GV hướng dẫn:

- Em hiểu quây kín thửa ruộng ở đây là quây như thế nào? – quây kín là quây hết

xung quanh

- Để tính được số mét giấy bóng (ni lông) dùng để quây kín xung quanh thửa ruộng

ta làm thế nào?

- Qua bài toán này Gv đã tạo ra tình huống thực tế để học sinh suy nghĩ tìm ra cách tính chu vi Từ đó học sinh biết và hiểu được khái niệm chu vi là tổng độ dài các cạnh (các đường gấp khúc) của một hình khép kín.

- Khi học sinh hiểu được thuật ngữ Chu vi các em sẽ dễ dàng tính được chu vi của các hình bất kì và tự hình thành được công thức tính chu vi các hình.

Ví dụ 2: Khi dạy bài trung bình cộng:

Trang 7

GV đưa ra và yêu cầu học sinh giải bài toán: Can thứ nhất có 6L dầu can thứ hai có 4L dầu Hỏi nếu rót đều vào hai can thì mỗi can có bao nhiêu lít dầu?

Bài giải:

Tổng số lít dầu ở hai can có là:

6 + 4 = 10 (L) Nếu rót đều vào hai can thì mỗi can có số lít dầu là:

10: 2 = 5 (L) Đáp số : 5 L

GV hướng dẫn:

- Qua bài toán con hiểu từ “rót đều” nghĩa là gì? (Là chia ra mỗi can có số lít dầu

bằng nhau.)

Gv giới thiệu: Rót đều vào mỗi can 5 lít dầu còn có thể nói là: trung bình cộng mỗi can có 5 lít dầu

- Trung bình cộng còn được gọi là gì?

- Trung bình cộng còn được gọi là bình quân, chia đều, rót đều

Sau khi học xong, học sinh sẽ tự mình giải thích được:

- Tìm Trung bình cộng là tìm một số (thương số) = tổng của các số hạng chia cho

số các số hạng và các tên gọi khác của trung bình cộng trong ứng dụng cuộc sống.

- Qua đó học sinh tự tìm được thuật toán cho bài trung bình cộng là:

+ Bước 1: Xác định các số hạng có trong bài toán

+ Bước 2: Tính tổng của các số hạng vừa tìm được

+ Bước 3: Trung bình cộng = tổng các số hạng chia cho số các số hạng

Và giải được các bài toán ứng dụng trong thực tế cuộc sống như:

6L

4L

Can 2

Rót đều

Trang 8

Tháng 1 nhà em dùng hết 210 000 đồng tiền điện Tháng 2 nhà em dùng hết 300 000 đồng tiền điện, tháng 3 nhà em dùng hết 270 000 đồng tiền điện Hỏi bình quân mỗi tháng nhà em dùng hết bao nhiêu tiền điện?

Ví dụ 3: Khi dạy bài quy đồng mẫu số các phân số.

Sau khi học sinh thực hiện xong hoạt động khám phá kiến thức Gv hướng dẫn học sinh phân tích (giải nghĩa) khái niệm thế nào là quy đồng mẫu số các phân số như sau:

Con có nhận xét gì về hai phân số cũ với hai phân số mới sau khi quy đồng?

Từ đó học sinh hiểu được Quy đồng mẫu số các phân số là đưa các phân số khác mẫu về các phân số cùng mẫu

Khi các em đã hiểu được thuật ngữ Toán học các em sẽ dễ dàng phân tích được

bài toán, tự tin, sáng tạo hơn trong học tập môn Toán cũng như áp dụng trong thực tiễn đời sống hàng ngày

2.3 Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh lập sơ đồ tư duy vào phân tích bài toán.

Phát triển tư duy bằng sơ đồ tư duy được công nhận là một phương pháp hiệu quả tại nhiều quốc gia Là một phương pháp ghi chú sáng tạo mang lại hiệu quả cao trong giáo dục Khi lập sơ đồ tư duy học sinh sẽ vận dụng trí tưởng tượng, sáng tạo phong phú của mình tạo ra một ghi chép có liên kết chặt chẽ mang tính lí luận về quan hệ giữa các dữ liệu và thông tin khác nhau của bài Từ đó học sinh sẽ tự phân tích được một khối dữ kiện lớn của bài toán thành các bài toán đơn dễ dàng tìm ra phép tính và câu trả lời đầy đủ, chính xác và ghi nhớ thông tin nhanh chóng dễ dàng, lâu dài

Tôi thường hướng dẫn học sinh lập sơ dồ tư duy đi lên để giải các bài toán có lời văn nhiều phép tính như sau:

+ Đọc kĩ đề bài để hiểu bài yêu cầu tìm ra đại lượng nào

+ Tóm tắt đề bài: ghi ra những đại lượng cần thiết cho việc tìm ra đại lượng mà bài yêu cầu

+ Xác định dạng toán dựa vào “từ khóa”

+ Đổi đơn vị đo nếu cần

+ Suy nghĩ tìm ra các yếu tố, phép tính liên quan có thể dùng để giải bài toán + Lập sơ đồ tư duy đi lên

Tìm các đại lượng liên quan trực tiếp = Các đại lượng đã biết

Trang 9

Đại lượng chính cần tìm

Ví dụ: Giải bài toán sau: Khối lớp 4 tham gia trồng cây Lớp 4A trồng được 69

cây Lớp 4B trồng nhiều hơn lớp 4A là 6 cây nhưng lại ít hơn lớp 4C là 3 cây Hỏi trung bình mỗi lớp trồng được bao nhiêu cây?

Học sinh đọc đề

Tóm tắt bài toán

Lớp 4A: 69 cây

Lớp 4B ít hơn 4A: 6 cây

Lớp 4B ít hơn 4C: 3 cây

_

Hỏi trung bình mỗi lớp trồng …… cây?

- Học sinh xác định được đại lượng cần tìm là trung bình số cây mỗi lớp trồng

được

- Dựa vào “từ khóa” xác định được đây là bài toán trung bình cộng.

- Lập sơ đồ tư duy đi lên như sau:

Tổng số cây 3 lớp = 4A + 4B + 4C

69 cây ? cây ? Cây

Trung bình mỗi lớp trồng? cây

Bài giải

= 4B + 3 cây

= 4A - 6 cây

Trang 10

Số cây lớp 4B trồng được là:

69 – 6 = 63 (cây)

Số cây lớp 4C trồng được là:

63 + 3 = 66 (cây) Tổng số cây 3 lớp trồng được là:

69 + 63 + 66 = 198 (cây) Trung bình mỗi lớp trồng được số cây là:

198: 3 = 66 (cây) Đáp số: 66 cây

Khi áp dụng biện pháp này tôi nhận thấy học sinh xác lập mối quan hệ giữa các

dữ liệu và xử lí các thông tin của bài toán nhanh chóng, chính xác Qua đó học sinh cải thiện được hiệu quả bộ nhớ và khả năng ghi nhớ

2.4 Biện pháp 4: Tăng cường hoạt động trải nghiệm, sáng tạo qua các phương pháp dạy học trực quan, sơ đồ đoạn thẳng, trò chơi vận động, hoạt động thực nghiệm vào giảng dạy.

Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý và khả năng tiếp thu kiến thức khoa học tự nhiên của trẻ theo từng độ tuổi, tôi nhận thấy các tính chất trừu tượng, khái quát đặc trưng của môn Toán đối với khả năng tiếp thu, nhận thức của học sinh tiểu học gặp rất nhiều khó khăn Nên khi dạy học tôi thường khai thác từ kinh nghiệm vốn sống của bản thân học sinh Để giúp các em hình tượng hóa các kiến thức trừu tượng thành những hình ảnh cụ thể, sinh động, gần gũi Khi em được tự trải nghiệm, được chơi các trò chơi vận động các em sẽ thấy Toán học rất gần gũi với đời sống, có trong cuộc sống hàng ngày khiến các em hứng thú, yêu thích với môn Toán hơn

-Khi dạy bài góc nhọn, góc tù, góc bẹt tôi thường tổ chức cho học sinh chơi trò

chơi vận động tạo ra các góc khác nhau từ những vật dụng hàng ngày hay chính cơ thể các em qua những tiết dạy ngoài trời để các em củng cố, ghi nhớ kiến thức

Ví dụ như:

Trang 11

-Với bài phân số, phép cộng, phép trừ phân số cùng mẫu Tôi thường cho học sinh

hoạt động thực nghiệm tô màu lần lượt vào các phần của một hình Từ đó học sinh

tự hình thành được phân số, phép tính cộng, trừ phân số cùng mẫu

Ví dụ: Khi dạy bài cộng hai phân số cùng mẫu Tôi đưa ra tình huống:

Cho băng giấy:

Em hãy thực hiện lần lượt các yêu cầu sau:

1 Lần thứ nhất em tô màu băng giấy trên

2.Lần thứ hai em tô màu băng giấy trên

3.Cả hai lần em đã tô số phần của băng giấy là: ………

4.Dựa vào kết quả trên, em hãy viết phép tính và kết quả thích hợp vào chỗ chấm

Trang 12

………… + ………… ……… =……….…

Khi học sinh được thoải mái trải nghiệm thực tế, được cùng các bạn chơi các trò chơi vận động các em sẽ cảm thấy nhẹ nhàng trong học tập và ghi nhớ lâu hơn Bởi các bài toán khô khan, cứng nhắc giờ đây đã trở thành những kí ức vui vẻ bên bạn bè

2.5 Biện pháp 5: Thường xuyên giao các bài tập ứng dụng trong cuộc sống theo phân loại từng đối tượng học sinh Kiểm tra, đánh giá hàng ngày kết quả ứng dụng của học sinh.

+ Nội dung giao cho học sinh trải nghiệm không chỉ là nội dung bài trước mà còn giao cả hệ thống kiến thức có liên quan để học sinh được luyện tập thường

xuyên

+ Tôi thường phối hợp với phụ huynh học sinh giao bài cho học sinh qua các

phiếu bài tập, phiếu chờ theo các mức độ và luôn có sự kiểm tra đánh giá của học sinh với học sinh, giáo viên với học sinh Những lời nhận xét của tôi đều mang tính

động viên khích lệ sự tiến bộ và phát triển của học sinh

Ví dụ: Khi dạy bài phép cộng phân số cùng mẫu tôi giao phiếu bài tập theo

mức độ cho học sinh như sau:

Ngày đăng: 26/08/2021, 00:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w