1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chế định án treo trong Luật hình sự Việt Nam

12 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 30,21 KB
File đính kèm CHẾ ĐỊNH ÁN TREO.rar (29 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công tác duy trì trật tự xã hội thì việc đấu tranh chống tội phạm là một hoạt động quan trọng nhất và bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng pháp luật hình sự để trấn áp tội phạm, đồng thời răn đe, giáo dục người phạm tội. Cùng với việc quy định các hình phạt nhằm trừng trị các hành vi phạm tội, thì luật hình sự còn có các chế định đặc thù thể hiện tính nhân đạo nhằm cải tạo những người trót lầm lỡ mà nhất thời phạm tội. Án treo là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự thể hiện rõ nét tính nhân đạo này. Đề tài sẽ làm rõ nội dung: “Chế định án treo trong Luật hình sự Việt Nam” để đi làm rõ các vấn đề này trên cả hai phương diên lý luận và thực tiễn áp dụng. Đề tài cũng SO SÁNH QUY ĐỊNH VỀ ÁN TREO TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VÀ BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

Trang 1

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 1

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TREO 1

1 Khái niệm 1

2 Bản chất pháp lý 2

3 Ý nghĩa của chế định án treo trong công tác đấu tranh và phòng ngừa tôi phạm 2

II NỘI DUNG CHẾ ĐỊNH ÁN TREO TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 3

1 Các căn cứ để được hưởng án treo 3

1 Thời gian thử thách của án treo 4

2 Hậu quả pháp lý của việc phạm tội mới trong thời gian thử thách của người bị kết án 5

4 Việc giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục 6

5 Hình phạt bổ sung áp dụng đối với người được hưởng án treo 6

III SO SÁNH QUY ĐỊNH VỀ ÁN TREO TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VÀ BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 7

IV MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 8

1 Hạn chế trong các quy định về chế định án treo trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành 8

2 Những kiến nghị hoàn thiện 9

C KẾT LUẬN 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 2

ĐỀ TÀI: Chế định án treo trong Luật hình sự Việt Nam

Pháp luật là những quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, nó được coi là công cụ đắc lực và hiệu quả nhất để duy trì sự ổn định của xã hội Trong công tác duy trì trật tự xã hội thì việc đấu tranh chống tội phạm là một hoạt động quan trọng nhất và bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng pháp luật hình sự để trấn áp tội phạm, đồng thời răn đe, giáo dục người phạm tội Cùng với việc quy định các hình phạt nhằm trừng trị các hành vi phạm tội, thì luật hình sự còn có các chế định đặc thù thể hiện tính nhân đạo nhằm cải tạo những người trót lầm lỡ mà nhất thời phạm tội Án treo là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự thể hiện rõ nét tính nhân đạo này

Nếu trong thời gian được hưởng án treo, người được hưởng án treo có nhiều tiến bộ thì tòa án có thể rút ngắn hoặc chấm dứt thời gian thử thách, người được hưởng án treo được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt và được xóa án tích khi có đủ điều kiện do pháp luật quy định Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp, người được hưởng án treo đã thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách

Đề tài sẽ làm rõ nội dung: “Chế định án treo trong Luật hình sự Việt Nam”

để đi làm rõ các vấn đề này trên cả hai phương diên lý luận và thực tiễn áp dụng

B NỘI DUNG

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TREO

1 Khái niệm

Án treo là một chế định pháp lý hình sự liên quan đến việc chấp hành hình phạt của người bị kết án Án treo được hiểu là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, hình phạt đối với người vi phạm pháp luật ở mức độ ít nghiêm trọng, khi bị xử phạt tù không quá ba năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và xét thấy không cần phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã

Trang 3

hội mà vẫn có thể cải tạo được, tòa án có thể miễn chấp hành tại trại giam mà để cho người bị kết án tự cải tạo dưới sự giám sát, quản lý giáo dục của chính quyền tại địa phương tại nơi cư trú

2 Bản chất pháp lý

Từ khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy bản chất pháp lý của án treo trong luật hình sự Việt Nam qua các đặc điểm sau:

Thứ nhất, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Thứ hai, người hưởng án treo phải chịu một thời ian thử thách nhất định từ

01 năm đến 05 năm và trong thời gian đó pải chịu sự giám sát của cơ quan, tổ chức được Tòa án giao trách nhiêm giám sát và giáo dục

Thứ ba, trong thời gian thử thách, nếu người bị án treo phạm tội mới thì

phải bị buộc chấp hành hình phạt tù trong bản án cho hưởng án treo trước đó, cộng them hình phạt của bản án về hành vi phạm tội mới thực hiện

3 Ý nghĩa của chế định án treo trong công tác đấu tranh và phòng ngừa tôi phạm

Án treo có tác dụng khuyến khích người bị kết án tự lao động cải tạo để hoàn lương, với sự giúp dỡ tích cực của chính quyền địa phương nơi cư trú, cơ quan công tác, gia đình, người thâ, bạn bè và xã hội

Có thể thấy rằng, án treo là biểu hiện rõ nét của phương châm “trừng trị kết hợp với giáo dục” và thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong pháp luật hình sự của Nhà nước ta Áp dụng đúng đắn các quy định về án treo sẽ có tác dụng tốt là không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi đời sống cộng đồng, đồng thời cũng có thể giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, hòa nhập với mọi người Do đó, họ sẽ cảm thấy phấn khởi hơn, hạnh phúc hơn, mong muốn làm lại cuộc đời để giảm bớt tội lỗi mình đã gây ra, nâng cao ý thức pháp luật của bản thân

Trang 4

Ngoài ra, áp dụng đúng đắn các quy định về án treo sẽ đem lại lợi ích đáng

kể về mặt kinh tế Cụ thể, Nhà nước ta sẽ tiết kiệm được khoản chi phí tương đối lớn trong việc cải tạo họ trong các trại giam

Có thể khẳng định rằng án treo là một chế định có vai trò hết sức quan trong, đem lại ý nghĩa vô cùng to lớn, vừa thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước ta, vừa mang tính nhân văn, nhan đạo sâu sắc, đem lại những hiệu quả không nhỏ trong công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm, giữ vũng an ninh chính trị và trật tự xã hội, đảm bảo được sự ổn định của đất nước

II NỘI DUNG CHẾ ĐỊNH ÁN TREO TRONG LUẬT HÌNH SỰ

VIỆT NAM

1 Các căn cứ để được hưởng án treo

Án treo là một biện pháp chấp hành hình phạt tù có điều kiện Theo quy định tại Điều 65 Bộ Luật hình sự 2015 (có hiệu lực ngày 01/01/2018) thì điều kiện để được hưởng án treo là: Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự

Như vậy, để được hưởng án treo thì người phạm tội phải đáp ứng các điều kiện sau:

Một là, bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì Những

người bị Toà án phạt tù không quá ba năm, không kể về tội gì đều coi là thoả mãn đầu tiên để xem xét cho hưởng án treo Đối với người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội hoặc có nhiều bản án mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không vượt quá ba năm tù thì có thể xem xét để cho hưởng án treo Trong trường hợp này phải xem xét thận trọng và chặt chẽ trước khi quyết định cho hưởng án treo

Trang 5

Hai là, có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ

luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng Người được hưởng án treo phải là người có nhân thân tương đối tốt, nghĩa là người đó phải là người chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của bản thân, chưa có tiền án, tiền sự Tuy nhiên, đối với những người có tiền án, tiền sự, nếu xét tính chất của tiền án, tiền sự cùng với tính chất của tội phạm mới thực hiện cũng như các căn cứ khác thấy không cần thiết bắt họ phải chấp hành hình phạt tù thì cũng có thể cho hưởng án treo, nhưng tinh thần chung là phải hạn chế và phải xem xét thật chặt chẽ

Khi đánh giá nhân thân người bị kết án phải xem xét toàn diện tất cả các yếu tố thuộc về nhân thân kể cả thái độ của họ sau khi phạm tội và qua đó đối chiếu với yêu cầu phòng ngừa chung để xem xét có cần phải bắt họ chấp hành hình phạt tù hay cho họ hưởng án treo

Ba là, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng

Bốn là, có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng Năm là, người phạm tội phải có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt họ đi

chấp hành hình phạt tù thì khong ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về tham nhũng

1 Thời gian thử thách của án treo

Khi Tòa án quyết định cho người bị kết án tù được hưởng án treo thì đồng thời Tòa án phải tuyên thời gian thử thách đối với người đó Theo khoản 1 Điều

65 BLHS, thời gian thử thách là từ 01 năm đến 05 năm Theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP thì khi cho người bị xử phạt tù hưởng án treo, Tòa án phải

ấn định thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 1 năm và không được quá 5 năm (Điều 5)

Trang 6

Bên cạnh đó, BLHS cũng quy định tại khoản 4 Điều 65 BLHS các trường hợp được rút ngắn thời gian thử thách nhằm mục đích khuyến khích người được hưởng án treo tích cực giáo dục, rèn luyện bản thân để sớm được khẳng định là công dân tốt, có ích cho xã hội Cụ thể:

Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó

cư trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó

Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này

Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này

2 Hậu quả pháp lý của việc phạm tội mới trong thời gian thử thách của người bị kết án

Về bản chất, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Điều kiện để được miễn chấp hành hình phạt tù là người bị kết án phải trải qua một thời gian thử thách nhất định do Tòa án quyết định và trong thời gian đó không được cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2 lần trở lên và không được phạm tội mới

Trang 7

Trong trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước

và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS Còn trong trường hợp một người đang được hưởng án treo mà sau đó bị phát hiện trước khi được hưởng án treo họ đã thực hiện một tội phạm khác, thì Tòa án xét xử quyết định hình phạt đối với tội phạm đó và người phạm tội đồng thời phải chấp hành hai bản án

4 Việc giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức giám sát,

giáo dục

Về vấn đề giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự quy định:

“Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.”

Như vậy, người được hưởng án treo dù không phải cách ly khỏi đời sống xã hội song trong hoạt động bình thường của mình, họ phải chịu một sự giám sát, quản lý của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm Đây là một sự hạn chế riêng đối với những người được hưởng án treo Sự theo dõi, giáo dục của chính quyền địa phương với người được hưởng án treo nhằm đánh giá việc cải tạo của họ và tránh cho họ những ảnh hưởng xấu dẫn đến việc phạm tội Như vậy, vai trò của chính quyền địa phương, của cơ quan nhà nước, của tổ chức xã hội trong cải tạo người phạm tội được hưởng án treo là rất lớn

5 Hình phạt bổ sung áp dụng đối với người được hưởng án treo

Đối với người được hưởng án treo, ngoài việc phải chịu hình phạt tù nhưng được miễn chấp hành có điều kiện thì người bị kết án còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm

Trang 8

công việc nhất định theo quy định của Bộ luật hình sự Đây là quyết định mang tính chất tùy nghi do Tòa án quyết định áp dụng hoặc không áp dụng Việc áp dụng hình phạt bổ sung trong trường hợp này phải đúng với các tội phạm mà có quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định và đồng thời việc áp dụng hình phạt bổ sung phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 35 và Điều 41 Bộ luật hình sự hiện hành

III SO SÁNH QUY ĐỊNH VỀ ÁN TREO TRONG BỘ LUẬT HÌNH

SỰ NĂM 2015 VÀ BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

So với Điều 60 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì chế định

về án treo quy định tại Điều 65 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đã được nhà làm luật sửa đổi, bổ sung về nội dung đầy đủ, bao quát hơn, câu từ rõ nghĩa, chính xác hơn Cụ thể là:

Một là, tại khoản 1, ngoài sử dụng ký tự số “03” thay cho chữ “ba”, nhà

làm luật bổ sung cụm từ “thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.” Theo đó, các nghĩa vụ của người được hưởng án treo phải thực hiện, được quy định tại Điều 64 Luật Thi hành án hình

sự năm 2010, bao gồm:

1 Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại

2 Phải có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục

3 Trường hợp người được hưởng án treo đi khỏi nơi cư trú từ 01 ngày trở lên thì phải khai báo tạm vắng

4 Ba tháng một lần trong thời gian thử thách người được hưởng án treo phải nộp bản tự nhận xét về việc chấp hành pháp luật cho người trực tiếp giám

Trang 9

sát, giáo dục; trường hợp đi khỏi nơi cư trú từ 03 tháng đến 06 tháng, thì phải có nhận xét của Công an cấp xã nơi người đó đến lưu trú hoặc tạm trú để trình với

Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người đó

Hai là, khoản 3 Điều 65 BLHS năm 2015 quy định trực tiếp và chỉ rõ chủ

thể là “Tòa án” có thể quyết định áp dụng hình phạt bổ sung nếu trong điều luật

áp dụng có quy định loại hình phạt này đối với người được hưởng án treo thay vì

sử dụng quy phạm dẫn chiếu như tại Khoản 3 của BLHS năm 9999

Ba là, tại khoản 5 Điều 65 BLHS năm 2015, nhà làm luật đã bổ sung quy

định quan trọng nhằm bảo đảm người được hưởng án treo phải chấp hành tốt các nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định trong thời gian thử thách Nếu người được hưởng án treo trong thời gian thử thách cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 64 Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo Đây là điểm bổ sung hoàn toàn mới, mà trước đó, quy định về án treo tại Điều

44 BLHS năm 1985, Điều 60 BLHS năm 1999 chưa đề cập đến

IV MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

1 Hạn chế trong các quy định về chế định án treo trong Luật hình sự

Việt Nam hiện hành

Quy định tại Điều 65 BLHS năm 2015 vẫn chưa khắc phục được những tồn tại, vướng mắc từ thực tiễn áp dụng chế định này mà trước đó, Điều 60 BLHS năm 1999 vẫn chưa giải quyết được đó là:

Thứ nhất, cũng như các điều luật quy định về án treo trước đây, Điều 65

BLHS năm 2015 vẫn chưa đưa ra được khái niệm về án treo

Thứ hai, trường hợp người phạm tội trong thời gian thử thách, khi bị kết án

họ có được hưởng án treo một lần nữa không? Quy định tại khoản 5 Điều 65 BLHS năm 2015, có thể hiểu rằng người nào được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, không phân biệt lỗi cố ý hay vô ý cũng không

Trang 10

phân biệt tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thì đều bị Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước rồi tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS năm 2015

Vấn đề đặt ra từ quy định này, đó là, có phải bất cứ trường hợp nào mà một người đã được hưởng án treo lại phạm tội trong thời gian thử thách thì Tòa án đều không cho họ được hưởng án treo một lần nữa? Vấn đề này do luật không quy định, nên thực tiễn xét xử áp dụng không thống nhất, tạo nên sự hoài nghi

về tính nghiêm minh của pháp luật, mà theo đó, trong thời gian thử thách người được hưởng án treo lại phạm tội mới là tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng; lỗi vô ý; có nhiều tình tiết giảm nhẹ;…có Tòa án xem xét cho người bị kết án hưởng án treo một lần nữa Nhưng cũng có Tòa án “kiên quyết”không cho bị cáo được hưởng án treo

2 Những kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, bổ sung khái niệm về án treo; cách tính thời gian thử thách của

án treo vào khoản 1 và khoản 2 Điều 65 BLHS năm 2015 Sau khi bổ sung, khoản 1 và khoản 2 Điều luật này có thể được viết lại như sau:

“1 Án treo là miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

2 Bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án đầu tiên cho hưởng án treo Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó

cư trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp

Ngày đăng: 25/08/2021, 17:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w