Luật Tố tụng hành chính 2015 ra đời đã có nhiều nội dung mới, tiến bộ theo mục tiêu cải cách tư pháp, mở rộng dân chủ, đảm bảo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đề tài: “Đánh giá quy định pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo loại việc của tòa án nhân dân” sẽ làm rõ những ưu điểm cũng như hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này.
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 3
I KHÁI NIỆM THẨM QUYỀN XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO LOẠI VIỆC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 3
II ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO LOẠI VIỆC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 3
1 Cơ sở pháp lý 3
2 Đánh giá quy định pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo loại việc của tòa án nhân dân 4
3 Phân tích ví dụ làm rõ quy định pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo loại việc của tòa án nhân dân 9
C KẾT LUẬN 11
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 2ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ
VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO LOẠI VIỆC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
A MỞ ĐẦU
Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, với chính sách mở cửa, hội nhập kinh
tế, cùng với việc Việt Nam đã là thành viên của nhiều điều ước quốc tế và đã gia nhập
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì việc pháp điển hóa quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết các khiếu kiện hành chính, cụ thể hóa các cam kết của Việt Nam là rất cần thiết
Luật Tố tụng hành chính 2015 ra đời đã có nhiều nội dung mới, tiến bộ theo mục tiêu cải cách tư pháp, mở rộng dân chủ, đảm bảo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Đề tài: “Đánh giá quy định pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo loại việc của tòa án nhân dân” sẽ làm rõ những ưu điểm cũng như hạn chế
trong quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này
Trang 3B NỘI DUNG
I KHÁI NIỆM THẨM QUYỀN XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH THEO LOẠI VIỆC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra
một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc Từ đó, nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết phù hợp với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của
vụ việc
Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân chính là khả năng của
Tòa án theo quy định của pháp luật Tố tụng hành chính, thực hiện việc xem xét, đánh giá và ra phán quyết về yêu cầu khởi kiện đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính, nhằm bảo vê quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước.1
Hay nói cách khác, xác định thẩm quyền xét xử hành chính của Tòa án chính là xác định phạm vi thực hiện quyền lực nhà nước của Tòa án trong việc xét xử các vụ án hành chính
Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo loại việc của Tòa án nhân dân sẽ xác
định những đối tượng nào, loại việc nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo thủ tục Tố tụng hành chính
II ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ VỤ
ÁN HÀNH CHÍNH THEO LOẠI VIỆC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1 Cơ sở pháp lý
Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo loại việc của tòa án nhân dân được quy định tại Điều 30 Luật TTHC 2015:
Điều 30 Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1 Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành
vi sau đây:
a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;
1 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng hành chính, trang 43
Trang 4b) Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính,
xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;
c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.
2 Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.
3 Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
4 Khiếu kiện danh sách cử tri.
2 Đánh giá quy định pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo loại việc của tòa án nhân dân
Điều 30 Luật TTHC 2015 quy định 04 đối tượng bị khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Cụ thể:
Thứ nhất, quyết định hành chính, hành vi hành chính.
Về quyết định hành chính:
Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ
chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.2
Quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện cần có các dấu hiệu sau:
Một là, xét về hình thức, quyết định hành chính phải được thể hiện bằng văn bản.
Đó là những dạng thức tồn tại nội dung quyết định có thể lưu giữ lại làm bằng chứng
Hai là, về chủ thể ban hành Quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện phải do
cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó
Cơ quan hành chính nhà nước ở đây được hiểu là các cơ quan có chức năng quản
lý hành chính và các cơ quan, tổ chức khác nhưng chỉ gồm các cơ quan: Bộ, cơ quan
2 Khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 5ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các
cơ quan nhà nước ở địa phương
Ba là, quyết định hành chính do các chủ thể đó ban hành nhằm giải quyết, xử lý
những vụ việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính, nhưng lại xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện
Bốn là, quyết định đó phải là quyết định hành chính cá biệt Căn cứ vào tính chất
pháp lý, quyết định hành chính gồm 3 loại: Quyết định chủ đạo, quyết định quy phạm
và quyết định cá biệt; Trong đó, chỉ có quyết định hành chính cá biệt mới là đối tượng xét xử của Toà án Quyết định cá biệt hay còn gọi là quyết định áp dụng quy phạm pháp luật là quyết định được ban hành trên cơ sở các quyết định chủ đạo và quy phạm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có những trường hợp được ban hành trên cơ sở quyết định cá biệt của cơ quan cấp trên
Quyết định chủ đạo và quyết định quy phạm chứa đựng những quy tắc xử sự chung, tác động đến đối tượng rộng lớn Quyết định cá biệt là những quyết định chỉ
áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể để giải quyết các trường hợp các biệt, cụ thể và có hiệu lực đối với các đối tượng cụ thể trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Vì thế quyết định cá biệt trực tiếp xâm hại đến lợi ích của cá nhân, tổ chức
Về hành vi hành chính:
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.3
Như vậy, quyết định hành chính bị kiện phải là quyết định hành chính làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Hành vi hành chính nhà nước thực hiện hoặc
3 Khoản 3 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 6không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật bị kiện phải là làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Tuy nhiên không phải mọi quyết định hành chính, hành vi hành chính đều trở thành đối tượng khởi kiện vụ án hành chính Có 03 trường hợp loại trừ thẩm quyền của Tòa án như sau:
Một là, quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước
trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật Đây
là những lĩnh vực có vai trò vô cùng quan trọng đối với chủ quyền quốc gia – vấn đề thiêng liêng và sống còn với bất kì quốc gia nào Do đó, cần bảo vệ một cách tuyệt đối, không được tiết lộ dưới bất kì hình thức nào
Hai là, quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành
chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng Các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án là hành vi vi phạm nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cá nhân, cơ quan,
tổ chức, gây khó khăn, trở ngại cho Tòa án khi giải quyết các vụ việc, ảnh hưởng đến thời gian, chất lượng, hiệu quả giải quyết vụ việc Việc xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng này cần phải được thực hiện nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án giải quyết vụ việc Mặt khác, nếu đây cũng là đối tượng khởi kiện VAHC thì
có nghĩa là Tòa án phải xem xét, phán quyết về quyết định do chính Tòa án ban hành
là không khách quan, không khả thi và không phù hợp với thực tiễn
Ba là, quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ
chức Đó là những quyết định, hành vi chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác; quản lý, tổ chức cán bộ, kinh phí, tài sản được giao; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chính sách, pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các đơn vị thuộc thẩm quyền quản
lý của cơ quan, tổ chức Việc mở rộng thẩm quyền của Tòa án đối với khiếu kiện hành chính về quyết định hành chính và hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức sẽ dẫn tới sự can thiệp quá sâu vào hoạt động quản lý, điều hành và không bảo đảm tính ổn định, tính có trật tự trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của cơ quan, tổ chức
Trang 7Trường hợp đối tượng khởi kiện ghi trong đơn không thuộc đối tượng khởi kiện vụ
án hành chính thì Toà án giải thích cho người khởi kiện biết để người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện về đối tượng khởi kiện trong thời hạn do Toà án ấn định, nhưng không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày người khởi kiện nhận được văn bản của Toà án yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện.4
Thứ hai, quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục
trưởng và tương đương trở xuống
Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu
cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc quyền quản lý của mình.5
Theo quy định của pháp luật cán bộ công chức năm 2008, công chức vi phạm có thể áp dụng một hoặc nhiều hình thức kỉ luật: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức và buộc thôi việc Theo quy định tại Khoản 2 Điều 30 Luật TTHC 2015 thì chỉ có quyết định kỷ luật với hình thức buộc thôi việc mới là đối tượng khiếu kiện hành chính Đối với các hình thức kỷ luật khác như cảnh cáo, khiển trách, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức thì công chức chỉ có quyền khiếu nại mà không được quyền khởi kiện ra Toà án
Việc kỷ luật đối với các bộ, công chức mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức Trong các hình thức kỉ luật thì hình thức kỷ luật buộc thôi việc là hình thức kỷ luật nghiêm khắc nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và danh dự của công chức bị ký luật, thậm chí là gia đình họ cũng sẽ bị ảnh hưởng Do đó, nó đã vượt ra khỏi phạm vi nội bộ của cơ quan, tổ chức, trở thành đối tượng bị khởi kiện Và theo quy định của Luật TTHC 2015, nếu quyết định đó áp dụng với công chức mà công chức đó giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống, thì quyết định này sẽ là đối tượng khởi kiện tại Tòa án
Thứ ba, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
4 Khoản 2 Điều 1 nghị quyết 01/2015/NQ-HĐTP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết
số 02/2011/nq-hđtp ngày 29 tháng 7 năm 2011 của hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của luật tố tụng hành chính
5 Khoản 5 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015
Trang 8Vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật này bị cơ
quan nhà nước có thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.6
Thẩm quyền giải quyết loại việc cạnh tranh thứ nhất là của Hội đồng cạnh tranh; thẩm quyền giải quyết loại việc thứ hai là của Cục quản lý cạnh tranh, nếu là Hội đồng cạnh tranh thì sẽ thành lập ra Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh để xử lý; nếu là Cục quản lý cạnh tranh thì do Thủ trưởng cơ quan trực tiếp xử lý và kết quả xử lý vi phạm sẽ là quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
Tuy nhiên, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý cạnh tranh hay của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh đều không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính Chỉ khi những quyết định này bị khiếu nại thì quyết định giải quyết khiếu nại đó mới là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính Như vậy, chủ thể bị
xử lý bởi quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh phải thực hiện việc khiếu nại trước khi thực hiện quyền khởi kiện Sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh mà không đồng ý với quyết định đó, người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án hành chính
Thứ tư, danh sách cử tri.
Danh sách cử tri là đối tượng khởi kiên vụ án hành chính là danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân
Khi công dân không có tên mình trong danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân hoặc danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, sau khi khiếu nại và được giải quyết nhưng không đồng ý có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền
Việc quy định như vậy thể hiện mối quan tâm của Nhà nước đối với quyền chính trị cơ bản của công dân, nhằm đảm bảo quyền bầu cử của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 Đồng thời, phù hợp với quy định của Luật Trưng cầu ý dân năm 2015
3 Phân tích ví dụ làm rõ quy định pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính theo loại việc của tòa án nhân dân
6 Khoản 8 Điều 3 Luật cạnh tranh 2004
Trang 9Vụ án hành chính giữa ông Lê Hữu Hiền khởi kiện quyết định hành chính của Cục trưởng Cục Thuế.
Ông Hiền là công chức nhà nước, công tác tại Chi cục Thuế và giữ chức vụ Chi Cục trưởng Theo Giấy khai sinh và các giấy tờ tùy thân của ông như: Chứng minh nhân dân, căn cước công dân, sổ Hộ khẩu gia đình và các loại bằng cấp chuyên môn,
hồ sơ Đảng viên thì ông sinh ngày 08/8/1960 Riêng ngày tháng năm sinh trong hồ sơ Công chức và sổ BHXH thì lại ghi ngày 27/3/1958 Ông Hiền đã nhiều lần đề nghị Cục Thuế và Bảo hiểm xã hội tỉnh điều chỉnh lại ngày tháng năm sinh của ông trong
Hồ sơ công chức và sổ BHXH theo Giấy khai sinh nhưng cả hai cơ quan này đều không thực hiện
Ngày 5/1/2018, Cục trưởng Cục Thuế căn cứ vào Hồ sơ công chức của ông Hiền tại Cục Thuế thì ông Hiền sinh ngày 27/3/1958; căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13; Nghị định số 46/2010/NĐ-CP ngày 27/4/2010 của Chính phủ quy định về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với Công chức, Cục trưởng Cục Thuế đã ban hành QĐ số 15-QĐ-CT ngày 05/01/2018 cho ông Hiền được nghỉ hưu và hưởng chế độ BHXH từ ngày 01/4/2018
Ngày 29/01/2018, ông Hiền làm đơn khiếu nại Quyết định số 15/QĐ-CT ngày 05/01/2018 của Cục trưởng Cục thuế về việc cho ông nghỉ hưu để hưởng chế độ BHXH; Ngày 13/3/2018, Cục Thuế ban hành Quyết định số 292/QĐ-CT về việc giải quyết khiếu nại
Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, ngày 02/4/2018, ông Lê Hữu Hiền khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh, yêu cầu hủy Quyết định số 15/QĐ- CT ngày 05/01/2018 về việc cho ông nghỉ hưu để hưởng chế độ BHXH và Quyết định số 292/QĐ-CT về việc giải quyết khiếu nại của Cục trưởng Cục Thuế
Tòa án tỉnh thụ lý giải quyết vụ án hành chính và ra Bản án sơ thẩm hành chính số 69/2018/HC-ST ngày 25/7/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh đã áp dụng khoản 3 Điều 32; điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 204; khoản 1 Điều 206 Luật Tố tụng hành chính; khoản 1, 2 Điều 6 và các điều 24, 25, 26 Nghị định số 123/2015/NĐ- CP ngày 16/11/2015 của Chính phủ; khoản 2 Điều 76 Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13; khoản 2
Trang 10Điều 4 Luật Cán bộ công chức số 22/2008/QH12; điểm c khoản 1 Điều 2, điểm a khoản 1 Điều 54 Luật BHXH số 58/2014/QH13; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hiền và tuyên: Hủy toàn bộ Quyết định hành chính số 15/QĐ-CT ngày 05/01/2018 về việc cho ông Hiền nghỉ hưu, hưởng chế độ BHXH từ ngày 01/4/2018 và Quyết định giải quyết khiếu nại số 292/QĐ-CT ngày 13/3/2018 của Cục Thuế đối với ông Hiền Buộc Cục Thuế khôi phục lại mọi quyền lợi, chế độ cho ông Hiền như trước ngày 01/4/2018 Ngày 31/7/2018, Cục trưởng Cục Thuế kháng cáo đề nghị hủy bản án nêu trên
Nhận xét:
Trong vụ việc trên, Tòa án nhân dân tỉnh đã xác định không đúng thẩm quyền thụ
lý giải quyết vụ án hành chính Cụ thể, ông Hiền nguyên là Chi cục trưởng Cục Thuế khiếu nại các Quyết định của Cục trưởng Cục Thuế liên quan đến công tác tổ chức cán bộ Các Quyết định này đều là văn bản hành chính được ban hành khi xem xét quyết định và giải quyết khiếu nại đối với cán bộ công chức trong công tác tổ chức cán bộ Đây là các Quyết định hành chính thuộc nội bộ của ngành Thuế
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính 2015 thì quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức không phải là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính
Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án hành chính trong trường hợp này là không đúng với qui định của Luật tố tụng hành chính vì nội dung khiếu kiện này mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Tức là xác định không đúng thẩm quyền theo loại việc của Tòa án nhân dân