Mỗi quốc gia khác nhau lại có một hệ thống pháp luật riêng biệt áp dụng riêng trên lãnh thổ quốc gia mình, chính vì khi áp dụng pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ của tư pháp quốc tế có sự không thống nhất khi có hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia cùng có thể được lựa chọn để áp dụng. Việc giải quyết vấn đề này chính là đi thừa nhận và áp dụng pháp luật nước ngoài. Đề tài sẽ làm sáng tỏ nhận định: “Áp dụng pháp luật nước ngoài luôn là một vấn đề phức tạp và khó khăn nhưng lại là một yêu cầu khách quan trong việc giải quyết các quan hệ trong tư pháp quốc tế”.
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 3
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI 3
1 Khái niệm áp dụng pháp luật nước ngoài 3
2 Các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài 3
3 Điều kiện áp dụng pháp luật nước ngoài 5
II ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ 5
1 Áp dụng pháp luật nước ngoài luôn là một vấn đề phức tạp và khó khăn 5
2 Áp dụng pháp luật nước ngoài là một yêu cầu khách quan trong việc giải quyết các quan hệ trong tư pháp quốc tế 9
III THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC QUAN HỆ TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM 11
1 Thực tiễn áp dụng pháp luật nước ngoài trong việc giải quyết các quan hệ trong tư pháp quốc tế tại Việt Nam 11
2 Một số hạn chế và kiến nghị hoàn thiện 12
C KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 2ĐỀ SỐ 1: Hãy làm sáng tỏ nhận định: “Áp dụng pháp luật nước ngoài luôn là một vấn đề phức tạp và khó khăn nhưng lại
là một yêu cầu khách quan trong việc giải quyết các quan hệ trong tư pháp quốc tế”.
A MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, hợp tác quốc tế là một tất yếu khách quan và là đòn bẩy để mỗi quốc gia phát triển trên mọi lĩnh vực Sự hội nhập quốc tế ấy chính là tiền đề hình thành trên thực tế các quan hệ dân
sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân gia đình,… có yếu tố nước ngoài Tư pháp quốc tế ra đời với tư cách là một ngành luật độc lập, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài đó Mỗi quốc gia khác nhau lại có một hệ thống pháp luật riêng biệt áp dụng riêng trên lãnh thổ quốc gia mình, chính vì khi áp dụng pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ của tư pháp quốc tế có sự không thống nhất khi có hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia cùng có thể được lựa chọn để
áp dụng Việc giải quyết vấn đề này chính là đi thừa nhận và áp dụng pháp luật nước ngoài
Đề tài sẽ làm sáng tỏ nhận định: “Áp dụng pháp luật nước ngoài luôn
là một vấn đề phức tạp và khó khăn nhưng lại là một yêu cầu khách quan trong việc giải quyết các quan hệ trong tư pháp quốc tế”.
Trang 3B NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI
1 Khái niệm áp dụng pháp luật nước ngoài
Tư pháp quốc tế là một ngành luật là ngành luật độc lập, sử dụng hai phương pháp cơ bản là phương pháp thực chất và phương pháp xung đột, để điều chỉnh các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài Trong
đó phương pháp xung đột là phương pháp đặc thù và chủ yếu, được sử dụng thông qua việc xây dựng các quy phạm xung đột
Trong tư pháp quốc tế, khi xuất hiện xung đột pháp luật, tức là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng có thể được áp dụng để giải quyết các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài1, mà các quan hệ này không phải lúc nào cũng được điều chỉnh bởi các quy phạm thực chất Vấn đề đặt ra là phải lựa chọn một trong số hai hay nhiều hệ thống pháp luật để giải quyết quan hệ đó Và khi đó, quy phạm xung đột được xác định là căn cứ pháp lý cho sự lựa chọn này Hay nói cách khác, đây chính là việc áp dụng pháp luật nước ngoài
Từ đó, chúng ta có thể hiểu áp dụng pháp luật nước ngoài là việc cơ
quan có thẩm quyền của một quốc gia vận dụng các quy định cụ thể của pháp luật một quốc gia khác để xem xét, giải quyết các quan hệ cụ thể
2 Các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài
Pháp luật nước ngoài chỉ được áp dụng trong những trường hợp nhất định và trong các trường hợp đó thì nghĩa vụ áp dụng thuộc về các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của đương sự chứ không phải là nên áp dụng hay biết thì áp dụng, không biết thì không áp dụng Cụ thể, có bốn trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế bao gồm:
Thứ nhất, khi quy phạm xung đột thống nhất dẫn chiếu đến luật nước
ngoài thì cơ quan có thẩm quyền phải áp dụng pháp luật nước ngoài Bởi quy
Trang 4phạm xung đột thống nhất được hình thành thông qua việc quốc gia xây dựng các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương; hoặc gia nhập điều ước quốc tế đa phương Chẳng hạn, theo khoản 2 Điều 24 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý Việt Nam với Liên bang Nga năm 1998 quy định:
“Hình thức kết hôn tuân theo pháp luật của bên ký kết nơi tiền hành kết hôn” Như vậy việc kết hôn giữa công dân Việt Nam và công dân Nga nếu
tiến hành ở Việt Nam thì hình thức kết hôn tuân thủ pháp luật Việt Nam còn nếu tiến hành trên lãnh thổ của Liên bang Nga thì phải tuân thủ luật pháp của Nga
Thứ hai, khi quy phạm xung đột thông thường dẫn chiếu đến luật nước
ngoài thì cơ quan có thẩm quyền phải áp dụng pháp luật nước ngoài Khi đó, luật nước ngoài được dẫn chiếu phải là toàn bộ hệ thống pháp luật nước ngoài bao gồm cả các quy phạm thực chất lẫn quy phạm xung đột
Sự khác nhau cơ bản giữa sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột thông thường và quy phạm xung đột thống nhất đó là nước nào được quy phạm xung đột thống nhất dẫn chiếu thì chỉ có nghĩa là phần luật thực định của nước đó chứ không phải là toàn bộ hệ thống pháp luật nước đó bao gồm cả quy phạm xung đột như khi quy phạm xung đột thông thường dẫn chiếu đến
Do đó mà khi quy phạm xung đột thống nhất dẫn chiếu luật không xảy ra
hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba
Thứ ba, khi các bên thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài Sự thỏa
thuận này không phải tùy tiện mà phải được pháp luật cho phép Trong trường hợp pháp luật không cho phép chọn thì dù có thỏa thuận luật áp dụng thì sự lựa chọn ấy cũng không có giá trị pháp lý Ở đây khi pháp luật nước ngoài được áp dụng cũng chỉ là phần luật thực định giống như khi quy phạm xung đột thống nhất dẫn chiếu đảm bảo tính thống nhất của sự thỏa thuận Trường hợp này cũng không dẫn chiếu ngược
Thứ tư, khi cơ quan có thẩm quyền xác định luật nước ngoài là hệ
thống pháp luật có mối quan hệ gắn bó nhất Trong trường hợp không có quy
Trang 5phạm xung đột cũng như không có sự thỏa thuận lựa chọn pháp luật nước ngoài hoặc sự thỏa thuận đó không hợp pháp thì luật áp dụng sẽ là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất theo xác định của cơ quan có thẩm quyền giải quyết
3 Điều kiện áp dụng pháp luật nước ngoài
Áp dụng luật nước ngoài là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ dân sự quốc tế, đảm bảo sự ổn định, củng cố và phát triển hợp tác về mọi mặt trong hoạt động tư pháp quốc tế giữa các quốc gia Việc
áp dụng pháp luật nước ngoài phải được thực hiện đầy đủ, đảm bảo nó được
áp dụng và giải thích như nó đã được áp dụng và giải thích ở nước đã ban hành ra nó Thêm vào đó, việc áp dụng này phải đáp ứng điều kiện là luật nước ngoài được áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội và pháp luật trong nước của nước áp dụng pháp luật nước ngoài
II ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ
1 Áp dụng pháp luật nước ngoài luôn là một vấn đề phức tạp và khó khăn
Có thể nhận thấy, quy phạm xung đột được áp dụng phổ biến để giải quyết nhiều quan hệ tư pháp quốc tế Mà việc thừa nhận quy phạm xung đột cũng có nghĩa là thừa nhận có thể áp dụng pháp luật của các nước khác theo
sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột Vậy nên việc áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết các vụ việc thuộc tư pháp quốc tế là điều tất yếu Tuy nhiên việc áp dụng pháp luật nước ngoài lại không hề đơn giản Sự khó khăn
và phức tạp được biểu hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, xuất phát từ nguyên nhân dẫn đến việc thừa nhận và áp dụng
pháp luật nước ngoài Các quốc gia khác nhau sẽ xây dựng những hệ thống pháp luật khác nhau phù hợp với tình hình chính trị-xã hội của nước mình
Từ đó làm nảy sinh xung đột pháp luật bởi các quốc gia đều muốn mở rộng thẩm quyền của mình Trong phạm vi quốc gia, một quan hệ dân sự đã có rất nhiều vấn đề phức tạp Do đó, đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tức là đã mở rộng phạm vi của quan hệ đó ra liên quan đến cả quốc gia khác
Trang 6nữa sẽ khiến cho việc giải quyết càng trở nên phức tạp hơn Chính yếu tố nước ngoài đã làm cho việc lựa chọn được một hệ thống pháp luật để giải quyết vấn đề là một bài toán khó
Thứ hai, pháp luật nước ngoài chỉ được sử dụng trong một số trường
hợp nhất định như đã nêu trên Tuy nhiên không phải cứ thuộc một trong bốn trường hợp đó là có thể áp dụng được pháp luật nước ngoài mà cần đáp ứng các điều kiện nhất định Khi áp dụng pháp luật nước ngoài cần phải tuân thủ đúng nguyên tắc để luật nước ngoài không bị giải thích và áp dụng theo ý chí chủ quan của người áp dụng Yêu cầu đó là luật nước ngoài phải được áp dụng một cách đầy đủ, đảm bảo luật nước ngoài được áp dụng và giải thích ở nước đã ban hành ra nó Theo Điều 667 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về
vấn đề này như sau: “Trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng
nhưng có cách hiểu khác nhau thì việc áp dụng phải theo sự giải thích của
cơ quan có thẩm quyền tại nước đó.” Thực tế cho thấy trong việc chính các
quy phạm pháp luật Việt Nam cũng đã có nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau Vì thế mà rất cần thiết phải có những văn bản giải thích, hướng dẫn của các cơ quan chuyên ngành, những người có thẩm quyền để thống nhất trong việc áp dụng Đối với pháp luật nước ngoài thì việc giải thích đúng nó như thế nào lại càng không phải là vấn đề đơn giản mà nó đòi hỏi người áp dụng phải có trình độ pháp luật cao, tư duy rõ ràng, hiểu biết về pháp luật nước đó thì mới có thể áp dụng và giải quyết đúng đắn các quan hệ
tư pháp quốc tế Do đó, để áp dụng được pháp luật nước ngoài vào giải quyết một quan hệ cụ thể là một vấn đề phức tạp
Thứ ba, sự phức tạp và khó khăn trong việc xác định được luật nước
ngoài Vậy phải xác định luật nước ngoài như thế nào và ai là người có trách nhiệm tìm hiểu và xác định luật nước ngoài?
Tại một số quốc gia, luật nước ngoài được xem như một chứng cứ , tức
là đương sự phải chứng minh được sự cần thiết của việc áp dụng pháp luật nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Điều đó đặt lên vai đương
Trang 7sự một trọng trách rất nặng nề, nếu không chứng minh được điều đó thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng luật của nước mình để giải quyết Đối với Việt Nam, vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 481 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Theo đó, trách nhiệm xác định và cung cấp pháp luật nước ngoài được thực hiện như sau: Trong trường hợp luật nước ngoài
do đương sự lựa chọn thì việc xác định pháp luật nước ngoài trước hết thuộc
về trách nhiệm của đương sự trong quan hệ đó Bởi vì việc áp dụng pháp luật nước nào cuối cùng cũng để đảm bảo lợi ích của các đương sự nên các đương sự không thể đứng ngoài việc này Trong trường hợp các đương sự không thống nhất được với nhau về pháp luật nước ngoài hoặc trong trường hợp cần thiết, Tòa án yêu cầu Bộ Tư pháp, Bộ ngoại giao, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc thông qua Bộ ngoại giao đề nghị cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam cung cấp pháp luật nước ngoài Bởi vì, việc áp dụng luật nước ngoài lúc này
là do các cơ quan có thẩm quyền quy định nên họ có trách nhiệm trong việc xác định luật nước ngoài để áp dụng Song, để xác định được pháp luật nước nào lựa chọn giải quyết quan hệ tư pháp và áp dụng sao cho đúng cũng là vấn đề đau đầu cho những người có trách nhiệm xác định luật nước ngoài
Để để giải quyết một vụ việc tư pháp quốc tế thì vấn đề lựa chọn một trong hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau có thể được áp dụng là một vấn đề khá nan giản Vậy nên, thứ tự áp dụng pháp luật trong một vụ việc tư pháp quốc tế cũng là một trong những vấn đề phức tạp, khó khăn cần phải thực hiện Đối với các vụ việc tư pháp quốc tế thông thường, thứ tự áp dụng pháp luật được thực hiện như sau:
Bước 1: áp dụng quy phạm thực chất thống nhất.
Bước 2: áp dụng quy phạm xung đột thống nhất.
Bước 3: áp dụng quy phạm thực chất thông thường.
Bước 4: áp dụng quy phạm xung đột thông thường.
Bước 5: áp dụng pháp luật có mối liên hệ gắn bó nhất.
Trang 8Đối với các quan hệ tư pháp quốc tế đặc biệt khi nảy sinh, cơ quan thẩm quyền căn cứ vào điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để điều chỉnh Nếu như không có điều ước quốc tế hay đối tượng điều chỉnh không thuộc phạm vi điều chỉnh của các điều ước đó thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng pháp luật quốc gia khác Hoặc một trường hợp khác, khi chủ thể tham gia quan hệ là Nhà nước và Nhà nước thực hiện quyền miễn trừ Nhà nước thì quan hệ sẽ chấm dứt Nếu Nhà nước từ bỏ quyền này thì trường hợp này sẽ
áp dụng theo các trình tự thông thường
Như vậy, có thể thấy việc áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết các quan hệ trong vtư pháp quốc tế rất khó khăn và phức tạp Mà để giải quyết được vụ việc đó, phải xác định đó có phải trường hợp có thể áp dụng được pháp luật nước ngoài hay không, xác định hệ thống pháp luật nào được
áp dụng đi từ các thứ tự ưu tiên, đồng thời phải đáp ứng được các yêu cầu nhất định khi áp dụng pháp luật nước đó
Thứ tư, hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước
thứ ba Dẫn chiếu ngược là hiện tượng pháp luật nước được dẫn chiếu, dẫn chiếu trở lại pháp luật nước dẫn chiếu Còn dẫn chiếu đến pháp luật nước
thứ ba là hiện tượng pháp luật nước được dẫn chiếu, dẫn chiếu sang pháp
luật nước thứ ba Sở dĩ có hiện tượng này là do quy phạm xung đột dẫn chiếu tới hệ thống pháp luật nước ngoài, mà hệ thống pháp luật nước ngoài được dẫn chiếu tới có thể bao gồm cả các quy phạm trong phần luật thực định và các quy phạm xung đột Như đã phân tích ở trên, quy phạm xung đột thống nhất chỉ dẫn chiếu đến phần luật thực định của hệ thống pháp luật nước ngoài đó thì sẽ không xảy ra hiện tượng dẫn chiếu ngược Còn quy phạm xung đột thông thường dẫn chiếu đến toàn bộ hệ thống pháp luật nước ngoài thì có thể dẫn đến hiện tượng dẫn chiếu ngược và dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba Hiện tượng này càng làm rõ sự phức tạp của việc áp dụng pháp luật nước ngoài Để giải quyết hiện tượng dẫn chiếu ngược, pháp luật Việt
Nam quy định như sau: “Trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật Việt Nam thì
Trang 9quy định của pháp luật Việt Nam về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự được áp dụng” Đối với trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật
nước thứ ba, pháp luật Việt Nam chỉ rõ: “Trường hợp dẫn chiếu đến pháp
luật của nước thứ ba thì quy định của pháp luật nước thứ ba về quyền, nghĩa
vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự được áp dụng.” Tuy nhiên, hiện
tượng này cũng có những ngoại lệ Đó là đối với quy phạm xung đột thống nhất, các bên đã thống nhất ý chí giữa các nước trong việc lựa chọn hệ thống pháp luật giải quyết quan hệ đó nên sẽ loại trừ được việc dẫn chiếu ngược Hoặc khi các bên đã lựa chọn được hệ thống pháp luật một nước để giải quyết vụ việc thì tức là họ mong muốn sử dụng những quy định pháp luật thực của nước đó loại trừ dẫn chiếu ngược để đảm bảo tính thỏa thuận
Thứ năm, hiện tượng lẩn tránh pháp luật Lẩn tránh pháp luật là hiện
tượng các đương sự đã bằng các hành vi của mình như thay đổi quốc tịch , thay đổi nơi cư trú hoặc chuyển hóa tài sản… để đạt được mục đích là áp dụng hệ thống pháp luật có lợi nhất cho mình Và trên thực tế, những hành vi này được thực hiện bằng các thủ đoạn vô cùng tinh vi, xảo quyệt, khiến cho việc xác định trở nên vô cùng khó khăn, phức tạp Hay nói cách khác, đây là chính là kẽ hở trong việc áp dụng nước ngoài cần thiết được khắc phục
2 Áp dụng pháp luật nước ngoài là một yêu cầu khách quan trong việc giải quyết các quan hệ trong tư pháp quốc tế
Thứ nhất, việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế là
một hệ quả tất yếu nhằm giải quyết xung đột pháp luật
Xuất phát từ các quan hệ là đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài nên khi giải quyết các quan hệ này nếu không có quy phạm thực chất trực tiếp điều chỉnh quan
hệ thì các cơ quan có thẩm quyền bắt buộc phải dùng các quy phạm xung đột, một trong các phương pháp được áp dụng phổ biến trong tư pháp quốc
tế Thừa nhận quy phạm xung đột cũng là thừa nhận có thể áp dụng luật nước ngoài theo sự dẫn chiếu của quy phạm này Việc áp dụng luật nước
Trang 10ngoài ở một mức độ nhất định trong thực tế đời sống tư pháp quốc tế được thừa nhận ở hầu hết các nước trên thế giới.2
Khi xuất hiện quan hệ tư pháp quốc tế thì hiện tượng xung đột pháp luật
sẽ xảy ra vì khi đó hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh Việc thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài hay không, áp dụng pháp luật nước ngoài nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể nào hoàn toàn thuộc về chủ quyền của các quốc gia Tuy nhiên, trong xu hướng hiện nay, với mục đích tăng cường, củng cố và thúc đẩy sự phát triển bền vững các mối quan hệ quốc tế, hầu hết các quốc gia đều thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài Hơn nữa, quan hệ Tư pháp quốc tế với bản chất là quan hệ dân sự nên một trong những nguyên tắc điển hình đó là tôn trọng sự thỏa thuận Do vậy nếu áp đặt việc áp đặt phải áp dụng pháp luật của quốc gia thì sẽ không dung hòa được lợi ích của các quốc gia có liên quan
Thứ hai, việc áp dụng pháp luật nước ngoài là nhu cầu tất yếu, khách
quan,để giải quyết các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài Qua đó, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự và thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển
Việc cho phép áp dụng luật nước ngoài không phải là nghĩa vụ pháp lí của mỗi quốc gia mà là thuộc chủ quyền quốc gia, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia cũng như bảo hộ những quyền lợi hợp pháp của công dân, pháp nhân nước mình, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch dân sự quốc tế Thực tiễn giải quyết xung đột pháp luật đã chứng tỏ rằng, nếu cơ quan
tư pháp chỉ áp dụng pháp luật nước mình để điều chỉnh bất kì quan hệ, mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài nào, bằng mọi cách cố tình mở rộng hiệu lực của pháp luật nước mình mà không tính đến trường hợp cụ thể cần phải áp dụng pháp luật nước ngoài đều dẫn tới sự thủ tiêu tính khách quan, công bằng - những nguyên tắc cơ bản của bất kì quá trình tố tụng nào Hậu