1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử văn hóa làng trường lưu, xã trường lộc, huyện can lộc, tỉnh hà tĩnh (từ giữa thế kỉ xv đến nay)

164 42 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 3,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Nói đến Can Lộc, Hà Tĩnh là nói đến vùng đất giàu truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng kiên cường, vùng đất được xem là “một trong những huyện trội hẳn về văn hó

Trang 1

0

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-   -

ĐINH HỒNG SƠN

LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG TRƯỜNG LƯU,

XÃ TRƯỜNG LỘC, HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH

(TỪ GIỮA THẾ KỶ XV ĐẾN NAY)

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:

TS DƯƠNG THỊ THANH HẢI

Nghệ An - 2017

Trang 2

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ giảng dạy khoa Lịch

Sử - Trường Đại học Vinh đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của tập thể cán bộ Trung tâm Thư viện Nguyễn Thúc Hào (Đại học Vinh), Thư viện tỉnh Hà Tĩnh, Bảo tàng tỉnh

Hà Tĩnh, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thu thập tài liệu nghiên cứu Tôi cũng xin cảm ơn tập thể cán bộ Ủy ban nhân dân xã Trường Lộc, huyện Can Lộc; gia tộc họ Nguyễn Huy, họ Nguyễn Xuân, họ Lê, họ Trần Huy, ở xã Trường Lộc đã cung cấp tư liệu và giúp đỡ tôi trong quá trình đi thực tế tại địa phương

Tôi xin chân thành cảm ơn tới những người thân trong gia đình, các bạn

bè và đồng nghiệp đã động viên, chia sẻ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo TS Dương Thị Thanh Hải, người đã hết sức tận tình giúp đỡ, trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng bạn bè, đồng nghiệp

Thành phố Vinh, tháng 8 năm 2017

Tác giả

Đinh Hồng Sơn

Trang 3

5 HĐND: Hội đồng nhân dân

6 UBMTTQ: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

Trang 4

iii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN ii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 6

3.1 Mục tiêu 6

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4.1 Đối tượng 6

4.2 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7

5.1 Nguồn tài liệu 7

5.2 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Bố cục luận văn 8

Chương 1: 9

LÀNG TRƯỜNG LƯU - QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, 9

PHÁT TRIỂN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC 9

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 9

1.1.1 Vị trí địa lý 9

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 10

1.2 Quá trình hình thành và phát triển cộng đồng dân cư của làng Trường Lưu 15

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của làng Trường Lưu 15

Trang 5

iv

1.2.2 Dân cư 18

1.3 Cơ cấu tổ chức của làng Trường Lưu 24

1.3.1 Vài nét về bộ máy quản lý làng xã truyền thống 24

1.3.2 Các tổ chức xã hội trong làng 27

1.3.3 Các đẳng cấp, ngôi thứ xã hội trong làng 29

Tiểu kết chương 1 32

Chương 2: 33

TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ DIỆN MẠO VĂN HÓA VẬT CHẤT 33

CỦA LÀNG TRƯỜNG LƯU 33

2.1 Tình hình kinh tế 33

2.1.1 Nông nghiệp 33

2.1.2 Các ngành nghề thủ công 37

2.1.3 Hoạt động buôn bán trao đổi 41

2.2 Diện mạo văn hóa vật chất 45

2.2.1 Các chùa, đền, miếu, đình và giếng cổ tiêu biểu 45

2.2.2 Hệ thống nhà thờ dòng họ Nguyễn Huy 50

2.2.3 Một số di tích lịch sử khác 56

2.3 Sinh hoạt vật chất 59

2.3.1 Nhà cửa 59

2.3.2 Ăn uống 61

2.3.3 Mặc 63

Tiểu kết chương 2 65

Chương 3: 66

DIỆN MẠO VĂN HÓA TINH THẦN VÀ ĐÓNG GÓP CỦA 66

NHÂN DÂN LÀNG TRƯỜNG LƯU ĐỐI VỚI QUÊ HƯƠNG 66

3.1 Các hình thức tín ngưỡng 66

3.1.1 Thờ cúng tổ tiên 66

Trang 6

v

3.1.2 Thờ thành hoàng 68

3.2 Phong tục tập quán và tế lễ 70

3.2.1 Tục cưới hỏi 70

3.2.2 Tục ma chay 73

3.2.3 Lễ cầu tiên 76

3.2.4 Lễ kỳ phúc 78

3.2.5 Lễ tế thần 78

3.3 Đời sống văn hóa dân gian 79

3.3.1 Âm nhạc dân gian 80

3.3.2 Các hình thức biểu diễn nghệ thuật 86

3.4 Đóng góp của nhân dân làng Trường Lưu đối với quê hương 89

3.4.1 Về giáo dục khoa cử và dạy học 89

3.4.2 Về văn học nghệ thuật 100

3.4.3 Về sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm 108

3.4.4 Về bảo tồn và phát huy giá trị di sản tư liệu Mộc bản Trường học Phúc Giang 110

3.4.5 Về xây dựng và phát triển quê hương trong thời kỳ đổi mới 113

Tiểu kết chương 3 116

KẾT LUẬN 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

DANH MỤC PHỤ LỤC 128

PHỤ LỤC 129

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nói đến Can Lộc, Hà Tĩnh là nói đến vùng đất giàu truyền thống yêu

nước, đấu tranh cách mạng kiên cường, vùng đất được xem là “một trong những huyện trội hẳn về văn hóa của phủ Đức Quang, nhân dân thuận hòa, hiếu học”;

là cái nôi của “Hồng Sơn văn phái, có nhiều người đỗ đại khoa” như đánh giá của Lịch triều hiến chương loại chí Can Lộc - Thiên Lộc là điểm tụ hội văn hóa

đặc sắc ở vùng Hồng Lam, nơi có nhiều danh lam thắng cảnh, có nhiều di sản văn hóa lâu đời, nhiều di tích lịch sử, lễ hội Trong đó chùa Hương Tích từ đời

Trần xứng danh “Hoan Châu đệ nhất danh lam”, Ngã ba Đồng Lộc với bản

hùng ca cách mạng của thế hệ Thanh niên xung phong Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung, một Ngã ba Nghèn quật khởi tinh thần Xô Viết - Nghệ Tĩnh những năm đầu thế kỷ XX,… Những nét văn hóa lịch sử đặc sắc ấy đã tạo nên cốt cách riêng của Hà Tĩnh nói chung, Can Lộc nói riêng Vì thế, mỗi ngôi làng, mỗi cánh đồng, mỗi dòng suối, con sông, ngọn núi ở đây đều như đã khắc vào một câu chuyện thần kỳ, mang đậm nét văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, tạo đặc trưng riêng cho mỗi vùng quê Hà Tĩnh

Làng Trường Lưu, nay là xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh là một trong những làng đang còn bảo tồn được những giá trị văn hoá lâu đời Trường Lưu có bề dày văn hóa hàng ngàn năm Cộng đồng cư dân Trường Lưu trong quá trình lao động vất vả, đấu tranh lâu dài, khai thác đất đai, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước, đã tạo nên những giá trị văn hoá tốt đẹp trong nền văn hoá thống nhất của dân tộc, đó là hệ thống các giá trị văn hoá vật chất và giá trị văn hóa tinh thần của làng

Lịch sử văn hoá làng Trường Lưu vừa giàu tính dân tộc, vừa thể hiện sắc thái văn hoá riêng của làng Bởi thế, nghiên cứu lịch sử văn hoá vùng đất này không chỉ cho chúng ta biết thêm những nét khắc họa về làng Việt nói chung,

Trang 8

2

mà còn cho chúng ta cảm nhận được những dấu ấn riêng của một vùng đất miền Trung nắng gió nhưng có đóng góp to lớn cho quê hương, đất nước, làm rạng danh vùng quê nghèo vượt khó

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Lịch sử - văn hóa làng Trường Lưu, xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (từ giữa thế kỷ XV đến nay)” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ cho mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về văn hóa làng không còn là mảng đề tài mới nhưng vẫn luôn mang tính thời sự cùng những hấp dẫn, lý thú riêng Trong thời gian gần đây, với xu thế giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa làng xã trên toàn dải đất hình chữ S, nhiều công trình đã nghiên cứu riêng về làng ở Bắc Bộ, làng ở Trung Bộ và Nam Bộ Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau: Công trình

“Một số vấn đề làng xã Việt Nam” của Nguyễn Quang Ngọc, tác phẩm đề cập

đến sự ra đời và biến đổi của làng xã Việt Nam trong tiến trình lịch sử, tác giả còn làm rõ về kết cấu kinh tế - xã hội của làng Việt cổ truyền, văn hoá xóm làng Cuối cùng, tác giả đưa dẫn chứng cụ thể về làng xã Việt Nam qua trường hợp làng Đan Loan Công trình này đã giúp tôi có cái nhìn khái quát về làng xã Việt

Nam, cung cấp một số cơ sở lý luận quan trọng cho luận văn Công trình: “Luận

về cái đình và việc thờ thành hoàng làng ở làng xã Bắc Kỳ” (Nguyễn Văn Khoan, 1930), “Làng người Việt” trong Annam Nouveau (tháng Giêng, tháng Bảy, 1931), “Làng xã Việt Nam tại Nam Kỳ” (P Kresser, 1935); “Văn minh Việt Nam” (Nguyễn Văn Huyên, 1944), “Nông thôn Việt Nam trong lịch sử” (2 tập) (1977, 1978),Viện Sử học, “Làng văn hoá cổ truyền Việt Nam” (2001) của

Trang 9

3

vấn đề về làng xã Việt Nam bước đầu đã được phác họa qua những tập du ký

của các nhà truyền giáo hay thương nhân phương Tây, đáng chú ý là “Lịch sử Đàng Ngoài” (Abbe Richard), “Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688” (William Dampier), “Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792 - 1793” (J Barrow), “Tập du ký mới và kỳ thú về vương quốc Đàng Ngoài” (J B

Tavernier),… Cho đến cuối thế kỷ XIX, cùng với việc đẩy mạnh nghiên cứu, tìm hiểu về Việt Nam trên tất cả các phương diện và đối tượng thì thực dân Pháp cũng đã khuyến khích việc nghiên cứu về làng xã Do vậy, chỉ trong khoảng thời

kỳ từ 1882 đến 1902 đã có tới 11 người Pháp viết về làng xã Việt Nam Các

công trình tiêu biểu là “Làng xã An Nam ở Bắc Kỳ” (P Ory), “Thành bang An Nam”,…

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, sự quan tâm đến làng xã Việt Nam cũng chỉ ở một mức độ nhất định qua việc nghiên cứu

về vấn đề ruộng đất, về người nông dân và những quan hệ, tổ chức, sinh hoạt nơi

làng xã trong lịch sử Tiêu biểu có “Việt Nam văn hóa sử cương” viết năm 1938 (Đào Duy Anh), “Việt Nam phong tục” năm 1945 (Phan Kế Bính), “Nền kinh tế công xã Việt Nam” (Vũ Quốc Thúc, 1950), “Xã thôn Việt Nam” (Nguyễn Hồng Phong, 1958), “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ” (Phan Huy

Lê, 1959), đáng kể là bộ “Nếp cũ” ra đời vào cuối những năm 60 gồm 6 tập của

tác giả Toan Ánh

Sau ngày thống nhất đất nước (năm 1975), việc tìm hiểu về xã thôn Việt Nam nhiều hơn và đi sâu hơn, trong đó việc tìm hiểu làng xã cổ truyền Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau như các thiết chế chính trị - xã hội, quan hệ

sở hữu ruộng đất, vai trò của làng xã trong đấu tranh và bảo vệ đất nước, như:

“Chế độ ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XI - XVIII” gồm 2 tập của tác giả Trương Hữu Quýnh (1982, 1983), “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ” của Trần Từ (1984) là một công trình mẫu mực về cơ cấu tổ chức của

Trang 10

(2006) của Phan Đại Doãn,…

Những công trình trên đây đã đề cập ít nhiều tới nội dung đề tài, giúp chúng tôi trong cách tiếp cận khi nghiên cứu về làng xã từ khi hình thành đến quá trình phát triển cùng lịch sử dân tộc

Cũng như các làng trên cả nước, làng Trường Lưu đã được giới nghiên cứu địa phương quan tâm Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau, làng Trường Lưu vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực

Vì lẽ đó nghiên cứu về “Lịch sử - văn hóa làng Trường Lưu, xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (từ giữa thế kỷ XV đến nay) vẫn còn là một

khoảng trống, bởi chưa có một bài viết, một công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu một cách chi tiết, cụ thể các khía cạnh của văn hoá làng Có chăng cũng chỉ là những bài viết mang tính chung chung hoặc đề cập đến một khía cạnh nào

đó của văn hoá làng Trường Lưu như:

Công trình “Địa chí huyện Can Lộc” xuất bản năm 1999 là một công

trình khá công phu về vùng đất Can Lộc, trong đó đề cập ít nhiều đến Trường Lưu Trong mức độ nào đó, công trình đề cập khái quát điều kiện tự nhiên, kinh

tế, xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng và phong tục, tập quán,… từ xưa cho tới nay

Một số nét cơ bản nhất về địa lý, văn hóa và vài công trình đền chùa ở

Trường Lưu được trình bày trong công trình “Làng cổ Hà Tĩnh” do Thái Kim Đỉnh chủ biên xuất bản năm 1995 và cuốn “Can Lộc - Một vùng địa linh nhân kiệt” do Ủy ban nhân dân huyện Can Lộc xuất bản năm 2010

Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tĩnh đã tổ chức một số Hội thảo với chủ đề

“Văn hóa làng và xây dựng làng văn hóa” Nhiều bài viết đề cập đến làng xã

Trang 11

5

truyền thống của làng trên địa bàn huyện, trong đó làng Trường Lưu được một

số nhà nghiên cứu đề cập với góc độ văn hóa học

Kỷ yếu hội thảo khoa học “Danh nhân văn hóa Nguyễn Huy Oánh” do Sở

Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh phối hợp với Viện Văn học tổ chức năm

2008; Kỷ yếu hội thảo khoa học “Nguyễn Huy Oánh và dòng văn Trường Lưu trong môi trường văn hóa Hà Tĩnh” do Viện Văn học và Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch Hà Tĩnh tổ chức vào năm 2013, tập trung nhiều bài viết về những đóng góp của Nguyễn Huy Oánh về sử học, văn học, văn hóa; tính kế thừa và sáng tạo của các tác giả dòng văn Nguyễn Huy trong phạm vi gia tộc, trong vùng văn hóa địa phương

Luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử về “Lịch sử - văn hóa dòng họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu (Can Lộc, Hà Tĩnh) từ thế kỷ XV đến năm 2006” của tác giả

Hoàng Thị Bình Nội dung luận văn đề cập đến nguồn gốc, quá trình hình thành phát triển và một số nhân vật tiêu biểu của dòng họ Nguyễn Huy đóng góp cho lịch sử dân tộc

Ngoài ra, một số công trình khác như “Văn bia Hà Tĩnh”, “Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh”, “Lễ hội dân gian ở Hà Tĩnh”, và rất nhiều bài viết đăng tải

trên tạp chí chuyên ngành có đề cập đến những nét văn hóa tiêu biểu, những nhân vật khoa bảng, văn chương ở làng Trường Lưu

Như vậy, các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập tới một khía cạnh đề tài lựa chọn, chưa có công trình nào đề cập hệ thống và toàn diện về làng Trường Lưu Tuy nhiên, trên cơ sở tiếp cận có chọn lọc những công trình đi trước cùng với quá trình tập hợp nguồn tư liệu điền dã, chúng tôi đã dựng nên phần nào bức tranh toàn cảnh của làng Trường Lưu từ khi thành lập đến nay với mong muốn góp phần nhỏ cho việc tìm hiểu về lịch sử, văn hóa của làng và đóng góp của nhân dân làng Trường Lưu đối với quê hương, đất nước

Trang 12

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, luận văn nhằm giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Thứ nhất: Làm rõ hơn về quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ

chức của làng Trường Lưu trong diễn trình lịch sử dân tộc

- Thứ hai: Làm rõ hơn về đời sống kinh tế và những giá trị văn hóa vật

chất của làng

- Thứ ba: Đi sâu nghiên cứu về văn hóa tinh thần và những đóng góp của

nhân dân làng Trường Lưu đối với quê hương

- Thứ tư: Tìm hiểu rõ quá trình bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa

vật chất và văn hóa tinh thần ở làng Trường Lưu trong giai đoạn ngày nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về quá trình hình thành,

phát triển và cơ cấu tổ chức; tình hình kinh tế và diện mạo văn hóa vật chất, văn

Trang 13

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

Nguồn tài liệu gốc

Chúng tôi dựa trên các tư liệu gốc bằng tiếng Việt và tiếng Hán Nôm ở gia phả, sắc phong, câu đối, khoa lục, ghi chép thống kê về làng Trường Lưu của các dòng họ trong làng, của các nhà nghiên cứu về làng cổ ở Hà Tĩnh, của các cụ cao niên trong làng còn lưu giữ được Trong số đó quan trọng nhất là gia phả dòng họ Nguyễn Huy, họ Nguyễn Xuân, họ Trần Huy,… Đây là nguồn tư liệu

vô cùng quý giá để chúng tôi thực hiện đề tài

Nguồn tài liệu tham khảo: Trong quá trình triển khai luận văn, chúng tôi

đã tiếp cận với các công trình chuyên khảo của các học giả trong nước về làng

xã, dòng họ Bên cạnh đó, chúng tôi tiếp cận nguồn tài liệu tham khảo là các công trình nghiên cứu về lịch sử, địa lý, văn hóa đề cập đến làng Trường Lưu nói riêng, về Can Lộc và Nghệ Tĩnh nói chung

Nguồn tài liệu điền dã: Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã trực tiếp

tiến hành nhiều cuộc diễn giả, gặp gỡ trao đổi với các cụ già trong làng Đây là nguồn tư liệu bổ trợ quan trọng giúp tôi làm rõ hơn về quá trình hình thành, tên gọi cũng như giá trị văn hóa làng Trường Lưu cho đến tận ngày nay

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Sưu tầm tư liệu: Để có nguồn tài liệu phục vụ cho luận văn tôi đã sưu

tầm, thu thập tài liệu tại Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh, Thư viện tỉnh Hà Tĩnh, Thư viện Nguyễn Thúc Hào, sao chép chụp ảnh lại các đền, sử dụng các phương pháp phỏng vấn, thực tế điền dã tại các đền, nhà thờ họ ở làng Trường Lưu

- Xử lý tư liệu: Để xử lý tư liệu cho viết luận văn tôi đã sử dụng phương

pháp chuyên ngành khoa học lịch sử, các phương pháp liên ngành như tổng hợp,

Trang 14

8

thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích để thuận lợi cho việc nghiên cứu lịch sử

- văn hóa làng Trường Lưu

6 Đóng góp của luận văn

- Thứ nhất: Luận văn phục dựng lại bức tranh có hệ thống về quá trình

hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của làng Trường Lưu

- Thứ hai: Luận văn nêu lên diện mạo các giá trị văn hóa vật chất, văn hóa

tinh thần của làng Trường Lưu cũng như quá trình bảo tồn và phát huy những giá trị đó

- Thứ ba: Thấy rõ những đóng góp tiêu biểu của nhân dân làng Trường

Lưu đối với quê hương Từ đó, góp phần nâng cao sự hiểu biết và lòng yêu quý vốn văn hóa cổ truyền và thành tựu của quê hương, giúp cho thế hệ con cháu ý thức về cội nguồn, về công lao của ông bà tổ tiên đi trước, phát huy truyền thống yêu nước và uống nước nhớ nguồn

- Thứ tư: Góp phần bổ sung thêm nguồn tài liệu lịch sử địa phương, cung

cấp nguồn tư liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu làng ở

Hà Tĩnh nói riêng, của cả nước nói chung

Chương 3: Diện mạo văn hóa tinh thần và đóng góp của nhân dân làng

Trường Lưu đối với quê hương

Trang 15

9

Chương 1 LÀNG TRƯỜNG LƯU - QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH,

PHÁT TRIỂN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Can Lộc là một huyện đồng bằng nằm ở trung tâm của tỉnh Hà Tĩnh, nằm gọn trong tọa độ từ 18002’ đến 18003’ vĩ độ Bắc, 105037’ đến 105044’ kinh độ Đông Ranh giới ngày nay của huyện Can Lộc được xác định như sau: về phía Bắc giáp huyện Nghi Xuân và thị xã Hồng Lĩnh, phía Tây Bắc giáp huyện Đức Thọ, phía Tây Nam giáp huyện Hương Khê, phía Nam giáp huyện Thạch Hà,

phía Đông và Đông Nam giáp huyện Lộc Hà

Làng Trường Lưu, nay là xã Trường Lộc, nằm ở phía Bắc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Phía Bắc giáp xã Song Lộc, phía Nam giáp xã Gia Hanh và Yên Lộc, phía Tây giáp xã Phú Lộc, phía Đông giáp xã Thanh Lộc Có thể đến với Trường Lộc bằng 2 con đường chính sau đây: từ thị trấn Nghèn theo tỉnh lộ 6 (khoảng 6 km) đến ngã ba Chợ Đình rồi rẽ phải theo tỉnh lộ 12 khoảng 6 km nữa

là đến trung tâm xã Trường Lộc Hoặc từ ngã ba Lạc Thiện (chỗ giao giữa quốc

lộ 8 với quốc lộ 15A) theo quốc lộ 15A đến ngã ba Quán Trại (khoảng 6 km) rẽ theo tỉnh lộ 12 khoảng 5 km là đến trung tâm xã Trường Lộc Xã Trường Lộc, bao gồm 5 xóm là: Đông Thạc, Phúc Trường, Phượng Sơn, Tân Tiến và Quỳnh Sơn Trước đây qua nhiều lần thay đổi tên gọi các xóm, làng cũng đổi thay, một

số tên như làng Vạc, làng Tràng (Kẻ Trằng), Kẻ Đò, Kẻ Bỉn,… chỉ còn lại trong

ký ức, rồi xóm Đình, xóm cầu Lối, làng Quan,… một số tên từ thời xưa như làng Trại thì vẫn còn cho đến ngày nay

Với vị trí địa lý thuận lợi nằm trên những trục đường giao thông quan trọng, lại có sông Phúc Giang chảy qua nên từ sớm Trường Lưu đã có điều kiện

Trang 16

Đặc trưng của địa hình Can Lộc nói chung là gần như hầu hết các xã đều

có núi hoặc đồi, có sông hoặc hói Chính vì vậy mà ở mỗi xã vừa có đất đồi, đất bồi tụ chân núi lại vừa có đất bồi tích ven sông Trường Lưu có địa hình dốc thoải, nghiêng dần từ Bắc - Nam, có đồi thoải tiếp đến là vùng đồng bằng phía Tây được chắn bởi sông Nhe Địa hình khá phức tạp: có thể chia thành 3 vùng: vùng núi, vùng bán sơn địa - vùng dân cư và vùng đồng bằng thấp trũng Do đó, nhìn chung, địa hình ở đây vừa có bậc thang vừa lòng máng, vừa ven đồi, vừa ven sông, hói Đồi núi trong xã gồm các địa danh: Bình Cương, Phượng Sơn, Quỳnh Sơn, Rú Đồn, Rú Cà, thuộc dãy Trà Sơn Ven theo đồi núi là những cánh đồng màu mỡ và các khu dân cư Nhìn một cách tổng thể, Trường Lưu giống như con phượng hoàng đang ấp trứng nên các nhà phong thủy xưa cho là nơi địa linh nhân kiệt Sự phức tạp của địa hình đã gây nhiều khó khăn, trở ngại cho nhân dân trong quá trình lao động, sản xuất và sinh hoạt Nhưng theo thời gian, cùng với sự đấu tranh để sinh tồn, sự sắp đặt của tự nhiên và quá trình cải tạo của con người đã góp phần tạo nên sự hài hòa kỳ diệu, sơn thủy hữu tình cho vùng đất này

- Đồi núi

Núi Cài, dân xung quanh quen gọi là Rú Cài gồm núi Cao (núi Nậy) và núi Thấp Núi Cài được nhắc đến trong các tư liệu xưa Chệm chễ giữa đồng bằng phía tây bắc của huyện Can Lộc, mạch đất núi Cài trải rộng trên địa bàn 5 xã: Thanh Lộc, Yên Lộc, Song Lộc, Kim Lộc và Trường Lộc Trường Lộc nằm

ở phía Tây Nam núi Từ ngọn núi Cài có một dải đồi sải dài khoảng chừng 2 km, dân trong vùng quen gọi là Rú Ngang, xuôi về sông Phúc Giang giống như đuôi

Trang 17

11

chim (cánh chim phượng) gọi là Rú Phượng hay Phượng Lĩnh Vùng đồi này trước đây có 2 con đường đi qua Thanh Lộc, một qua Eo Cao và một qua Eo Thấp, trước đây ở hai bên sườn núi dân làng Trường Lưu thường trồng lạc, củ đậu, sắn, khoai vạc, khoai từ và khá nhiều mía Đoạn cuối, núi rẽ hai nhánh, một

về làng Trại, một qua giữa làng và kết thúc ở Rú Mác, thường gọi là Mạc Sơn Ở phần giữa gò Phượng Lĩnh, dân thường hay gọi là Rú Đền, vì trên đó có Đền Rú thờ Nam Nhạc Đại Vương

Bùi Dương Lịch soạn sách Nghệ An ký vào thời gian ông làm Đốc học

Nghệ An, chép “Từ núi Bụt Sơn mọc lên núi Cài” Lưu Công Đạo biên soạn

Phong thổ chí huyện Can Lộc năm 1871 và Trần Mạnh Đàn viết Can Lộc huyện

phong thổ ký năm 1930 cũng chỉ ghi ở giữa vùng “4 xã” thời xưa và “thế núi này trông như hình con chim vươn cổ giang cánh, có nhiều chỗ núi thấp nhô quanh lượn như từng đôi chim phượng hoàng vờn múa” [19;8]

Rú Mác (Mạc Sơn), Bùi Dương Lịch ghi “Từ Trà Sơn chia làm 3 nhánh, nhánh đông làm núi Bụt Sơn, các núi Mạc Sơn, núi Trường Sơn, xã Lai Thạch”

Không rõ có phải núi Mạc Sơn hay không, dân làng thường gọi là Rú Mác, gần như cuối dãy nhánh Tây Nam của Rú Ngang - Rú Đền, Rú Phượng Núi Trường Sơn chưa rõ là núi nào, hồi xưa ở giữa xã Trường Lộc hiện nay, chỗ gần đình làng có núi gọi là núi Bình Chương, không rõ có phải là núi Trường Sơn mà Bùi Dương Lịch nói đến chăng?

Núi Quỳnh Côi, ở đây trước có nhà Thánh làng Nguyễn Xá, nay không rõ

vị trí của núi nữa vì dân làng đã làm nhà ở kín, phía Tây Bắc vẫn còn sườn núi

có nhiều đá dăm, trước đó là kho lương thực

Rú Cà nằm giữa vùng ranh giới xã Gia Hanh với Trường Lộc, phía Nam núi là phần đất của Trường Lộc, có lẽ trước đây dân làng hay lấy đất đá về cà chân, nên gọi là Rú Cà chăng? Trước đây có một cái miếu, có nhiều đồi cây nhỏ

Trang 18

Liền trong các năm 1956, 1998 và 2006, huyện Can Lộc đã huy động nhân dân các xã có sông chảy qua đào đoạn sông mới từ Cầu Đập làng Phúc Lộc, Song Lộc qua cầu Cây Khế lên Nhà Y (Trường Lộc) và dùng cơ giới mở rộng, đào sâu đoạn từ Cầu Ròi (Trường Lộc) xuống Cầu Nhe (Vĩnh Lộc)

Linh Giang (Lai Giang, Phúc Giang) là phụ lưu của sông Nghèn, xưa thuyền bè tấp nập ngày đêm, là tuyến vận tải thủy quan trọng của tổng Lai Thạch Dòng sông ấy có điểm riêng nhận nước sông Nghèn sau uốn lượn qua 3

xã Kim Lộc - Song Lộc - Trường Lộc, rồi đổ nước vào sông Nhe để hợp lưu với sông Nghèn ở ngã ba Hạ Vàng xã Vượng Lộc Con sông ấy vì vậy đã bao đời gắn bó máu thịt với người dân cả tổng Lai Thạch xưa

Từ năm 1789, Thám hoa Nguyễn Huy Oánh lấy tên dòng sông quê hương đặt tên cho trường học do ông sáng lập ở quê nhà vào những năm về hưu (1781 - 1789), được gọi là Phúc Giang thư viện

Ngày nay, Phúc Giang không còn là tuyến vận tải thủy nhưng nó là nơi cung cấp nguồn nước ngọt vô giá cho gần 1.000 ha lúa hai vụ của ba xã Song Lộc, Kim Lộc và Trường Lộc

Như vậy, địa hình Trường Lưu được tự nhiên kiến tạo có đủ cả đồng bằng, sông ngòi và đồi núi tạo nên cảnh quan thiên nhiên phong phú Người xưa

Trang 19

13

thường nói: “Nhất cận thuỷ, nhì cận sơn” thì làng Trường Lưu được cả hai mặt,

nằm tựa lưng vào núi Phượng Lĩnh, ngoảnh mặt ra phía sông Phúc Giang Mặc dầu hoạt động sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do nước sông Phúc Giang bị nhiễm mặn, nhiều diện tích đất đai là đất nhiễm mặn không sản xuất được, nhưng bù lại cảnh quan nơi đây lại có sự đan xen giữa núi, sông, làng mạc khiến cho ruộng đồng tươi mát, sơn thủy hữu tình

* Khí hậu

Nhận xét về khí hậu vùng Nghệ Tĩnh, sách Đại Nam nhất thống chí viết

“Tháng giêng gió đông, mưa nhiều, còn rét, tháng hai khí xuân ôn hòa, từ tháng

ba trở đi gió nam thổi mạnh… tháng tư trong tiết tiểu mãn, thường có mưa lụt; tháng 5, tháng 6 khí trời nóng nực ít mưa, tháng 8 tháng 9 thường có gió to, vùng biển gọi là bão… Mùa thu, mùa đông thường nhiều mưa lụt, có khi một tháng mấy lần… Đến tháng 11 tháng 12 thì gió tây bắc, mưa nhiều nắng ít, khí trời rét” [66;145]

Cũng như các xã khác trong huyện Can Lộc, Trường Lộc chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Bắc Trung Bộ và có thể chia làm hai mùa: mùa nóng và mùa lạnh:

Mùa nóng: điểm nổi bật của mùa này là nắng nóng gay gắt và có gió Tây

Nam (gió Lào) thổi mạnh vào ban ngày, ban đêm thường có gió Đông Nam (gió nồm) Đây là mùa thường có mưa, lụt và bão lớn, gây khó khăn cho sản xuất và nhiều khi gây thiệt hại lớn về tài sản cho nhân dân

Mùa lạnh: nét đặc trưng của mùa này là nhiệt độ thấp, có gió mùa Đông

Bắc và Tây Bắc thổi mạnh, mang theo nhiều hơi nước, gây mưa phùn và ẩm ướt Nhiều năm do nhiệt độ xuống thấp đã gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân

Mặc dù Can Lộc có hai dãy núi ở hai phía: Trà Sơn góp phần che chắn gió Tây Nam từ Lào thổi sang, Hồng Lĩnh che chắn gió Đông Bắc Tuy nhiên, các

Trang 20

14

dãy núi đó không thể loại trừ hết sự khắc nghiệt của những luồng gió ấy, do vậy

mà hàng năm Can Lộc vẫn phải chịu nạn khô nóng gây ra hạn hán của gió Lào

và nạn úng lụt trong mùa mưa bão Dân gian có câu “Lúa trổ lập hạ, buồn bã cả làng”, “Ba ngày nắng nam, mùa màng mất trắng” hay “Chưa mưa đã úng, chưa nắng đã hạn” là vì thế

Cũng như Nghệ Tĩnh nói chung, Trường Lưu - Can Lộc là vùng đất nằm trên dải đất miền Trung thiên nhiên không mấy ưu đãi Khí hậu khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi lại bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, đời sống nhân dân gặp nhiều khó

khăn,… nhưng nơi đây lại là mảnh đất “địa linh nhân kiệt” nổi tiếng với văn

chương, khoa bảng và truyền thống đánh giặc ngoại xâm Như vậy, sau lưng làng Trường Lưu là núi Phượng Lĩnh, trước mặt là sông Phúc Giang, địa thế sông núi hữu tình này đã dần sinh ra tính cách và con người nơi đây mà không phải nơi nào cũng có được Làng Trường Lưu có đầy đủ các yếu tố tự nhiên phong phú, núi, sông xen lẫn Làng hình thành theo thế dựa vào ven núi, triền sông, rằng:

La, Lai phong cảnh dồi dào,

Non xanh, nước biếc một màu thanh thanh

Riêng một cõi địa linh nhân kiệt,

Đất Tràng Lưu đủ phết phong tao

Trà Sơn văn mạch dẫn vào,

Phúc Giang nguyên đạo dồi dào lại sau

Rừng Sạc Nhạc càng cao càng tỏ,

Tán Bụt Sơn càng ngó càng tươi

Hồng Sơn cờ trướng chen mây,

Nga Khê bút trạm đặt bày phân minh

Cảnh là cảnh thiên thành địa thiết [48;67]

Trang 21

15

1.2 Quá trình hình thành và phát triển cộng đồng dân cư của làng Trường Lưu

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của làng Trường Lưu

Khi về vùng Lai Thạch xưa, nay là các xã Trường Lộc, Song Lộc, Phú Lộc hoặc rộng lớn hơn về xung quanh Rú Cài với các làng cũ: Nguyệt Ao, Mật Thiết, Kiệt Thạch, Yên Huy, Đông Tây, Vĩnh Gia,… ít ai biết được nguồn gốc tên các làng, thời gian xây dựng làng, kể cả qua các lời truyền hay giai thoại Trong quá trình nghiên cứu về làng trên địa bàn Nghệ Tĩnh, qua tư liệu khảo sát, nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh, Ninh Viết Giao, Võ Hồng Huy,… đã đi đến điểm chung khi dựng lại bức tranh về làng Trường Lưu, đó là:

“Vùng đất nằm lọt giữa các dãy núi chè (Trà Sơn), Rú Bụt (Bụt Sơn), Rú Cài (Nhạc Thốc Sơn) xưa là lòng chảo, mùa mưa nước ngập thành hồ Về sau

hồ bồi lấp, chỉ còn một con ngòi nhỏ chảy vào sông Nhe, có tên Phúc Giang Bên sông có mấy chòm dân cư thưa thớt Kẻ Vạc, Kẻ Trằng… đầu thế kỷ XV dời lên vùng đất cao trên dãy Phượng Lĩnh gọi là Trường Lưu… Xa xưa, Trường Lưu gồm các làng Kẻ Đò, Kẻ Vạc và làng Tràng Ba làng này nằm ven một con sông nho nhỏ, quanh co gọi là sông Phúc Giang Đến thời Lê Thánh Tông, Cụ Uyên Hậu thủy tổ họ Nguyễn Huy… đã về đây Nhận thấy ba làng Kẻ Đò, làng Vạc và làng Tràng ở đồng trũng, dân vất vả quanh năm, mà Phượng Lĩnh cách

đó không xa, độ dăm trăm mét, là nơi “địa linh tú khí” không những dễ làm ăn

mà còn cao ráo, bề thế, có cơ phát triển Có tầm nhìn xa, cụ Uyên Hậu đã đề xuất với dân ba làng chuyển về đây Và sau khi nhập với Kẻ Bỉn (thuộc làng Đông Tây) đặt tên là làng Trường Lưu Cái tên Trường Lưu có từ đó” [26, 44]

Qua các câu chuyện truyền ngôn và gia phả một số dòng họ trên địa bàn đều thấy: vùng này trước thế kỷ XV đã có dân sinh sống ở các làng như làng Tràng, Kẻ Đò, Kẻ Bỉn, làng Vạc, làng Trại,… giữa thế kỷ XV cụ Uyên Hậu là thủy tổ họ Nguyễn Huy đã về vùng này lấy vợ là bà Trần Thị Ý người làng Gia

Trang 22

16

Hanh Nguyễn Uyên Hậu nhận thấy làng Kẻ Đò, làng Vạc và làng Tràng ở đồng trũng, dân vất vả quanh năm, mà Phượng Lĩnh cách đó không xa, độ dăm trăm

mét, là nơi “địa linh tú khí” không những dễ làm ăn mà còn cao ráo, bề thế, có

cơ phát triển Có tầm nhìn xa, cụ Uyên Hậu đã đề xuất với dân ba làng chuyển

về đây lập làng và sau khi nhập với Kẻ Bỉn (thuộc làng Đông Tây) đặt tên là làng Tràng Lưu, tên làng Tràng Lưu có ý ghép hai chữ Tràng trong làng Tràng

và chữ Lưu trong tên Trần Lưu là quê hương của cụ Cái tên Tràng Lưu hay Trường Lưu có từ đó

“…Làng Quan đối với làng Đò,

Dựa vào làng Trại sau vô làng Tràng

Vẫn vui cảnh Phúc Giang ngày trước,

Ngọn triều dâng nước biếc bóng mây,

Chân đồi Phượng Lĩnh từ đây,

Tràng Lưu làng mới sum vầy hôm mai…” [44;161]

Lịch sử hơn 5 thế kỷ hình thành và phát triển của làng Trường Lưu luôn gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước, của vùng Nghệ Tĩnh và cả vùng xung quanh núi Cài

Vào khoảng từ giữa thế kỷ XV cho đến cuối thế kỷ XVII, làng Trường Lưu mới hình thành thuộc huyện La Sơn, phủ Đức Quang, chưa thịnh vượng và

có tiếng như các làng khác trong vùng Từ 1450 - 1550, là quãng thời gian Thuỷ

tổ họ Nguyễn Huy về lập nghiệp, dựng làng cùng với cư dân gốc và 2, 3 đời kế tiếp Các cụ không vào Yên Huy, cũng không vào Gia Hanh và cũng không ở Vĩnh Gia mà ở lại Trường Lưu Từ 1550 - 1650, trong giai đoạn này là cuộc chiến Lê - Mạc Từ năm 1526 nhà Mạc thay nhà Lê, giai đoạn đầu thế hệ thứ 4

họ Nguyễn Huy chỉ học ở quê, gia phả ghi về Nguyễn Thừa Tổ là “bản phủ hiệu sinh”, thế hệ thứ 5 Nguyễn Thừa Hưu cũng chỉ là học trò của trường phủ - bản phủ hiệu sinh và em là Nguyễn Thừa Sủng cũng “bản phủ hiệu sinh”, nhưng cụ

Trang 23

17

Thừa Hưu đã tham gia cuộc chiến Mạc - Lê Trịnh, với chức Tham tướng thần

sự Đời thứ 6, con trưởng của Nguyễn Thừa Hưu là Nguyễn Đôn Hậu kế tiếp cha làm Tham tướng thần sự, từ người con thứ 3 là Nguyễn Như Thạch sinh năm 1579, đã ở Kinh thành làm quan với chức Lang trung bộ hình, được phong tước là Mỹ lương tử Tương ứng với ba đời này là quảng thời gian 1530 - 1650, cuộc chiến Lê - Mạc, qua 3 thế hệ họ Nguyễn Huy, giai đoạn đầu, thế hệ thứ 4 ở quê, thế hệ thứ 5, 6 tham gia chiến tranh và thế hệ thứ 6 thì nhà Lê đã khôi phục kinh thành, chấn chỉnh thi cử Nguyễn Như Thạch là thông gia với Dương Trí Trạch (1586 - 1662), mà Dương Trí Trạch nhờ có công trong chiến trận được triều đình cho lấy con gái thứ 5 của Tể tướng Nguyễn Văn Giai Cuối thời này,

tổ họ Lê ở Quỳnh Côi mới từ làng Việt Yên vào đây, góp công xây dựng xóm Quỳnh Côi

Những năm cuối thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII, Trường Lưu đã khá phát triển, nhiều người thi đỗ Hương cống, làm quan ở triều Họ Nguyễn Xuân

có Nguyễn Xuân Mậu (1685 - 1736) đỗ khoa năm 1708 làm Tri huyện, sau khi mất được tặng Thiếu Khanh Họ Trần Huy có Trần Huy Báu, đỗ năm 1729 làm Tri huyện Hội Ninh Trước nữa có họ Hoàng, có người làm Tri huyện từng là thầy học của Nguyễn Công Ban, chưa tìm được lai lịch của vị Tri huyện này Hai vị Nguyễn Xuân Mậu và Trần Huy Báu, cùng một số người họ Nguyễn Huy đều tham gia Hội Văn huyện La Giang (theo Văn bia Hà Tĩnh) Đây là giai đoạn phát triển về địa giới nhất của làng Trường Lưu

Từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, Trường Lưu trở thành một làng quê có tiếng trong vùng, người dân nơi đây đã xây dựng xóm làng với hình ảnh đẹp cây

đa, giếng nước, sân đình… Làng có tiếng về sự chăm lo học hành cho con em trong làng Trường học Phúc Giang với cơ sở in ấn và các nhà giáo họ Nguyễn Huy đã thu hút nhiều học trò, danh nhân giao lưu Nguyễn Huy Tượng và Nguyễn Huy Vinh đều được mời ra tham gia quan trường, Nguyễn Huy Tá làm

Trang 24

18

quan với triều Nguyễn từ Đốc học tỉnh Bắc Ninh tới Phó Đốc học Quốc Tử Giám Nhân dân trong làng cùng với quá trình xây dựng, phát triển làng đã tích cực tham gia hoạt động chống Pháp, bảo vệ quê hương, đất nước như: tham gia phong trào Cần Vương, tham gia vào hoạt động Duy Tân Hội của Phan Bội Châu, cải cách của Phan Châu Trinh Cùng với sự chuyển biến trong con đường cứu nước theo khuynh hướng vô sản, nhiều con cháu của làng Trường Lưu đã tham gia cách mạng, đấu tranh giành độc lập, tự do với nhân dân cả nước

Không chỉ dừng lại trong quá trình xây dựng làng quê đẹp, bình yên, nhân dân Trường Lưu đã tích cực tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ Dân làng Trường Lưu cùng với Liên khu IV, làng vùng tự do, nhân dân Trường Lưu hăng hái tham gia kháng chiến vào các chiến trường Bình - Trị - Thiên và Tây bắc, đồng thời đẩy mạnh sản xuất, xây dựng địa phương Từ năm 1953 - 1954, tiến hành cải cách ruộng đất, làng Trường Lưu được tách thành xã Trường Lộc

Xã Trường Lộc bao gồm làng Trường Lưu, xóm Quỳnh Côi và xóm Giai của làng Nguyễn Xá trước đây và giữ nguyên địa giới từ thời gian đấy cho đến ngày nay

Năm 1989, chia lại địa giới và đổi tên các xóm thành: Đông Thạc, Phúc Trường, Phượng Sơn, Quỳnh Sơn và Tân Tiến Địa giới, tên xóm của xã Trường Lộc tồn tại cho đến ngày nay

Như vậy, vùng đất Trường Lưu không chỉ có chung một tên gọi thống nhất mà trải qua các thời kỳ lịch sử, cùng với quá trình chia tách, sáp nhập và thay đổi về tên gọi thì đến nay làng Trường Lưu, nay là xã Trường Lộc, là một trong 23 đơn vị hành chính thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

1.2.2 Dân cư

* Tình hình dân cư

Qua quá trình khảo sát và tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu gốc, chúng tôi hiện chưa thấy có tài liệu ghi chép cụ thể về dân cư của làng trong các thế kỷ

Trang 25

19

XV đến XIX Qua thống kê, trước cách mạng tháng 8 năm 1945, dân số Trường Lưu có khoảng 1.600 - 1.700 người So với các vùng đất khác của Can Lộc thì Trường Lưu là một trong những làng tập trung dân cư đông nhất Đến nay, dân

số có khoảng gần 3.000 người Thành phần dân cư ở Trường Lưu có nhiều nguồn gốc khác nhau, nhưng chủ yếu là do các dòng họ từ phía Bắc vào làm ăn sinh sống rồi định cư lâu dài ở đây Qua các tài liệu ghi chép, hai dòng họ lớn nhất, có số lượng con cháu đông đảo nhất làng là dòng họ Nguyễn Huy và họ Nguyễn Xuân đã góp phần cho sự đông đúc của làng

Ngày nay, ngoài dòng họ Nguyễn Huy và họ Nguyễn Xuân nhiều dòng

họ khác đã đến định cư trên đất Trường Lưu, sống thuận hòa với nhau

* Các dòng họ định cư ở làng Trường Lưu

Làng và dòng họ là những cộng đồng được tập hợp theo nguyên lý cùng huyết thống (dòng dõi), cùng địa bàn (nơi cư trú) Ở nước ta, mối quan hệ này rất đa dạng, có những làng đầu tiên là địa bàn cư trú của một họ, có những họ chỉ cư trú trọn vẹn trong một làng,… Nhưng phổ biến nhất là mô hình một làng nhiều họ và cùng một họ nhưng cư trú ở nhiều nơi, làng Trường Lưu thuộc trong

số đó Trong quan hệ này thì làng có thể được xem là yếu tố tĩnh, bị khuôn khổ

về địa giới, ít thay đổi, còn họ là yếu tố động, luôn có xu hướng phát triển về số lượng và mở rộng địa bàn cư trú Trong nhiều trường hợp, bóng dáng dòng họ bao trùm lên làng xã

Nghiên cứu về làng Trường Lưu, nay là xã Trường Lộc qua các tài liệu cổ

và nguồn tư liệu điền dã, chúng tôi được biết hiện tại ở Trường Lộc có hơn 40 dòng họ, trong đó có 30 dòng họ có từ trước năm 1945, hơn 10 dòng họ đến định cư sau năm 1945, một số họ đã có từ lâu, một số họ mới có mấy đời, sau đây chúng tôi giới thiệu một số bản gia phả của một số dòng họ sau để thấy rõ hơn về đời sống dân cư trên địa bàn:

+ Các bộ gia phả của các chi thuộc dòng họ Nguyễn Huy:

Trang 26

- Chi Nguyễn Công Chất bản dịch của Lê Hữu Nhiệm, có thêm 7 đạo sắc

về Nguyễn Huy Nhượng

- Chi Nguyễn Công Triều bản dịch của nhóm cán bộ phòng lưu trữ Viện Nghiên cứu Hán Nôm

- Chi Nguyễn Huy Khản, mới sưu tầm ngày 5 tháng Ba năm 2012 và được

Lê Hữu Nhiệm dịch, rõ hơn về các ngày giỗ, di hiệu của các vị ở chi này

- Một số trang thuộc chi Hầu Thiêm Nguyễn Huy Kiên, mới sưu tầm ngày

5 tháng Ba, năm 2012, qua bản dịch ta có được ngày sinh của Nguyễn Huy Tự là ngày 7 tháng Sáu năm 1743

- Đặc biệt qua bản gia phả chi Nguyễn Công Trân ở thôn Phúc Lộc, rõ thêm về: mẹ Nguyễn Thiếp, mẹ Phan Kính, cậu Phan Kính và năm sinh của vị tổ đời thứ 2 của họ Nguyễn Huy là Nguyễn Hàm Hằng, cụ sinh năm 1454 và năm

15 tuổi thi Hương, đỗ Hương giải năm 1468, năm 16 tuổi thi Hội (khoa năm

1469, chỉ đỗ Tam trường) là khá phù hợp với việc cả cụ và con trai của cụ đều là Quốc Tử Giám sinh thời Hồng Đức vua Lê Thánh Tông (1470 - 1497)

- Qua bộ gia phả họ Nguyễn ở làng Mật, cho thấy vai trò của bà Nguyễn Thị Chiêm thuộc đời thứ 8 họ Nguyễn Huy chi làng Nguyễn Xá là mẹ Nguyễn Hành (1700 - 1742) và là bà nội Nguyễn Thiếp

+ Các dòng họ khác ở Trường Lưu:

- Họ Nguyễn Xuân: Qua gia phả một chi họ Nguyễn Xuân, đời tổ thứ 6 họ Nguyễn Xuân là Nguyễn Xuân Mậu (1685 - 1736) cùng thời với Nguyễn Huy

Trang 27

21

Tựu thuộc đời thứ 9 họ Nguyễn Huy và qua một số so sánh, tổ họ Nguyễn Xuân

về sau họ tổ họ Nguyễn Huy 3 đời, quãng 1 thế kỷ

- Họ Trần Huy: Gia phả một chi họ Trần Huy, ghi chép lại gia phả của họ Trần Huy từ năm 1980, Hà Tĩnh 2004, 24 trang (tài liệu đánh máy), do ông Trần Quốc Sỹ cung cấp, ghi đến đời 18 - 19 Theo bản gia phả này, từ đời thứ nhất đến đời thứ 9 mỗi đời đều chỉ một hộ gia đình, từ đời thứ 10 mới phát triển thành 5 chi Đời thứ 3, ông Trần Minh Luân, ông trước thi đậu Hiệu sinh khoa Giáp Ngọ, triều Khánh Đức đời nhà Lê Thế hệ thứ 7, Trần Huy Báu, trước thi đậu Hiệu sinh (tú tài), sau thi đậu Hương giải triều Vĩnh Khánh, đời nhà Lê, làm tri huyện Hội Ninh Thế hệ thứ 3 họ Trần Huy cùng thời với thế hệ thứ 6 họ Nguyễn Huy và thế hệ thứ 7 cùng thời với thế hệ thứ 9 họ Nguyễn Huy Như vậy, họ Trần Huy về Trường Lưu sớm nhất cũng sau họ Nguyễn Huy 2 - 3 đời, quãng thời gian gần 1 thế kỷ

- Họ Nguyễn Thanh: Bản gia phả họ Nguyễn Thanh, 17 tờ A4, chép 2 mặt, trong đó lược qua lịch sử, chị em bà Chỉnh về Trường Lưu, thành dòng họ

ở Trường Lưu cùng sơ đồ lăng mộ Họ Nguyễn Thanh ở Trường Lưu ngày nay gần 30 gia đình là hậu duệ của Nguyễn Nhân Trực, là em trai của bà Nguyễn Thị Chỉnh, vợ thứ 4 của Nguyễn Huy Oánh, từ Thanh Hóa vào Ông Nguyễn Nhân Trực, theo chị chạy loạn rồi gặp Nguyễn Huy Oánh, về Trường Lưu ông được

ăn học và lấy vợ họ Phan sinh con trai nối nghiệp, sau ông về Thanh Hóa trông coi việc đắp đê và nhận lại tộc họ Ông ở lại Thanh Hóa, lấy vợ hai, nay con cháu thành một dòng họ ở Thanh Hóa

- Họ Lê Văn: Tổ họ Lê ở xóm Quỳnh Côi (trước thuộc làng Nguyễn Xá, nay cùng ở xã Trường Lộc) có cụ Lê Vĩnh Thiêm, đời thứ 6 của dòng họ Lê Công Trịch thời 1430 - 1480, theo quan Tổng thái giám Trần Quận Công vào xã Nguyệt Ao Theo thời gian, tương đương khoảng đời thứ 5, 6 họ Nguyễn Huy

Họ Lê Văn vào Trường Lưu quãng một thế kỷ sau họ Nguyễn Huy Thủy tổ họ

Trang 28

22

Lê là Lê Công Trịnh ở xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, đời thứ 6 là cụ Lê Vĩnh Thiêm, như trên đã ghi, vào miền này Cụ Thiêm chính là người đã viết chữ để khắc bia ở chùa Gia Hưng, nhân dịp trùng tu chùa năm 1588, lúc đó ông giữ chức Trung thư giám hoa văn học, chưa rõ hành trạng của ông Trong số hậu duệ của ông có ông Lê Lam, thường gọi là Cao Đội, hy sinh khi dẹp loạn ở Bắc Kỳ,

được truy tặng “Kiến công đô úy tinh inh cai độ”, có sắc phong năm Tự Đức

thứ 15 (1862)

- Họ Nguyễn Trọng: Bản gia phả họ Nguyễn Trọng, 11 tờ A4 chép 2 mặt, dịch từ bản chữ Hán Nôm, năm Thành Thái thứ nhất (1888), sao lục lại vào tháng 9 năm 1972, ghi chép đến đời thứ 11, lúc này có 26 đinh Họ có 2 người tham gia Văn hội, trong đó có ghi rõ ngày giỗ, sơ đồ mộ, tổng hợp mộ chí theo đời và các đời từ thứ nhất đến đời thứ 11

- Họ Trần Văn: Bản gia phả họ Trần Văn sao chép năm Quý Dậu 1993, gồm 11 tờ khổ A4, chép 2 mặt Tổ họ Trần Văn là Trần Văn Lân có gốc từ làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ, đến năm sao chép được 10 đời Đời thứ 2 có ông Trần Văn Tùng, làm tới chức Thiên hộ, có sắc phong đời Hậu Lê, năm Cảnh Hưng đời thứ 36 (1775)

- Họ Nguyễn Văn: Bản gia phả họ Nguyễn Văn do ông Nguyễn Văn Tôn thuộc đời thứ 5 viết để lại năm 1965, 7 tờ giấy A4, viết 2 mặt, ghi từ đời thứ nhất đến đời thứ 7, trong dòng họ này có Nguyễn Văn Thừa sinh năm 1936, nguyên Chủ tịch huyện Can Lộc, nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp Hà Tĩnh Không rõ vị tổ họ này về đây từ lúc nào, có gốc ở đâu

- Họ Trịnh Văn: Bản gia phả họ Trịnh do Trịnh Văn Thành soạn bằng chữ Hán được ông Trịnh Văn Khoán dịch ra quốc ngữ, qua nhiều lần bổ sung, lần cuối vào năm 2001 do anh Trịnh Khắc Hiền soạn, có 8 tờ và 3 bản đồ Họ Trịnh

có gốc từ Thanh Hóa, vị tổ vào Trường Lưu đầu tiên là Trịnh Đường, ông lấy bà Phan Thị Diện thuộc dòng Thám hoa Phan Kính, tước Phù lang hầu thời Nguyễn

Trang 29

- Họ Nguyễn: Bản gia phả họ Nguyễn Thủy tổ Nguyễn Chuông ghi chép đến đời thứ 9, gồm 11 tờ A4, chép tay 2 mặt, là bản sao từ chữ Hán do Nguyễn Trọng Uông hiệu đính năm Minh Mạng thứ mười tám (1837) Phần sau được con cháu viết tiếp theo dạng sơ đồ và ghi rõ vị trí các ngôi mộ của các vị tổ Ghi gốc tích từ Trần Lưu Quận

- Họ Nguyễn Xuân ở làng Nguyễn Xá: Bản gia phả họ Nguyễn Xuân ở Nguyễn Xá do ông Nguyễn Xuân Phú đời thứ 9 biên soạn, gồm 7 tờ A4, viết hai mặt và 2 tờ sơ đồ A3, có phần lấy từ gia phả chính chữ Hán và sơ đồ chi cụ Nguyễn Thế Nhân (đời thứ 5 dòng họ Nguyễn Xuân), tiếp đời thứ 6, 7, 8 nay con cháu đến đời thứ 10, 11

- Họ Võ Trí: Gia phả họ Võ được khởi thảo năm 1824 ghi rõ thủy tổ của

họ Võ là cụ Võ Cánh quê ở làng Đồng Ngũ, tổng Thanh Lâm, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương vào miền này chọn xóm Quỳnh Côi, thôn Nguyễn Xá, xã Nguyệt Ao, tổng Lai Thạch, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh lập nghiệp (nay là xóm Quỳnh Sơn)

- Họ Hồ Văn: Tập chép tay gia phả họ Hồ, có cả chữ Hán Nôm, ghi từ thủy tổ là Hồ Lượng quê ở huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An vào thi nhập hội Thư viện Phúc Giang từ năm 1748, Mậu Thìn Ở các tờ chép tay này có chi tiết

là cụ Lượng vào năm 1748, là năm đậu Thám hoa của Nguyễn Huy Oánh và khi

cụ Thám lập Hội thư viện, thì Hồ Lượng thi đỗ thứ 7, trùng hợp với văn tế ở đền

Trang 30

24

Thư viện, xếp theo thứ tự thì thứ 7 là Cai hợp Hồ Lượng Nay họ Hồ đã đến đời thứ 12, trước đây thường là một gia đình Đời thứ 10 có 2 người con trai, một ở lại Trường Lưu, còn một về quê cũ, huyện Đông Thành

1.3 Cơ cấu tổ chức của làng Trường Lưu

1.3.1 Vài nét về bộ máy quản lý làng xã truyền thống

Có thể nói rằng làng xã và quốc gia Việt Nam là hai đối tượng quan trọng nhất và được tổ chức chặt chẽ nhất đối với người Việt Chính vì thế mà người ta

thường nói làng với nước đi đôi với nhau GS Phan Đại Doãn cho rằng “làng là cộng đồng dân sự tự trị”, còn GS Bùi Xuân Đính nêu lên khái niệm Làng là

đơn vị tụ cư truyền thống của người nông dân Việt, có địa vực riêng, cơ sở hạ tầng cùng cơ cấu tổ chức riêng, lệ tục riêng… nhưng chặt chẽ và hoàn chỉnh nhất Xã là chỉ đơn vị hành chính cơ sở của Nhà nước phong kiến ở vùng nông thôn, không phải làng đồng nhất với xã Có thể mỗi xã là một làng nhưng cũng

có thể mỗi xã gồm nhiều làng hợp lại

Mỗi làng xã đều có tính độc lập riêng, có thể gọi là biệt lập Tính biệt lập

ở các làng mạnh đến nỗi mỗi làng có thể được coi như một quốc gia thu nhỏ với

một “luật pháp riêng” được gọi là hương ước, luật tục và một “triều đình riêng” với hội đồng kỳ mục là cơ quan lập pháp, lý dịch là cơ quan hành pháp

Sự can thiệp của nhà nước phong kiến và sau này của thực dân không làm ảnh

hưởng nhiều đến tổ chức của làng xã “Phép vua thua lệ làng” là một truyền

thống thể hiện mối quan hệ dân chủ đặc biệt của nhà nước phong kiến với làng

xã Việt Nam

Trải qua quá trình phát triển lâu dài, thiết chế chính trị của làng Trường Lưu ngày càng chặt chẽ hơn Các nguồn tài liệu cho biết cơ cấu tổ chức của làng Trường Lưu cũng giống với các làng khác ở huyện Can Lộc, bao gồm các thiết chế cơ bản sau:

Trang 31

25

- Hội đồng lý hương

Trong cải lương hương chính (sửa đổi việc làng), cơ chế “ngũ hương” đã

được thực hiện để giúp lý trưởng:

Hương bộ chuyên lo sổ đinh, sổ điền, sinh tử, giá thú Trước đó đã có các

chức tri bộ và dự khuyết tri bộ giúp lý trưởng làm việc này, nay bãi bỏ, thống thuộc vào hương bộ

Hương kiểm chuyên lo việc tuần phòng an ninh trật tự Trước đó có các

chức kiểm đốc, hương đoàn, nay bãi bỏ thống thuộc vào hương kiểm

Hương bản chuyên lo quản lý tiền quỹ, tài sản của xã

Hương mục chuyên lo đường sá, cầu cống và các công sở của nhà nước

đóng trên địa bàn làng (trông coi các tài sản công tư của làng xã), điều động lính tráng, phu đài

Hương dịch chuyên lo việc phục dịch, tế lễ, hội họp, cắt đặt và theo dõi

các công việc trong mỗi dịp tế lễ hay hội họp của làng

Ngũ hương cùng với lý trưởng, phó lý họp thành Hội đồng lý dịch do lý trưởng đứng đầu, quản lý hành chính mọi việc trong làng xã

Lý trưởng về nguyên tắc do quan trên bổ nhiệm, nhưng trên thực tế do nhân dân bầu ra Cụ thể, các tiên - thứ chỉ, bô lão, kỳ mục tiến hành họp bàn cử

ra lý trưởng, sau đó công khai để được sự tán thành của dân làng, sau đó mới tiến hành trình lên chính quyền cấp huyện để được công nhận và bổ nhiệm Lý trưởng có trách nhiệm truyền đạt nội dung các mệnh lệnh của vua và thực hiện chúng trong phạm vi làng mình như: thuế má, sưu dịch, binh dịch… Mặc dù vậy, lý trưởng vẫn phải tuân thủ các quyết định, quy định của Hội đồng kỳ mục hay Hội đồng tộc biểu đưa ra Các công việc của làng thì hầu như nhà nước không điều chỉnh mà do làng tự quyết định

Trang 32

là người có quyền thế nhất làng, có toàn quyền quyết định mọi việc lớn nhỏ trong làng

Dưới bộ phận tiên - thứ chỉ là ba bàn lão, gồm bàn nhất, bàn nhì và bàn

ba, mỗi bàn có bốn cụ Người già thuộc lớp quan viên thì uy tín, địa vị càng lớn Người già lớp bình dân cũng được kính nể nhưng thường không có quyền hành

Hội đồng kỳ dịch lãnh đạo cả hội đồng lý dịch và quản lý cả các phường, hội, phe, giáp ở làng Sau Cách mạng tháng Tám 1945, hệ thống chính quyền cách mạng ra đời thì Hội đồng kỳ mục hoàn toàn bị xoá bỏ

- Hội đồng tộc biểu

Năm 1921 người Pháp bãi bỏ Hội đồng kỳ dịch và thay thế vào đó là Hội đồng tộc biểu, còn gọi là Hội đồng hương chính Theo đó, cho phép dân đinh 18 tuổi trở lên đi bầu bỏ phiếu cho những đại biểu thành viên trong Hội đồng Ứng

cử viên tối thiểu phải 25 tuổi và sở hữu tài sản trong làng và mỗi làng được có tối đa 20 đại biểu đại diện cho những gia tộc trong làng

Đại biểu trong Hội đồng tộc biểu sẽ chọn một người làm chánh hương hội

và một người làm phó hương hội, thay thế cho tiên chỉ và thứ chỉ trước kia Đây thực chất là công việc để chính quyền thực dân can thiệp vào bộ máy tự quản

Trang 33

27

của làng, không phải vào bộ máy hành chính cấp xã Cho đến trước thời điểm

này, Hội đồng kỳ mục gồm các thành viên “đương nhiên” không phải bầu cử,

kể cả với hai chức danh Tiên chỉ và Thứ chỉ Nhưng đến đây, các tộc biểu được bầu lên theo số đinh nam của các dòng họ trong làng

Như vậy, ngoài là một cộng đồng về dân cư - lãnh thổ, về kinh tế và văn hóa, làng cũng đồng thời là một tổ chức có tính hành chính và tự quản Mỗi làng đều có một bộ máy quản lý có tính tự quản, với những thiết chế và luật lệ nhất định Đến thời phong kiến tập quyền, các chính quyền nhà nước trung ương ngày càng can thiệp vào bộ máy quản lý của làng, lấy làng, xã làm cấp cai trị về hành chính Tuy vậy, bên cạnh các chức vụ đứng đầu do làng, xã cử ra và được Nhà nước phong kiến quyết định, thì trong bộ máy quản lý làng, xã còn có các tiên, thứ chỉ, hội đồng bô lão (hay hội đồng kỳ hào, kỳ mục), các chức dịch, hương chức… Về thực chất, quyền hành cao nhất trong các làng, xã vẫn thuộc

về các tiên chỉ, thứ chỉ và hội đồng kỳ hào, kỳ mục Do đó, bộ máy quản lý làng,

xã vẫn cơ bản mang tính tự quản

Từ năm 1945 đến nay, cơ cấu tổ chức làng xã ở Trường Lưu đã có sự thay đổi Làng Trường Lưu gồm có Chi bộ Đảng, Ban Công tác mặt trận, Chi đoàn thanh niên, Hội Cựu Chiến binh, Hội Nông dân, Hội phụ nữ, Hội Khuyến học, Các Chi đoàn, Chi hội hoạt động ngày càng hiệu quả và có nhiều đóng góp trong việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

1.3.2 Các tổ chức xã hội trong làng

Trong cộng đồng dân cư - lãnh thổ của làng còn có những cộng đồng theo địa bàn cư trú hẹp hơn như thôn, xóm, ấp, trại… Những cộng đồng này gắn bó với nhau trên quan hệ láng giềng gần gũi, thân cận và thường cũng có những quy ước riêng về nơi cư trú, sinh sống của họ, bên cạnh những quy ước chung của làng Ngoài ra, trong các làng, xóm, ấp còn có các quan hệ cộng đồng theo huyết tộc hay tín ngưỡng, tôn giáo, phe giáp, phường hội… Tất cả các mối quan

Trang 34

28

hệ ấy đều đan xen, hòa quyện lẫn nhau, tạo ra sự gắn kết bền chặt trong các cộng đồng làng, xã nông thôn

Gia đình: là đơn vị giáo dục truyền thụ những kiến thức và kỹ năng nghề

nghiệp Đồng thời, gia đình còn là đơn vị đạo đức (gia phong, gia quy), đơn vị tín ngưỡng và là đơn vị kinh tế Nói cách khác, gia đình là sự thu hẹp của các mối quan hệ xã hội vừa có chức năng giáo dục con cái, nuôi dưỡng người già, vừa có chức năng tổ chức sản xuất

Dòng họ: nếu như làng quê chính là chiếc nôi văn hoá tích tụ và lưu giữ

những nét đẹp truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc thì vai trò của các họ tộc trong mỗi làng quê ấy là rất quan trọng, nó được ví như một câu ca đã

lưu truyền trong dân gian từ xưa đến nay “Con người có tổ có tông/Như cây có cội như sông có nguồn”

Ngoài các gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân, dòng họ có vị trí và vai trò quan trọng trong làng xã Việt, là chỗ dựa vật chất và chủ yếu là tinh thần cho gia đình, có tác dụng trong định canh và xây dựng làng mới, như là trung tâm của sự cộng cảm trong các gia đình đồng huyết,… Có làng gồm nhiều dòng họ, có làng chỉ một dòng họ và khi ấy làng xã và dòng họ đồng nhất với nhau

Làng Trường Lưu có hơn 40 dòng họ, theo gia phả các dòng họ và các cụ cao niên trong làng kể lại: 3 dòng họ Nguyễn Huy, họ Nguyễn Xuân, họ Trần Huy đến sớm nhất, hiện nay cũng là các dòng họ đông người và có truyền thống hiếu học, đỗ đạt cao Các dòng họ ở đây có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và có vai trò nhất định trong việc xây dựng bảo vệ làng xóm Ở Trường Lưu, mối liên kết họ tộc có nhiều cách khác nhau tùy vào tập quán địa phương, những quy thức của từng họ mà lâu đời trở thành nề nếp Mỗi dòng họ đều có nhà thờ tổ (Từ đường họ) Ngày giỗ, ngày tết hay rằm tháng giêng, tháng 7, tháng chạp, con cháu thập phương tìm đường về thắp hương, dâng lễ tạ ơn đến tiên tổ, trời đất Ðây cũng là dịp các chi xa, chi gần tìm về nhận họ hàng, phân định trên

Trang 35

29

dưới, anh em và còn là dịp để họ đương chi phải kiểm điểm lại những việc cháu con đã làm, những công tích đáng ghi Theo đó cuốn gia phả, tộc phả có dịp ghi thêm vào truyền thống của dòng họ mình đời này qua đời khác

Trong số các dòng họ định cư ở đất Trường Lưu thì dòng họ Nguyễn Huy

là dòng họ lớn nhất và có nhiều đóng góp nhất cho quê hương, đất nước qua các giai đoạn lịch sử từ khi hình thành cho đến tận ngày nay

1.3.3 Các đẳng cấp, ngôi thứ xã hội trong làng

Trong làng xã Việt Nam nói chung, vấn đề phân biệt ngôi thứ trên dưới và

sự đấu tranh giành ngôi thứ ngày càng rõ rệt, dần dần trở thành nét bao trùm trong đời sống làng xã Cũng như các làng xã khác ở huyện Can Lộc, dân cư

Trường Lưu được chia thành các đẳng cấp, ngôi thứ như sau:

Quan viên

Quan viên bao gồm các chức sắc, chức dịch và tư văn Trong đó, chức sắc

là các quan lại văn võ từ cửu phẩm, suất đội trở lên còn tại chức hoặc đã về hưu, những người có học vị (tiến sĩ, cử nhân, tú tài), những viên tử (con quan tam phẩm trở lên), ấm tử (con quan tứ phẩm, ngũ phẩm), tóm lại là những người có danh vọng và địa vị trong làng Chức dịch là chánh - phó tổng, chánh - phó lý,

bộ phận ngũ hương và cả những người bỏ tiền ra mua một hư chức Chức dịch còn bao gồm kỳ mục (hào mục) là tổng, lý, hương đương chức hay cao tuổi đã nghỉ việc nhưng vẫn còn uy tín Còn tư văn là những thí sinh, khóa sinh… những người có học đến một trình độ nhất định nhưng chưa có học vị gì

Dưới thời Pháp thuộc, các phán sự, ký sự, tư học… cũng có phẩm hàm Nam triều và được xếp vào hàng chức sắc; các chức vụ mới như chánh - phó tổng đoàn, bang tá… và các chức mua như tổng dụng, miễn giao, miễn sai… đều là chức dịch; các tổng sư, hương sư, những người đỗ tuyển sinh, yếu lược, tiểu học Pháp - Việt, cao đẳng tiểu học… cũng đều được coi là tư văn

Trang 36

30

Hạng quan viên chiếm số ít trong làng, là đẳng cấp được ưu đãi nhất trong làng xã và được miễn thuế, sưu dịch Tuy nhiên, để được làng xã coi là quan viên thì phải có lệ vọng đình, phải nộp tiền vọng theo lệ làng Hiện nay, nguồn tài liệu cổ về Trường Lưu không còn lưu giữ được quy định về lệ nạp vọng, nhưng qua nghiên cứu Hương ước của một số làng lân cận thì chúng tôi thấy làng xã có quy định rõ ràng về số tiền nạp vọng để được xếp vào hạng chức sắc, sinh đồ hay nhiêu phu… Ví dụ, Hương ước làng Phù Lưu Thượng (viết năm

1854) quy định: “Đình có lệ nạp vọng là để phân biệt các chức sắc nhân phẩm, phàm người văn do khoa trường, võ có sắc mệnh và những người đội ơn mệnh nước thọ từ 90 tuổi trở lên, là làm cho phong tục địa phương đẹp thêm; nếu trước chưa có hương sắc, theo lệ được nộp tiền vọng 6 quan; nếu đã có hương sắc được nộp tiền vọng 3 quan, thì đều được làm quan viên” [68;42]

Lão hạng

Lão hạng là lớp người già bao gồm những người từ 60 tuổi trở lên bất kể giàu nghèo, sang hèn Xưa kia, vì tuổi thọ trung bình còn thấp nên từ 50 hoặc 50 đến 59 tuổi cũng đã được xếp vào lớp người già, gọi là lão hạng, 60 tuổi trở lên gọi là lão nhiêu, trên 70 tuổi gọi là kỳ lão Trường Lưu cũng như hầu hết các làng xã khác ở Can Lộc đều có tục mừng lão được tổ chức vào ngày tết Làng

Trường Lưu quy định: “Tuổi 60 trở lên, tùy tuổi mà đứng thứ tự Mỗi người đều một mạch (60 tuổi một mạch, 70 tuổi hai mạch ) Ngày mừng thì đều đến chúc mừng ở đình để tỏ sự tiết kiệm” [68;103]

Dân đinh

Dân đinh là tất cả đàn ông không thuộc hai lớp trên (quan viên và lão hạng) Ngay trong tầng lớp dân đinh cũng có đẳng cấp, phân biệt rạch ròi hai loại dân nội tịch và dân ngoại tịch Bộ phận dân nội tịch chiếm số đông, là người quê gốc ở làng và được ghi tên vào sổ hương ẩm (hộ khẩu) chính thức, có đóng thuế thân, tuổi từ 18 đến 50 Ngoài ra, dân nội tịch còn phải chịu phu đài tạp

Trang 37

Ngày trước, trong đẳng cấp làng xã còn có hạng tí ấu Đó là tầng lớp nhi đồng, thiếu niên (trai) từ 6, 7 tuổi đến 16, 17 tuổi đã nộp tiền vọng, được ghi tên vào sổ hương ẩm thì cũng được dự vào việc phe giáp và phải đóng góp vào việc

tế tự như người lớn Còn tầng lớp phụ nữ thì không được tham gia vào việc làng

xã, kể cả phụ nữ trong gia đình nhà quan, nhà giàu

Trang 38

32

Tiểu kết chương 1

Trường Lưu là vùng đất có lịch sử lâu đời Với vị trí địa lý và cảnh quan

tự nhiên đặc biệt đã khiến cho cư dân sớm quần tụ làm ăn sinh sống tại khu vực này Đồng thời, điều kiện tự nhiên đó đã có sự ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh tế, xã hội cũng như sinh hoạt văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của cư dân bản địa Bên cạnh những mặt thuận lợi của tự nhiên giúp cho vùng có điều kiện phát triển nền kinh tế đa ngành, thì hiện tượng thiên tai khắc nghiệt đã khiến cho hàng năm vùng đất Trường Lưu đối diện với hiện tượng hạn hán, úng lụt bất thường gây khó khăn trong sản xuất và sinh hoạt

Vùng đất Trường Lưu cũng là nơi tập trung sớm của nhiều dòng họ như:

họ Nguyễn Huy, họ Nguyễn Xuân, họ Trần Huy,… trong đó nổi tiếng nhất là dòng họ Nguyễn Huy Từ giữa thế kỷ XV đến nay, trải qua bao thế hệ, các dòng

họ ở Trường Lưu đã có nhiều đóng góp to lớn cho quê hương, đất nước trên nhiều lĩnh vực văn hóa, xã hội cũng như đấu tranh bảo vệ nước nhà

Cơ cấu tổ chức làng xã cổ truyền ở làng Trường Lưu ngày càng hoàn thiện với bộ máy khá chặt chẽ, ổn định, khép kín, bền vững trên cơ sở liên kết nhiều hình thức tổ chức mà mỗi hình thức tổ chức đó có ảnh hưởng gần như đến từng thành viên Trong kết cấu đó, mỗi người dân sống gắn bó, quanh quẩn với biểu tượng làng của mình, gắn bó chặt chẽ với xóm giềng, họ tộc, gia đình và làng nước

Bên cạnh cơ cấu tổ chức làng xã cổ truyền, bộ máy hành chính hiện tại của làng đã cho thấy hoạt động gắn kết giữa người dân và các tổ chức chính quyền chặt chẽ, cùng với đó là sự đóng góp của lớp thanh niên trong quá trình xây dựng, phát triển làng Trường Lưu trong thời kỳ đổi mới

Trang 39

33

Chương 2 TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ DIỆN MẠO VĂN HÓA VẬT CHẤT

CỦA LÀNG TRƯỜNG LƯU

2.1 Tình hình kinh tế

Ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ trước đây, kết cấu kinh tế làng xã tương đối phổ biến là ba thành phần: nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Thậm chí trong từng gia đình ở các làng cũng có kết cấu kinh tế nông - công - thương Trong gia đình có người cày ruộng, có người làm thợ thủ công và

có người buôn bán nhỏ Trường Lưu không phải là một ngoại lệ, nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp là bộ ba trong kết cấu kinh tế có mối quan hệ gắn chặt với nhau

2.1.1 Nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành kinh tế đóng vai trò chủ đạo, là nguồn sống chính nuôi sống người nông dân và toàn bộ xã hội Đặc điểm nổi bật của nền nông nghiệp Việt Nam cây lúa nước là cây trồng chủ đạo Đây chính là nhân tố giúp con người định canh, định cư và phát triển bền vững, đó cũng là đặc trưng văn hóa in đậm trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Người dân Trường Lưu xưa kia sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp Tuy nhiên, do đặc điểm

là vùng có địa hình phức tạp, nên sản xuất nông nghiệp hiệu quả không cao, nền nông nghiệp thô sơ lạc hậu, tự cung, tự cấp, khép kín, mang tính độc canh Trên địa bàn tuy có chợ từ sớm nhưng tầng lớp tiểu thương quá ít ỏi nên chưa có những đột biến trong đời sống cũng như nền kinh tế chung của làng

Trong giai đoạn hiện nay, tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của làng Trường Lưu ngày càng phát triển và đồng đều; nền nông nghiệp từng bước khẳng định và xuất hiện nhiều mô hình, điển hình trên các lĩnh vực

Trang 40

“chìa khoá” để tìm hiểu toàn bộ lịch sử kinh tế - chính trị của xã hội phong

kiến Việt Nam bởi chế độ ruộng đất luôn là cái nền của xã hội phong kiến Vì vậy, để tìm hiểu thực trạng nền kinh tế của làng Trường Lưu, trực tiếp là kinh

tế nông nghiệp thì vấn đề ruộng đất và sở hữu ruộng đất là vấn đề không thể bỏ qua

Cũng như những địa phương khác, ruộng đất làng xã ở Can Lộc có hai hình thức sử hữu: ruộng đất công (ruộng đất của nhà nước và của làng xã) và ruộng đất tư Với bộ phận ruộng đất công do nhà nước trực tiếp quản lý (sơn lăng, tịch điền, quốc khố, đồn điền…) từ thời Lý - Trần đến thời Lê - Nguyễn đều không có ở Thiên Lộc - Can Lộc Riêng đời Lê chỉ thấy có một trường hợp Thượng trụ quốc Hồ quốc công theo vua đánh Chiêm Thành, nhân đào uốn thẳng sông Nghèn đã mở được 72 mẫu ruộng (có nơi chép là 75 mẫu) ở Đồng Mốt, được vua ban cho làm lộc điền Ông đã giao cho cháu ngoại họ Lê vào khai thác lập nên làng xóm gọi là làng Thượng Trụ Đồng Mốt là loại ruộng đất công của nhà nước duy nhất ở Can Lộc còn được ghi chép lại, về sau chuyển thành ruộng tư của họ Lê

Với bộ phận ruộng đất công làng xã thì ở làng nào cũng có Loại ruộng

đất này về danh nghĩa thuộc sở hữu nhà nước (thời Lý - Trần gọi là “Quan điền bản xã”, đời Lê gọi là “Xã dân công điền”) nhưng do làng xã quản lý, phân

phối, định cách sử dụng và định mức tô Các triều đại phong kiến đều cấm bán ruộng đất công mà chỉ cho thuê ngắn hạn hoặc quân cấp cho dân đinh (mượn ruộng) để ngăn chặn việc tư hữu hóa

Điều ước thôn Trường Lưu (năm 1923) quy định: “Các thửa ruộng công đều cấp cho toàn dân các ấp luân lưu canh tác, hàng năm thu hoa lợi nhập vào

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w