1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ chính trị, an ninh giữa cộng hòa ấn độ với hiệp hội các nước đông nam á (asean) từ 2002 đến 2016

134 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trí chiến lược quan trọng của ASEAN trong vấn đề hợp tác an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương; Nguyễn Hữu Nghị, Lê Thị Yến: “ASEAN: 40 năm hợp tác an ninh-chính trị”, Tạp chí nghiên

Trang 1

NGUYỄN THỊ HÓA

QUAN HỆ CHÍNH TRỊ, AN NINH GIỮA

CỘNG HÒA ẤN ĐỘ VỚI HIỆP HỘI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á (ASEAN) TỪ 2002 ĐẾN 2016

Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

Mã số: 60.03.22.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS PHẠM NGỌC TÂN

NGHỆ AN - 2017

Trang 2

Tôi xin được cảm ơn cán bộ, nhân viên của Thư viện Quốc gia, Học viện ngoại giao, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Thông tấn xã Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập tài liệu, số liệu và tư liệu khoa học trong quá trình nghiên cứu

Đặc biệt, tác giả xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới

PGS TS Phạm Ngọc Tân - người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi

trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này

Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên cổ vũ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý và giúp đỡ của quí thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học

Tôi chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 8 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Hóa

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Bố cục luận văn 8

NỘI DUNG 9

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ CHÍNH TRỊ, AN NINH GIỮA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ VỚI HIỆP HỘI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á (ASEAN) TỪ NĂM 2002 ĐẾN NĂM 2016 9

1.1 Bối cảnh thế giới và khu vực 9

1.1.1 Bối cảnh thế giới 9

1.1.2 Bối cảnh khu vực Nam Á và Đông Nam Á 13

1.2 Tình hình kinh tế, xã hội, chính sách đối ngoại của Ấn Độ và ASEAN từ năm 2002 đến năm 2016 16

1.2.1 Tình hình kinh tế, xã hội và chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ năm 2002 đến năm 2016 16

1.2.2 Tình hình kinh tế, xã hội và chính sách đối ngoại của ASEAN từ năm 2002 đến năm 2016 25

1.3 Tình hình hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục giữa Ấn Độ và các nước ASEAN từ năm 2002 đến năm 2016 29

Trang 4

1.4 Hợp tác trên lĩnh vực chính trị, an ninh giữa Ấn Độ và ASEAN

trước năm 2002 34

1.4.1 Lĩnh vực chính trị, ngoại giao 34

1.4.2 Lĩnh vực an ninh quốc phòng 38

Tiểu kết chương 1 44

Chương 2 QUAN HỆ TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ, AN NINH GIỮA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ VỚI HIỆP HỘI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á (ASEAN) TỪ NĂM 2002 ĐẾN NĂM 2016 45

2.1 Quan hệ trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao giữa Ấn Độ với ASEAN từ năm 2002 đến năm 2016 45

2.1.1 Giai đoạn 2002 - 2012 45

2.1.2 Giai đoạn 2012 - 2016 53

2.2 Quan hệ trên lĩnh vực an ninh quốc phòng giữa Ấn Độ với ASEAN từ năm 2002 đến năm 2016 62

2.2.1 Giai đoạn 2002 - 2012 62

2.2.2 Giai đoạn 2012 - 2016 76

Tiểu kết chương 2 83

Chương 3 NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ CHÍNH TRỊ, AN NINH GIỮA ẤN ĐỘ VỚI HIỆP HỘI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á (ASEAN) TỪ 2002 ĐẾN 2016 85

3.1 Thành tựu và hạn chế 85

3.1.1 Thành tựu 85

3.1.2 Hạn chế 87

3.2 Tác động của sự hợp tác trên lĩnh vực chính trị, an ninh giữa Ấn Độ và ASEAN giai đoạn 2002 - 2016 89

3.2.1 Đối với Ấn Độ 89

3.2.2 Đối với ASEAN 91

Trang 5

3.3 Triển vọng trong hợp tác trên lĩnh vực chính trị, an ninh giữa Ấn

Độ và ASEAN 93

3.3.1 Thuận lợi 93

3.3.2 Thách thức 98

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TT Tên viết

1 ASEAN Association of Southeast

Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

2 ASEM The Asia-Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á-Âu

3 ADMM+ ASEAN Defence

Ministers’Meeting-Plus

Hội nghị các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng

4 AMM ASEAN Ministerial

Meeting

Hội nghị các Bộ trưởng ASEAN

5 APEC Asia Pacific Economic

Khối 5 nước: Braxin, Nga,

Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi

8 COC Code of Conducts Quy tắc ứng xử

9 EAS East Asia Summit Hội nghị Cấp cao Đông Á

10 MGC Mekong-Ganga

Cooperation

Hợp tác Mê Công-Sông Hằng

11 NPT Non-proliferation Hiệp ước không phổ biến vũ

Trang 7

for Regional Cooperation Nam Á

14 SOM Senior Officials Meeting Hội nghị quan chức cấp cao

15 TAC Treaty of Amity and

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, trên thế giới cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển ngày càng mạnh mẽ, quan hệ quốc tế chuyển từ đối đầu sang đối thoại, xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa ngày càng được đẩy mạnh Mỗi quốc gia đang đứng trước nhiều lựa chọn, nhưng đều đi đến một cái đích chung là tận dụng mọi ưu thế, mọi cơ hội để mang lại lợi ích nhiều nhất cho dân tộc Điều này cũng có nghĩa là muốn đưa đất nước phát triển phải biết nắm bắt thời cơ, xu thế phát triển của thời đại và xuất phát từ nội lực vạch ra chiến lược phù hợp đảm bảo tốt nhất lợi ích cho dân tộc mình Cộng hòa Ấn Độ và các thành viên trong tổ chức ASEAN không phải là một ngoại lệ

Ấn Độ sau khi giành độc lập (1947) đến nay, duy trì đường lối đối ngoại trung lập, nhưng ngày càng theo chiều hướng thực dụng, khôn khéo tận dụng mọi cơ hội để tìm kiếm quan hệ hợp tác với các quốc gia khác nhằm đảm bảo những điều kiện tốt nhất để Ấn Độ có thể khai thác, phục vụ lợi ích cho mình

Với ASEAN, một tổ chức của 10 nước khu vực Đông Nam Á, đứng trước

xu thế mới của thế giới, cũng ra sức phát huy lợi thế về địa - chính trị, tài nguyên thiên nhiên, dân số… để phát triển kinh tế và đang là nơi hấp dẫn không chỉ đối với các nhà đầu tư, mà còn cả các cường quốc tham gia vào việc giải quyết những vấn đề của khu vực

Sự gần gũi về văn hóa, tôn giáo trong mối quan hệ hàng nghìn năm lịch

sử giữa Ấn Độ và các nước ASEAN là nền tảng vững chắc để hai bên gắn kết với nhau trong thời kỳ hiện đại Đặc biệt, từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, hai bên đã tìm được tiếng nói chung để mở rộng quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực

Trong tất cả các lĩnh vực hợp tác, thì hợp tác trên lĩnh vực chính trị, an ninh giữa Ấn Độ và ASEAN là sâu sắc hơn cả và nó đã đặt tiền đề vững chắc

Trang 9

cho sự hợp tác trên các lĩnh vực khác như kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học

Hiện nay, cả Ấn Độ và các nước ASEAN đang đứng trước những thách thức về an ninh phi truyền thống, đó là khủng bố, cướp biển, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường Điều đó đòi hỏi hai bên cần có sự hợp tác, đây chính là một trong những yếu tố thúc đẩy mối quan hệ an ninh, chính trị giữa Ấn Độ với ASEAN lên tầm cao mới

Tăng cường quan hệ với ASEAN là một trong những trọng tâm của chính sách “hướng Đông” của Ấn Độ Thực tế mối quan hệ này đã đạt được những bước tiến lớn kể từ khi Ấn Độ ban hành chính sách “hướng Đông” năm 1991 Đến năm 1992, Ấn Độ trở thành đối tác đối thoại theo từng lĩnh vực với ASEAN Năm 1993, hai bên đã thành lập Ủy ban hợp tác khu vực chung giữa ASEAN và Ấn Độ nhằm phối hợp các mối quan hệ đối thoại khu vực giữa hai bên trong lĩnh vực đầu tư, mậu dịch và du lịch Sau đó, Ấn Độ tiếp tục đẩy mạnh quan hệ với ASEAN và trở thành đối tác đối thoại đầy đủ vào tháng 11/1995 Từ tháng 7/1996, Ấn Độ là thành viên của Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), đây

là mốc đánh dấu quan trọng trong hợp tác an ninh, chính trị giữa Ấn Độ với ASEAN Năm 1997, Ấn Độ lần đầu tiên được tham dự cuộc họp các quan chức cấp cao (SOM) lần thứ 4 của ARF Từ đó, quan hệ đối tác chính thức giúp Ấn

Độ tham gia tích cực hơn trong các cơ chế hoạt động của ASEAN

Từ đầu thế kỉ XXI, có thể thấy rõ những bước tiến và sự đánh giá ngày càng cao của ASEAN đối với Ấn Độ ASEAN đã nâng tầm quan hệ đối tác với

Ấn Độ lên cấp Thượng đỉnh ngang hàng với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc tại Hội nghị Cấp cao các nước ASEAN lần thứ 7 tổ chức tại Brunây vào tháng 11 năm 2001 Đặc biệt, từ năm 2002, quan hệ ASEAN - Ấn Độ có bước đột phá quan trọng, tháng 12/2002, Hội nghị Cấp cao ASEAN - Ấn Độ lần đầu tiên được tổ chức tại Campuchia, hai bên ra Tuyên bố chung về hợp tác ASEAN

Trang 10

- Ấn Độ thế kỉ XXI Tháng 11/2004, ASEAN - Ấn Độ đã thông qua Tuyên bố

“Đối tác vì hòa bình, tiến bộ và thịnh vượng chung” và kế hoạch hành động thực hiện tuyên bố chung Năm 2012, Ấn Độ và ASEAN đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược

Tháng 10/2010, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN - Ấn Độ lần thứ 8 tổ chức tại Hà Nội, hai bên nhất trí thành lập Nhóm các nhân vật nổi tiếng (EPG) ASEAN - Ấn Độ để kiểm điểm 10 năm quan hệ đối thoại, khuyến nghị phương hướng và các biện pháp dài hạn để phát triển quan hệ ASEAN - Ấn Độ đến năm

2020 Tại Hội nghị cấp cao kỉ niệm 20 năm quan hệ đối thoại ASEAN - Ấn Độ, hai bên đã thông qua Tuyên bố Tầm nhìn về hợp tác ASEAN - Ấn Độ trong 20 năm tới và nâng quan hệ ASEAN - Ấn Độ lên đối tác chiến lược

Chính những điều này đã thúc đẩy sự tiếp xúc giữa các nước thành viên ASEAN với Ấn Độ Các lãnh đạo cấp cao của Ấn Độ đã thực hiện nhiều chuyến viếng thăm chính thức tới các nước thành viên ASEAN và ngược lại Điều này cũng thể hiện rõ mối quan hệ chính trị, ngoại giao ASEAN - Ấn Độ không ngừng được thắt chặt và mở rộng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tạo nền tảng cho sự hợp tác trên các lĩnh vực khác

Việt Nam cũng là một thành viên của ASEAN và cũng đang phải đối mặt với những thách thức của an ninh khu vực và thế giới, để có thể đảm bảo nền hòa bình bền vững, phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước thì việc hợp tác với các nước có ý nghĩa rất quan trọng Trong bối cảnh đó, tìm hiểu mối quan hệ hợp tác trên lĩnh vực chính trị - an ninh giữa Cộng hòa Ấn Độ và tổ chức ASEAN là một việc làm thiết thực, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Quan hệ chính trị, an

ninh giữa Cộng hòa Ấn Độ với Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) từ

2002 đến 2016” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 11

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Quan hệ giữa Ấn Độ và ASEAN là một đề tài khá thú vị, thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Tuy nhiên, để đi sâu nghiên cứu hợp tác trên lĩnh vực chính trị - an ninh giữa Cộng hòa Ấn Độ và tổ chức ASEAN thì chưa có những công trình khái quát một cách đầy đủ, có chăng thì cũng là những bài báo, tài liệu tản mạn, đề cập gián tiếp đến khía cạnh này Tác

phẩm: “Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của nước Cộng hòa Ấn Độ từ năm

1991-2000”, của Trần Thị Lý, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2000 Tác

phẩm đã trình bày về công cuộc cải cách kinh tế, sự điều chỉnh chiến lược của Ấn

Độ từ sau Chiến tranh lạnh Tác phẩm cũng đề cập đến chính sách đối ngoại của

Ấn Độ đối với khu vực ASEAN và Việt Nam, trong đó có một số tư liệu đề cập

đến an ninh quốc phòng; Đinh Trung Kiên: “Ấn Độ: hôm qua và hôm nay”, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 Cuốn sách đã đề cập đến sự thay đổi các mặt

về kinh tế, chính trị, xã hội của Ấn Độ trong đó tác giả đã tập trung đến sự thay

đổi chính sách của nước Cộng hòa Ấn Độ; Trần Thị Lý: “10 năm điều chỉnh

chính sách đối ngoại của nước Cộng hòa Ấn Độ (1991-2000): những thành tựu”,

Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 31; Võ Xuân Vinh: “Chính sách hướng

Đông của Ấn Độ: Các nguyên nhân hình thành”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam

Á, số 3, 2005; Nguyễn Cảnh Huệ: “Tìm hiểu tư tưởng hòa bình trong chính sách

đối ngoại của nước Cộng hòa Ấn Độ”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3, 1998;

Đỗ Thanh Bình: “40 năm ASEAN: Thành tựu về an ninh, chính trị”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 12, 2007; Trần Cao Thành, “ASEAN - Ấn Độ và hợp tác

sông Mê Công, sông Hằng”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 44, bài viết này tập

trung vào sự hợp tác giữa Ấn Độ với các nước Đông Dương về việc sử dụng hợp

lý nguồn tài nguyên thiên nhiên; Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Anh Chương

(2010): “Vai trò của ASEAN trong hợp tác đa phương về an ninh ở khu vực châu

Á - Thái Bình Dương”, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 7, đã đề cập đến vị

Trang 12

trí chiến lược quan trọng của ASEAN trong vấn đề hợp tác an ninh khu vực châu

Á - Thái Bình Dương; Nguyễn Hữu Nghị, Lê Thị Yến: “ASEAN: 40 năm hợp tác

an ninh-chính trị”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 10, trình bày những

thành tựu trong lĩnh vực hợp tác an ninh-chính trị của ASEAN với các đối tác trong đó có Ấn Độ

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết khác về vấn đề này được đăng trên các tạp chí, các khóa luận, luận văn thạc sĩ… và các tài liệu Internet

Như vậy, đến nay, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào bàn sâu

về quan hệ chính trị-an ninh giữa Ấn Độ và ASEAN trong những năm đầu thế

kỷ XXI Tuy nhiên, những nguồn tư liệu mà chúng tôi tiếp cận được là tài liệu quý giá, để tác giả tiếp thu, tham khảo và kế thừa, nhằm giải quyết vấn đề mà đề tài đặt ra

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là hợp tác trên lĩnh vực chính trị, an ninh giữa Cộng hòa Ấn Độ với tổ chức ASEAN từ 2002 đến 2016

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu sự hợp tác trên lĩnh vực chính

trị, an ninh giữa Ấn Độ và ASEAN từ năm 2002 đến năm 2016 Tuy nhiên, để

có cái nhìn liên tục và logic, luận văn có đề cập đến một số nội dung liên quan ở thời kỳ trước năm 2002 Đề tài lấy mốc năm 2002 làm mốc mở đầu vấn đề nghiên cứu vì đây là năm diễn ra nhiều sự kiện liên quan đến hợp tác chính trị,

an ninh giữa Ấn Độ và ASEAN, một trong những sự kiện quan trọng là Thủ tướng A.B Vajpayee tuyên bố tầm nhìn của Ấn Độ về một cơ cấu an ninh mới đối với khu vực Đông Nam Á, Ấn Độ cũng bắt đầu triển khai giai đoạn II của chính sách “hướng Đông” nâng tầm quan hệ đối tác với tổ chức ASEAN và sau

đó, mối quan hệ được tiếp tục phát triển qua Hội nghị Cấp cao ASEAN - Ấn Độ

Trang 13

lần thứ nhất vào năm 2002 tại Phnôm Pênh, Campuchia Kể từ đó, Hội nghị Cấp cao ASEAN - Ấn Độ trở thành hội nghị thường niên

Đề tài lấy mốc năm 2016 làm mốc kết thúc vấn đề nghiên cứu bởi đây cũng là năm diễn ra nhiều sự kiện quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa Ấn Độ

và ASEAN Ấn Độ tham gia vào một loạt các cuộc họp tham vấn với ASEAN theo quan hệ đối thoại ASEAN - Ấn Độ, trong đó bao gồm Hội nghị Cấp cao, Hội nghị Bộ trưởng, các cuộc họp quan chức cao cấp, và các cuộc họp ở cấp chuyên gia, cũng như trong khuôn khổ đối thoại và hợp tác do ASEAN khởi xướng Những sự kiện này đánh dấu một mốc mới trong lịch sử quan hệ giữa hai nước

- Nội dung: Đề tài nghiên cứu sự hợp tác song phương trên lĩnh vực chính trị, an ninh giữa Cộng hòa Ấn Độ với tổ chức ASEAN từ năm 2002 đến năm

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 14

hòa Ấn Độ và ASEAN, từ đó, rút ra những thành tựu, hạn chế của quan hệ chính trị, an ninh giữa Ấn Độ với ASEAN từ năm 2002 đến 2016 và tác động của nó đến Ấn Độ và ASEAN và dự báo những triển vọng của mối quan hệ này đối với

Ấn Độ và ASEAN

4.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Nghiên cứu những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác chính trị, an ninh giữa Cộng hòa Ấn Độ và ASEAN

- Nghiên cứu mối quan hệ hợp tác trên lĩnh vực chính trị, an ninh giữa Cộng hòa Ấn Độ và ASEAN

- Nghiên cứu những thành tựu và hạn chế của mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN; tác động mối quan hệ này đối với Ấn Độ và ASEAN và triển vọng của mối quan hệ này

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Nguồn tài liệu tác giả sử dụng để nghiên cứu là các sách chuyên khảo, các bài viết đăng trên các tạp chí, tài liệu tham khảo đặc biệt thông tấn xã Việt Nam, các nguồn tài liệu từ tiếng nước ngoài dịch sang tiếng Việt, các luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp, thông tin trên mạng Internet

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đây là công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành lịch sử nên trước hết tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạnh đó, tác giả

sử dung phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp trong quá trình xử

lý tư liệu và triển khai đề tài

Về phương pháp luận: Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin, quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam để xem xét, đánh giá sự kiện, hiện tượng lịch sử

Trang 15

Mác-6 Đóng góp của luận văn

Đây là công trình nghiên cứu cụ thể thành tựu của quan hệ hợp tác chính trị, an ninh giữa Cộng hòa Ấn Độ và ASEAN trong giai đoạn từ 2002-2016;

Nghiên cứu cụ thể những tác động của quan hệ Ấn Độ - ASEAN đối với tình hình chính trị, an ninh khu vực Đông Nam Á và Nam Á, những thách thức

và triển vọng trong hợp tác trên lĩnh vực chính trị, an ninh giữa Ấn Độ và ASEAN

Là tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh viên, học viên sau đại học và những người quan tâm đến quan hệ chính trị, an ninh giữa Ấn Độ và các nước ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ chính trị, an ninh giữa

Cộng hòa Ấn Độ và Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) từ năm 2002 đến năm 2016

Chương 2: Quan hệ trên lĩnh vực chính trị, an ninh giữa Cộng hòa Ấn

Độ và Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) từ năm

2002 đến năm 2016

Chương 3: Nhận xét về quan hệ chính trị, an ninh giữa cộng hòa Ấn

Độ với Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) từ 2002 đến 2016

Trang 16

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ CHÍNH TRỊ,

AN NINH GIỮA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ VỚI HIỆP HỘI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á (ASEAN) TỪ NĂM 2002 ĐẾN NĂM 2016

1.1 Bối cảnh thế giới và khu vực

1.1.1 Bối cảnh thế giới

Có thể nói rằng, kể từ khi giành độc lập (1947), chưa bao giờ mối quan hệ chính trị, an ninh của Ấn Độ với Đông Nam Á lại có môi trường quốc tế thuận lợi như trong những năm đầu thế kỷ XXI

Từ nửa sau thập niên 80 của thế kỉ XX, trên diễn đàn chính trị quốc tế xuất hiện xu thế mới, chuyển từ đối đầu sang đối thoại Với ưu thế vượt trội, Mỹ có tham vọng chuyển về thế giới một cực do Mỹ lãnh đạo Mặt khác, sự gia tăng ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực châu Á cũng làm cho nhiều nước lớn, trong đó có cả Ấn

Độ phải quan tâm, xem xét vị trí của mình trong khu vực này

Sau Chiến tranh lạnh, mâu thuẫn giữa các nước lớn không lấy đối kháng làm mục tiêu mà lại có xu hướng tìm kiếm sự hợp tác, thậm chí còn thỏa hiệp và nhân nhượng lẫn nhau, có thể hình dung “Cục diện an ninh thế giới hiện nay như

là kết quả của sự vận động, phát triển của mối quan hệ chính trị an ninh giữa

Mỹ, Nga và Trung Quốc với xu thế chủ đạo là hòa hoãn, hợp tác, nhân nhượng, thỏa hiệp song song với đấu tranh, cạnh tranh nhau, kiềm chế lẫn nhau, nhưng không dẫn đến đối đầu xung đột Cục diện an ninh thế giới đến năm 2020 như đại dương không có bão nhưng thường xuyên có sóng ngầm” [9; tr.104]

Chiến tranh lạnh kết thúc và sự sụp đổ trật tự hai cực Ianta (1989 - 1991)

đã tác động to lớn đến quan hệ quốc tế, các cường quốc không ngừng tìm kiếm con đường, cách thức để từng bước xác lập vị thế của mình Mỹ, quốc gia siêu

Trang 17

cường duy nhất còn lại vẫn cố gắng duy trì sức mạnh hàng đầu thế giới, trong khi đó các cường quốc khác muốn vươn lên nắm giữ vai trò lớn hơn trong quan

hệ quốc tế, một trật tự thế giới “nhất siêu đa cường” từng bước được hình

thành Điều cần nhấn mạnh là trật tự này chủ yếu được xây dựng dựa trên cơ sở kinh tế - chính trị chứ không phải dựa trên sự đối đầu về sức mạnh quân sự giữa hai siêu cường Xô - Mỹ như trước đây, trong đó lấy phát triển kinh tế làm chiến lược trọng tâm của mỗi quốc gia trở thành xu thế chủ đạo Trong trật tự thế giới mới, các nước đang và sẽ chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hòa hoãn, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ quốc tế phù hợp với xu thế hòa dịu trên toàn thế giới Bên cạnh đó, xu thế liên kết quốc tế, khu vực hóa, toàn cầu hóa đang ngày càng trở thành xu thế áp đảo trong quan hệ kinh tế quốc tế; với sự ra đời của hàng loạt tổ chức quốc tế, khu vực như: Liên minh châu Âu (EU), Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (MERCOSUR); Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Nhóm BIRIC (Braxin, Ấn Độ, Nga, Trung Quốc)… Do đó, tính liên kết chặt chẽ hơn, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng gia tăng về nhiều mặt

Mặt khác, thế giới ngày nay đang bước vào “kỷ nguyên số”, một “thế giới

phẳng” đang từng bước được hình thành và phát triển nhanh hơn Trong thế giới

đó, các dịch vụ điện tử viễn thông, công nghệ vũ trụ, sóng điện từ đã đưa loài người kết nối lại gần nhau, các quốc gia trên thế giới liên kết với nhau bằng mạng lưới thông tin dày đặc đã tạo nên tần suất quan hệ quốc tế rộng mở và không có giới hạn Hoạt động mạnh mẽ của các tập đoàn xuyên quốc gia, các tổ chức phi chính phủ đã làm cho quá trình luân chuyển hàng hóa trên thế giới diễn

ra một cách mau lẹ, với quy mô và tốc độ lớn đã làm cho các nền kinh tế dù lớn hay nhỏ đều phụ thuộc chặt chẽ vào nhau, quy định, chi phối lẫn nhau trong các mối quan hệ đa chiều, phức tạp Điều này đã mở ra cơ hội to lớn cho quá trình hội nhập và phát triển của các quốc gia dân tộc trên khắp thế giới, nhất là các

Trang 18

nước đang phát triển như Ấn Độ và các quốc gia ở Đông Nam Á

Tuy nhiên, bên cạnh những dấu hiệu lạc quan về một thế giới mới với nhiều tiến bộ khoa học - kỹ thuật hiện đại, các nhà tương lai học phân tích tình hình toàn cầu không khỏi lo ngại về những bất ổn đang và sẽ xảy ra Sự thiếu hụt về thực phẩm, nước uống, ô nhiễm, các xung đột chính trị gay gắt, nạn bùng

nổ dân số hoặc hiện tượng đô thị hóa một cách mất trật tự… là những mối lo

hàng đầu đối với nhiều chính phủ Nền an ninh - chính trị thế giới vẫn diễn tiến

trong trạng thái phức tạp khó lường, nhiều điểm nóng trên thế giới ngày càng xuất hiện và lan rộng Sau chiến tranh Iraq, Afghanistan, là cuộc cách mạng

“Mùa xuân Ả rập” diễn ra tại châu Phi và Trung Cận Đông đã kéo một loạt quốc gia tại lục địa đen vào vòng xoáy chiến tranh đẫm máu như ở Lybia, Ai Cập, Syria, Yemen… Ở châu Âu, cuộc khủng hoảng nợ công của nhiều quốc gia thuộc khu vực đồng tiền chung, sự tách rời EU của nước Anh, đã đẩy tình hình kinh tế lục địa này vào khủng hoảng, khó khăn và làm ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế thế giới Nước Mỹ, siêu cường duy nhất cũng có những dấu hiệu của sự sụt giảm về kinh tế, theo sau đó là Nhật Bản, nền kinh tế được xem

là vững mạnh cũng gặp nhiều khó khăn sau động đất sóng thần, Trung Quốc đang phát triển mạnh mẽ nhưng có những dấu hiệu không bền vững Khu vực Đông Nam Á đang trên đà phát triển, trở thành một trong những khu vực năng động nhất thế giới, tuy nhiên, sự bất ổn trong lòng các quốc gia tại khu vực này không phải là nhỏ, ví dụ các cuộc bạo loạn ở Philippin, bất ổn chính trị tại Thái Lan, tranh chấp biên giới giữa các quốc gia Bên cạnh đó, vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên và quan hệ Nam - Bắc Triều vẫn đang diễn biến phức tạp Vấn nạn khủng bố hiện nay cũng được xem là một nguy cơ nghiêm trọng đối với an ninh của nhân loại, mặc dù cộng đồng quốc tế đã ra sức loại bỏ các nhóm khủng bố cực đoan, song con số đó là rất nhỏ bé so với thực tế tồn tại của mạng lưới phức tạp này

Trang 19

Ngoài ra, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, liên minh quốc tế cũng tạo ra những hệ lụy xấu cho cộng đồng thế giới, nhất là các quốc gia chậm phát triển Đói nghèo bệnh tật, hủy hoại môi trường là những tác hại to lớn mà loài người đang đối mặt trong khi đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội không tính đến việc cân đối hài hòa môi trường sống Vấn đề an ninh quốc gia càng trở nên khó khăn khi việc ngăn chặn các luồng tội phạm, hạn chế sự gia tăng của nguy cơ an ninh phi truyền thống trong một môi trường mà ở đó những quyền cơ bản của con người và lợi ích số đông không được tôn trọng và đảm bảo

Như vậy, cục diện thế giới chủ yếu vẫn do các nước lớn chi phối song các nước đang phát triển tiếp tục tăng cường hợp tác trên nhiều diễn đàn để bảo

vệ lợi ích chung Xu thế của một thế giới mà tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng đậm nét, quá trình toàn cầu hóa đi đôi với khu vực hóa diễn biến với nhịp độ ngày càng nhanh Tình hình đó đặt các nước trước cả cơ hội lẫn thách thức, trong đó các nước đang phát triển và chậm phát triển chịu nhiều thách thức gay gắt hơn Đồng thời nó cũng đặt sự phát triển của thế giới trong một tổng thể với mối liên quan chặt chẽ và sự tác động lẫn nhau giữa chủ thể này với chủ thể khác Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ đạt được những thành tựu vượt bậc, không ai có thể phủ nhận vai trò của các nước công nghiệp phát triển cao, nhưng sự phát triển của nền kinh tế thế giới như một tổng thể có được nếu không có sự tham gia tích cực của các nước đang phát triển chiếm số đông trong cộng đồng các quốc gia dân tộc

Những biến động to lớn của cục diện chính trị thế giới đã tác động sâu sắc đến tình hình chính trị, kinh tế -xã hội của hầu hết mọi quốc gia dân tộc Đó là một cuộc chạy đua toàn cầu về nhiều mặt trong đó bao trùm lên tất cả là lĩnh vực

an ninh-chính trị Trong bối cảnh các nước trên thế giới vừa đấu tranh vừa hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình, hợp tác trên lĩnh vực chính trị- an ninh giữa các nước trong khu vực là một nhu cầu tất yếu

Trang 20

1.1.2 Bối cảnh khu vực Nam Á và Đông Nam Á

Tại khu vực Nam Á, tình hình chính trị luôn bất ổn do quan hệ căng thẳng giữa Ấn Độ và Pakixtan Hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) phát triển chậm chạp và kém hiệu quả khiến Ấn Độ khó có thể dựa vào tổ chức này, điều này thúc đẩy Ấn Độ hướng tầm nhìn ra ngoài khu vực Trong mối quan hệ với Trung Quốc chừng nào Ấn Độ vẫn còn có ảnh hưởng ở Đông Á thì nước này vẫn phải đối mặt với sự khó chịu của Trung Quốc Ai cũng biết chính sách “hướng Đông” của Ấn Độ đã tạo ra những tình huống cạnh tranh tiềm ẩn với Trung Quốc, chẳng hạn ở Mianma, tại vịnh Bengal hoặc thậm chí ở Biển Đông Nhưng dù sao thì Ấn Độ vẫn muốn duy trì một chính sách tránh để xảy ra các cuộc xung đột với nước láng giềng lớn của mình

Từ năm 2006, Ấn Độ cũng phải chịu những sức ép của Trung Quốc về các vùng biên giới Cùng với những yêu sách đang nổi lên của Trung Quốc về chủ quyền khu vực Arunachal Pradesh, là những sự vi phạm thường xuyên của phía Trung Quốc ở đường kiểm soát thực tế từ cuối năm 2008, đã gây tổn hại đến chủ quyền của Ấn Độ ở Giamu và Casơmia Nhà cầm quyền Ấn Độ đã phản ứng bằng cách ngừng hợp tác quân sự song phương trong một năm, bắt đầu vào mùa

hè năm 2010, và dọa sẽ xem xét lại lập trường của mình về vấn đề Tây Tạng nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục tranh chấp chủ quyền đối với Giamu và Casơmia của

Ấn Độ Thái độ kiên quyết về ngoại giao này chỉ giảm bớt vào đầu năm 2012, với cuộc họp sau nhiều lần bị trì hoãn, về vấn đề biên giới và thiết lập một cơ chế trao đổi thông tin để giải quyết những hành động vi phạm đường kiểm soát thực tế Sẽ không thể hiểu được tình hình căng thẳng gắn liền với chính sách của

Ấn Độ ở Đông Á và lập trường của nước này đối với Trung Quốc trong khu vực rộng lớn này nếu người ta không thấy được tầm quan trọng của những gì đang diễn ra trên vùng biên giới Himalaya, nhất là ở Giamu và Casơmia, nơi Ấn Độ đang phải đối phó với cả Trung Quốc lẫn Pakixtan Sở dĩ Ấn Độ thực hiện một đường lối thận trọng trong những sự lựa chọn quốc tế lớn là do tính dễ bị tổn

Trang 21

thương về các đường biên giới giữa Ấn Độ với Trung Quốc Đối với Ấn Độ, thách thức là không để bị đẩy vào vai trò đối trọng với Trung Quốc hay động lực chính trong chiến lược của Mỹ ở châu Á

Trong khi đó, khu vực Đông Nam Á, nằm trong vành đai châu Á - Thái Bình Dương nơi tập trung những quốc gia có ưu thế về dân số, diện tích, tài nguyên, đây cũng là khu vực tương đối ổn định so với các khu vực khác, chính

vì sự năng động và ổn định của khu vực đã thu hút sự chú ý tranh giành ảnh hưởng và lợi ích giữa các nước lớn… Song ASEAN vẫn giữ được chiến lược cân bằng với các nước lớn Mỹ đang tăng cường sự hiện diện về quân sự ở Đông Nam Á và lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, chống khủng bố, an ninh hàng hải để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước ở khu vực này

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung, Đông Nam Á nói riêng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ có thể gây ra khủng hoảng chính trị và làm mất đi sự hòa bình trong khu vực Sự vươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc bằng việc phô trương sức mạnh ra bên ngoài đã làm cho tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng, điều đó khiến các quốc gia trong khu vực thực hiện biện pháp bảo vệ chủ quyền lãnh hải bằng quá trình hiện đại hóa nền an ninh quốc phòng, tăng cường tiềm lực quân sự, đặc biệt là sức mạnh của lực lượng hải quân nhằm đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông Vấn đề vũ khí hạt nhân của Triều Tiên vẫn là vấn đề nóng, đe dọa an ninh, ổn định khu vực Tại một số quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, Philipin, Mianma… nền chính trị không được ổn định với các phong trào đấu tranh giữa các phe phái chính trị diễn ra liên tục đã dấy lên sự lo ngại cho toàn khu vực Không những thế, khu vực này đang ngày càng lộ rõ sự cạnh tranh quyền lực hết sức gay gắt của các nước lớn, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc Ngoài ra, sự đa dạng về thể chế chính trị, tôn giáo, văn hóa càng làm cho quan

hệ giữa các nước thêm phần phức tạp

Trong bối cảnh trên, một số vấn đề của thời kì Chiến tranh lạnh đã từng

Trang 22

gây trở ngại và ảnh hưởng tới việc phát triển mối quan hệ chính trị, an ninh giữa

Ấn Độ với các nước Đông Nam Á đã được loại bỏ Một hình ảnh ASEAN thân phương Tây dưới con mắt Ấn Độ và một hình ảnh Ấn Độ thân Liên Xô, thiên vị cộng sản dưới con mắt của khối ASEAN cũ đã bị xóa nhòa, một giai đoạn mới với nhiều triển vọng mở ra, đúng như một chuyên gia Ấn Độ nhận xét “ngày nay, Ấn Độ và Đông Nam Á nhìn về nhau một cách tích cực hơn có lẽ bất kì thời điểm nào trong ba thập kỉ qua… Giờ đây Ấn Độ nhận thức được rằng vì lợi ích của chính mình Ấn Độ phải thay đổi một cách kiên quyết và đầy ấn tượng để tận dụng những cơ hội hơn là chờ đợi sự khởi đầu từ phía các nước Đông Nam Á” [2, tr.214]

Việc Ấn Độ can dự vào các thể chế ở khu vực Đông Nam Á sẽ tránh cho

Ấn Độ bị đẩy ra ngoài các “cuộc chơi” của khu vực này, cùng chia sẻ và giải quyết các vấn đề toàn cầu, các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống, tăng cường vai trò và ảnh hưởng tại vùng Biển Đông trọng yếu về mặt địa lý chiến lược, ngoài ra sẽ kiềm chế Trung Quốc một quốc gia đang phát triển rất nhanh và ngày càng mở rộng ảnh hưởng ra xung quanh, gây áp lực rất lớn lên

Điểm đáng chú ý là, chủ nghĩa khủng bố quốc tế, các thế lực tôn giáo cực đoan và chủ nghĩa ly khai dân tộc ở trong khu vực nhất là ở Trung và Nam Á đang có xu hướng lan rộng, xuyên quốc gia, đe dọa đến an ninh của Đông Nam

Á nói riêng và khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung

Môi trường quốc tế và khu vực sau Chiến tranh lạnh vừa có lợi vừa đặt ra thách thức đối với mối quan hệ chính trị, an ninh của Ấn Độ với ASEAN Xu

Trang 23

thế đối thoại, hợp tác và phát triển trong khu vực ngày càng tăng lên, làm cho quan hệ ASEAN với các nước lớn trong đó có Ấn Độ ngày càng trở nên quan trọng

1.2 Tình hình kinh tế, xã hội, chính sách đối ngoại của Ấn Độ và ASEAN từ năm 2002 đến năm 2016

1.2.1 Tình hình kinh tế, xã hội và chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ năm 2002 đến năm 2016

Ấn Độ là một quốc gia có lịch sử phát triển từ lâu đời với nền văn minh sông Hằng, sông Ấn nổi tiếng thế giới Nằm trong khu vực Nam Á, từ những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỷ XX đến nay, nhờ những cải cách tương đối mạnh

mẽ của các chính phủ Narasimha Rao, Atal Bihari Vajpayee, Manmohan Singh

và Narendra Modi, nền kinh tế Ấn Ðộ tăng trưởng với tốc độ nhanh và trở thành một nền kinh tế lớn, đứng vào hàng ngũ các nước có GDP 1.000 tỉ USD của thế giới

Ấn Độ hiện được coi là nền kinh tế lớn tăng trưởng nhanh nhất thế giới với tốc độ tăng GDP 7,6% trong năm tài khóa 2015-2016, một “điểm sáng” trong nền kinh tế toàn cầu Tuy nhiên, những dấu hiệu lạc quan gần đây của kinh

tế Ấn Độ không chỉ là kết quả từ những nỗ lực của chính phủ mới do Thủ tướng Narendra Modi đứng đầu mà còn dựa trên nền tảng của quá trình công nghiệp hóa cùng với cuộc cải cách tự do hóa kinh tế mạnh mẽ do cựu Thủ tướng Narasimha Rao phát động từ tháng 7/1991 đến nay Có thể nói, đây là một cuộc cải cách toàn diện nhằm điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô theo hướng vừa

mở cửa vừa tái cơ cấu kinh tế nhằm chuyển từ một nền kinh tế tập trung, quan liêu, hướng nội với vai trò chủ đạo của nhà nước sang một nền kinh tế thị trường, tự do hoá, mở cửa và nâng cao khả năng cạnh tranh của khu vực tư nhân

để từng bước tham gia vào nền kinh tế toàn cầu

Nhờ cải cách tự do hóa một cách cơ bản và toàn diện, Ấn Độ đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, trì trệ để bước vào nền kinh tế tăng trưởng tương

Trang 24

đối nhanh và liên tục Tốc độ tăng GDP đạt bình quân 7,5% trong giai đoạn từ

2002 đến 2012, lạm phát từ hai con số đã xuống còn dưới 5% Nhờ đó, qui mô của nền kinh tế Ấn Độ đã tăng từ 274 tỉ USD (1991) lên 2,3 nghìn tỉ USD (2016) Hiện nền kinh tế Ấn Độ được Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá là lớn thứ 10 trên thế giới nếu tính theo tỷ giá so với đồng USD và đứng thứ ba thế giới nếu tính theo sức mua tương đương (PPP) [6]

Đến nay, Ấn Độ trở thành một trong những cường quốc công nghiệp trên thế giới với tiềm lực mạnh về sản xuất và xuất khẩu phần mềm máy tính, năng lượng hạt nhân, công nghệ sinh học, công nghệ nano, viễn thông, đóng tàu và hàng không Nhờ cải cách và tự do hóa, một loạt tập đoàn kinh tế có tên tuổi của

Ấn Độ như TATA, Reliance, Essar đã ra đời, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế trong nước đồng thời vươn ra nước ngoài bằng đầu tư trực tiếp hoặc sáp nhập các công ty đối tác

Một điểm đáng chú ý nữa là sự phát triển nhanh chóng của ngành dịch vụ, ngành trở thành động lực tăng trưởng chính giúp Ấn Độ vượt trên các nền kinh

tế đang phát triển khác để có thể sánh ngang với các nước phát triển Trong giai đoạn 2001-2013, ngành dịch vụ đã tăng trưởng với tốc độ trung bình 8,1%, chiếm gần 60% GDP và 32% giá trị xuất khẩu của nước này [6]

Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn còn không ít khó khăn, thách thức trước mắt cũng như lâu dài, đặc biệt là những vấn đề mang tính cơ cấu, đòi hỏi Chính phủ phải cải cách mạnh mẽ hơn nữa

Khu vực quốc doanh đã được tái cơ cấu nhưng vẫn còn lớn và hoạt động kém hiệu quả Mặc dù Chính phủ đã từng bước nới lỏng các quy định nhằm tự do hóa FDI trong nhiều ngành song môi trường đầu tư kinh doanh ở quốc gia này vẫn thiếu tính cạnh tranh do môi trường pháp quy yếu, bộ máy hành chính quan liêu, trì trệ, thủ tục rườm rà, triển khai dự án chậm, tệ tham nhũng

Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế Ấn Độ, kết quả “mở cửa” đã

rõ nhưng “tái cơ cấu” và tạo việc làm dường như chưa thành công, nhất là với tỷ

Trang 25

trọng ngành sản xuất chế tạo gần như giữ nguyên nên không tạo ra nhiều việc làm mới và khiến nước này khó đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP trên 8% như mong muốn

Mặt khác, tỉ trọng lao động giản đơn (phi chính thức) trong lực lượng lao động còn lớn, năng suất và sức cạnh tranh còn thấp, chưa kể sự tham gia của lao động nữ còn hạn chế Khu vực nông nghiệp là nguồn thu nhập trực tiếp hoặc gián tiếp của khoảng 2/3 dân số song vẫn trong tình trạng lạc hậu, năng suất thấp và thường xuyên chịu tác động của thời tiết thất thường Trong khi đó, một số ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển cao lại không phải là ngành tạo nhiều việc làm nên

tỷ lệ thất nghiệp nói chung vẫn cao Ngoài ra, quốc gia sông Hằng vẫn bị coi là một trong những thị trường có nhiều hàng rào bảo hộ mậu dịch (thuế và phi thuế) so với các nước trong khu vực

Đặc biệt, ngoài những bất ổn tiềm tàng về an ninh nội bộ cũng như trong khu vực, Ấn Độ còn phải đối mặt với một áp lực xã hội lớn do dân số đông và tăng nhanh, trong đó trên 1/3 dân số vẫn còn sống trong nghèo đói và khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng [6] Ấn Độ vẫn được xếp vào nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp Tại các thành phố, vấn đề dân cư quá tải, thiếu điện, nước, ô nhiễm môi trường, ách tắc giao thông vẫn thường xuyên xảy ra Sự phát triển không đều giữa các bang, mâu thuẫn tôn giáo, đẳng cấp còn tồn tại cùng một số hủ tục, tâm lý thói quen ăn sâu trong dân chúng vẫn là những lực cản không nhỏ đối với sự phát triển của Ấn Độ Trước những thách thức trên, ngay sau khi nhậm chức vào tháng 5/2014, Thủ tướng N Modi đã cho triển khai một

số biện pháp chống tham nhũng, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong nước, tăng đầu tư công, tăng quyền tiếp cận tài chính cho người dân, tái cơ cấu một số ngành và bỏ dần một số loại trợ cấp, đưa ra một số đợt nới lỏng qui định

về FDI và các dự luật quan trọng để đẩy mạnh cải cách, trong đó có dự luật đồng nhất Thuế Hàng hóa và Dịch vụ (GST) trên toàn Ấn Độ dự kiến sẽ được triển khai từ ngày 01/4/2017

Trang 26

Ông cũng phát động nhiều chương trình và sáng kiến như Make in India, Skill India, Digital India, Start-up India, Clean India, Smart Cities , tăng cường các chuyến công du nước ngoài nhằm thu hút đầu tư vào ngành sản xuất chế tạo, phát triển kỹ năng, tạo thêm nhiều việc làm mới, cải thiện cơ sở hạ tầng và vệ sinh môi trường cho Ấn Độ Về bản chất, các biện pháp này vẫn là sự tiếp tục đường lối cải cách tự do hóa từng bước từ 1991 song chú trọng nhiều hơn đến vấn đề triển khai và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại Ấn Độ

Bất chấp mọi thay đổi trên chính trường, những quyết sách cải cách kinh

tế Ấn Độ ban đầu vẫn tiếp tục được các chính phủ tiếp theo triển khai liên tục và nhất quán Chính vì vậy, dù còn phải đương đầu với không ít khó khăn, thách thức cả cũ và mới, với những quyết sách đúng hướng và quyết tâm triển khai mạnh mẽ hơn, chúng ta vẫn có thể hy vọng chính phủ mới ổn định của Thủ tướng Modi sẽ tiếp tục phát huy nền tảng và những lợi thế vốn có để đưa kinh tế đất nước sông Hằng phát triển đúng như kỳ vọng

Với những thành quả đạt được một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực,

Ấn Độ hiện đang là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới và trở thành một điểm sáng trong mắt các nhà đầu tư Bên cạnh đó, chính phủ Ấn Độ đang có những hành động và chính sách thúc đẩy tăng trưởng một cách rõ rệt, tập trung vào cải cách nhằm đơn giản hóa các thủ tục, tạo môi trường kinh doanh thân thiện hơn với các doanh nghiệp nước ngoài, phát triển hạ tầng của quốc gia và xây dựng một lực lượng lao động được đào tạo

Chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ 2002-2016

Về cơ bản, Ấn Độ chủ trương xây dựng phát triển đất nước theo con đường độc lập dân tộc và tự lực tự cường, thi hành chính sách đối ngoại hòa bình, không liên kết, hữu nghị với các nước Trong những năm gần đây, Ấn Độ

đã và đang điều chỉnh chiến lược đối ngoại một cách toàn diện, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược là đảm bảo hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực và trên thế giới, qua đó tạo môi trường thuận lợi cho phát triển, tăng cường thực lực

Trang 27

đồng thời mở rộng không gian chiến lược nhằm tạo dựng ảnh hưởng tương xứng với vị thế của cường quốc khu vực và toàn cầu Đến nay Ấn Độ đã thiết lập được quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga…

Một trọng tâm khác trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ là củng cố, tăng cường quan hệ với các nước châu Á, nhất là các nước láng giềng Với các nước Đông Á (bao gồm cả Đông Bắc Á và Đông Nam Á), Ấn Độ triển khai chính sách “hướng Đông” từ năm 1991 và bắt đầu từ năm 2002 triển khai “Hành động hướng Đông” không ngừng tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực, trong đó chọn ASEAN là một trong những trọng tâm

Điều này thể hiện rõ nhất trong thời kì cầm quyền của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, ông đã tiến hành cuộc cải tổ mạnh mẽ chính sách đối ngoại và

đã làm gia tăng đáng kể vị thế của nước mình trên toàn cầu Các hội nghị thượng đỉnh tổ chức thành công với nhóm BRICS (Brazil, Nga, Ẩn Độ, Trung Quốc và Nam Phi), với các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Nêpan và Bhutan và nổi bật là chuyến thăm Mỹ từ ngày 27/9 đến 30/9/2014 của N Modi là minh chứng cho điều đó

Trong khi các chính phủ do Đảng Quốc đại dẫn dắt trước đây ưu tiên quan

hệ với Mỹ và EU (Chính phủ Singh đã đàm phán thỏa thuận năng lượng hạt nhân lịch sử giữa Mỹ và Ấn Độ từ giai đoạn 2005-2008 và khởi động các cuộc đàm phán thương mại tự do với EU năm 2007), chính phủ của Thủ tướng N Modi đã chuyển trọng tâm sang khu vực láng giềng lân cận và các nước lớn khác tại châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc và Australia, cũng như nhóm BRICS

Thủ tướng N Modi cũng đã thực hiện nhiều cuộc thăm nước ngoài (đặc biệt tới Trung Quốc và Nhật Bản) khi ông còn là Thủ hiến bang Gujarat Chính sách đối ngoại của Thủ tướng N Modi là sự kết hợp chủ nghĩa siêu thực dụng

Trang 28

với sự nhạy bén trong kinh doanh Ông đã xoay xở để thuyết phục cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản đầu tư mạnh vào Ấn Độ trong khi thiết lập lại chỗ đứng của

Ấn Độ trong khu vực Nam Á Xác nhận lại chính sách không liên kết truyền thống của Ấn Độ, ông N Modi đã sử dụng một phương pháp tiếp cận mạnh mẽ hơn để khẳng định nền độc lập của đất nước mình trong khi đưa ra một cách tiếp cận rất chọn lọc đối với hợp tác đa phương Chẳng hạn, Ấn Độ đã phủ quyết một cách khác thường Hiệp định Tạo thuận lợi cho thương mại (TFA) của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào tháng 7/2014 (một bản dự thảo đã được nhất trí bởi 160 thành viên WTO bao gồm cả Chính phủ Ấn Độ tiền nhiệm do Đảng Quốc đại lãnh đạo tại Hội nghị Bộ trưởng Bali năm 2013) đối với các mối quan ngại về an ninh lương thực Một bước đột phá đã đạt được bên lề cuộc Hội nghị Thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) vào tháng 11/2014, khi Mỹ nhất trí không thách thức các chính sách an ninh lương thực của Ấn Độ tại WTO, loại bỏ thế bế tắc chính đi đến thỏa thuận Với Mỹ, ông N Modi tránh xa việc gia nhập bất kỳ chiến lược lớn nào của Mỹ đối với châu Á hoặc Nhà nước Hồi giáo (IS) tại Iraq và Syria, nhưng trong chuyến viếng thăm tới Mỹ ông đã quan tâm đến hợp tác thương mại, đầu tư và hợp tác an ninh song phương với Mỹ

Là một cường quốc mới nổi, với tham vọng toàn cầu, Ấn Độ muốn nhấn mạnh vai trò của Niu Đêli trong khu vực láng giềng lân cận của Ấn Độ và phục hồi SAARC, một vai trò từ lâu đã bị Niu Đêli bỏ quên Động thái này không chỉ khẳng định sự chấp nhận trách nhiệm của Ấn Độ như một lãnh đạo khu vực, mà còn là dấu hiệu đầu tiên của một sự chuyển đổi trong chính sách đối ngoại của

Ấn Độ

Các cuộc đàm phán song phương cũng được tổ chức với tất cả các lãnh đạo khác của SAARC Một cách tượng trưng, chuyến viếng thăm nước ngoài đầu tiên của ông Modi là tới nước láng giềng Bhutan vào tháng 6/2014 và vào tháng 8/2014

Trang 29

đưa ông trở thành thủ tướng Ấn Độ đầu tiên tới Nepan trong 17 năm, tại đây ông đã

đề xuất một dòng tín dụng trị giá 1 tỷ USD cho các dự án về năng lượng và phát triển cơ sở hạ tầng Tháng 6/2014, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Sushma Swaraj đã tới Dhaka Bangladesh là một nước láng giềng chủ chốt có thể giúp Ấn Độ kết nối tốt hơn với các vùng lãnh thổ phía Đông Bắc biệt lập về mặt địa lý của mình, kiềm chế chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo tập trung vào Ấn Độ và chống lại ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc tại Vịnh Bengal

Sự rút lui của quân đội Mỹ và NATO khỏi Afghanistan sẽ để lại một khoảng trống quyền lực lớn trong khu vực mà Ấn Độ đang tìm cách để lấp đầy Bằng việc đi đầu với tư cách là nước lớn nhất trong SAARC, Ấn Độ đang tìm cách thiết lập các quy tắc cho khu vực Trong những năm gần đây, dấu chân chiến lược của Trung Quốc tại khu vực láng giềng của Ấn Độ đã trở nên sâu sắc hơn, đặc biệt, thông qua việc đầu tư vào các cảng thương mại tại Pakistan, Sri Lanka, Banglađet và Mianma Việc Trung Quốc tăng cường quan hệ với các nước láng giềng của Ẩn Độ thông qua viện trợ quân sự và kinh tế cùng các dự

án cơ sở hạ tầng nổi bật là mối lo ngại thực sự Chẳng hạn, khoảng ¾ lượng xuất khẩu vũ khí của Trung Quốc được bán cho ba nước láng giềng của Ấn Độ là Banglađét, Mianma và Pakistan

Mặc dù Ấn Độ có tranh chấp biên giới với Trung Quốc, ông N Modi cũng không phải người bài Trung Ông đã tới Trung Quốc bốn lần trước khi trở thành Thủ tướng để cố đạt được các khoản đầu tư vào Gujarat Tại đó, cũng như tại Nhật Bản, ông cũng được tiếp đón với nghi lễ trọng thể dành riêng cho nguyên thủ quốc gia Vào một trong những chuyển viếng thăm của mình, ông không chỉ mang theo những tấm danh thiếp đỏ in bằng tiếng Quan thoại, mà còn tuyên bố rằng “Trung Quốc và người dân nước này có một vị trí đặc biệt trong trái tim tôi” Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị đã tới Ấn Độ ngay sau khi ông Modi được bầu trong khi ông Modi đã gặp Chủ tịch Trung Quốc

Trang 30

Tập Cận Bình tại Hội nghị Thượng đinh BRICS được tổ chức tại Braxin từ ngày

14 - 16/6/2014

Một dấu hiệu của chính sách đối ngoại mới của ông Modi là khả năng của ông trong việc thu hút cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản đầu tư vào Ấn Độ mà vẫn giữ quan hệ tốt đẹp với cả hai bên Tuy nhiên, ông N Modi cũng cảnh giác với Trung Quốc trên một vài khía cạnh Để đối phó với “Con đường tơ lụa trên biển” mới của Trung, ông N Modi đã sớm khởi động một sáng kiến về chính sách đối ngoại mới- “Dự án Mausam” Dựa trên mô hình gió mùa theo thời vụ được các thủy thủ Ấn Độ cổ xưa sử dụng, Mausam sẽ trải dài từ Đông Phi đến Inđônêsia, đem lại cho Ấn Độ quyền kiểm soát mạnh mẽ đối với Ấn Độ Dương bằng cách làm sâu sắc hơn quan hệ với các quốc gia ven biển Chẳng hạn, Ấn

Độ gần đây đã tăng cường hợp tác quốc phòng với Maldives và Sri Lanka (sau chuyến viếng thăm của Tập Cận Bình tới những nước này trước khi tới Ấn Độ), trong khi bốn tàu chiến Ấn Độ hiện đang neo đậu theo một thoả thuận 2 tháng ngoài khơi vùng biển Đông Phi và phía Nam Ấn Độ Dương

Kể từ năm 2008, Ấn Độ chủ trì một Hội nghị chuyên đề Hàng hải trên Ấn

Độ Dương (IONs) hai năm một lần, với mục tiêu tăng cường hợp tác hải quân giữa 35 quốc gia ven biển Ấn Độ Dương

Ấn Độ dưới thời Thủ tướng Modi theo đuổi một cam kết được tiếp tục lại tại phần còn lại của châu Á Bộ trưởng Ngoại giao Swaraj đã tới các nước ASEAN để nâng cao vị thế của Ấn Độ tại đó Vào tháng 9/2014, Thủ tướng N Modi và Thủ tướng Australia Tony Abbot đã ký một thỏa thuận năng lượng hạt nhân dân sự mang tính bước ngoặt cho phép Australia bán urani sang Ấn Độ Vào tháng 11/2014, Thủ tướng N Modi đã tới thăm Australia - chuyến thăm đầu tiên của một thủ tướng Ấn Độ trong 28 năm qua Australia và Ấn Độ cũng đã tổ chức tập trận hải quân chung đầu tiên vào năm 2015

Trang 31

Hội nghị Thượng đỉnh hàng năm giữa Ấn Độ và Nga diễn ra vào tháng 12/2014 tại Ấn Độ cho thấy một sự đổi mới trong quan hệ Ấn Độ - Nga Nga, nhà cung cấp vũ khí lớn thứ hai của Ấn Độ và cũng là một nhà cung cấp nhiên liệu hạt nhân lớn, cũng đang tìm cách để xây dựng một đường ống dẫn khí đốt trị giá 40 tỷ USD tới Ấn Độ Nga cũng muốn chuyển hướng một phần quỹ của nước này từ châu Âu sang đầu tư cơ sở hạ tầng tại Ấn Độ Vào tháng 3, Ấn Độ cùng với các nước BRICS còn lại đã bỏ phiếu trắng đối với một Nghị quyết Liên hợp quốc về sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine, và phản đối đề xuất của Australia, chủ trì G20, để loại Nga ra khỏi Hội nghị Thượng đỉnh G20 vào tháng 11/2014

Ấn Độ hiện đang tính toán lại phương pháp tiếp cận địa chiến lược của mình Quan hệ với Nhật Bản, Trung Quốc, Nga và Australia đang đạt được tầm quan trọng trong tương quan với quan hệ với Mỹ và EU Châu Á, bắt đầu từ khu vực láng giềng gần nhất, có khả năng trở thành trọng tâm địa lý chính trong chính sách đối ngoại của ông Modi Nếu không cơ cấu lại kiến trúc kinh tế thế giới để phản ánh những thực tế hiện nay, Ấn Độ sẽ tích cực theo đuổi chủ nghĩa

đa phương hóa thông qua các nền tảng thay thế như BRICS EU cần tính đến các

ưu tiên của ông Modi trong việc định hình sự can dự của mình với Ấn Độ, như

là đầu tư nước ngoài trực tiếp và cơ sở hạ tầng, nếu không nó rất có thể sẽ bị bỏ qua tại New Delhi Đối với Mỹ, Ấn Độ từ chối bất kỳ “liên minh do Mỹ dẫn đầu” nào, dù là ở Trung Đông chống lại chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo hay tại châu Á chống lại Trung Quốc Ông Modi có thể thúc đẩy các ranh giới của chính sách không liên kết đã duy trì từ lâu của Ấn Độ, nhưng khuôn khổ xác định chính sách đối ngoại của ông sẽ là địa kinh tế theo kiểu hợp nhất Thủ tướng Modi tin rằng, Ấn Độ là một sức mạnh toàn cầu đang nổi lên, và, do đó, trước hết cần một nền tảng kinh tế vững chắc Việc tổ chức lại nền kinh tế trong nước sẽ chi phối khuynh hướng trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ

Trang 32

1.2.2 Tình hình kinh tế, xã hội và chính sách đối ngoại của ASEAN từ năm 2002 đến năm 2016

ASEAN nằm ở khu vực rất năng động trên thế giới và có tốc độ tăng trưởng hằng năm ở mức cao, đạt 4,9% năm 2016 Triển vọng tăng trưởng cao cùng với quy mô thị trường lớn tiếp tục khiến ASEAN trở thành một địa điểm thương mại và đầu tư hấp dẫn Tổng kim ngạch thương mại của ASEAN đạt trên

2 nghìn tỷ USD vào năm 2014

Liên tiếp trong nhiều thập kỷ vừa qua, nền kinh tế của các nước ASEAN đã giữ vững đà tăng trưởng, tạo ra lực phát triển mới và được đánh giá là một trong những thị trường năng động, phát triển bậc nhất thế giới Trong những năm đầu thế kỷ XXI, trước những tác động của nền kinh tế thế giới, kinh tế ASEAN cũng

bị ảnh hưởng nhiều, tuy nhiên vẫn giữ vững được sự tăng trưởng, tiếp tục ổn định

an ninh, chính trị và là điểm đến của các nhà đầu tư

Trong vòng nhiều thập kỷ qua, nhiều nền kinh tế của các nước ASEAN đã phát triển mạnh mẽ nhờ xuất khẩu, kéo theo sự thay đổi lớn về nhân khẩu học cũng như làm gia tăng tầng lớp trung lưu giàu có ở khu vực này Mặc dù thời gian gần đây có những biến động về giá dầu mỏ, nhiều nền kinh tế lớn phát triển chậm lại gây ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế các nước ASEAN, song tăng trưởng vẫn là xu thế chủ đạo của nền kinh tế các nước ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI Đối với các doanh nghiệp tiếp tục tìm kiếm sự tăng trưởng, khu vực ASEAN vẫn là điểm đến tin cậy để có thể mang về những lợi nhuận cho các doanh nghiệp của mình

Việc nắm được các mục tiêu của ASEAN, chiến lược phát triển kinh tế,

xã hội của khu vực này trong tình hình mới là một bước đi hợp lý và thiết thực đối với các doanh nghiệp Khu vực này có dân số khoảng 630 triệu người và là

nền kinh tế lớn thứ 3 khu vực châu Á (theo chuyên gia kinh tế Anna Marrs,

Giám đốc ngân hàng Standard Chartered Bank khu vực Đông Nam Á và Nam

Trang 33

Á) Các nước thành viên ASEAN triển khai cụ thể thông qua các thỏa thuận và

hiệp định quan trọng như Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA)

và Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS), Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) và Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA), Hiệp định khung về Hợp tác Công nghiệp ASEAN (AICO), Lộ trình Hội nhập Tài chính và Tiền tệ ASEAN, v.v … Cho đến nay, ASEAN đã cơ bản giảm được thuế quan cho các mặt hàng trong danh sách giảm thuế về từ 0-5% từ năm 2010 đối với 6 nước thành viên ban đầu và vào 2015 với 4 nước thành viên mới, hình thành nên một thị trường mở không còn các rào cản thuế quan đối với hàng hóa Để hỗ trợ tự

do hoá thương mại, ASEAN đang nỗ lực đưa vào hoạt động Cơ chế hải quan 1 cửa ASEAN (ASEAN Single Window-ASW) và các quy định về áp dụng chứng nhận xuất xứ cho hàng hoá có nguồn gốc từ ASEAN để đủ điều kiện hưởng các

ưu đãi về thuế quan, trong đó ASEAN đang nghiên cứu tiến tới việc cho phép các doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ, cùng với việc hài hoà hoá các quy định

về hợp chuẩn hàng hoá v.v

Về tự do hoá dịch vụ, ASEAN đã hoàn tất Gói 9 cam kết dịch vụ theo Hiệp định Khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS) trong năm 2013, tạo thuận lợi cho việc luân chuyển dịch vụ trong khu vực Tới nay, các cam kết về tự do hoá dịch vụ trong ASEAN đã bao trùm nhiều lĩnh vực như dịch vụ kinh doanh, dịch

vụ chuyên nghiệp, xây dựng, phân phối, giáo dục, môi trường, vận tải biển, viễn thông và du lịch Có 4 gói cam kết về dịch vụ tài chính và 6 gói cam kết về vận tải hàng không đã được ký kết Các thoả thuận công nhận lẫn nhau (MRAs) giữa các nước thành viên ASEAN về tiêu chuẩn, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp v.v

là một công cụ quan trọng giúp tự do hoá lưu chuyển các dịch vụ chuyên nghiệp trong ASEAN Tới nay, các nước ASEAN đã ký các thoả thuận công nhận lẫn

Trang 34

nhau đối với các tiêu chuẩn, kỹ năng các ngành dịch vụ cơ khí, y tá, kiến trúc, kế toán và du lịch

Trong khuôn khổ Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), ASEAN hướng tới hình thành một điểm đến đầu tư hấp dẫn ở khu vực, với cơ chế đầu tư thông thoáng và mở, bao gồm tự do hoá đầu tư trên các lĩnh vực chính như sản xuất - chế tạo, nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, khai khoáng và các dịch vụ phụ trợ cho các ngành này Danh mục các lĩnh vực mở cửa cho đầu tư còn được tiếp tục bổ sung trong thời gian tới Các nỗ lực tự do hoá đầu tư của ASEAN không chỉ giúp tạo dựng và nâng cao niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài với khu vực ASEAN, mà còn góp phần thúc đẩy đầu tư nội khối cũng như đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia trong khu vực

Nhằm xây dựng một khu vực cạnh tranh về kinh tế, ASEAN thúc đẩy chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, phát triển

cơ sở hạ tầng như hệ thống đường bộ, đường sắt, cảng biển, năng lượng, phát triển thương mại điện tử v.v Hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế đồng đều, ASEAN đã thông qua và đang triển khai Khuôn khổ ASEAN về Phát triển Kinh

tế Đồng đều (AFEED), trong đó đáng chú ý là các biện pháp hỗ trợ các nước

thành viên mới, khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Để hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, ASEAN nỗ lực đẩy mạnh việc xây dựng

và triển khai các thoả thuận liên kết kinh tế ở khu vực Đông Á, với 6 Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do (FTAs) đã được ký với các Đối tác quan trọng là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ôx-trây-lia và Niu Di-lân, và đang trong quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP) hướng đến hình thành một không gian kinh tế mở toàn Đông Á vào năm 2015, với GDP chiếm 1/3 tổng GDP toàn cầu và quy mô thị trường chiếm ½ dân số thế giới

Trang 35

Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, ngay cả khi ASEAN ít bị tác động trước những diễn biến của kinh tế thế giới do kinh tế của các nước và khu vực như Mỹ, EU và Trung Quốc phát triển chậm lại thì tổng thương mại nội khối sẽ vẫn duy trì đà phát triển tốt và chiếm khoảng 1/4 tổng giá trị thương mại của khối này Điều này có nghĩa là khu vực ASEAN với sức mua đang tăng vẫn sẽ là điểm đến hấp dẫn đối với các doanh nghiệp

Chính sách đối ngoại của ASEAN

Trước hết là ASEAN tiếp tục mở rộng và củng cố quan hệ đối thoại chiến lược với các đối tác bên ngoài, nhất là với các nước như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, EU và Nga Điểm đáng chú ý là từ cuối thập niên đầu của thế kỷ XXI, ASEAN đã cải thiện và mở rộng quan hệ đối thoại chiến lược với

Mỹ Cùng với đó, ASEAN cũng chú trọng làm sâu sắc quan hệ hơn với Trung Quốc, nhất là trong lĩnh vực kinh tế

Cùng với những định chế đã thiết lập từ hồi Chiến tranh lạnh và trong thập niên 90 của thế kỷ XX (như “Tuyên bố về sự Hòa hợp ASEAN”, “Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á” (TAC), “Diễn đàn Khu vực” (ARF), “Hiệp ước Đông Nam Á không có vũ khí Hạt nhân” (SEANWFZ), từ 2005, ASEAN đã chủ động tổ chức "Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á" (EAS) Đến năm 2010, tham gia vào EAS ngoài 10 nước ASEAN còn có 6 đối tác bên ngoài là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia, New Zealand

Bước tiếp, ASEAN vào năm 2010 đã tạo ra cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM +) Lần đầu tiên trong lịch sử ASEAN

và khu vực châu Á - Thái Bình Dương có 18 Bộ trưởng Quốc phòng các nước (gồm của 10 nước ASEAN và 8 nước đối tác là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ, Australia và New Zealand) ngồi lại bàn thảo về hợp tác quốc phòng an ninh

Cùng với tiến trình trên, ASEAN thông qua ARF đẩy mạnh việc chuyển giai đoạn từ xây dựng lòng tin sang ngoại giao phòng ngừa trong giải quyết các

Trang 36

vấn đề an ninh đang nổi lên Từ Hội nghị ARF lần thứ 17 tổ chức tại Hà Nội năm 2010, ASEAN đã mạnh dạn đưa các vấn đề nhạy cảm như tranh chấp biển Đông ra bàn luận và tiếp theo từ năm 2011 trở đi, vấn đề này được liên tục được nhắc đến tại các hội nghị tiếp theo của ASEAN và đã thông qua được nhiều văn kiện khá quan trọng như "Bản hướng dẫn DOC" (2011), "Tài liệu Quan điểm của ASEAN về các thành tố cần có của COC" (2012), "Tuyên bố về nguyên tắc

6 điểm về Biển Đông" (2012), "Tuyên bố 10 năm DOC" (2013), "Tuyên bố của

Bộ trưởng các nước ASEAN về Biển Đông" (2014)

Cùng với đó, ASEAN đang thực hiện tương đối có hiệu quả nhiều cam kết ghi trong Hiến chương ASEAN và trong Kế hoạch tổng thể APSC, trong đó

có việc việc lập nên Viện Hòa bình và Hòa giải ASEAN và Tuyên bố Nhân Quyền ASEAN

Hiện nay, sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nhất là cặp

Mỹ - Trung, sau đó là Trung - Nhật đang làm cho các mâu thuẫn, xung đột địa - chính trị của khu vực tăng nhanh, nhất là ở những khu vực nhạy cảm như ở Biển Đông, hay Hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công v.v Kéo theo nó là làm tăng chạy đua vũ trang Xu hướng trên không chỉ làm cho nhiều nước ASEAN phải tăng chi phí quốc phòng, làm ảnh hưởng đến phát triển và hội nhập kinh tế, mà còn tạo điều kiện cho các nước can thiệp nhiều hơn vào khu vực, gia tăng liên minh, liên kết, tập hợp lực lượng có lợi cho họ nhằm thực hiện mục tiêu địa chính trị của mình Điều này đã và đang tác động mạnh mẽ đến tính tương đối độc lập và trung lập của ASEAN trong quan hệ với các nước lớn, cụ thể là đến chiến lược cân bằng ảnh hưởng mà ASEAN đang theo đuổi

1.3 Tình hình hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục giữa Ấn Độ và các nước ASEAN từ năm 2002 đến năm 2016

- Hợp tác kinh tế

Với chính sách “hướng Đông” được Ấn Độ đưa ra năm 1991 nhằm tăng

Trang 37

cường quan hệ toàn diện với các nước ASEAN, trong đó đặc biệt coi trọng lĩnh vực kinh tế, hợp tác thương mại giữa hai bên đã phát triển nhanh chóng Trong bốn năm, kim ngạch buôn bán giữa hai bên đã tăng hơn 150% từ 9,7 tỉ USD năm 2002 lên 23 tỉ USD năm 2005 [6]

Để mở rộng và đa dạng hóa quan hệ kinh tế, Ấn Độ và ASEAN đã thành lập các cơ chế khác nhau qua đó hai bên nỗ lực vượt qua các rào cản để làm sâu sắc hơn mối quan hệ Từ năm 2002, phần lớn các hoạt động hợp tác kinh tế Ấn

Độ - ASEAN được tiến hành và hoàn tất thông qua Ủy ban thương lượng thương mại Ấn Độ - ASEAN, vốn được thành lập tại Hội nghị cấp cao lần thứ

IX ở Bali, Inđônêxia tháng 10/2003 Ấn Độ đã thành lập Trung tâm phát triển các doanh nghiệp (EDC) tại Campuchia, Việt Nam Tại cuộc họp lần thứ 15 của

Ủy ban thương lượng thương mại Ấn Độ - ASEAN diễn ra tại Giacácta, Inđônêxia, tháng 3/2007, hai bên đã thảo luận các vấn đề có liên quan tới FTA giữa Ấn Độ - ASEAN

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) đóng một vai trò quan trọng trong hợp tác kinh tế giữa Ấn Độ và ASEAN Chương trình tự do hóa của Niu Đêli đã tạo ra một bầu không khí thích hợp cho FDI của ASEAN vào Ấn Độ trong các khu vực như cơ sở hạ tầng, khách sạn và dịch vụ du lịch, công nghiệp nặng, hóa chất, phân bón và chế biến thực phẩm

Ấn Độ và ASEAN đã kí Hiệp định tự do thương mại (FTA) về hàng hóa năm 2009 và đi vào hoạt động đầy đủ vào tháng 8/2011 Hoạt động hợp tác này được xác định trong kế hoạch về Đối tác ASEAN - Ấn Độ vì hòa bình tiến bộ và cùng chia sẻ thịnh vượng giai đoạn 2010-1015 Không dừng lại ở đó, tháng 9/2014, Ấn Độ chính thức kí kết Hiệp định thương mại tự do về dịch vụ và đầu

tư với ASEAN, hiệp định này sẽ mở ra cơ hội hợp tác trên nhiều lĩnh vực và đặc biệt hữu ích trong việc cân bằng thâm hụt thương mại giữa Ấn Độ với các nước ASEAN trong việc trao đổi hàng hóa Các quốc gia thành viên ASEAN và Ấn

Trang 38

Độ đã quyết định dỡ bỏ thuế nhập khẩu với hơn 80% hàng hóa được giao dịch vào năm 2016 Theo đó, trong thời gian tới, hơn 4000 dòng sản phẩm sẽ từng bước được cắt giảm thuế quan Thị trường Ấn Độ - ASEAN rất tiềm năng với 1,8 tỉ dân, do vậy việc Ấn Độ và ASEAN kí FTA về dịch vụ và đầu tư đã mở thêm những cơ hội cho phát triển thương mại toàn diện

Trong hợp tác kinh tế, ngay từ đầu, chính sách “hướng Đông” được Ấn

Độ đưa ra năm 1991 với mục tiêu tăng cường quan hệ toàn diện với các nước ASEAN, trong đó đặc biệt coi trọng lĩnh vực kinh tế Từ đó đến nay, ASEAN và

Ấn Độ thu được những thành quả to lớn trong hợp tác kinh tế Đặc biệt, sau khi quan hệ của Ấn Độ với ASEAN được nâng lên cấp đối thoại toàn diện, hai bên nhất trí thành lập Hội đồng hợp tác chung ASEAN - Ấn Độ và Nhóm làm việc

về thương mại, đầu tư Năm 2015, thương mại hai chiều ASEAN - Ấn Độ đã tăng gấp 20 lần so với thời điểm năm 1992 Hai bên đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên mức 200 tỷ USD vào năm 2020 Đầu tư hai chiều đang gia tăng với các dự án đầu tư của ASEAN ở Ấn Độ trong giai đoạn

2007 - 2015 là 32,4 tỷ USD, trong khi đầu tư của Ấn Độ vào ASEAN đạt 38,6 tỷ USD

Ấn Độ và ASEAN đã ký Hiệp định tự do thương mại (FTA) về hàng hóa năm 2009 và đi vào hoạt động tháng 8/2011 Tháng 9/2014, Ấn Độ và ASEAN chính thức ký kết FTA về dịch vụ và đầu tư Hai bên khẳng định quyết tâm tham gia tích cực trong đàm phán Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); gia tăng kết nối về cả hàng không, hàng hải, đường bộ và kỹ thuật số, xây dựng Hành lang Kinh tế Mê Công - Ấn Độ; phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa… Hai bên cũng đã hoàn tất việc triển khai Kế hoạch Hành động giai đoạn 2011 - 2015 và nhất trí sẽ tiếp tục tăng cường quan hệ thông qua việc thực hiện hiệu quả Kế hoạch Hành động mới giai đoạn 2016 - 2020

Nhìn chung, quan hệ kinh tế hai bên từ năm 2000 đến năm 2016 đã đạt được nhiều thành tựu vượt bậc so với trước năm 2000 nhưng vẫn chưa tương

Trang 39

xứng với mối quan hệ chính trị tốt đẹp, với tiềm năng mong muốn của hai bên

Để đẩy mạnh sự hợp tác toàn diện, hai bên cần tích cực tìm ra nguyên nhân cản trở mối quan hệ này và đề ra những giải pháp tháo gỡ thiết thực, hiệu quả

- Trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục

Từ những năm đầu Công nguyên, văn hóa Ấn Độ đã để lại những dấu ấn đậm nét trên hầu hết các khía cạnh đời sống của nhiều quốc gia Đông Nam Á Điều đặc biệt của quá trình giao lưu văn hóa này là nó diễn ra trong hòa bình, chưa bao giờ có xung đột hay chiến tranh Bước sang giai đoạn phương Tây xâm lược Ấn Độ và Đông Nam Á, một lượng lớn người Ấn Độ đã di cư sang Đông Nam Á Trong số các nước Đông Nam Á, Miến Điện, Malaisia và Xingapo có

số lượng người Ấn khá đông đảo Nhưng cuộc di cư lớn của người Ấn vào các nước Đông Nam Á bắt đầu diễn ra từ đầu thế kỷ XIX Do chính quyền thực dân Anh cần nhiều nhân công để khai thác thuộc địa, nên đã có hàng vạn người Ấn được đưa đến làm việc tại các thuộc địa của Anh ở Đông Nam Á Ngài Narasimaha Rao, nguyên Thủ tướng Ấn Độ, đã từng nói: “Khi nhìn nhận châu Á

- Thái Bình Dương một cách khách quan, chúng tôi không thể lờ đi một thực tế rằng, các nền văn minh của chúng ta có thể tìm thấy ở nhiều quốc gia - nhà nước Đông Nam Á…” [17; tr 50] Nguyên Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Sing nhấn mạnh: “Với các nước ASEAN, chúng tôi đã có các mối quan hệ đặc biệt cũng như các mối liên kết lâu đời” [56; tr 41]

Trong những thập niên đầu của thế kỉ XXI, để phát triển quan hệ hợp tác văn hóa, Xingapo đã đưa ra đề nghị phục hồi trường Đại học Nalanda tại bang Biha và Ấn Độ cũng đang bắt tay vào việc xây dựng đường sá, hệ thống đường sắt tại các nước Lào, Campuchia, Việt Nam và Mianma nhằm tạo điều kiện cho nhân dân và du khách Đông Nam Á tới chiêm bái các thánh tích Phật giáo ở Ấn

Độ như Sanchi, Sarnath, Bodhgaya và Nalanda Các viện giáo dục của Ấn Độ như trường Cao đẳng y Manipal đã mở các chi nhánh tại Malaixia và Xingapo

Trang 40

Các doanh nghiệp Ấn Độ cũng đã mở các trung tâm đào tạo phần mềm tại Việt Nam, Malaixia, Campuchia và Inđônêxia Bên cạnh đó sự hợp tác về khoa học - công nghệ cũng ngày càng sâu sắc hơn Hai bên đã kí một loạt hiệp định trong các lĩnh vực như công nghệ hàng không vũ trụ, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dược phẩm và chữa bệnh từ xa Những sáng kiến hợp tác này được thực thi bởi các diễn đàn như Nhóm công tác về khoa học công nghệ Ấn Độ - ASEAN, diễn đàn công nghệ thông tin Ấn Độ - ASEAN Hai bên cũng nhất trí thành lập Viện sở hữu trí thức Ấn Độ - ASEAN, thành lập Viện công nghệ sinh học Ấn Độ - ASEAN tại Giacacta Trong những năm gần đây, hợp tác văn hóa - giáo dục Ấn Độ - ASEAN ngày càng sâu sắc, Ấn Độ góp phần đào tạo nguồn nhân lực tin học và hải quân cho một số nước ASEAN

Trong chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ vào tháng 9/2000 nhân kỷ niệm lần thứ 55 ngày quốc khánh Việt Nam, Bộ trưởng Singh đã tham dự Hội nghị lần thứ nhất của dự án sông Hằng - Mê Công - Suvawnaphumi, dự án nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế, du lịch, văn hóa và giáo dục giữa Ấn Độ, Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Thái Lan và Mianma Trong dự án này, Ấn Độ là nước xúc tác nhằm tạo ra các mối quan hệ thông tin và cơ sở hạ tầng trong nước cần thiết Dự án này không những tạo điều kiện cho văn hóa và

du lịch của các nước ASEAN phát triển mà còn tạo điều kiện cho ngành du lịch khu vực Nam Á phát triển

Hợp tác giáo dục, văn hóa được coi như một lĩnh vực để thúc đẩy sự liên kết giữa Ấn Độ với Inđônêxia Hàng năm, Ấn Độ cung cấp hơn 1100 suất học bổng cho học sinh Inđônêxia học tại các trường đại học Ấn Độ Vào tháng 5 năm 2006, Ấn Độ đã mở ra một Trung tâm dạy nghề trị giá 750.000 USD tại thủ

đô Giacácta

Chính phủ Ấn Độ cũng đã đồng ý đơn giản hóa việc cấp thị thực nhập cảnh cho công dân các nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia và Philippin Theo đó

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:36

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w