1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ năng lập trình cho học sinh trung học phổ thông

69 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Kỹ Năng Lập Trình Cho Học Sinh Trung Học Phổ Thông
Tác giả Nguyễn Thanh Vũ
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Lê Văn Minh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Công Nghệ Thông Tin
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

24 2.3.1 Phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ năng lập trình của học sinh trung học phổ thông .... Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu tổng hợp cơ sở lý luận về hình thành và phá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ của Thầy hướng dẫn và những người tôi đã cám ơn Các số liệu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Tác giả

Nguyễn Thanh Vũ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tác giả luận văn xin cám ơn quý Thầy, Cô giáo Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Đồng Tháp

Đặc biệt tác giả xin bày tỏ biết ơn chân thành và sâu sắc tới Thầy, Tiến sỹ Lê Văn Minh – người hướng dẫn khoa học, đã chu đáo tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả thực hiện đề tài này

Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới Tổ bộ môn Tin học – Thể dục – Quốc phòng An ninh và Ban Giám hiệu của Trường THPT Cà Mau đã động viên, tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Luận văn không thể trách khỏi thiếu sót, kính mong được sự chỉ dẫn

và góp ý

Tác giả Nguyễn Thanh Vũ

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC HÌNH 6

MỞ ĐẦU 7

1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 7

2 Mục tiêu nghiên cứu 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Giả thuyết khoa học 9

6 Kết cấu của luận văn (ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương) 9

Chương 1 9

TỔNG QUAN 9

(MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG) 9

1.1 Cơ sở lý luận (các khái niệm) 9

1.1.1 Khái niệm về chất lượng 9

1.1.2 Khái niệm về chất lượng giáo dục 10

1.1.3 Khái niệm chất lượng giảng dạy 13

1.1.4 Khái niệm về ngôn ngữ lập trình 16

1.1.5 Khái niệm về kỹ năng NNLT 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 18

Chương 2 19

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY KỸ NĂNG LẬP TRÌNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 19

2.1 Thực trạng việc dạy và học ngôn ngữ lập trình ở bậc trung học phổ thông hiện nay 19

2.1.1 Thực trạng của việc giảng dạy ngôn ngữ lập trình của giáo viên 19

2.1.2 Thực trạng của việc học ngôn ngữ lập trình của học sinh 20

2.2 Phân tích ưu nhược điểm của công tác giảng dạy và học tập ngôn ngữ lập trình ở trung học phổ thông 22

2.2.1 Ưu nhược điểm của công tác giảng dạy 22

2.2.2 Ưu nhược điểm của việc học tập ngôn ngữ lập trình ở trung học phổ thông 23

Trang 6

2.3 Một số giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập ngôn ngữ

lập trình ở trung học phổ thông 24

2.3.1 Phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ năng lập trình của học sinh trung học phổ thông 24

2.3.1.1 Sử dụng kỹ năng đặt tên để nâng cao kỹ năng lập trình cho học sinh THPT 26

2.3.1.2 Sử dụng kỹ năng giải quyết vấn đề để nâng cao kỹ năng lập trình cho học sinh THPT 27

2.3.1.3 Sử dụng kỹ năng hợp tác với mọi người để nâng cao kỹ năng lập trình cho học sinh THPT 29

2.3.1.4 Sử dụng kỹ năng tự học để nâng cao kỹ năng lập trình cho học sinh THPT 30

2.3.2 Phương pháp học để nâng cao kỹ năng lập trình cho học sinh trung học phổ thông 31

Chương 3 34

TRIỂN KHAI, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÀ MAU 34

3.1 Một số giáo án mẫu về tiết dạy thực nghiệm 34

3.1.1 Bài 2 Các thành phần của NNLT (sách giáo khoa tin 11) để nâng cao kỹ năng đặt tên cho học sinh trong lập trình 34

3.1.2 Bài 9 Cấu trúc rẽ nhánh (sách giáo khoa tin 11) để nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề cho học sinh trong lập trình 46

3.2 Số liệu thống kê thu được sau khi dạy thực nghiệm 60

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 60

3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 61

3.2.3 Nội dung thực nghiệm 61

3.2.4 Phương pháp thực nghiệm 61

3.2.5 Kết quả thực nghiệm thu được 63

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

B

Trang 8

Hình 3.1 Sơ đồ điểm trung bình của các lớp

Hình 3.2 Sơ đồ điểm trung bình của các lớp Đối chứng Hình 3.3 Sơ đồ điểm trung bình của các lớp Thực nghiệm Hình 3.4 Sơ đồ so sánh sự tiến bộ của các lớp

Trang 9

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY KỸ NĂNG LẬP TRÌNH

CHO HỌC SINH THPT

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong thời đại hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển với tốc độ rất nhanh Từ khi chiếc máy tính điện tử đầu tiên ra đời (02/1946) mở ra một kỉ nguyên phát triển rực rỡ của CNTT Những thành tựu to lớn của CNTT đang thâm nhập sâu rộng vào hầu hết các ngành kinh tế quốc dân, vào mọi lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, văn hóa, nghệ thuật, khoa học và đặc biệt là giáo dục Sự bùng nổ của khoa học công nghệ và của thông tin đòi hỏi nhà trường phải tạo nên những con người thông minh sáng tạo

Đại hội XII tiếp tục xác định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất đạo đức của người học: yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh [18]

Tin học là một ngành khoa học công cụ tri thức và kỹ năng Tin học được áp dụng rộng rãi, hỗ trợ đắc lực cho rất nhiều ngành khoa học khác nhau

và trong hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống Bởi vậy dạy Tin học cho học sinh không chỉ truyền thụ nội dung đơn giản theo khung chương trình, mà phải rèn luyện cho học sinh luôn tìm tòi, khám phá những cái mới, góp phần phát triển

Trang 10

tư duy nhận thức của học sinh, đặc biệt là khả năng vận dụng kiến thức Tin học vào thực tiễn

Hiện nay môn Tin học đã trở thành môn học bắt buộc trong nhà trường phổ thông Tuy nhiên, đa số trang thiết bị dạy học ở phòng máy của hầu hết các trường THPT và cơ sở đào tạo hiện chưa đáp ứng đủ được nhu cầu Do vậy việc giảng dạy nội dung thực hành của môn Tin học nói chung và thực hành kỹ năng lập trình nói riêng và công tác còn gặp nhiều khó khăn Mặt khác việc đổi mới phương pháp giảng dạy còn nhiều hạn chế do trình độ giáo viên cũng như khả năng học tập của học sinh chưa thật tốt do đa số học sinh lớp 11 THPT lần đầu tiếp xúc với NNLT nên còn non kém về kỹ năng lập trình

Qua đó thấy được thực trạng việc dạy và học Tin học ở trường THPT, mong muốn đóng góp một phần rất nhỏ về phương pháp dạy để nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường THPT Đó chính là lý do tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ năng lập trình cho học sinh THPT”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu tổ chức dạy học các bài lý thuyết và thực hành Tin học nhằm rèn luyện kỹ năng lập trình cho học sinh lớp 11 THPT

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh lớp 11 trường THPT Cà Mau

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Quá trình tổ chức dạy học các bài lý thuyết và thực hành Tin học 11 để rèn luyện kỹ năng lập trình

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng hợp cơ sở lý luận về hình thành và phát triển kỹ năng lập trình trong giảng dạy thực hành Tin học ở trường THPT

- Xác định cơ sở và hệ thống các kỹ năng lập trình cơ bản cần rèn luyện cho học sinh

- Nghiên cứu các phương pháp giảng dạy mới để rèn luyện và nâng cao

kỹ năng lập trình cho học sinh

- Thiết kế mẫu một số giáo án các bài Tin học 11

- Thực nghiệm sư phạm

5 Giả thuyết khoa học

Nếu tổ chức dạy học các bài thực hành Tin học theo hướng đổi mới bảo đảm các yêu cầu về sư phạm thì sẽ hình thành, rèn luyện và phát triển được kỹ năng lập trình cho học sinh, từ đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

6 Kết cấu của luận văn (ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương)

Chương 1 TỔNG QUAN (MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG) 1.1 Cơ sở lý luận (các khái niệm)

1.1.1 Khái niệm về chất lượng

Khái niệm "chất lượng" được Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa như sau: "Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó với các sự việc khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là liên kết các thuộc tính

Trang 12

lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không thể tách rời sự vật Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định

về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi một sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất của chất lượng và số lượng" [19, tr 419] Hiểu theo nghĩa thông dụng, chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản, khẳng định sự tồn tại của một sự vật và phân biệt nó với những sự vật khác Nói đến số lượng, là nói đến số lượng của một chất lượng nhất định

1.1.2 Khái niệm về chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục là một khái niệm động Những thay đổi lớn đang diễn ra trên thế giới: Sự toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế, sự gia tăng nhanh chóng của quy mô giáo dục, sự phân cấp trong hệ thống quản lý giáo dục, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã tác động thường xuyên đến quan niệm về chất lượng Từ chỗ được đo bằng tri thức đến chỗ đo bằng

cả tri thức, thái độ và kỹ năng; thái độ ở đây có thể hiểu là năng lực đối phó với tình huống, năng lực cảm thụ văn hoá và ửng xử trong cuộc sống Từ chỗ đánh giá cao sự tích luỹ tri thức của người học, do sự bùng nổ thông tin và tốc

độ phát triển theo số mũ của tri thức nhân loại mà người ta bắt đầu coi trọng khả năng thu thập, phân tích và tổng hợp thông tin để chuyển hoá thành tri thức

Trong Chiến lược Phát triển giáo dục 2011 – 2020, đã nêu ra 4 quan điểm chỉ đạo đối với chất lượng giáo dục gồm: Thứ nhất, phát triển giáo dục

phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn

dân Thứ hai, xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, tiên tiến, hiện

đại, XHCN, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền

Trang 13

tảng Thứ ba, đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn

hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, gắn với phát triển khoa học và

công nghệ Thứ tư, hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục trên cơ sở bảo tồn

và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ định hướng XHCN

Các "thành phần" chất lượng giáo dục dưới quan niệm của UNESCO :

Khi đề cập đến chất lượng giáo dục, thông thường người ta đề cập đến kết quả học tập của học sinh so với mục tiêu giáo dục đào tạo của mỗi cấp học Tại "Diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người" được tổ chức tại Dakar, Senegal, tháng 4 năm 2002, UNESCO đã nêu các "thành phần" cấu

thành chất lượng giáo dục như sau : (Nguyễn Dương Việt – Các yếu tố cấu

thành chất lượng giáo dục – Thông tin quản lý giáo dục – Trường CBQLGD&ĐT – Số 5(27)/2003):

a Học sinh khoẻ mạnh, được nuôi dưỡng đầy đủ, có động cơ học tập đúng đắn

Đối tượng tác động và cũng là đối tượng hưởng thụ giáo dục (kết quả cuối cùng của quá trình giáo dục) là học sinh Người học – học sinh sẽ không học tập tốt nếu không đủ thể lực Học sinh cũng không thể học tập tốt nếu không có động cơ học tập phù hợp với mục tiêu giáo dục Chính bởi nguyên

lý "lấy người học làm trung tâm", nên khi xác định các yếu tố cấu thành chất lượng, trước hết phải xuất phát từ người học – từ học sinh

b Giáo viên có động cơ tốt, được động viên và có năng lực chuyên môn cao

Trong quá trình dạy học, giáo dục, người thầy là yếu tố quyết định của chất lượng giáo dục Về năng lực sư phạm, có thể nêu một số nội dung sau :

- Sự hiểu biết về nội dung môn học;

Trang 14

- Hiểu biết về việc đánh giá học sinh;

- Hiểu biết về các nguồn của chương trình (giúp học sinh có các nguồn tài liệu học tập);

- Am hiểu và đánh giá cao sự cộng tác (với học sinh và với đồng nghiệp);

- Khả năng phân tích và phản ánh trong thực tiễn dạy học

e Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học thích hợp, dễ tiếp cận (sử dụng)

và gần gũi môi trường

g Môi trường giáo dục, học tập lành mạnh, an toàn, được "bảo vệ" tốt Môi trường phải có các yếu tố :

- Có nước sạch dùng cho học sinh;

- Dễ tiếp cận các dịch vụ sức khoẻ và dinh dưỡng;

- Có nguyên tắc và chuẩn mực hành vi đạo đức;

Trang 15

- Nội dung dạy học và thực hành phải cung cấp đủ tri thức, thái độ, hệ thống giá trị và kỹ năng sống phù hợp

h Có sự đánh giá thích hợp về môi trường giáo dục, về các quá trình dạy học, giáo dục, về kết quả học tập và khả năng ứng dụng kết quả đó trong thực tiễn

i Quản lý, chỉ đạo theo nguyên tắc tham gia

k Tôn trọng và tham gia vào các hoạt động của cộng đồng cũng như duy trì và phát triển bản sắc văn hoá địa phương

l Các chương trình và thiết chế giáo dục phải có đủ nguồn lực thích hợp

và công bằng – bình đẳng

Không một loại hình giáo dục nào có thể đạt được chất lượng nếu không

đủ nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực) Một nền giáo dục không thể được xem là có chất lượng nếu việc đầu tư không dựa trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng

Như vậy, UNESCO đã đưa ra 10 thành phần của chất lượng giáo dục Trong 10 thành phần trên Để đánh giá chất lượng giáo dục, người ta cũng lấy

10 thành phần này làm các tiêu chí đánh giá

1.1.3 Khái niệm chất lượng giảng dạy

Chất lượng dạy học nói chung, giảng dạy Bộ môn nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, thật sự về bản chất các môn học đều được khái quát từ thực tiễn cuộc sống, từ thực tế khách quan, do đó các môn học đều gắn với thực tiễn Chính vì thế chất lượng giảng dạy các môn phụ thuộc vào các yếu tố sau:

Thứ nhất, người giảng

Giáo viên là yếu tố quan trọng nhất cho chất lượng giảng dạy bởi vì giáo viên đóng vai t ò là người hướng dẫn, dẫn dắt người học tiếp cận các tri thức, kiến thức theo mục đích của chương trình học Do đó giáo viên phải trang bị chuẩn về chuyên môn Giáo viên không chỉ nắm vững nội dung một bài học

Trang 16

mà mình truyền đạt mà phải nắm được kiến thức của cả chương trình môn học, phần học, có như vậy giáo viên mới liên kết, hệ thống hoá kiến thức cần thiết giúp người học dễ nắm bắt những nội dung chính của bài học, môn học, phần học Khi giáo viên chuẩn về kiến thức chuyên môn tạo sự tự tin trong quá trình truyền thụ, tránh được sự phụ thuộc vào giáo án, chủ động dẫn dắt người học tiếp cận kiến thức theo mục đích của mình

Ngoài việc trang bị kiến thức chuyên môn, giáo viên cần phải có kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức thực tiễn Giàu kiến thức thực tiễn giúp giáo viên làm sinh động bài giảng, gắn kết giữa nội dung bài giảng với thực tiễn thông qua những minh hoạ, ví dụ từ thực tiễn; từ đó người học dễ tiếp thu bài,

dễ nhớ bài và điều quan trọng là người học thấy nội dung bài giảng gắn liền với cuộc sống chứ không phải xa rời, khó hiểu

Một yêu cầu không thể thiếu, đó là giáo viên c ần phải có kỹ năng sư phạm Kỹ năng sư phạm là một yếu tố góp phần quan trọng cho giờ giảng thành công hay thất bại Kỹ năng sư phạm giúp giáo viên có phương pháp truyền thụ tốt, linh hoạt trong việc phối hợp các phương pháp, phương tiện giảng dạy, nắm bắt được tâm tư người học một cách nhanh chóng từ đó thu hút được người học một cách có hiệu quả Trong giảng dạy có nhiều phương pháp truyền thụ kiến thức, phần lớn giáo viên thường sử dụng phương pháp thuyết trình, vì phương pháp này có nhiều ưu điểm, người dạy chủ động quá trình giảng dạy cả về tri thức và thời gian Tuy nhiên, phương pháp này cũng

dễ dẫn tới sự tiếp thu thụ động, buồn chán cho người học Do đó, trong quá trình giảng dạy, đ òi hỏi phải có sự lựa chọn, phối hợp sử dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với từng nội dung kiến thức, từng đặc điểm của lớp học

Trang 17

Kiến thức chuyên môn vững kết hợp với kỹ năng sư phạm giúp giáo viên chủ động trong quá trình truyền tải và nắm bắt thông tin từ người học từ đó có

sự điều chỉnh hợp lý việc phối hợp các phương pháp giảng dạy

Phong cách giáo viên cũng giữ vai trò quan trọng, từ phong thái, tác phong, tư cách, tâm tư, tình cảm của người thầy mà người học thích học hay không thích học, bị lôi cuốn hay không bị lôi cuốn vào môn học Khi người giảng nhiệt huyết, “thổi hồn” được môn học sẽ thu hút được người học Do

đó, người thầy bao giờ cũng phải chuẩn về phong cách, từ giọng nói, điệu bộ, tâm trạng, xúc cảm,…

Thứ hai, người học

Dạy học là quá trình tác động biện chứng giữa người dạy và người học, người học là đối tượng tiếp nhận thông tin mà người dạy hướng đến, do đó, người học có tác động đến chất lượng hoạt động của người dạy

Trong quan niệm mới về giáo dục, người học là trung tâm của quá trình giảng dạy, người học tiếp nhận kiến thức không phải một cách thụ động mà là chủ thể của quá trình nhận thức, chủ động trong việc tiếp nhận thông tin Do

đó, chất lượng giảng dạy phải được xét đến việc tỷ lệ tri thức mà người học tiếp nhận được

Mặt khác, sự tham gia các hoạt động của người học trong quá trình tiếp nhận tri thức có ảnh hưởng đến tâm tư người dạy, tạo sự hưng phấn, khơi sự nhiệt huyết của người dạy hay không?

Thứ ba, cơ sở vật chất, phương tiện dạy học

Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học có tác động nhất định đến quá trình dạy học Cơ sở vật chất tốt tạo môi trường thoải mái cho cả người dạy

và người học, do đó, khi mở lớp cần chú ý đến khâu cơ sở vật chất có đảm bảo cho quá trình dạy và học không? Phương tiện dạy học tốt, đặc biệt là phương tiện hiện đại giúp giáo viên tăng thêm sự hấp dẫn của bài học, lôi

Trang 18

cuốn học viên qua những hình ảnh, phim minh hoạ hoặc những sơ đồ hoá kiến thức nội dung bài giảng giúp học viên dễ nhớ bài, nhớ lâu hơn Tuy nhiên, việc sử dụng các phương tiện hiện đại cũng có nhược điểm khi giáo viên sử dụng nó để thay thế từ hình thức ghi bảng sang hình thức trình chiếu hoặc khi người sử dụng chưa biết phát huy hết công dụng của các phương tiện hiện đại

Tóm lại, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy Tuy nhiên, tối thiểu cần chú ý đến các yếu tố người dạy, người học, cơ sở vật chất

và phương tiện dạy học

1.1.4 Khái niệm về ngôn ngữ lập trình

Ngày nay, những máy tính hiện đại có tốc độ xử lý nhanh đáng kinh ngạc, nhưng máy tính vốn chỉ có thể hiểu được một cách giới hạn các câu lệnh, chúng ta cần phải nói với máy tính chính xác những gì chúng ta muốn

nó làm

Một chương trình máy tính (hay còn được gọi là phần mềm hoặc ứng dụng) là một tập hợp các câu lệnh, chúng nói cho máy tính biết phải làm những gì, và các thiết bị trên máy tính thực thi các câu lệnh được gọi là phần cứng Những tập hợp các câu lệnh được thiết kế để ra lệnh cho máy tính được gọi là Ngôn ngữ lập trình

Ngôn ngữ lập trình được chia là 2 loại:

Ngôn ngữ bậc thấp (Mã máy): Một CPU của máy tính không đủ khả

năng để hiểu được ngôn ngữ lập trình Pascal Chỉ một tập hợp rất hạn chế các chỉ thị mà máy tính hiển nhiên hiểu được, chúng được gọi là mã máy (ngôn ngữ máy hay tập chỉ thị) Hay nói cách khác, ngôn ngữ lập trình bậc thấp cung cấp cho máy tính các chỉ thị rõ ràng, không có tính trừu tượng giúp máy tính có thể hiểu được ngay lập tức

Trang 19

Chúng ta chỉ quan tâm đến 2 điều:

Một chỉ thị được hợp thành bởi một số các con số ở dạng nhị phân, nó chỉ có thể là 0 hoặc 1 Những con số dạng nhị phân này thường được gọi là những bit (là đơn vị lưu trữ nhỏ nhất trong máy tính)

Mỗi tập hợp các số nhị phân được dịch bởi CPU thành các chỉ thị bảo máy tính làm một công việc cụ thể Ví dụ: so sánh 2 số, lưu một giá trị vào một vùng nhớ máy tính Mỗi CPU có một tập các chỉ thị khác nhau Lập trình viên là những người tạo ra mã máy, nó rất khó và tốn thời gian để làm một thứ gì đó

Ngôn ngữ lập trình bậc cao: Ngôn ngữ lập trình bậc cao được thiết kế

để lập trình viên viết chương trình mà không cần bận tâm vào loại chương trình máy tính đang chạy trên nó, có thể thấy ngôn ngữ lập trình bậc cao khá gần gũi với ngôn ngữ tự nhiên Vì thế ngôn ngữ lập trình bậc cao phải được dịch ngược về mã máy để CPU có thể hiểu được chúng

Và thứ giúp thực hiện quá trình biên dịch mã máy này gọi

là Compiler (trình biên dịch)

Một Interpreter (trình thông dịch) là một chương trình chuyển đổi trực

tiếp ngôn ngữ lập trình bậc cao về mã máy không thông qua quá trình biên dịch Sử dụng Interpreter hướng đến sự linh hoạt, nhưng không hiệu quả khi chạy chương trình, vì quá trình thông dịch diễn ra liên tục khi chương trình đang chạy

Thông thường, một chương trình Pascal/C cần được biên dịch mới chạy được trên phần cứng máy tính Một số ngôn ngữ lập trình khác có thể sử dụng đồng cả hai phương pháp (thông dịch hoặc biên dịch) để chạy chương trình như Java

1.1.5 Khái niệm về kỹ năng NNLT

Trang 20

Kỹ năng theo nghĩa hẹp là những thao tác, những cách thức thực hành, vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện một hoạt động nào đó trong một môi trường quen thuộc, kỹ năng hiểu theo nghĩa rộng bao hàm những kiến thức, hiểu biết và trải nghiệm,…giúp cá nhân có thể thích ứng khi hoàn cảnh thay đổi

Kiến thức, kỹ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực trong một lĩnh vực hoạt động nào đó

Từ đó có thể nêu khái niệm: kỹ năng ngôn ngữ lập trình khả năng tư duy trình tự (procedural), biết cách phân tích giải quyết vấn đề của bài toán, phát hiện kiểu hình (pattern), đánh giá các phương án giải quyết và sáng tạo ra được các sản phẩm của mình [2]

1.2 Cơ sở thực tiễn

Khi giảng dạy Pascal học sinh thường khó hiểu, tiếp thu chậm nên việc viết được một chương trình chạy được trên máy tính đối với các em rất khó khăn

Ngôn ngữ lập trình Pascal đòi hỏi sự tư duy của người học rất cao mà trong chương trình Tin học 11 các em đã phải học, tuy nhiên ở độ tuổi này mức độ tư duy của các em còn hạn chế và không đồng đều trong một lớp học Giao diện chương trình không thân thiện, dễ gây sự nhàm chán cho học sinh

Tóm lại, ngoài các nguyên nhân khách quan, quan trọng nhất vẫn là nguyên nhân chủ quan từ phía học sinh đó là khó tạo sự yêu thích, đam mê từ môn học này mà không đam mê thì rất khó học Pascal một cách tốt nhất, dễ dẫn đến tình trạng học cho qua ngày, học đối phó

Tiểu kết chương 1

Sau khi tìm hiểu các cơ sở lý luận và thực tiễn rút ra được một số kết luận như sau:

Trang 21

Để hoàn thành nhiệm vụ dạy học phổ thông, nhất thiết chúng ta phải rèn luyện các kỹ năng về lập trình cho học sinh đó là;

Kỹ năng biết vận dụng tri thức Tin học vào hoạt động lập trình

Kỹ năng biết vận dụng tri thức Tin học giải các bài toán thực tiễn

Nhờ đó mà học sinh có điều kiện phát triển những năng lực trí tuệ chung, rèn luyện các thao tác và phẩm chất tư duy

Chương 2 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY KỸ NĂNG LẬP TRÌNH

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Thực trạng việc dạy và học ngôn ngữ lập trình ở bậc trung học phổ thông hiện nay

2.1.1 Thực trạng của việc giảng dạy ngôn ngữ lập trình của giáo viên

Tin học là một trong những môn học khó giảng dạy nhất và đòi hỏi giáo viên phải không ngừng nâng cao trình độ Đặc biệt Tin học 11 là môn học mới nên chưa có nhiều kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn, trình độ ngoại ngữ của giáo viên hiện nay…cũng là rào cản trong việc nâng cao trình độ Tin học giáo viên hiện nay

Theo các chuyên gia và giáo viên dạy tin học, các phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin thay đổi liên tục và từng trường học không thể đầu tư mua riêng lẻ hoặc chạy theo một mình Vì thế, Bộ GD&ĐT hoặc Sở GD&ĐT từng địa phương phải làm đầu mối cập nhật thông tin và cung ứng phần mềm tiện ích cho trường học Hơn nữa, cần bồi dưỡng, tập huấn thường xuyên cho đội ngũ này để họ cập nhật kiến thức, phiên bản mới về công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng giảng dạy Một chuyên gia của Microsotf nói rằng, nếu đầu tư máy móc thiết bị hiện đại nhưng thiếu người có năng lực biết điều khiển, khai thác nó thì không mang lại hiệu quả Bởi lẽ, dù đã đào tạo nhiều

Trang 22

giáo viên tin học nhưng những cử nhân giỏi nghề, có trình độ tiếng Anh lại quay lưng với nghề giáo vì thu nhập thấp

Trong khi đó, trình độ của học sinh không đồng đều giữa các trường trong tỉnh, học sinh ở thành phố và các huyện có điều kiện tiếp xúc với khoa học công nghệ phát triển sẽ có cơ hội tiếp cận với tin học nhanh hơn Không chỉ vậy, trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị và các yếu tố khác kèm theo ở nhà trường cũng rất khác nhau, gây khó khăn không nhỏ cho giáo viên trong việc giảng dạy Tin học

Một vấn đề đặt ra nữa là tin học không giống các bộ môn khác, luôn đòi hỏi đổi mới, cập nhật và sự mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo Vì thế, không thể biên soạn chương trình cố định mà nên biên soạn theo modun như tin học căn bản, Windows, soạn thảo văn bản, ngôn ngữ lập trình, modun Internet… và khuyến khích học sinh học theo hướng mở, học suốt đời để nâng cao trình độ, kiến thức, ứng dụng mềm dẻo vào thực tiễn công việc, đời sống

Để có thể thay đổi về hiện trạng hiện nay trường có những đề xuất với Tỉnh như: Phải đầu tư cơ sở hạ tầng bài bản, nâng cao trình độ giáo viên với nền tảng công nghệ thông tin thích ứng với việc dạy học theo hướng tích cực Trước mắt cần điều chỉnh chương trình giảng dạy môn tin học, cung cấp tài liệu, phần mềm mới hiện đại, phù hợp với thực tế và đòi hỏi ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học

2.1.2 Thực trạng của việc học ngôn ngữ lập trình của học sinh

Trong khi công nghệ thông tin thay đổi từng giờ và các chương trình, phiên bản ứng dụng mới trên thế giới liên tục ra mắt thì học sinh phổ thông ở nước ta lại phải học ngôn ngữ lập trình không còn sử dụng rộng rãi Sao cứ bắt học trò phải học những thứ lỗi thời, thậm chí đã gần như bị khai tử như thế? Đó cũng là câu hỏi canh cánh trong lòng nhiều giáo viên và học sinh hiện nay

Trang 23

Thực trạng dạy và học môn tin học ở trường phổ thông trong cả nước đã được mổ xẻ, lên tiếng từ nhiều năm qua như biên soạn chương trình, tài liệu học tin học của Bộ GD&ĐT lại chậm hơn gần thập kỷ Cụ thể, từ năm 2014 Microsoft đã “khai tử” hệ điều hành Windows Xp cùng bộ Word Office 2003

và giới thiệu nhiều bộ điều hành mới với nhiều tính năng hiện đại, thì chương trình dạy tin học ở bậc học phổ thông vẫn bắt học sinh học chương trình đó Theo chia sẻ của thầy cô giáo, do vẫn duy trì lối mòn “thi gì học nấy” nên các trường học vẫn phải “bám sát” chương trình mà Bộ GD&ĐT quy định Thực ra, học sinh rất thích môn tin học nhưng bị ép học ngôn ngữ lập trình quá cũ, quá lạc điệu so với thực tế đã khiến các em mất hứng, học cho có, học chỉ để đi thi Tương tự, nhiều học sinh bậc THPT ở các trường cũng than trời khi phải học ngôn ngữ lập trình lỗi thời, ít còn ai còn sử dụng như Pascal Khảo sát thực tế, chúng tôi nghe nhiều học sinh lớp 11 ở các trường THPT thắc mắc: “Chúng em không thể hiểu nổi tại sao phải học chương trình tin học mà ít ứng dụng vào thực tiễn như ngôn ngữ lập trình Pascal?”

Trang 24

2.2 Phân tích ưu nhược điểm của công tác giảng dạy và học tập ngôn ngữ lập trình ở trung học phổ thông

2.2.1 Ưu nhược điểm của công tác giảng dạy

Lập trình là môn học hướng dẫn học sinh cách giải các bài toán bằng cách viết chương trình trên máy tính Đây là môn học mới đối với học sinh nên phần đông các em không nắm bắt được kiến thức để vận dụng vào giải bài tập

Về chương trình dạy lập trình Pascal ở trường phổ thông Ngôn ngữ lập trình đang giảng dạy trong các nhà trường phổ thông như Pascal đang gây khó khăn cho các học sinh mới bắt đầu tìm hiểu học lập trình Pascal được chọn

sử dụng để dạy ngôn ngữ lập trình cho học sinh phổ thông vì 30 năm trước nó không có đối thủ về mặt diễn tả thuật toán một cách trong sáng Tuy nhiên, hơn 10 năm nay, Pascal mất ưu thế về mọi mặt và có một số nhược điểm so với một số ngôn ngữ khác như:

Giao diện chương trình không thân thiện, dễ gây sự nhàm chán cho học sinh

Về mặt cú pháp nó chỉ dễ đọc đối với những học sinh các nước nói tiếng Anh

Không có tính thực tiễn, nên không gây hứng thú cho học sinh, tạo sự yêu thích và kỹ năng lập trình cho học sinh

Về chương trình Pascal hiện tại của học sinh lớp 11: Áp dụng công thức toán học quá nhiều Học sinh phải có kiến thức tốt về toán học thì mới giải được các bài tập trong sách giáo khoa

Đa phần các bài tập liên quan đến tính toán hoặc thuần về toán học, không gắn liền với thực tiễn Ngôn ngữ lập trình Pascal đòi hỏi sự tư duy rất cao, tuy nhiên mức độ tư duy của các em còn hạn chế và không đồng đều trong một lớp học Không kích thích tư duy sáng tạo của học sinh Học sinh

Trang 25

chỉ cố gắng hoàn thành một cách bị động các bài tập giáo viên cho Từ đó học sinh sẽ dễ chán và chỉ học để đối phó với môn học này

Học sinh chưa hiểu được lập trình để làm gì ngoài việc tính toán với các con số Học sinh sẽ tự hỏi lập trình Pascal có ứng dụng như thế nào trong thực

tế Học sinh sẽ rất khó hình dung được các ứng dụng mà lập trình có thể làm được trong thực tế nếu chỉ căn cứ vào lý thuyết thuần túy do giáo viên truyền đạt

Học sinh khó kiểm tra bài làm của mình sau khi lập trình là đúng hay là sai Có thể trên lý thuyết là đúng nhưng thực tế có thể sẽ có những trường hợp thiếu chính xác, thường sẽ có một khoảng sai số nhất định nào đó

2.2.2 Ưu nhược điểm của việc học tập ngôn ngữ lập trình ở trung học phổ thông

Theo thói quen của nhiều em học sinh, học môn tin là học những thao tác sử dụng như cách sử dụng Internet, sử dụng hệ điều hành Window, chương trình soạn thảo văn bản MS Word, chương trình soạn thảo trình diễn

MS PowerPoint … Đây là những phần học không cần đòi hỏi tư duy, mà chỉ cần học kĩ và nhớ thao tác, thực hành nhiều lần thì sẽ thành thạo

Nhưng khi học bộ môn lập trình Passal lớp 11 THPT thì hầu như các em

bị “choáng” vì bộ môn rất “mới”, và cách học cũng “mới” Học những thao tác và thực hành nhiều không còn tác dụng, học thuộc bài cũng không còn ổn nữa Lúc này các em cần phải học cách tư duy logic, tìm thuật toán, và viết những dòng lệnh máy tính chính xác đến từng dấu chấm, dấu phẩy

Với tâm lí thông thường các em học sinh coi tin học là môn phụ không quan trọng nên nhiều em chủ quan không dành đủ thời gian để học nên không hiểu bài và dần bị mất căn bản Đây cũng là lí do mà nhiều em bị điểm kém, thậm chí là thi lại, học lại bộ môn tin học mặc dù có thể các em học rất giỏi các môn học khác

Trang 26

Qua một thời gian giảng dạy ở trường, tôi nhận thấy khi học Pascal học sinh thường không thích thú với môn học này vì nhiều lý do như khó hiểu, tiếp thu chậm, đòi hỏi tư duy nhiều, … nên việc viết được một chương trình chạy được trên máy tính đối với các em rất khó khăn

2.3 Một số giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập ngôn ngữ lập trình ở trung học phổ thông

2.3.1 Phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy kỹ năng lập trình của học sinh trung học phổ thông

Giải pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ lập trình là giúp các em tạo được sự yêu thích bộ môn, từ đó học sinh sẽ học hiệu quả hơn môn lập trình Pascal và có thể thực hiện bằng: Phương pháp truyền đạt, hệ thống bài tập và hình thành các kỹ năng lập trình…

Phương pháp truyền đạt: Khi truyền đạt, giảng dạy Pascal trên lớp do đặc thù môn học này đòi hỏi mức độ tư duy nhất định ở học sinh, các em khó

tư duy nên giáo viên khi truyền đạt kiến thức mới cũng như khi tìm thuật toán, cần đưa ra các vấn đề liên quan đến cuộc sống giúp các em dễ hình dung được vấn đề cũng như công việc các em phải giải quyết

Ví dụ: Khi giảng bài câu lệnh lặp, để học sinh phân biệt được thế nào là lệnh lặp với số lần lặp biết trước, thế nào là lệnh lặp với số lần lặp không biết trước, giáo viên có thể ví dụ như sau: “Thầy thể dục yêu cầu các em chạy vòng quanh sân trường 5 vòng đó là số lần lặp biết trước, còn nếu thầy yêu cầu các em chạy vòng quanh sân trường đến khi nào mệt thì nghỉ thì thầy sẽ không biết trước học sinh sẽ chạy bao nhiêu lần” Và khi đó giáo viên sẽ yêu cầu học sinh đưa thêm nhiều ví dụ về công việc hằng ngày của các em mà có lặp đi lặp lại rồi yêu cầu các em phân tích đó là công việc, hoạt động có biết trước số lần lặp không” Thời gian đầu giáo viên đưa ra các ví dụ gắn liền với thực tế, để các em tìm cách giải quyết tốt nhất vấn đề đó trong cuộc sống cũng

Trang 27

vừa là giúp các em biết cách xử lý các tình huống có thể gặp trong cuộc sống sau này Không gì thú vị bằng trong giờ học tự mình ra đề bài sau đó tự mình giải được bài tập đó

Do đó, ngoài những bài tập do giáo viên đưa ra, nên lồng vào các tiết thực hành, làm bài tập, cho các em tự ra đề rồi giải, một khi các em có thể tự

ra đề là các em đã hiểu rất rõ về câu lệnh đã học và cũng đã nắm được hướng giải quyết bài toán đó nên khi giải sẽ rất nhanh và được giáo viên khích lệ kịp thời sẽ khiến các em rất phấn chấn, mong muốn giải ra được nhiều bài tập hơn nữa

Hệ thống bài tập: Vấn đề quan trọng và quyết định đến việc tạo hứng thú cho học sinh là hệ thống bài tập Hệ thống bài tập cần gần gũi, phù hợp kiến thức, nội dung phong phú đa dạng, ngôn từ tạo sự yêu thích và kỹ năng lập trình cho học sinh dễ hiểu,… Bài tập hay sẽ giúp các em hiểu rõ bài học hơn, biết áp dụng các kiến thức đã học để giải bài tập, từ đó nâng dần mức độ tư duy ở học sinh

Hệ thống bài tập bao gồm các dạng bài tập từ dễ đến khó, từ cơ bản đến nâng cao phù hợp với từng đối tượng học sinh Với tất cả các bài tập, hướng dẫn các em đọc thật kĩ đề bài, xác định đúng bài toán, tìm thuật toán, sau đó giáo viên có thể phân tích, trình bày thêm, sửa những thiếu sót, hướng dẫn một cách tường minh, mạch lạc, để từ đó học sinh hiểu, hình thành các bước giải và hoàn thành bài toán trong thời gian nhanh nhất Cho các em tự viết chương trình theo thuật toán đã đưa ra, sau khi viết chương trình xong cho các

em thử với nhiều bộ test khác nhau, như vậy các em sẽ hiểu rõ hoạt động của chương trình hơn

Ngoài ra, còn một ý nữa đó là mỗi khi dịch chương trình mà còn có lỗi đừng hỏi thầy, cô ngay mà hãy tự tìm hiểu xem đó là lỗi gì và thử khắc phục, sau một vài lần như vậy các em sẽ không thấy sợ các dòng đỏ báo lỗi nữa

Trang 28

Hình thành kỹ năng lập trình: Điều cốt yếu khiến học sinh trở thành một học sinh lập trình giỏi lập trình trong lớp chính là lòng đam mê Lòng đam mê khiến chúng ta luôn tìm tòi học hỏi, vì vậy mà chúng ta mới có được kiến thức sâu về lập trình và trở thành chuyên gia lập trình Lòng đam mê cũng sẽ giúp chúng ta khám phá ra được cách sử dụng thành thạo máy tính Học lập trình thì điều cốt yếu là học:

Lập thuật toán để giải quyết vấn đề (nhập dữ liệu; xử lý dữ liệu; Kết xuất

dữ liệu - kết quả, Lưu trữ dữ liệu)

Sử dụng ngôn ngữ lập trình để viết lệnh cho máy tính thực thi

Kiểm tra kết quả

Bởi vậy ngoài thời gian học trên lớp, nghe giảng lý thuyết về thuật toán,

kỹ thuật lập trình để hình thành kỹ năng lập trình thì học sinh phải nắm rõ bốn kỹ năng sau: Kỹ năng đặt tên, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác với mọi người, kỹ năng tự học

2.3.1.1 Sử dụng kỹ năng đặt tên để nâng cao kỹ năng lập trình cho học sinh THPT

“Khi mọi người hỏi tôi rằng công việc mà tôi làm hàng ngày là gì, tôi thường nói nghề của tôi là “đọc những thứ do người khác đặt tên và đặt tên cho một số thứ.” Vâng, thực ra không một ai hỏi tôi câu hỏi đó và tôi cũng không thực sự trả lời theo cách này, nhưng tôi chắc là mình có thể làm như vậy” Đó là những câu nói chuyện của một lập trình viên chuyên nghiệp về kỹ năng đặt tên khi lập trình Như vậy, khi chúng ta lập trình đặt biệt là những

em học sinh phải nắm được và hiểu rõ về kỹ năng đặt tên khi lập trình

Mỗi lần chúng ta lập trình nghĩa là mình đang đặt tên cho một số thứ Khi bạn đọc chương trình của chính mình hoặc của một ai khác viết ra, thì bạn đang cố gắng hiểu đoạn chương trình đó thông qua tên của các thứ trong

nó Như vậy có thể đoán chính xác trình độ của một học sinh bằng cách xem

Trang 29

qua cách các em đó đặt tên các phương thức, biến và các hằng trong chương trình

Một học sinh mà thiếu hụt khả năng đưa ra những tên tốt tới những khái niệm và dữ liệu trong chương trình thì giống như một nhà phiên dịch mà bị câm vậy

Cách tốt nhất để nâng cao kỹ năng này là các em luôn luôn thực hành nó như là thường đổi tên một số thứ trong chương trình ngay khi mình vừa đọc

và hiểu nó Ngay khi các học sinh bắt đầu hiểu được phương thức đó thực thi điều gì, thì các em sẽ thay đổi tên của nó cho phù hợp với điều các em hiểu Các học sinh sẽ làm điều này cả trong khi các em đang đọc chương trình, thậm chí việc này không tạo ra một thay đổi logic nào trong đó Học sinh càng tập trung nhiều vào việc đưa ra những cái tên thích hợp cho các thứ, thì các em ngày càng trở nên tốt hơn Điều này cũng là thứ dễ nhận thấy nhất về đoạn chương trình của mình

2.3.1.2 Sử dụng kỹ năng giải quyết vấn đề để nâng cao kỹ năng lập trình cho học sinh THPT

Giải quyết vấn đề là một kỹ năng vô cùng quan trọng đối với các học sinh học lập trình ở bậc THPT và khi học lập trình thì thực ra 100% là để giải quyết các vấn đề của các bài toán đặt ra Không quan trọng là học sinh đang

sử dụng NNLT nào và công nghệ nào, nếu các em không giải quyết được vấn

đề thì không phải là một học sinh lập trình giỏi

Hầu hết các học sinh ở bậc THPT hiện nay khi học lập trình trong bộ môn Tin hoc 11 đều rất yếu trong kỹ năng giải quyết vấn đề Học sinh thường than phiền là chương trình học mới và khó quá Các em có thể nghĩ về một người thợ mộc làm ví dụ: “Nếu muốn trở thành một người thợ mộc thành công, thì bạn nên giỏi trong việc cắt gỗ Bạn cũng phải có khả năng thực hiện được tất cả các dạng cắt và sử dụng nhiều công cụ khác nhau Không quan

Trang 30

trọng là bạn có bao nhiêu năm kinh nghiệm trong nghề thợ mộc hay bạn có khả năng thiết kế đồ mỹ nghệ tốt đến đâu, nếu mỗi lần bạn thử cắt gỗ mà bạn phải khó nhọc lắm mới hoàn thành được nhát cắt đó thì bạn không phải là một người thợ mộc giỏi”

Cắt gỗ là một kỹ năng cơ bản của nghề thợ mộc, cũng giống như giải quyết vấn đề là kỹ năng cơ bản của người học lập trình Để giải quyết được vấn đề các học sinh cần nắm rõ các lời khuyên sau đây:

Hiểu rõ nguồn gốc vấn đề: Một bài toán bất kỳ dù lớn hay nhỏ nhưng

để tìm được phương pháp giải quyết bài toán khoa học thì việc trước hết là phải hiểu rõ được nguồn gốc của bài toán đó

Phân tích vấn đề: Sau khi đã tìm hiểu rõ yêu cầu của bài toán, việc tiếp

theo các học sinh hãy bắt tay vào phân tích bài toán đó Phân tích vấn đề của bài toán giúp bạn hiểu rõ hơn về bản chất của bài toán

Tư duy thuật toán là cách suy nghĩ để nhận thức, để giải quyết vấn đề

3/ Mô tả chính xác quá trình tiến hành một hoạt động

4/ Khái quát hóa một hoạt động trên những đối tượng riêng lẻ thành một hoạt động trên một lớp đối tượng

5/ So sánh những thuật toán khác nhau cùng thực hiện một công việc và phát triển thuật toán tối ưu

Trang 31

Khả năng đầu thể hiện khả năng thực hiện thuật toán, bốn khả năng sau

thể hiện khả năng xây dựng thuật toán, đặc biệt khả năng thứ hai thể hiện con

mắt phát hiện thuật toán

Thực hiện: Mọi thứ đã được chuẩn bị hoàn tất, bây giờ nhiệm vụ của

bạn là bắt tay vào thực hiện hay đúng hơn là bắt đầu tiến hành giải quyết vấn

đề

Đánh giá lại kết quả vấn đề: Đánh giá lại kết quả vấn đề là việc bạn

tổng kết lại toàn bộ quá trình giải quyết của bạn từ khâu xác định nguồn gốc cho đến khi vấn đề được giải quyết xong

Qua các lời khuyên trên nếu học sinh hiểu rõ và thực hiện được thì kỹ năng giải quyết vấn đề trong khi lập trình được cải thiện

2.3.1.3 Sử dụng kỹ năng hợp tác với mọi người để nâng cao kỹ năng lập trình cho học sinh THPT

Kỹ năng hợp tác với mọi người cũng được xem là kỹ năng quan trọng với những học sinh học lập trình Đây cũng là một kỹ năng cần thiết sau này khi các sinh viên đã tốt nghiệp và đi làm của nhiều lĩnh vực khác nhau Một trong các phương pháp cần rèn luyện các học sinh trong kỹ năng này là “lập trình cặp”

Lập trình cặp là hai học sinh cùng thực hành trên một máy tính khi đó có thể giúp học sinh nghỉ tốt hơn và thông minh hơn Khi học sinh lập trình cặp thì một người gõ chương trình (hay còn gọi là người lái), người kia làm hoa tiêu có nhiệm vụ là ngẫm nghĩ chương trình, các lỗi trong chương trình và kết quả của chương trình Việc chia ra hai việc như vậy giúp cho học sinh là người lái tập trung vào từng dòng mã chuẩn cú pháp mà không phải lo về tổng chương trình, và giúp cho học sinh là hoa tiêu có thời gian cân nhắc về kết quả của chương trình mà không bị phân tâm Cùng nhau hoàn thành công việc với chất lượng cao hơn và nhanh hơn khi từng học sinh làm việc riêng lẻ

Trang 32

2.3.1.4 Sử dụng kỹ năng tự học để nâng cao kỹ năng lập trình cho học sinh THPT

Có thể nói rằng không có một kỹ năng nào trong cuộc sống lại quan

trong bằng kỹ năng tự học (là học cách để học) Kỹ năng này đặc biệt quan

trọng đối với học sinh bậc THPT và bộ môn Tin học

Có một kỹ năng mà sẽ giúp học sinh luôn thuận lợi trong khi học lập trình là hãy học cách làm thế nào để dạy chính mình

Chỉ có một cách duy nhất để phát triển kỹ năng này là hãy thực hành nó

Tự học hiểu theo đúng bản chất là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (sử dụng các phương tiện) cùng các phẩm chất, cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê… để nắm vững các kỹ năng khi học lập trình, biến nó thành sở hữu của mình

Tự học là một xu thế tất yếu, bởi vì quá trình giáo dục thực chất là quá trình biến người học từ khách thể giáo dục thành chủ thể giáo dục (tự giáo dục) Tự học giúp nâng cao kết quả học tập của học sinh (HS) và chất lượng giáo dục của nhà trường, là biểu hiện cụ thể của việc đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông

Để phát triển kỹ năng tự học, Học sinh cần làm các việc sau:

Thứ nhất, Học sinh phải yêu thích môn học, có niềm say mê môn học Thứ hai, Học sinh cần xây dựng kế hoạch học tập từ ban đầu Ngay từ

tiết học đầu tiên của môn học

Thứ ba, Học sinh tìm và đọc sách hoặc tài liệu liên quan đến môn học,

kiến thức môn học không chỉ gói gọn trong nội dung SGK, trong bài giảng của GV mà đến từ nhiều nguồn khác nhau

Trang 33

Thứ tư, Học sinh ghi chép và nghe giảng vì đây là những kỹ năng học

tập vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập của học sinh

2.3.2 Phương pháp học để nâng cao kỹ năng lập trình cho học sinh trung học phổ thông

Do đó để học tốt đòi hỏi học sinh phải có hứng thú Để khắc phục điều này thì học sinh phải khắc phục được các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Học sinh chúng ta vừa đọc xong đề bài là kêu khó, không chịu tìm hiểu xem đề bài yêu cầu gì Những vấn đề này các em đã được học việc xác định bài toán ở lớp 10 rồi

Trường hợp 2: Hầu như các em học sinh khi thực hành lập trình đều đùn đẩy cho nhau vì sợ mình sẽ không biết gõ gì vào máy tính

Trường hợp 3: Khi thực hành các em chỉ gõ cho xong nội dung của bài thực hành chứ không thực sự tìm hiểu xem tại sao lại có câu lệnh đó, tại sao phải dùng cấu trúc điều khiển này mà không dùng cấu trúc điều khiển kia, tới câu lệnh này thì kết quả sẽ như thế nào, Chính vì vậy mà các em không hiểu bài và không thể tự sửa lỗi nếu gõ sai

Trường hợp 4: Học sinh thường rất lười không chịu học bài

Ngoài việc học sinh khắc phục được bốn nhược điểm trên thì học sinh còn rèn luyện thật tốt bốn kỹ năng lập trình để trở thành một học sinh lập trình giỏi

Trang 34

Tiểu kết chương 2

Hiện nay, bộ môn Tin học ở cấp THPT là môn “siêu phụ” Giáo viên Tin học chỉ được coi là giáo viên loại 2 Gọi là “siêu phụ” vì theo kiểu “so sánh” hay có ở Việt Nam, “Tin học” còn “phụ” hơn cả Sinh – Sử – Địa Những môn trên còn có thi tốt nghiệp, thi Đại học Còn Tin học không được thi tốt nghiệp, không được thi Đại học (kể cả vào các khoa CNTT)

Chính vì thế, nên ở cấp 3, việc dạy và học Tin học đa phần bị buông lỏng, giáo viên muốn dạy như thế nào cũng được (đừng cho điểm quá thấp là được) Về mặt căn bản, học sinh không học đủ, không làm được những bài tập lập trình rất cơ bản Giáo viên Tin học có thể phải kiêm nhiệm thêm hàng núi các công việc “vô danh” khác và ít có điều kiện trau dồi chuyên môn Chính vì bị coi là môn phụ, tuyệt đại bộ phận phụ huynh đều ngăn cản con học Tin học sớm

Tin học, Công Nghệ Thông Tin là lĩnh vực rất rộng Ở đây tôi quan niệm việc sử dụng máy tính hay những chương trình ứng dụng như Word, Excel chỉ

là kỹ năng mà bất kỳ ai trong xã hội hiện đại cũng đều phải biết Dạy tin học

là dạy kỹ năng lập trình và tư duy thuật toán

Gần như mọi khía cạnh của nền kinh tế, mọi hoạt động khoa học ngày nay đều có sự hiện diện của Tin học Chính vì thế, có được một tư duy tốt về thuật toán và kỹ năng lập trình sẽ giúp ích rất lớn cho học sinh

So với nhiều ngành Khoa học khác, Tin học (trong đó là học lập trình ở THPT) rèn dũa cho học sinh tư duy thuật toán và tính thực tế Ở mức độ đơn

giản, học sinh phải có được kỹ năng giải quyết vấn đề: từ một tập hợp đầu

vào, cần phải xử lý như thế nào để có được một kết quả thỏa mãn Ở mức cao

hơn, học sinh phải rèn luyện kỹ năng sáng tạo ra vấn đề, rồi tìm cách giải quyết nó Ngoài ra, Tin học sẽ giúp học sinh có được sản phẩm thông qua quá

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư số 12/2011/TT- BGDĐT ngày 28/03/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành điều lệ trường THCS, Trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 12/2011/TT- BGDĐT ngày 28/03/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành điều lệ trường THCS, Trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học
[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh
[3]. Bùi thế Tâm, Võ Văn Tiến Dũng, Giáo trình Tin học đại cương, NXB Giao Thông Vận Tải, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tin học đại cương
Nhà XB: NXB Giao Thông Vận Tải
[4]. Đinh Xuân Lâm, Lý thuyết và bài tập Pascal nâng cao, NXB Thống Kê, Hồ Chí Minh, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và bài tập Pascal nâng cao
Nhà XB: NXB Thống Kê
[5]. Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN – Đại học Vinh, Chuyên đề bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông về nghiệp vụ sư phạm và năng lực sử dụng thiết bị, NXB Đại Học Quốc Gia, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông về nghiệp vụ sư phạm và năng lực sử dụng thiết bị
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia
[6]. Hồ Sĩ Đàm, Sách bài tập Tin học 11, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách bài tập Tin học 11
Nhà XB: NXB Giáo Dục
[7]. Hồ Sĩ Đàm, Sách giáo khoa Tin học 10,11, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tin học 10,11
Nhà XB: NXB Giáo Dục
[8]. Hồ Sĩ Đàm, Sách giáo viên Tin học 10,11, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Tin học 10,11
Nhà XB: NXB Giáo Dục
[9]. Hoàng Kiếm, Giải một bài toán trên máy tính như thế nào? (tập 1), NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải một bài toán trên máy tính như thế nào? (tập 1)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
[10]. Hoàng Phê, Từ điển tiếng việt, NXB Hồng Đức, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng việt
Nhà XB: NXB Hồng Đức
[11]. Lê Khắc Thành, Tập bài giảng về phương pháp dạy học Tin học, Đại học sƣ phạm, Hà Nội I, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng về phương pháp dạy học Tin học
[12]. Lê Thủy Thạch, Thiết kế bài giảng Tin học 11, NXB Đại Học Quốc Gia, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Tin học 11
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia
[13]. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, NXB Đại Học Quốc Gia , Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia
[14]. Nguyễn Bá Kim, Phương pháp giảng dạy đại cương môn Tin học, NXB Đại Học Sƣ Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy đại cương môn Tin học
Nhà XB: NXB Đại Học Sƣ Phạm
[15]. Nguyễn Kỳ, Phương pháp giáo dục tích cực, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giáo dục tích cực
Nhà XB: NXB Giáo Dục
[16]. Nguyễn Quang Uẩn, Giáo trình Tâm lí học đại cương, NXB ĐHSP, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lí học đại cương
Nhà XB: NXB ĐHSP
[17]. Nguyễn Tô Thành, Lập trình nâng cao trên Ngôn ngữ Pascal, NXB Đại Học Quốc Gia, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập trình nâng cao trên Ngôn ngữ Pascal
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia
[18]. Nguyễn Viết Thông, Những điểm mới nổi bật trong văn kiện Đại hội XII của Đảng, Trang Báo điện tử NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới nổi bật trong văn kiện Đại hội XII của Đảng
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc Gia
[19]. Quách Tuấn Ngọc, Ngôn ngữ lập trình Pascal, NXB Thống Kê, Hồ Chí Minh, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ lập trình Pascal
Nhà XB: NXB Thống Kê
[20]. Quách Tuấn Ngọc, Bài tập Ngôn ngữ lập trình Pascal, NXB Thống Kê, Hồ Chí Minh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Ngôn ngữ lập trình Pascal
Nhà XB: NXB Thống Kê

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w