1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếng nghệ trong đời sống đương đại(khảo sát về phương diện từ vựng)

86 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 889,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông thường, mỗi cộng đồng dân cư của một quốc gia đều có ngôn ngữ làm phương tiện giao tiếp chung phổ biến rộng rãi trong các vùng dân cư, giữa các tầng lớp người dùng, với những chuẩn

Trang 1

LÊ ĐÌNH SƯƠNG

TIẾNG NGHỆ TRONG ĐỜI SỐNG ĐƯƠNG ĐẠI

(KHẢO SÁT VỀ PHƯƠNG DIỆN TỪ VỰNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2017

Trang 2

LÊ ĐÌNH SƯƠNG

TIẾNG NGHỆ TRONG ĐỜI SỐNG ĐƯƠNG ĐẠI

(KHẢO SÁT VỀ PHƯƠNG DIỆN TỪ VỰNG)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS HOÀNG TRỌNG CANH

NGHỆ AN - 2017

Trang 3

Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, chúng tôi đã nhận được

sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, nhất là các thầy cô ở bộ môn Ngôn ngữ học trường Đại học Vinh Đặc biệt, chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, PGS TS Hoàng Trọng Canh, người thầy đã tận tâm hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn này

Bên cạnh đó, chúng tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ từ gia đình và bạn bè Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy

cô giáo, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập

và thực hiện luận văn

Với đề tài này, chúng tôi đã hết sức cố gắng nhưng do khả năng có hạn nên chắc chắn không tránh khỏi sai sót Do vậy, chúng tôi rất mong nhận được

sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các bạn

Nghệ An, tháng 8 năm 2017

Tác giả

Lê Đình Sương

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của đề tài 5

6 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài 10

1.2.1 Khái quát về những vấn đề chung của phương ngữ 10

1.2.2 Khái quát về phương ngữ Nghệ Tĩnh 14

1.3 Tiểu kết chương 1 18

Chương 2 TỪ ĐỊA PHƯƠNG ĐƯỢC DÙNG TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI NGHỆ TĨNH HIỆN NAY 19

2.1 Tiểu dẫn 19

2.2 Một số lớp từ địa phương Nghệ Tĩnh liên quan đến đời sống giao tiếp hàng ngày trong gia đình người Nghệ Tĩnh 19

2.2.1 Lớp từ thân tộc và đại từ dùng trong giao tiếp gia đình 19

2.2.2 Lớp từ phương ngữ chỉ thời gian, không gian được dùng trong gia đình 30

2.2.3 Lớp từ chỉ các sự vật, hiện tượng liên quan gắn bó với đời sống sinh hoạt của người Nghệ Tĩnh 39

2.3 Tiểu kết chương 2 41

Trang 5

3.1 Lớp từ xưng hô 42

3.1.1 Các danh từ thân tộc là từ địa phương được dùng xưng hô ngoài xã hội 42

3.1.2 Các đại từ nhân xưng và chỉ trỏ là từ địa phương được dùng xưng hô ngoài xã hội 45

3.2 Lớp từ địa phương chỉ thời gian, không gian 59

3.2.1 Các từ địa phương chỉ thời gian được dùng 59

3.2.2 Các từ địa phương chỉ không gian được dùng giao tiếp ở chợ, bến xe, trường học 67

3.3 Lớp từ chỉ các sự vật, hiện tượng liên quan gắn bó với đời sống của người Nghệ Tĩnh được dùng giao tiếp ngoài xã hội 69

3.4 Tiểu kết chương 3 72

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 6

Bảng 2.1 Tỉ lệ bình quân chung các từ thân tộc phương ngữ Nghệ Tĩnh

được dùng trong gia đình và họ tộc 20 Bảng 2.2 Các danh từ thân tộc là từ địa phương hiện được dùng và

mức độ dùng chúng trong xưng hô ở gia đình người Nghệ Tĩnh 25 Bảng 2.3 Các đại từ phương ngữ được dùng trong giao tiếp hiện nay

của người Nghệ Tĩnh 28 Bảng 2.4 Kết quả khảo sát mưc độ sử dụng các từ: “bựa ni”, “bựa rày”

(hôm nay) 31 Bảng 2.5 Kết quả khảo sát mưc độ sử dụng các từ: “khi sớm”, „khi trưa”,

“khi triều”, “khi túi” 34 Bảng 2.6 Kết quả phân loại khảo sát: “bựa mai”, “bựa mốt”, “bựa khác”

(ngày mai, ngày kia, hôm khác) 34 Bảng 2.7 Tổng hợp kết quả khảo sát phân loại từ chỉ thời gian dùng

giao tiếp giữa các thành viên trong gia đình Nghệ Tĩnh 37 Bảng 2.8 Kết quả khảo sát mức độ sử dụng từ chỉ không gian giữa

các thành viên trong gia đình người Nghệ Tĩnh 38 Bảng 2.9 Kết quả khảo sát mức độ sử dụng từ chỉ bộ phận cơ thể

người và các vật, con vật gắn bó với con người được các thành viên trong gia đình người Nghệ Tĩnh dùng 40 Bảng 3.1 Kết quả khảo sát từ xưng hô ả, o được dùng ở chợ giữa

người mua và người bán 43 Bảng 3.2 Các đại từ phương ngữ (ngôi 1 số ít) được dùng trong giao

tiếp ngoài xã hội hiện nay của người Nghệ Tĩnh 45 Bảng 3.3 Các đại từ phương ngữ (ngôi 1 số nhiều) được dùng trong

giao tiếp ngoài xã hội hiện nay của người Nghệ Tĩnh 46

Trang 7

Bảng 3.5 Các đại từ phương ngữ (ngôi 2 số nhiều) được dùng trong

giao tiếp ngoài xã hội hiện nay của người Nghệ Tĩnh 48 Bảng 3.6 Các đại từ phương ngữ (ngôi 3 số ít) được dùng trong giao

tiếp ngoài xã hội hiện nay của người Nghệ Tĩnh 48 Bảng 3.7 Các đại từ phương ngữ (ngôi 3 số nhiều) được dùng trong

giao tiếp ngoài xã hội hiện nay của người Nghệ Tĩnh 49 Bảng 3.8 Kết quả phân loại khảo sát từ xưng hô là đại từ được dùng ở

chợ giữa người mua và người bán 52 Bảng 3.9 Kết quả khảo sát từ xưng hô là đại từ được dùng ở bến xe 55 Bảng 3.10 Kết quả khảo sát từ xưng hô phương ngữ được dùng giữa

học sinh với học sinh 58 Bảng 3.11 Tổng hợp kết quả khảo sát từ chỉ thời gian được dùng giao

tiếp tại chợ, bến xe và trường học phổ thông ở Nghệ Tĩnh 59 Bảng 3.12 Kết quả khảo sát mức độ sử dụng từ địa phương trong giao

tiếp xã hội chỉ bộ phận cơ thể người và các vật, con vật gắn

bó với con người 69 Bảng 3.13 Kết quả khảo sát mức độ sử dụng từ địa phương chỉ bộ phận

cơ thể và các sự vật liên quan đến đời sống trong giao tiếp ở trường phổ thông 71

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Thông thường, mỗi cộng đồng dân cư của một quốc gia đều có ngôn ngữ làm phương tiện giao tiếp chung phổ biến rộng rãi trong các vùng dân cư, giữa các tầng lớp người dùng, với những chuẩn mực mang tính phổ biến được xã hội chấp nhận về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Mang tính toàn dân, bộ phận ngôn ngữ này trở thành tiêu biểu, có vị thế, vai trò quan trọng, đại diện tiêu biểu cho ngôn ngữ của một quốc gia, làm hạt nhân để thống nhất, chuẩn hóa ngôn ngữ dân tộc Ngôn ngữ chung có tính chất phổ biến ấy thường được gọi là ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ của một dân tộc, về biểu hiện, ngoài bộ phận ngôn ngữ toàn dân làm nên tính thống nhất của ngôn ngữ dân tộc còn có những biểu hiện khác biệt trên các vùng miền, giữa các tầng lớp người dùng Những sự khác biệt về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân, thường được gọi là phương ngữ Và phương ngữ, với sự khác biệt đó đã tạo nên tính đa dạng của ngôn ngữ dân tộc Cho nên, nghiên cứu tính thống nhất và tính đa dạng của ngôn ngữ dân tộc thì tìm hiểu phương ngữ, dù ở khía cạnh nào cũng là một sự cần thiết, có ý nghĩa

1.2 Phương ngữ là một phạm trù lịch sử Phương ngữ không chỉ phản ánh ngôn ngữ của một dân tộc về không gian mà còn về thời gian Ngôn ngữ luôn phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển biến đổi của xã hội Sự phát triển và biến đổi ấy được phản ánh rõ qua phương ngữ Cho nên tìm hiểu phương ngữ là góp phần tìm hiểu lịch sử phát triển biến đổi của một ngôn ngữ trong lịch sử cũng như qua từng thời kỳ

1.3 Thống nhất ngôn ngữ là một xu hướng và chuẩn hóa ngôn ngữ là một công cuộc thường xuyên tất yếu Cùng với xu hướng công nghiệp hóa,

Trang 9

hiện đại hóa, sự giao lưu tiếp xúc càng ngày càng mở rộng, các phương tiện thông tin đại chúng phổ biến, rộng khắp và hiện tượng chuyển cư diễn ra tự nhiên trong đời sống cộng đồng, phương ngữ cũng có những thay đổi trên nhiều phương diện Sự thay đổi đó được thể hiện khá rõ ở phương diện từ vựng và ngữ nghĩa Tuy nhiên, vấn đề này đã và đang đặt ra nhiều khó khăn bởi “quá trình chuẩn hóa và thống nhất ngôn ngữ là một quá trình tranh chấp, gạn lọc giữa các biến thể địa phương về mặt ngữ âm cũng như từ vựng” Quá trình tiếp nhận này cũng đặt ra một câu hỏi lớn: Liệu tiếng Nghệ có rơi vào quá trình “giải thể” để hòa vào sự thống nhất của tiếng phổ thông hay không?

Từ câu hỏi này, vấn đề được đặt ra cũng không kém phần quan trọng như: Tiếng Nghệ có vai trò quan trọng gì trong giữ gìn văn hóa xứ Nghệ cũng như văn hóa chung của dân tộc? Vì vậy, việc nghiên cứu tiếng Nghệ trong đời sống ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh không chỉ là một trong các cách để bảo tồn, phát triển văn hóa Nghệ Tĩnh mà còn là cách để xây dựng tiếng Việt thành ngôn ngữ thống nhất, chuẩn mực và phát triển trong sự đa dạng của phương ngữ các vùng miền

Do đó, điều tra từ ngữ địa phương được dùng hiện nay sẽ giúp chúng ta thấy được sự biến chuyển của ngôn ngữ nói cũng như phương ngữ và những tác động của xã hội đối với phương ngữ

1.4 Tìm hiểu “đời sống của từ địa phương” trong hoạt động giao tiếp hiện nay không chỉ thấy được đặc điểm xu hướng dùng từ ngữ địa phương hiện nay mà còn là cứ liệu hữu ích giúp cho việc giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường, công việc chuẩn hóa, truyền thông ở địa phương có thêm cơ sở xác đáng về mặt khoa học và xã hội

1.5 Vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh khá đồ sộ, chúng không chỉ được dùng trong giao tiếp tự nhiên ở Nghệ Tĩnh mà đã được nhiều tác giả sưu tầm xuất bản dưới dạng các từ điển từ ngữ địa phương Trong vốn từ đồ sộ

Trang 10

ấy, một bộ phận lớn đã là phương tiện của sáng tác thơ ca dân gian xứ Nghệ, trong đó Ví, Giặm đã trở thành “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” vừa được tổ chức văn hóa thế giới - UNESCO vinh danh (2015) Ngoài ra, trong vốn từ vựng địa phương Nghệ Tĩnh, lớp từ cổ của tiếng Việt được lưu giữ lại khá nhiều, các lớp từ chỉ sản vật, phong tục tập quán, lịch sử địa phương có số lượng lớn Cho nên từ địa phương Nghệ Tĩnh là một trong các địa chỉ phản ánh rõ nét văn hóa truyền thống xứ Nghệ Do đó tìm hiểu từ địa phương được dùng hiện nay còn có ý nghĩa về mặt văn hóa đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống địa phương và dân tộc

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của đề tài là “Khảo sát tiếng Nghệ trong đời sống đương

đại” (về phương diện từ vựng)

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Tiếng nói là một thực thể, có đời sống, có sự biến đổi theo thời gian và môi trường, nhất là môi trường giao lưu văn hoá Điều tra về tiếng Nghệ - phương ngữ hiện nay là một đề tài lớn, quy mô điều tra rộng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Do điều kiện thời gian và tính chất của đề tài, luận văn chỉ khảo sát tiếng Nghệ được dùng hiện nay về từ vựng - ngữ nghĩa trong sự đối

chiếu với tiếng Nghệ gốc (đã được phản ánh qua Từ điển tiếng địa phương

Nghệ Tĩnh) để tìm hiểu “đời sống” hoạt động của từ địa phương Nghệ Tĩnh

trong hoạt động giao tiếp hiện nay của người Nghệ Tĩnh, giữa những người thân trong gia đình và giữa các tầng lớp người ngoài xã hội

Về từ vựng ngữ nghĩa, luận văn bước đầu tập trung khảo sát điều tra trên một số nhóm từ được dùng phổ biến trong đời sống giao tiếp của người địa phương

Trang 11

Phạm vi điều tra khảo sát là:

- Từ địa phương được dùng trong gia đình

- Từ địa phương được dùng ngoài xã hội

Phạm vi không gian nghiên cứu là khu vực dân cư đồng bằng, trung du, ven biển của tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Như vậy, phạm vi điều tra là cùng một nhóm từ sẽ được khảo sát trong giao tiếp giữa những người thân trong gia đình, họ hàng thân tộc và giữa các đối tượng trong sinh hoạt, hoạt động xã hội Trong điều tra, chúng tôi cũng chú ý đến sự phân loại tư liệu điều tra theo tuổi tác, địa vị xã hội của người dùng

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi đặt ra mục tiêu nghiên cứu:

Thống kê và chỉ ra được đặc điểm từ vựng Nghệ Tĩnh xét về sử dụng trong đời sống ở các địa phương (về số lượng từ, loại từ dùng, đối tượng người dùng, môi trường và địa bàn dùng)

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát chung về phương ngữ và tiếng Nghệ Tĩnh; sự tồn tại phát triển của phương ngữ nói chung, tiếng địa phương Nghệ Tĩnh nói riêng

- Chỉ ra đặc điểm sử dụng của từ địa phương Nghệ Tĩnh hiện nay (xét trong giao tiếp gia đình)

- Chỉ ra đặc điểm sử dụng của từ địa phương Nghệ Tĩnh hiện nay (xét trong giao tiếp xã hội)

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp điều tra, điền dã

Địa bàn điều tra: Một số huyện, thị tiêu biểu như: Anh Sơn, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu (tỉnh Nghệ An) và Kỳ Anh, Lộc

Hà, Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Sơn (tỉnh Hà Tĩnh)

Trang 12

Nội dung điều tra: Thu thập và thống kê hiện trạng sử dụng phương ngữ Nghệ Tĩnh, cụ thể là từ địa phương, trên địa bàn các huyện, so sánh đối chiếu với tiếng Nghệ được phản ánh trong từ điển địa phương để nhận biết xu hướng sử dụng tiếng Nghệ hiện nay trên địa bàn xứ Nghệ về mặt từ vựng

4.2 Phương pháp miêu tả: Gồm các thủ pháp so sánh - đối chiếu, phân

tích - tổng hợp, thống kê - phân loại

Mục đích của luận văn là thu thập đánh dấu vốn từ vựng (số lượng từ ngữ) đang được dùng trên cơ sở đó miêu tả các đặc điểm về từ vựng tiếng Nghệ hiện nay (trong gia đình và ngoài xã hội; giữa các đối tượng khác nhau

về tuổi tác và địa vị xã hội) trong tương quan đối chiếu với từ địa phương đã được các tác giả thu thập phản ánh trong từ điển địa phương và với ngôn ngữ toàn dân Khi so sánh các đặc điểm từ vựng phương ngữ tiếng Nghệ với từ toàn dân, chúng tôi dùng thủ pháp so sánh, phân tích từ vựng, ngữ nghĩa Sau khi phân tích chúng tôi sẽ tổng hợp lại những đặc điểm, đặc trưng chính của

từ vựng tiếng Nghệ hiện nay, sau đó thống kê và phân loại trong quan hệ nhiều chiều để nhận biết xu hướng phát triển hiện nay của tiếng Nghệ Từ đó

để đề xuất những giải pháp có tính khả thi để bảo tồn hay phát triển vốn từ tiếng Nghệ trong đời sống hiện nay

4.3 Phương pháp chuyên gia

Tiếp cận, tìm hiểu các chuyên gia ở Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An

và Hội Văn nghệ dân gian Hà Tĩnh, Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, bộ môn Ngôn ngữ Đại học Vinh cùng các chuyên gia, nhà khoa học am hiểu về tiếng Nghệ để thu thập thông tin, tư liệu

5 Đóng góp của đề tài

Luận văn được hoàn thành thì đây là lần đầu tiên hiện trạng sử dụng của từ địa phương Nghệ Tĩnh trong vùng được công bố Do vậy người đọc sẽ thấy được xu hướng sử dụng từ vựng địa phương Nghệ Tĩnh trong xu hướng thống nhất của ngôn ngữ quốc gia trong bối cảnh hiện đại hóa đất nước

Trang 13

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu phương ngữ đặt ra từ rất sớm Nhưng phải nửa sau thế kỷ XX các phương ngữ Việt mới được chú ý khảo sát tìm hiểu Cùng với các phương ngữ khác, tiếng Nghệ cũng bắt đầu được nghiên cứu

Tiếng địa phương Nghệ - Tĩnh được các nhà phương ngữ học quan tâm chú ý không chỉ như một đối tượng nghiên cứu mà ngay cả khi thu thập vốn

từ và nghiên cứu chung về tiếng Việt hoặc các phương ngữ tiếng Việt Đề cập đến phương ngữ tiếng Việt trong đó có từ địa phương Nghệ Tĩnh đầu tiên là các công trình của các tác giả nước ngoài khi nghiên cứu về tiếng Việt Đó là

Ngữ âm tiếng Việt (phương ngữ miền thượng Trung kì (1902); Ngữ âm tiếng Việt (phương ngữ miền hạ Trung kì (1911) của L Caddière; Nghiên cứu lịch

sử ngữ âm tiếng Việt (1912) của H Maspéro; Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt

(1951) của M.B Emeneau; Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt (1984) của M.V

Gordina và I.S Bưxtrov; v.v (Dẫn theo Hoàng Trọng Canh [14 tr 42]) Nhìn chung các công trình vừa dẫn trên đều nghiên cứu mặt hình thức của ngôn ngữ, tập trung miêu tả ngữ âm của từng vùng, vì thế gián tiếp đã nói tới từ phương ngữ trong đó có từ địa phương Nghệ Tĩnh

Ở một phương diện khác, một số công trình là từ điển ra đời vào loại sớm nhất, khi thu thập và giải nghĩa từ tiếng Việt thì một số lượng đáng kể

trong đó là từ địa phương cũng có mặt; đó là Từ điển An Nam Lusitan - la

tinh (thường gọi là Từ điển Việt - Bồ - La) của A.de Rhodes được xuất bản ở

Roma năm 1665, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Hồ Quang Chính dịch,

Trang 15

NXB Khoa học Xã hội ấn hành năm 1991) và Từ điển Đại Nam quốc âm tự

vị (tập I xuất bản năm 1895, tập II xuất bản năm 1896) của Huình Tịnh

Paulus Của

Các công trình đã dành một số chương mục nhất định tập trung bàn về

phương ngữ và từ địa phương Nghệ Tĩnh là Tiếng Việt trên các miền đất nước

(phương ngữ học) (1989) của Hoàng Thị Châu [19], sau này được tác giả sửa

chữa, bổ sung in thành cuốn Phương ngữ học tiếng Việt (2004) [20], Tiếng

Việt trên đường phát triển (Nguyễn Kim Thản), Chữ và vần Việt và ngữ Việt trên đất Việt (Nguyễn Bạt Tụy) Các tác giả trên đều khẳng định vị trí của

phương ngữ tiếng Nghệ trong hệ thống phương ngữ tiếng Việt Tác giả Nguyễn Bạt Tụy chia tiếng Việt thành 5 vùng phương ngữ trong đó tiếng Nghệ thuộc phương ngữ Bắc Trung Bộ Trái lại, Nguyễn Kim Thản lại chia tiếng Việt thành 4 vùng phương ngữ, trong đó tiếng Nghệ thuộc phương ngữ miền Trung Tác giả Hoàng Thị Châu trong công trình nghiên cứu của mình

đã chia tiếng Việt thành 3 vùng phương ngữ, phương ngữ Trung bao gồm các tỉnh Bắc Trung Bộ, từ Thanh Hóa đến đèo Hải Vân Tác giả còn khẳng định trong vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ thì tiếng địa phương Nghệ Tĩnh là phương ngữ điển hình nhất và đây cũng là phương ngữ còn bảo lưu nhiều yếu

tố cổ của tiếng Việt Trong tác phẩm của mình, tác giả Hoàng Thị Châu đã chỉ

rõ vị trí của tiếng Nghệ cũng như giá trị bản sắc của tiếng Nghệ trong hệ thống phương ngữ tiếng Việt Điều đó cũng phản ánh một điều có tính khách quan là: tiếng Nghệ Tĩnh có một vị đặc biệt trong các phương ngữ tiếng Việt nói riêng và đối với tiếng Việt nói chung

Bên cạnh những tác phẩm có đề cập đến phương ngữ tiếng Nghệ như

đã nêu trên thì còn có nhiều công trình đã chuyên đi sâu nghiên cứu phương

ngữ Nghệ Tĩnh hoặc thu thập tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, như: Từ điển tiếng

Nghệ (1998) của Trần Hữu Thung, Thái Kim Đỉnh; đáng kể nhất là công trình

Trang 16

Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh (1999) của nhóm tác giả Nguyễn Nhã

Bản (chủ biên), Phan Mậu Cảnh, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Hoài Nguyên [4] được biên soạn theo dạng từ điển ngôn ngữ, đã tập hợp giải thích hơn 6580 mục từ Một số công trình khác có tính chuyên sâu nghiên cứu ngữ âm của từ

hoặc từ địa phương khác như: Nghiên cứu lớp từ địa phương Nghệ Tĩnh (Luận

án tiến sĩ, 2001) của Hoàng Trọng Canh [13]; Miêu tả đặc trưng ngữ âm

phương ngữ Nghệ Tĩnh (Luận án tiến sĩ, 2002) của Nguyễn Văn Nguyên [34];

chuyên luận Từ địa phương Nghệ Tĩnh: Về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hóa

(2009) của PGS.TS Hoàng Trọng Canh [14]; Ngoài ra, bằng tấm lòng nhiệt thành với xứ sở, quê hương, một số nhà thơ, nhà văn hóa dân gian như cố Phó Giáo sư Ninh Viết Giao, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Thái Kim Đỉnh, cố thi sĩ Trần Hữu Thung, Nguyễn Bùi Vợi, cũng đã giành nhiều thời gian và công sức cho việc nghiên cứu tiếng Nghệ, văn hóa xứ Nghệ

Trong các công trình nghiên cứu về tiếng Nghệ điểm trên, tập trung

nhất nghiên cứu về từ vựng tiếng Nghệ, phải kể đến chuyên luận Từ địa

phương Nghệ Tĩnh: Về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hóa của PGS.TS Hoàng

Trọng Canh [14] Với chuyên luận này, tác giả Hoàng Trọng Canh đã “phác

họa bức tranh toàn cảnh về vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh, miêu tả các đặc

điểm từ vựng - ngữ nghĩa và sự hành chức của từ địa phương trong các sáng tác thơ ca dân gian, cũng như những nét sắc thái văn hóa của người Nghệ qua thói quen ứng xử, tri nhận, phân cắt thực tại trong định danh” [14]

Ngoài ra còn phải kể đến một số tác giả khác đã nghiên cứu một vài vấn

đề cụ thể về từ địa phương, về ngữ nghĩa của từ địa phương Nghệ Tĩnh, kết quả

đã được công bố, như từ chỉ thời gian, từ xưng hô, tiểu từ tình thái, hiện tượng chơi chữ, từ nghề nghiệp nghề nông, nghề biển v.v Nhiều tác giả khác, khi muốn so sánh để khẳng định một vấn đề nào đó về từ địa phương trong công trình liên quan đến từ vựng tiếng Việt hoặc phương ngữ các vùng cũng thường

Trang 17

lấy tiếng Nghệ làm ví dụ; điển hình là Các lớp từ địa phương và chức năng của

chúng trong ngôn ngữ và văn hóa tiếng Việt (1981) của tác giả Nguyễn Quang

Hồng [31]; các giáo trình từ vựng như Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại (1976) của Nguyễn Văn Tu [37]; Từ vựng học tiếng Việt (1978) của Nguyễn Thiện Giáp [29]; Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt (1981) của Đỗ Hữu Châu [15];

Như vậy, từ địa phương Nghệ Tĩnh không những đã được sưu tập giải thích xuất bản thành các cuốn từ điển địa phương mà còn được nghiên cứu chuyên sâu Tuy nhiên, các công trình nêu trên đã sưu tập nghiên cứu từ địa phương Nghệ Tĩnh trong dạng đầy đủ nhất - với cả vốn từ được bảo lưu, có mặt trong các văn bản lịch sử, trong thơ ca dân gian truyền thống Chúng tôi nghĩ, trong xu thế của hội nhập quốc tế và công cuộc hiện đại hóa đất nước, phương tiện truyền thông hiện đại, phổ biến, rộng khắp, giao lưu tiếp xúc giữa các vùng ngày càng diễn ra mạnh mẽ, cùng với đó là sự chuyển cư, làm ăn sinh sống của cư dân các vùng, vì thế tiếng Nghệ hiện thời, trong đó có từ vựng tiếng Nghệ chắc rằng đã có sự thay đổi Cho nên, phương ngữ tiếng Nghệ nói chung, từ địa phương Nghệ Tĩnh nói riêng trong trạng thái hoạt động hiện nay như thế nào thì vẫn chưa được điều tra nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể Tình trạng sử dụng tiếng Nghệ về ngữ âm và từ vựng trong các tầng lớp người địa phương, giữa các vùng ra sao đó là những câu hỏi chưa được trả lời Do đó, nghiên cứu tiếng Nghệ trên phương diện từ vựng trong đời sống hiện nay là một đề tài còn bỏ ngỏ, nhiều lý thú, cần được đẩy mạnh nghiên cứu sâu và toàn diện hơn nữa

1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài

1.2.1 Khái quát về những vấn đề chung của phương ngữ

1.2.1.1 Ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ

Như chúng ta biết, Việt Nam là một đất nước có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống Tiếng Việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt và là quốc ngữ của

Trang 18

dân tộc Việt Nam Tuy nhiên ở mỗi vùng khác nhau với những đặc điểm địa

lý, xã hội, tâm lý riêng nên có những điểm không đồng nhất trong hệ thống ngôn ngữ trên các lĩnh vực ngữ âm, ngữ nghĩa, từ vựng, ngữ pháp Những sự không đồng nhất đó là một trong những nguyên nhân hình thành nên các vùng phương ngữ Tuy không đồng nhất ở những đặc điểm cụ thể song về mặt hệ thống thì lại rất thống nhất và người Việt Nam trên mọi miền tổ quốc đều có thể hiểu được nhau khi họ nói, viết chung một thứ ngôn ngữ đó là tiếng Việt

Và giữa ngôn ngữ toàn dân với phương ngữ có mối quan hệ biện chứng:

- Tiếng Việt là quốc ngữ, là ngôn ngữ chung thống nhất của dân tộc

Việt Nam Các tác giả cuốn "Dẫn luận ngôn ngữ học" 30 khẳng định tiếng Việt là ngôn ngữ dân tộc, và nói rõ:

+ “Ngôn ngữ dân tộc là phương tiện giao tiếp chung của toàn dân tộc,

bất kể sự khác nhau về lãnh thổ hay xã hội của họ” 30- tr 38

Các tác giả phân biệt và chỉ ra quan hệ giữa ngôn ngữ dân tộc và ngôn ngữ văn hoá dân tộc:

+ “Ngôn ngữ văn hoá dân tộc dựa trên ngôn ngữ nói của toàn dân tộc Nhưng nó khác với ngôn ngữ dân tộc ở sự thống nhất hết sức to lớn trong kết cấu của nó Ngôn ngữ văn hoá hoạt động tuân theo những qui tắc chặt chẽ được gọi là “chuẩn mực” Nó lựa chọn những đơn vị, những phạm trù ngôn ngữ đáp ứng nhiều nhất cho những yêu cầu chung của toàn dân tộc, tước bỏ những hạn chế có tính chất địa phương và xã hội, làm cho chúng trở thành những hiện tượng thống nhất đối với toàn dân tộc Ngôn ngữ văn hoá dân tộc

và ngôn ngữ dân tộc phân biệt nhau ở chỗ một đằng thì chúng ta có ngôn ngữ

“nguyên liệu”, còn một đằng thì lại là ngôn ngữ đã được người lành nghề gọt dũa chế tạo nên Ngôn ngữ nói toàn dân là nguồn bổ sung vô tận cho ngôn ngữ văn hoá, ngược lại ngôn ngữ văn hoá là đòn bẩy làm cho dân tộc và ngôn ngữ dân tộc ngày càng thống nhất” 30- tr 39

Trang 19

Ngôn ngữ văn hoá như trên đã nói là ngôn ngữ đã được lựa chọn từ ngôn ngữ nói của toàn dân tộc và được phát triển thành những chuẩn mực thống nhất đối với toàn dân tộc Tiếng Việt cũng vậy, là tiếng nói của dân tộc Việt được bổ sung, làm giàu bởi các phương ngữ trên cơ sở một phương ngữ được lấy làm ngôn ngữ chuẩn - đó là ngôn ngữ văn hoá thủ đô Hà Nội

- Phương ngữ chính là biến thể của ngôn ngữ văn hoá ở một địa phương nào đó Nói cách khác ngôn ngữ văn hoá hay ngôn ngữ toàn dân là thống nhất nhưng lại đa dạng trong biểu hiện Tiếng Việt trên các vùng, miền khác nhau

có sự biểu hiện ít nhiều khác nhau Sự biểu hiện khác nhau trên các vùng phương ngữ được xem là một trong những biểu hiện của tính đa dạng ngôn ngữ Song dù có khác nhau nhưng giữa các phương ngữ vẫn dựa trên một sự thống nhất cơ bản - một mã ngôn ngữ chung

Nói tóm lại, mối quan hệ giữa phương ngữ tiếng Việt với tiếng Việt văn hóa hay phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân nói chung là mối quan hệ biện chứng Ngôn ngữ văn hoá, hay còn gọi là ngôn ngữ toàn dân, hình thành trên

cơ sở các phương ngữ và phương ngữ là biến thể của ngôn ngữ văn hoá ở một địa phương cụ thể nào đó Tiếng Việt là một ngôn ngữ vừa thống nhất vừa đa dạng Tính thống nhất nằm trong bản chất của ngôn ngữ, cái làm cho

nó được gọi là tiếng Việt, dù ở thế kỷ XIII hay thế kỷ XX, dù ở trong Nam hay ngoài Bắc Nhưng ở mặt biểu hiện khi thì nó là ngôn ngữ văn học trau chuốt và tế nhị, khi thì nó là tiếng địa phương đậm đà màu sắc quê hương của từng vùng

1.2.1.2 Khái niệm và đặc điểm của phương ngữ

Thuật ngữ tiếng địa phương (dialect) đã có từ rất lâu trong ngôn ngữ học

Ở Việt Nam, tiếng địa phương đồng nghĩa với các thuật ngữ lâu nay đã dùng: phương ngôn, phương ngữ Vấn đề đặt ra ở đây là hiểu nội dung thuật ngữ này như thế nào? Có thể điểm qua các định nghĩa sau đây:

Trang 20

- “Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” 19 - tr 24

- “Phương ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp hay ngữ âm riêng biệt được sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ Là một hệ thống ký hiệu và qui tắc kết hợp có nguồn gốc chung với

hệ thống khác được coi là ngôn ngữ (cho toàn dân tộc), các phương ngữ (có người gọi là tiếng địa phương, phương ngôn) khác nhau trước hết ở cách phát

âm, sau đó là ở vốn từ vựng” 34 tr 275

- “Phương ngữ là ngôn ngữ sinh động chủ yếu của người nông dân Phương ngữ không phải là ngôn ngữ của tất cả mọi người mà chỉ là của nông dân trong một khu vực nào đó” 37 tr 370

Qua những định nghĩa trên chúng ta có thể thấy rằng, các tác giả khi định nghĩa tiếng địa phương đều có sự phân biệt với ngôn ngữ toàn dân Có thể thấy rõ hai tiêu chí nổi bật mà các tác giả thường nhắc đến khi định nghĩa

nói trên: “Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện

của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” 19 tr 24

Với cách hiểu phương ngữ như trên, chúng ta có thể tiếp cận phương ngữ theo hướng địa lý ngôn ngữ học Và cũng theo hướng này các nhà nghiên cứu đã tìm cách phân vùng phương ngữ tiếng Việt thành các phương ngữ khác nhau

Trang 21

1.2.1.3 Các vùng phương ngữ

Như ta đã biết, có nhiều quan điểm khác nhau về phân vùng phương ngữ tiếng Việt, nhưng trên đại thể nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với ý kiến chia phương ngữ tiếng Việt thành 3 vùng phương ngữ:

- Phương ngữ Bắc: gồm các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ đến Thanh Hoá

- Phương ngữ Trung: gồm các tỉnh từ Thanh Hoá đến đèo Hải Vân

- Phương ngữ Nam: gồm các tỉnh từ đèo Hải Vân đến các tỉnh Nam bộ Tiếng địa phương Nghệ Tĩnh là một phương ngữ tồn tại hiện thực bên cạnh các phương ngữ khác thuộc vùng phương ngữ Trung Vùng phương ngữ này gồm ba phương ngữ nhỏ khác nhau về thanh điệu, về bộ phận âm tiết là: Phương ngữ Thanh Hoá, phương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữ Bình Trị Thiên Do tính chất pha trộn phương ngữ, nên phương ngữ Thanh Hoá, phương ngữ Thừa Thiên - Huế (thuộc vùng phương ngữ Bình Trị Thiên) thường được xem là những phương ngữ chuyển tiếp giữa các vùng phương ngữ Vì thế, phương ngữ Nghệ Tĩnh có thể xem là đại diện tiêu biểu cho vùng phương ngữ Trung Do vậy, nghiên cứu phương ngữ Nghệ Tĩnh nói chung, từ địa phương trong phương ngữ này nói riêng không chỉ nhằm phác hoạ những đặc điểm riêng về ngữ nghĩa, mà còn góp phần cho thấy bức tranh từ vựng - ngữ nghĩa vùng phương ngữ Trung đầy đủ hơn

1.2.2 Khái quát về phương ngữ Nghệ Tĩnh

1.2.2.1 Phương ngữ Nghệ Tĩnh trong các vùng phương ngữ Việt

Trong phạm vi khảo sát từ địa phương Nghệ Tĩnh các tác giả "Từ điển

tiếng địa phương Nghệ Tĩnh" 4 đã định nghĩa: “Từ địa phương là vốn từ cư trú ở một địa phương cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hoá hoặc địa phương khác về ngữ âm và ngữ nghĩa” 4 - tr 6 Qua định nghĩa ta thấy rằng, phương ngữ Nghệ Tĩnh nói chung - từ địa phương Nghệ Tĩnh nói riêng là

Trang 22

biến thể của ngôn ngữ văn hoá ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Nói cách khác, khái niệm phương ngữ Nghệ Tĩnh và từ địa phương Nghệ Tĩnh được dùng trong luận văn này là chúng tôi dựa theo cách hiểu của tác giả Hoàng

Thị Châu cũng như các tác giả sách "Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh"

và theo quan niệm của tác giả Hoàng Trọng Canh và tác giả Nguyễn Văn Nguyên trong luận án của hai tác giả này (xin xem 13 và 34) Xét về địa bàn dân cư, những sự thể hiện của tiếng Việt từ khe Nước Lạnh đến Đèo Ngang có sự khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân thì được xem là phương ngữ Nghệ Tĩnh Tương tự, Từ địa phương Nghệ Tĩnh được xác định là những từ được người Nghệ Tĩnh dùng một cách quen thuộc tự nhiên có sự khác biệt với

từ toàn dân (về âm, nghĩa hoặc ngữ pháp)

Trên phương diện tổng thể, phương ngữ Nghệ Tĩnh là một trong những phương ngữ còn bảo lưu được nhiều yếu tố cổ của tiếng Việt hơn cả Do phương ngữ Thanh Hoá và tiếng Thừa Thiên Huế (thuộc phương ngữ Bình Trị Thiên) mang đặc điểm phương ngữ chuyển tiếp nên phương ngữ Nghệ Tĩnh được xem là đại diện tiêu biểu cho vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ Vì thế, vai trò và quan hệ giữa phương ngữ Nghệ Tĩnh với ngôn ngữ toàn dân là hết sức mật thiết Chẳng hạn, chỉ nói về một khía cạnh thống kê trên bốn đơn

vị mục từ (a, ă, â, b) của cuốn từ điển tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên chúng tôi nhận thấy rằng: có 180 từ ngữ địa phương được đưa vào từ điển, trong đó từ địa phương Nghệ Tĩnh chiếm tới 53 từ Đây là một số lượng

từ khá lớn

Nói tóm lại, phương ngữ Nghệ Tĩnh là một biến thể ngôn ngữ trong

hệ thống ngôn ngữ của dân tộc Do vậy, để hiểu được ngôn ngữ dân tộc một cách sâu và rộng người ta không thể không tìm hiểu ngôn ngữ địa phương Ngược lại để thấy được tiếng địa phương cũng nằm trong hệ thống thống nhất của ngôn ngữ toàn dân thì phải nắm được đặc điểm

Trang 23

chung của ngôn ngữ toàn dân Nói như vậy để khẳng định lại rằng, phương ngữ nói chung - phương ngữ Nghệ Tĩnh nói riêng và tiếng Việt có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít và tác động qua lại lẫn nhau Phương ngữ sẽ làm giàu thêm cho ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ toàn dân sẽ làm cho tiếng địa phương ngày càng xích lại gần tiếng phổ thông, làm cho ngôn ngữ dân tộc ngày càng thống nhất hơn và tăng khả năng biểu đạt của tiếng Việt lên ngày càng lớn

1.2.2.2 Đặc điểm của phương ngữ và từ địa phương Nghệ Tĩnh

Như ta đã biết, phương ngữ Nghệ Tĩnh là phương ngữ cổ của tiếng Việt bởi không chỉ hiện nay tiếng nói vùng này còn bảo lưu được nhiều yếu

tố cổ của tiếng Việt mà còn do nguyên nhân sâu xa là quan hệ cội nguồn với tiếng Mường Sự chia tách tiếng Việt vùng Bắc Trung Bộ, trong đó có tiếng Việt vùng nghệ Tĩnh khỏi tiếng Mường khu vực này diễn ra chậm hàng thế

kỉ so với tiếng Việt Bắc Bộ Do đó, tiếng địa phương Bắc Trung Bộ nói chung, tiếng Nghệ Tĩnh nói riêng có vị trí quan trọng trong nghiên cứu những vấn đề đồng đại và lịch đại tiếng Việt (Dựa theo ý của Hoàng Trọng Canh [14])

Có thể khái quát đặc trưng của phương ngữ Nghệ Tĩnh ở các mặt ngữ

âm và từ vựng của từ như sau:

- Về ngữ âm: Sự khác biệt về ngữ âm giữa từ địa phương Nghệ Tĩnh so với từ toàn dân và các phương ngữ khác là khá rõ nét Trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, bộ mặt ngữ âm thể hiện trong ba bộ phận cấu thành âm tiết là âm đầu, phần vần và thanh điệu

+ Về hệ thống thanh điệu, người Nghệ Tĩnh sử dụng 5 thanh điệu, khác phương ngữ Bắc ở cả số lượng và chất lượng Hệ thống thanh điệu là yếu tố

có vai trò hết sức quan trọng làm nên đặc trưng của giọng Nghệ Tĩnh Các thanh điệu được sử dụng trong vùng âm vực hẹp nên không có dấu hiệu khu

Trang 24

biệt rõ ràng Đường nét các thanh quá gần nhau và có xu hướng hỗn nhập như các thanh hỏi với ngã, ngã với nặng, sắc với hỏi, không dấu với sắc Đặc điểm nổi bật của hệ thanh điệu Nghệ Tĩnh là hệ thanh điệu trầm đục Do việc

sử dụng các thanh điệu như vậy nên đã làm cho giọng điệu của người Nghệ Tĩnh có những nét khác biệt đặc trưng

+ Hệ thống phụ âm đầu có 23 đơn vị, danh sách phụ âm đầu trong phương ngữ Nghệ Tĩnh có đầy đủ ba phụ âm quặt lưỡi và bảo lưu một số phụ âm cổ tiếng Việt như các phụ âm tắc bật hơi [k‟,p‟, t‟], các tổ phụ âm [tl], [dj], [bj],

+ Hệ thống vần trong phương ngữ Nghệ Tĩnh cũng mang đặc trưng riêng Phần vần của phương ngữ Nghệ Tĩnh gần như giữ được trọn vẹn các yếu tố phụ âm tính ở kết vần Các yếu tố phụ âm tính làm nhiệm vụ kết vần

là một sự sao phỏng không hoàn toàn các phụ âm có ở phần đầu âm tiết, yếu

tố nguyên âm tính đỉnh vần không có sự đối lập về trường độ và có độ nâng lưỡi thấp nên vần phương ngữ Nghệ Tĩnh có số lượng tối đa (159 vần) Phương ngữ Nghệ Tĩnh có sự phân biệt các vần ?w(ưu)/ iw(iu), ??w(ươu)/ iew(iêu), tận dụng tối đa các vần ?n(ưn)/ ?t(ưt), bảo lưu một lối tiếp hợp lỏng giữa đỉnh vần và kết vần như e:?(êêng)/ e:k(êêk), ?:?(eng)/ ?:k(ec), u:?(uung)/ u:k(uuc), o:?(ôông)/ o:k(ôôc), ?:?(oong)/ ?:k(ooc) và cả ?:?(ơng)/

?:k(ơc), i:?(ing)/ i:k(ic)

- Về từ vựng: Phương ngữ Nghệ Tĩnh có vốn từ hết sức phong phú đa

dạng, trong đó có nhiều từ cổ như: tru, nác, nhút, trôốc, Đặc điểm này đã được phản qua số lượng từ trong Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh [4] và

sự thống kê phân loại miêu tả chi tiết 06 lớp từ vựng tiếng địa phương Nghệ Tĩnh xét theo âm và nghĩa và các lớp từ xét theo từ loại, theo trường nghĩa

được tác giả Hoàng Trọng Canh nghiên cứu trong chuyên luận Từ địa phương

Nghệ Tĩnh: về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hóa [14]

Trang 25

1.3 Tiểu kết chương 1

Chương 1 luận văn đã tổng quan tình hình nghiên cứu từ địa phương Nghệ Tĩnh Luận văn cho thấy, phương ngữ Nghệ Tĩnh nói chung, vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh nói riêng đã được nhiều tác giả thu thập và nghiên cứu song hiện trạng của từ địa phương Nghệ Tĩnh trong giao tiếp hàng ngày của người Nghệ Tĩnh tại địa phương như thế nào thì chưa được khảo sát đánh giá

Để làm cơ sở lí luận cho đề tài, dựa theo quan niệm của tác giả Hoàng Thị Châu và các tác giả Nguyễn Nhã Bản, Hoàng trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên luận văn cũng đã thực hiện việc xác định các vấn

đề và khái niệm công cụ như mối quan hệ giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ, quan niệm về phương ngữ Nghệ Tĩnh và từ địa phương Nghệ Tĩnh Từ

địa phương Nghệ Tĩnh được luận văn sử dụng để điều tra là lấy từ Từ điển

tiếng địa phương Nghệ Tĩnh [4] và các lớp từ được tác giả Hoàng Trọng Canh

miêu tả trong chuyên luận Từ địa phương Nghệ Tĩnh: về một khía cạnh ngôn

ngữ - văn hóa [14]

Trang 26

Chương 2

TỪ ĐỊA PHƯƠNG ĐƯỢC DÙNG TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI NGHỆ TĨNH HIỆN NAY

2.1 Tiểu dẫn

Như đã nói, vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh do các tác giả sách Từ điển

tiếng địa phương Nghệ Tĩnh [4] thu thập, giải nghĩa có số lượng lớn Trong

từ điển này, có 6580 mục từ ngữ địa phương được sắp xếp theo thứ tự chữ cái ABC chú giải theo cách phổ biến của từ điển tường giải ngôn ngữ học

Do số lượng từ ngữ lớn, thuộc nhiều lĩnh vực phản ánh khác nhau và điều kiện thực hiện đề tài là cá nhân, thời gian ngắn, địa bàn điều tra rộng nên chúng tôi giới hạn điều tra trên một số nhóm từ lên quan trực tiếp đến cuộc sống sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày, đối với phần lớn cư dân trên địa bàn (chủ yếu là nông thôn)

2.2 Một số lớp từ địa phương Nghệ Tĩnh liên quan đến đời sống giao tiếp hàng ngày trong gia đình người Nghệ Tĩnh

2.2.1 Lớp từ thân tộc và đại từ dùng trong giao tiếp gia đình

2.2.1.1 Lớp từ thân tộc

a) Lớp từ thân tộc được dùng với vai trò chỉ xuất - gọi tên

Lớp từ thân tộc là những từ có nghĩa chỉ quan hệ thân tộc, ngoài nghĩa định danh phần lớn chúng được dùng để xưng hô Trong tiếng Việt toàn dân

lớp từ có ý nghĩa chỉ quan hệ thân tộc thường được nhắc tới là 25 từ: kỵ, cụ,

ông, bà, bác, chú, cô, cậu, dì, thím, mợ, dượng, cha mẹ, anh chị, em, con, cháu, chắt, chút, vợ, chồng, dâu, rể, trong đó: kỵ, vợ, chồng, dâu, rể không

được dùng để xưng hô Ngoại việc dùng các từ thân tộc toàn dân, phương ngữ

Nghệ Tĩnh còn có một số từ (14 đơn vị) là biến thể ngữ âm, từ vựng được

dùng để định danh quan hệ thân tộc là: cố (cụ), ôông, ung (ông), mụ (bà, vợ),

Trang 27

o (cô), cụ (cậu), mự (mợ), bọ (cha), mệ (mẹ), ênh, eng (anh), ả (chị), nhông

Trang 28

Kết quả thống kê cho thấy, hiện nay ở Nghệ Tĩnh, các từ trên vẫn được dùng nhưng mức độ phổ biến, tỉ lệ dùng và phạm vi địa bàn sử dụng giữa các

từ là không như nhau

Trong bảng từ mẫu khảo sát đưa ra như bảng trên thì chỉ có từ cố (cụ)

và mự (mợ), o (em gái, chị gái của bố) là được dùng ở khắp tất cả các vùng

điều tra và với mọi lứa tuổi (già, trung niên, trẻ)

Các từ có tỉ lệ dùng tương đương và khá cao (~ 70 %) là: gấy, nhông,

nhôông (chồng), du (dâu), mệ (mẹ) ênh (anh), ả (chị), cụ (cậu),…Nét riêng

của các từ nhóm này so với nhóm trên là chúng được dùng phổ biến là các thổ ngữ vùng Hà Tĩnh

Ví dụ, với tất cả các điểm điều tra ở Hà Tĩnh thì những các cặp vợ

chồng trẻ, khi chưa sinh con, hầu hết thường sử dụng cặp danh từ thân tộc anh

- em để giới thiệu với người khác hoặc dùng xưng hô với tư cách là đại từ

Nhưng khi họ đã có con thì cặp từ gấy - nhông lại được dùng rất tự nhiên Ví

dụ, đôi vợ chồng trẻ chưa có con, trong nói chuyện, họ xưng hô anh - em:

- Vợ: Mai ênh có đi mần khoai với mệ không ?

- Chồng: Em đi là được rồi Có hai vồng (luống) chớ mấy

Còn đây là cặp thoại của một đôi vợ chồng trẻ, con chưa được một năm tuổi:

- Chồng: Tối nay hai gấy nhông ta đi chơi nhà Hiếu hè (nhé)

- Vợ: Đi mô (đâu) cũng gấy nhông đi với chắc (nhau), nỏ (không) rầy (xấu hổ) à?

Tuy vậy, cũng với các từ vừa dẫn, chúng tôi thấy ở các thổ ngữ vùng Nghệ An thì nơi dùng nơi không và ngay trong một điểm điều tra thì cũng thấy có người dùng từ địa phương nhưng có người lại dùng từ toàn dân

Một điểm đặc biệt nữa là, các từ trong nhóm này, lứa tuổi trẻ (đặc biệt tuổi học đường) hầu như không dùng, tuy vẫn nhận biết chúng là từ địa phương Nghệ Tĩnh và hiểu chính xác nghĩa của chúng Chúng tôi đã cho các

Trang 29

em trong độ tuổi học đường trả lời vào phiếu cho biết nghĩa các từ trong loạt này; chẳng hạn với “gấy” (vợ), “nhông”, “nhôông” trong các câu sau, không

có trường hợp nào giải thích sai nghĩa từ địa phương này:

- “Trước vườn hoa bưu điện

Người phụ nữ thành Vinh Cùng nhau họp mít tinh Thề hy sinh chiến đấu

Họ làm mình thêm xấu

Nghị đến gấy ở nhà

Chỉ dưa, nhút, lợn, gà Rồi ngồi lê đôi mách”

Tuy nhiên, do cặp từ gấy - nhông lại được dùng nhiều với nghĩa chỉ

xuất trong giao tiếp hàng ngày, nhất là ở nông thôn nên không có người Nghệ Tĩnh nào không hiểu và có thể dùng chúng một cách tự nhiên phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp Ví dụ, các từ nhông, gấy trong các câu sau, hiện nay người Nghệ Tĩnh, ở mọi lứa tuổi đọc đều cảm nhận được nghĩa của chúng rất

tự nhiên, không có gì khó khăn:

“Trông trời cho có gió đông

Cho thuyền được gió cho nhông tôi về”

(CdNT)

Các từ này được dùng nhiều nhất là đối với người dân vùng ven biển Nghệ An, Hà Tĩnh Tại các địa bàn điều tra này, 100 học sinh phổ thông đọc

Trang 30

câu ca dao sau đều hiểu nghĩa của từ nhông và trả lời rằng ở nhà ai cũng

dùng, được nghe nhiều:

- "Lấy nhông mà dắt kèo nhà

Đi trưa về sớm gọi là có nhông"

Không chỉ vùng Đô Lương, tỉnh Nghệ An - nơi có tên địa danh Sơn

Tràng trong câu ca dao sau hiểu và dùng từ nhông, gấy nhông mà cư dân các

huyện khác là Hưng Nguyên, Hương Sơn, Đức Thọ,… thuộc ba đối tượng khác nhau về tuổi trong diện điều tra đều trả lời rằng hiện nay hiểu và dùng:

- “Một ngày ba bận trèo truông

Ai muốn no ấm lấy nhông Sơn Tràng”

Cụng lấy được nhông mực thước”

(VNT)

- “Bao nhiêu gái chưa chồng

Không nhông nhang chi nựa

Nỏ chồng chàng chi nựa”

(VNT)

Đối với các từ: cụ, mệ, ả, du, phiếu điều tra cho thấy, chủ yếu chúng

được dùng ở Hà Tĩnh, như đã nói ở trên, ngoài ra kết quả điều tra còn cho thấy một xu hướng thay đổi rất rõ trong đối tượng dùng xét theo tuổi tác Hiện

Trang 31

nay hầu như chỉ người cao tuổi và trung niên ở vùng nông thôn còn dùng cụ

(cậu), mệ (mẹ), ả (chị), du (dâu) còn đối với lớp trẻ, tuy đều hiểu nghĩa chúng

nhưng họ thường dùng các từ toàn dân thay cho từ địa phương đó, ngay cả khi

giao tiếp trong gia đình họ tộc Ví dụ, họ dùng cậu thay cho cụ, mẹ thay cho

mệ, chị thay ả, dâu thay du,…

Một số từ mà chúng tôi có lưu ý đặc biệt bằng đánh dấu sao là mệ*,

cha*, ung*, eng*, bọ*, đó là những từ chỉ xuất hiện ở một vài địa bàn hẹp

hoặc có kiểu dùng thay vai Cụ thể, mệ vốn là từ biến âm, chỉ mẹ - người phụ

nữ nói trong quan hệ với con, sau đó có nghĩa mở rộng, chỉ người phụ nữ đã

có con nhưng hiện nay ở nông thôn, nơi nào còn dùng mệ để chỉ mẹ (đẻ) thì

mệ cũng đồng thời còn được dùng xưng hô thay vai con khi chồng gọi vợ (ví

dụ: mệ (em) bôồng con để cha (anh) đi họp); hoặc ông, bà gọi con dâu + tên riêng con dâu (ví dụ mệ Hoa) Từ cha cũng được dùng thay vai, tương tự như

từ mệ Cách dùng này chủ yếu vùng nông thôn Hà Tĩnh và huyện Nghi Lộc

Nghệ An

Từ bọ vốn trước đây chỉ có một vài vùng ở Hà Tĩnh dùng, nay từ này

cũng vậy, chỉ có cư dân xã Cương Gián (huyện Nghi Xuân), xã Đức An, Đức

Lập, Đức Dũng (huyện Đức Thọ) dùng Từ ung trước đây chủ yếu là cư dân

huyện Hương Sơn và một số xã Đức Thọ dùng; hiện nay, qua điều tra, chúng

tôi thấy từ ung vẫn đang được người Hương Sơn và một số làng ven sông La Đức Thọ dùng một cách tự nhiên Tương tự, từ eng chỉ có một số xã Cẩm

Xuyên và các xã Kỳ Anh gần Đèo Ngang dùng

b) Lớp từ thân tộc được dùng xưng hô trong gia đình và họ tộc

Xưng hô là một trong những hoạt động cơ bản và cần thiết nhất của quá trình giao tiếp Như đã biết, khi xưng hô trong giao tiếp, ngoài các đại từ nhân xưng, người Việt còn dùng một hệ thống các danh từ thân tộc với chức năng đại từ để xưng hô vì thế mà tạo nên lối xưng hô thân tình, gần gũi, biểu cảm

Trang 32

Nằm trong quy tắc chung ấy, trong phương ngữ tiếng Nghệ Tĩnh, người Nghệ, ngoài việc dùng các đại từ nhân xưng các ngôi, các đại từ chỉ định, kết hợp với một số từ khác mang tính phương ngữ để xưng hô thì phương ngữ Nghệ Tĩnh còn dùng các từ là danh từ thân tộc mang tính địa phương (từ biến

âm hoặc từ khác nghĩa với từ toàn dân để xưng hô, nhu: cố, ôông, mệ, bọ, ả,

ênh, o, dì (em và chị gái mẹ), cụ, mự

Sau đây là kết quả khảo sát về các danh từ thân tộc là từ địa phương hiện được dùng xưng hô và mức độ dùng chúng Kết quả khảo sát được thể hiện trong bảng 2.2 sau

Bảng 2.2 Các danh từ thân tộc là từ địa phương hiện được dùng

và mức độ dùng chúng trong xưng hô ở gia đình người Nghệ Tĩnh

Trang 33

Kết quả thống kê ở bảng 2.2 cho thấy, hiện nay ở Nghệ Tĩnh, 12 từ trên đang được dùng xưng hô trong gia đình nhưng mức độ phổ biến, tỉ lệ dùng và phạm vi địa bàn sử dụng giữa các từ là không như nhau Các từ này có tỉ lệ dùng trong xưng hô gia đình tương ứng tỉ lệ dùng trong các dạng giao tiếp khác mà các từ trên chỉ đóng vai trò trỏ - miêu tả chứ không phải xưng hô (thể hiện ở bảng 2.1 trên)

Các từ: cố, o, mự là những từ được dùng để xưng và hô trong gia đình

trong mọi hoàn cảnh Địa bàn dùng rộng khắp trong hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Về lứa tuổi, ba đối tượng là người cao tuổi, lứa tuổi trung niên và lứa

tuổi thanh thiếu niên (học đường) trong sinh hoạt gia đình đều dùng cố, o, mự

để xưng hô đúng theo vai trong họ tộc Một điều khác đáng lưu ý là, tuy ngày nay điều kiện giao lưu tiếp xúc của người Nghệ Tĩnh với người thuộc các phương ngữ khác, nhất là người Bắc Bộ đến định cư công tác rất nhiều và phương tiện truyền thông rông rãi, không có khoảng cách nhưng người Nghệ

Tĩnh vẫn dùng o ngoài nghĩa tương ứng với cô (em gái cha) mà còn dùng để xưng hô với chị gái cha như từ bác (gái) ở Bắc Bộ Tương tự, mự ngoài cách dùng xưng hô tương ứng với mợ (vợ của cậu) còn dùng xưng hô với đối tượng

là thím (vợ của chú) như Bắc Bộ

Các từ ả (tỉ lệ dùng 72%), mệ (tỉ lệ dùng 70%), cụ (cậu) (tỉ lệ dùng 60%) xưng hô ở Nghệ Tĩnh không cao như cố, o, mự là do những người trẻ

tuổi, nhất là thiếu niên nhi đồng khi xưng hô trong gia đình họ tộc hầu như

không dùng ả, mệ, cụ mà dùng thay bằng từ toàn dân tương ứng là chị, mẹ,

cậu Điều này cũng là một dấu hiệu cho thấy ở mức độ nào đó có thể nói từ

ngữ địa phương đang bị thu hẹp dần phạm phi sử dụng

Trường hợp từ ôông tỉ lệ dùng trong xưng hô 64 %, ênh có tỉ lệ dùng trong xưng hô 65%, không phải là 100% như cố, o, mự không phải do đối tượng lứa tuổi trẻ không dùng như đối với từ ả, mệ, cụ mà là do một số địa

Trang 34

phương ở Nghệ An không phát âm như vậy Thay vào đó, phần nhiều các địa

phương này phát âm ông, anh như tiếng Việt toàn dân Tương tự, các từ ung,

eng, bọ có tỉ lệ dùng trong xưng hô thấp là do chúng chỉ dùng trong một vài

thổ ngữ ở Hà Tĩnh

Trường hợp từ mệ (mẹ), tương tự như từ cha cũng được người vợ dùng

tự xưng với chồng trong vai con và người chồng gọi (hô) vợ mình bằng mệ

thay vai con, xét trong quan hệ với con chỉ được dùng ở một vài vùng nông

thôn Tương tự, mệ, cha cũng được ông bà gọi con dâu, con trai đi kèm tên

riêng của con dâu, con trai thay vai cháu mình Ở Thành phố, thị xã, nơi có

nhiều gia đình cán bộ sinh sống, tuy không dùng cặp xưng hô mệ - cha như vùng nông thôn mà thay bằng mẹ - bố nhưng cách xưng gọi mẹ - bố thay vai

con ở Nghệ Tĩnh hiện nay rất phổ biến; điều này rất khác với Bắc Bộ

2.2.1.2 Các đại từ nhân xưng và đại từ chỉ định là từ địa phương Nghệ Tĩnh dùng trong giao tiếp gia đình và họ tộc

Như tác giả Hoàng Trọng Canh [14] và nhiều người khác đã chỉ ra, trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, ngoài một số đại từ toàn dân được dùng như các vùng phương ngữ khác, người Nghệ Tĩnh còn dùng một hệ thống phong phú các từ là đại từ nhân xưng hoặc chỉ trỏ phương ngữ cùng với một số kết hợp từ khác để giao tiếp Trong số các đại từ nhân xưng đó, một số từ cũng được dùng để xưng hô trong gia đình họ tộc Đó là các từ

ngữ như: tui, tau (tôi), ni (ngôi 1, số ít), mi (mày) (ngôi 2, số ít), hấn (hắn) (ngôi 3, số ít); choa, bọn choa, bầy choa, nhà choa, bọn tui, bầy tui, nhà tui,

bọn tau (ngôi 1, số nhiều), bây, bọn bây, bọn mi, nậu mi, nậu bây, nhà bây

(ngôi 2, số nhiều), bọn hấn, nậu hấn, nậu nớ, nhà nớ, bọn nứ, nậu nứ, nhà

nứ (ngôi 3, số nhiều) Sau đây là bảng 2.3 tổng hợp các đại từ phương ngữ

được dùng trong giao tiếp gia đình và họ tộc hiện nay của người Nghệ Tĩnh

mà chúng tôi đã điều tra được

Trang 35

Bảng 2.3 Các đại từ phương ngữ được dùng trong giao tiếp hiện nay

Ngôi 2 Mi (mày) bây, bọn bây, bọn mi, nậu mi, nậu bây, nhà bây

Ngôi 3 Hấn (hắn) bọn hấn, nậu hấn, nậu nớ, nhà nớ, bọn nứ, nậu

nứ, nhà nứ

Đối chiếu với Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh [4] và danh sách

thống kê các đại từ phương ngữ Nghệ Tĩnh được dùng giao tiếp ở Nghệ Tĩnh của tác giả Hoàng Trọng Canh [14], chúng tôi thấy, các đại từ (nhân xưng và chỉ trỏ) được người nghệ Tĩnh dùng trong giao tiếp mà các tác giả đã khảo sát miêu tả thì nay tại tất cả các điểm điều tra, trong giao tiếp gia đình và họ tộc người Nghệ Tĩnh vẫn đang dùng

Khó khăn với chúng tôi trong việc điều tra việc dùng nhóm các từ đại từ này bao gồm các từ là đại từ nhân xưng hoặc đại từ chỉ trỏ trong xưng hô ở gia đình và họ tộc là ngữ cảnh sử dụng của chúng không nhiều do các từ ngữ này thường mang tính chất khẩu ngữ, suồng sã không thân tình Nhưng điểm chung là hầu như điểm điều tra nào cũng cho thấy kết quả, hầu hết các từ

trong nhóm này (trừ tui, bọn tui, bầy tui, nhà tui) 100% đều được dùng để

xưng hô giao tiếp trong các gia đình, họ tộc ở địa phương mình

Với từ tui (tôi), qua điều tra chúng tôi thấy tất cả các điểm điều tra đều đang dùng Kết quả khảo sát cho thấy, hiện nay phạm vi sử dụng của tui

dường như đã bị thu hẹp hơn so với miêu tả của tác giả Hoàng Trọng Canh

[14] Tuy các điểm điều tra ở Nghệ Tĩnh đều cho thấy tui (tôi) đang được

Trang 36

dùng nhưng chủ yếu là những người trong vai “con”, đã có con, tuổi trung niên trở lên mới xưng với bố mẹ hoặc với anh, chị và cả với với người trong

họ, vai trên mình nhưng tuổi sàn sàn nhau Nhiều phiếu điều tra còn cho biết, thường khi không vừa lòng với bố mẹ hoặc người thân điều gì đó họ mới

dùng tui Tương tự, bọn tui, bầy tui, nhà tui (ngôi 1, số nhiều) thường cũng

được dùng trong ngữ cảnh như đối với dùng “tui” trong xưng hô

Các từ tau (tôi) (ngôi 1, số ít), bọn tau (ngôi 1, số nhiều) chỉ có

người vai trên (anh- chị, cha- mẹ, chú - bác, o - dượng, cậu - mự/ thím, ông

- bà) tự xưng với bậc dưới trong gia đình, họ tộc Ngữ cảnh xưng hô thường là trong sinh hoạt vui vẻ, suồng sã (như ăn uống, kể chuyện vui) không mang tính nghi thức, lễ nghi Cũng có khi, các bậc thuộc vai trên tức giận hay không vừa lòng với em út con cháu việc gì đó thì cũng xưng như

vậy Các từ để hô, gọi: mi (mày) (ngôi 2, số ít), bây, bọn bây, bọn mi, nậu

mi, nậu bây, nhà bây (ngôi 2, số nhiều), để trỏ: hấn (hắn) (ngôi 3, số ít), bọn hấn, nậu hấn, nậu nớ, nhà nớ, bọn nứ, nậu nứ, nhà nứ (ngôi 3, số

nhiều) đều có cách dùng tương tự như với từ bọn tui, bầy tui, nhà tui

Nghĩa là, người dùng các từ hô, gọi hay trỏ trên là những người trong gia

đình, họ hàng thường ở vai trên, dùng trong hoàn cảnh giao tiếp, sinh hoạt

vui vẻ, suồng sã (như ăn uống, kể chuyện vui) không mang tính nghi thức,

lễ nghi Cũng có khi, các bậc thuộc vai trên tức giận hay không vừa lòng với các em, các cháu con hay gia đình nào đó trong họ hàng về việc gì đó thì cũng hô, gọi hay trỏ như vậy

Các từ choa, bọn choa, bầy choa, nhà choa (ngôi 1, số nhiều) là những

từ không phải là từ biến thể ngữ âm của tiếng Việt, vốn được xem như là dấu

hiệu đặc trưng về từ ngữ, “đặc sản” từ ngữ của người Nghệ thì nay ở vùng nào của Nghệ Tĩnh cũng đang dùng phổ biến như trước đây, với mọi lứa tuổi

và hoàn cảnh dùng không khác trước

Trang 37

2.2.2 Lớp từ phương ngữ chỉ thời gian, không gian được dùng trong gia đình

Trong gia đình người Nghệ Tĩnh, bên cạnh việc dùng từ địa phương trong xưng hô giữa vợ - chồng, giữa anh chị em, giữa con cái với bố mẹ và giữa bố mẹ và con cái và anh em họ tộc như đã phân tích ở trên là rất phong phú và đa dạng thì lớp từ địa phương chỉ thời gian, không gian được dùng trong gia đình người Nghệ Tĩnh cũng phong phú, đa dạng không hề kém Cũng tương tự cách phân tích, so sánh, đối chiếu kết quả điều tra ở trên, chúng tôi muốn đề cập đến các lớp từ chỉ thời gian, không gian được dùng giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày giữa các thành viên gia đình người Nghệ Tĩnh Và đương nhiên, để xác định một cách cụ thể lớp từ chỉ thời gian, không gian được dùng trong gia đình người Nghệ, chúng tôi tập trung khảo

sát vào từ chỉ thời gian ở thời hiện tại, quá khứ, tương lai và từ chỉ không gian sinh hoạt, không gian giao tiếp, không gian làm việc

2.2.2.1 Lớp từ ngữ địa phương chỉ thời gian

Về từ chỉ thời gian hiện tại trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, quá trình

khảo sát, kết hợp với đối chiếu Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh của nhóm

tác giả Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên [4] chúng tôi thấy rằng lớp từ này ít có sự thay đổi Người Nghệ

Tĩnh thường sử dụng các từ để chỉ thời gian hiện tại như: bựa ni, bựa rày (hôm nay); khi ni (bây giờ, lúc này) với tần số xuất hiện tương đối nhiều

Ví dụ, một trong các phát ngôn chúng tôi ghi trực tiếp tại các địa phương:

- Bựa ni tau đi cày, mẹ mi chuẩn bị má với mượn ngài để mai cấy (Hôm

nay anh (chồng) đi cày, em chuẩn bị mạ và mượn người để ngày mai cấy lúa)

- Bố mi khi ni nhìn béo hơn khi tê (Bố (chồng) dạo này nhìn mập hơn

hồi trước)

Khi ni là từ dùng để chỉ thời gian hiện tại, đang tiếp diễn và được dùng

rất phổ biến trong xưng hô của người Nghệ Tĩnh Từ khi ni cũng được sử

Trang 38

dụng nhiều như được phản ánh trong ca dao, dân ca Nghệ Tĩnh Hiện nay các thế hệ người Nghệ không những hiểu mà vẫn tiếp tục sử dụng các từ chỉ thời gian như trong các câu ca dao, hò vè sau;

Ví dụ:

- “Bựa ni chàng mới tới nhà

Hỏi chàng coi thử ở xa hay gần”

Lớp từ ngữ địa phương Nghệ Tĩnh chỉ thời gian là một trong những lớp

từ có số lượng khá phong phú có sự khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân Lớp

từ này và cách dùng chúng đã tạo nên nét dấu ấn riêng của người Nghệ nên cũng được một số tác giả như Nguyễn Nhã Bản, Nguyễn Hoài Nguyên nghiên

cứu [8] Vì thế, cũng như các từ nghi vấn và chỉ trỏ mô, mô mồ, tê, tê tề, răng,

rứa, răng rứa, ni, nớ,… các từ ngữ chỉ thời gian như bựa ni, bựa qua, bựa tê, bựa sơ, bựa mốt, bựa sơ mốt,… là những từ làm nên nét riêng trong giao tiếp

của người Nghệ Tĩnh Do vậy ngoài bảng tổng hợp chung, chúng tôi đã chia nhỏ thành nhiều cặp từ chỉ thời gian liên quan với nhau (ví dụ các từ ngữ khác nhau cùng chỉ một thời gian, các từ chỉ thời gian kế tiếp nhau tính từ hôm nay, các từ chỉ thời gian quá khứ tính từ hôm nay,…) để điều tra

Bảng 2.4 Kết quả khảo sát mưc độ sử dụng các từ:

“bựa ni”, “bựa rày” (hôm nay)

Từ ngữ địa phương Từ toàn dân

(nghĩa biểu đạt)

Tỷ lệ sử dụng (%)

Trang 39

Tuy các từ bựa ni, bựa rày cùng một ý nghĩa nhưng hai từ này vẫn

được dùng song hành ở Nghệ Tĩnh Hầu khắp các vùng ở Nghệ Tĩnh đều

dùng bựa ni, nhưng các vùng này cũng dùng cả từ bựa rày Nét khác về mức

độ sử dụng của hai từ này là ở người dùng theo tuổi tác và vùng Từ bựa rày

được dùng phổ biến với người cao tuổi và vùng dùng phổ biến với mọi lứa tuổi là các huyện miền biển

Về từ chỉ thời gian quá khứ trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, quá trình

khảo sát, kết hợp với đối chiếu Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh [4]

chúng tôi thấy rằng lớp từ này ít có sự thay đổi Người Nghệ Tĩnh thường sử

dụng các từ để chỉ thời gian quá khứ như: khi đầu (lúc đầu); khi đêm, khi túi (lúc tối); khi sớm (lúc sáng), khi triều (lúc chiều) với tần số xuất hiện

tương đối nhiều

Ví dụ: giao tiếp giữa các thành viên trong gia đình:

- Bố: Khi đầu tau đạ nói rồi mà bây nỏ nghe

(Lúc đầu tao đã nói rồi mà chúng mày không thèm nghe)

Bố - con:

- Con: Khi túi con đi nhởi với bạn nên về chậm

(Hồi tối con đi chơi với bạn nên về muộn) Anh - em;

- Em: Bựa ni (hôm nay) ênh có đi mần (làm) không?

- Anh: Chừ ênh nỏ muốn mần công nớ nựa

(Bây giờ anh không muốn làm việc đó nữa)

Hoặc giao tiếp giữa chú - cháu trong họ:

- Cháu: Chầu ni mần ăn răng chú?

(Dạo này làm ăn như thế nào chú?)

- Chú: Nỏ ăn thua chi cháu ạ

(Làm ăn kém cháu ạ)

Trang 40

- Cháu: Giả ni chú hay gặp con nớ nựa không?

(Dạo này chú có thường gặp con em đó nữa không?)

Chú: Nợ, mi lại nói bậy rồi

(Này, cháu lại nói không đúng (linh tinh) rồi)

Cách dùng từ khi đầu - lúc đầu; khi đêm, khi túi - lúc tối; khi sớm - lúc

sáng, khi triều - lúc chiều của người dân Nghệ Tĩnh hiện nay rất phổ biến,

thường xuyên xuất hiện trong giao tiếp của mỗi một gia đình cũng như ngoài

xã hội Khi đầu - lúc đầu; khi đêm, khi túi - lúc tối; khi sớm - lúc sáng, khi

triều - lúc chiều là từ dùng để chỉ thời gian đã diễn ra trong quá khứ, những

điều đã diễn ra trước đó và nó cũng được sử dụng nhiều trong ca dao, dân ca

và cho đến nay, các thế hệ người Nghệ vẫn tiếp tục sử dụng

Ví dụ: - “Khi đầu em nói em thương

Bây giờ gánh nặng giữa đường đứt dây Tưởng là rồng ấp lấy mây

Ai ngờ rồng ấp lấy cây bạch đàn”

(HPV)

- “Anh thương em anh không nói khi đầu

Bây giờ cưởi đạ bá ngành dâu đi rồi”

(HPV)

Hoặc là: “Khi đêm thiếp mới hỏi chàng

Sớm ra khăn gói đã mang xuống tàu”

(VNT)

- “Nhớ chàng khi sớm, khi trưa

Tay cầm nạm bạc, tay đưa chén thề”

(HPV)

- “Ngồi buồn thong thả

Tui nói chuyện khi tê”

(VNT)

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w