1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ và câu trong tuyển tập truyện ngắn kỳ nhân làng ngọc của trần thanh cảnh

101 15 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 881,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, nhà văn Trần Thanh Cảnh đã khắc họa cuộc đời của những con người làng Ngọc qua đó tái hiện phần nào một giai đoạn lịch sử của đất nước

Trang 1

LÊ THỊ NGỌC

TỪ NGỮ VÀ CÂU TRONG TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN

KỲ NHÂN LÀNG NGỌC

CỦA TRẦN THANH CẢNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2017

Trang 2

LÊ THỊ NGỌC

TỪ NGỮ VÀ CÂU TRONG TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN

KỲ NHÂN LÀNG NGỌC

CỦA TRẦN THANH CẢNH

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS HOÀNG TRỌNG CANH

NGHỆ AN - 2017

Trang 3

Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, chúng tôi đã nhận được

sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo khoa Ngữ văn đặc biệt là các thầy cô ở bộ môn ngôn ngữ học trường Đại học Vinh Bên cạnh đó, chúng tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ từ gia đình và bạn bè Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Đặc biệt, chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, PGS TS Hoàng Trọng Canh, người thầy đã tận tâm hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn này

Với đề tài này, chúng tôi đã hết sức cố gắng nhưng do khả năng có hạn nên chắc chắn không tránh khỏi sai sót Do vậy, chúng tôi rất mong nhận được

sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các bạn

Nghệ An, tháng 8 năm 2017

Tác giả

Lê Thị Ngọc

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 4

5 Dự kiến đóng góp của luận văn 4

6 Cấu trúc của luận văn 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu tác phẩm của Trần Thanh Cảnh và tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc 6

1.1.1 Trần Thanh Cảnh và tác phẩm của ông 6

1.1.2 Trần Thanh Cảnh - những vấn đề được đặt ra nghiên cứu 11

1.2 Cơ sở lí thuyết của đề tài 16

1.2.1 Khái niệm truyện ngắn và sơ lược về thể loại truyện ngắn 16

1.2.2 Một số đặc trưng cơ bản của truyện ngắn 18

1.2.3 Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn 20

1.3 Tiểu kết chương 1 23

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ TRONG TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN KỲ NHÂN LÀNG NGỌC CỦA TRẦN THANH CẢNH 25

2.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ và từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật 25

2.1.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ 25

2.1.2 Từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật 27

2.2 Các lớp từ tiêu biểu trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc của Trần Thanh cảnh 28

Trang 5

2.3 Một số trường từ vựng nổi bật trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng

Ngọc của Trần Thanh Cảnh 50

2.3.1 Trường từ vựng chỉ “đặc điểm ngoại hình, tính cách, tâm lí” biểu đạt hình tượng nhân vật nữ 51

2.3.2 Trường từ vựng chỉ “đặc điểm ngoại hình, tính cách, tâm lí” biểu đạt lớp nhân vật trí thức- nghệ sĩ 57

2.4 Tiểu kết chương 2 61

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CÂU TRONG TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN KỲ NHÂN LÀNG NGỌC CỦA TRẦN THANH CẢNH 63

3.1 Câu trong ngôn ngữ và câu trong văn bản nghệ thuật 63

3.1.1 Câu trong ngôn ngữ và các hướng tiếp cận câu hiện nay 63

3.1.2 Câu trong văn bản nghệ thuật 66

3.2 Đặc điểm câu văn trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc xét về cấu tạo 67

3.2.1 Câu đơn trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh 68

3.2.2 Câu ghép trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh 81

3.3 Tiểu kết chương 3 89

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 6

Bảng 2.1 Thống kê tần số sử dụng từ láy trong tuyển tập truyện ngắn

Bảng 2.3 Tần số sử dụng từ ngữ miêu tả vẻ đẹp ngoại hình của người

phụ nữ trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc 52

Bảng 3.1 Số lượng và tỉ lệ câu (phân theo cấu tạo ngữ pháp) trong

tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc của Trần Thanh

Cảnh 67

Bảng 3.2 Các loại câu đơn bình thường trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ

nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh 69

Bảng 3.3 Các loại câu ghép trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng

Ngọc 81

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong những năm từ thập niên 90 của thế kỉ XX, ở thể loại truyện ngắn đã xuất hiện của nhiều tác giả mới, phong cách mới Sự xuất hiện của nhiều cây bút mới đã làm thay đổi hẳn diện mạo của văn xuôi đương đại Sang đầu những năm 2000, văn xuôi đương đại lại có những gương mặt mới

đa dạng và độc đáo làm phong phú góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học Việt Nam đương đại như: Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Hồ Anh Thái, Trần Quốc Huấn, Lê Hoài Nam, Nguyễn Tiến Lộc Trong đó cũng cần phải nhắc đến tên tuổi của tác giả mới là Trần Thanh Cảnh Những tác giả mới cùng với những tác phẩm mới của văn xuôi

ở đầu thế kỉ 21 cho thấy một giai đoạn văn học và sự đổi mới của văn học, hứa hẹn văn học Việt nam sẽ có những thành tựu mới đặc sắc Việc nghiên cứu tác phẩm của các nhà văn thời kì này là sự cần thiết, góp phần đánh giá một giai đoạn văn học Việt Nam và sự đổi mới của văn học hiện nay

1.2 Trần Thanh Cảnh là một nhà văn mới xuất hiện nhưng cũng đã

có những đóng góp vào sự đổi mới của văn xuôi ở đầu thế kỉ 21 Một số tác phẩm truyện ngắn của nhà văn như: “Đại gia” (2013), “Kỳ nhân làng Ngọc” (2015), “Mỹ nhân làng Ngọc” (2016) đã thể hiện một lối viết rất mới lạ, mở ra một hướng tiếp cận mới cho người đọc Truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh có những sáng tạo về cách lựa chọn nội dung, cách dùng

từ ngữ, cách sử dụng câu văn, nghệ thuật trần thuật… tạo được ấn tượng sâu sắc với người đọc và thu hút giới nghiên cứu phê bình văn học Những sáng tạo mới của nhà văn đã khẳng định được phong cách và vị trí của ông Trần Thanh Cảnh được các nhà phê bình đánh giá cao bởi tác phẩm và tác giả đều là nhân tố mới trong giới văn chương nhưng lại rất dám dấn thân

Trang 8

vào đề tài xương xẩu nhất bằng ngòi bút không hề né tránh và rất đời Đoàn

Lê Giang đã nhận xét: “Đó là những câu chuyện ngồn ngộn chất sống về cái hôm nay” (Dẫn theo [38]) Vì vậy nghiên cứu truyện ngắn của ông là một việc làm cần thiết không chỉ để góp phần tìm hiểu phong cách nhà văn Trần Thanh Cảnh mà còn để thấy rõ sự đổi mới của truyện ngắn Việt Nam đương đại

1.3 Kỳ nhân làng Ngọc là một tập truyện ngắn mới viết về những con

người ở một ngôi làng ven sông Đuống Trần Thanh Cảnh đã hư cấu nên đặt

cho ngôi làng đó một cái tên mới là Làng Ngọc Ngay từ khi xuất hiện nó đã

tạo nên ấn tượng tốt đối với độc giả Đặc biệt tuyển tập truyện ngắn này vừa được trao giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2015 ở hạng mục văn

xuôi Kỳ nhân làng Ngọc là một tập truyện đặc sắc, đa chiều, mang lại cho

người đọc nhiều cảm xúc, suy ngẫm về phận người, cách sống và cả triết lý

nhân sinh Thông qua tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, nhà văn Trần

Thanh Cảnh đã khắc họa cuộc đời của những con người làng Ngọc qua đó tái hiện phần nào một giai đoạn lịch sử của đất nước: đó là thời chiến tranh chống ngoại xâm, thời kỳ cải cách ruộng đất và sau đó là chiến thắng, thống nhất đất nước, xây dựng kiến thiết đất nước

1.4 Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ ngôn ngữ đang là một hướng đi được nhiều nhà nghiên cứu phê bình lựa chọn bởi tính chất mới mẻ

về phương pháp và sự định lượng rõ ràng về ngữ liệu nghiên cứu Đây cũng

là hướng đi người viết lựa chọn khi tiếp cận với truyện ngắn của Trần Thanh

Cảnh - Kỳ nhân làng Ngọc, khi mà ý kiến nhận xét đánh giá về tác phẩm

mới chỉ những phát biểu ngắn, những cảm nhận chung qua trong các bài báo, bài giới thiệu, chưa có công trình nghiên cứu nào dưới góc độ ngôn ngữ học Thông qua việc tìm hiểu, khảo sát các đơn vị ngôn ngữ từ và câu, dựa trên nền tảng lý thuyết cơ bản về cách tiếp cận ngôn ngữ của tiểu thuyết, hi

Trang 9

vọng luận văn sẽ mang đến một cái nhìn sâu sắc hơn về tác phẩm Kỳ nhân

làng Ngọc, đồng thời, qua đó thấy được phần nào phong cách ngôn ngữ của

Trần Thanh Cảnh, những đóng góp của Trần Thanh Cảnh đối với nền văn học Việt Nam hiện đại, cũng như góp phần thấy được giọng điệu của văn xuôi đương đại

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là “Từ ngữ và câu trong

tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh”

- Trong quá trình thực hiện đề tài, để đối sánh và thấy được những đặc sắc trong văn phong tác giả, luận văn sẽ khảo sát thêm một số tác phẩm khác của Trần Thanh Cảnh và các tác giả khác cùng thời

2.2 Phạm vi nghiên cứu, khảo sát

Trong quá trình thực hiện đề tài, tập trung vào đối tượng nghiên cứu,

chúng tôi khảo sát, nghiên cứu tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc gồm

14 truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh Bên cạnh đó, luận văn sẽ so sánh với truyện ngắn của 1 số tác giả đương thời

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi đặt ra mục tiêu nghiên cứu:

Chỉ ra được những đặc điểm nổi bật về cách sử dụng ngôn ngữ trong truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh (về sử dụng từ ngữ, câu văn)

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận văn đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu sau:

+ Tổng quan về tình hình nghiên cứu về tác phẩm của Trần Thanh Cảnh + Tìm hiểu cơ sở lí thuyết và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

+ Tìm hiểu đặc điểm từ ngữ trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng

Trang 10

Ngọc của Trần Thanh Cảnh

+ Tìm hiểu những đặc điểm về câu văn trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ

nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh

+ Trên cơ sở phân tích việc sử dụng từ ngữ và câu của Trần Thanh Cảnh, rút ra một số nét về sắc thái, phong cách ngôn ngữ của tác giả trong truyện ngắn

4 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, luận văn được tiến hành với các phương pháp chủ yếu sau:

4.1 Phương pháp thống kê - phân loại:

Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê - phân loại các lớp từ ngữ cũng như các kiểu câu theo hai tiêu chí: cấu tạo và ý nghĩa

4.2 Phương pháp miêu tả và phân tích, tổng hợp:

Trên cơ sở thống kê, phân loại, chúng tôi đã phân tích và miêu tả từng nhóm từ cụ thể và các kiểu câu về phương diện cấu trúc - ý nghĩa, từ đó luận văn tổng hợp, khái quát thành các đặc điểm mang tính chung, điển hình

4.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu

So sánh truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh với một số tác giả trẻ khác nhằm mục đích làm nổi bật đặc điểm riêng cũng như đóng góp của ông trên văn đàn

5 Dự kiến đóng góp của luận văn

Về mặt lý luận, luận văn góp phần cung cấp cho người đọc một cái nhìn khá toàn diện và khoa học về đặc điểm nổi bật trong thế giới ngôn ngữ truyện ngắn Trần Thanh Cảnh Từ đó nhận diện phong cách và vị trí của nhà văn trong nền văn học đương đại Việt Nam

Về mặt thực tiễn, đề tài được hoàn thành đúng các yêu cầu đặt ra sẽ trở thành tài liệu tham khảo cho sinh viên khi tìm hiểu về Trần Thanh Cảnh

Trang 11

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu tác phẩm của Trần Thanh

Cảnh và tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc

1.1.1 Trần Thanh Cảnh và tác phẩm của ông

1.1.1.1 Vài nét về tác giả

Nhà văn Trần Thanh Cảnh sinh ngày 13 tháng 1 năm 1959, quê ở làng

Ngọ Xá, xã Hoài Thượng, Thuận Thành, Bắc Ninh Trần Thanh Cảnh đã từng

là bộ đội biên giới phía Bắc Sau đó, Trần Thanh Cảnh tốt nghiệp đại học dược Hà Nội, hiện đang công tác trong ngành dược

Trần Thanh Cảnh công tác trong ngành dược, ông không bao giờ hình dung được mình sẽ cầm bút viết văn theo đúng nghĩa Nhưng như một cơ duyên kì lạ, trăn trở trước cuộc sống khó khăn, cùng với những điều chiêm nghiệm dồn nén trong suốt mấy chục năm đã thôi thúc Trần Thanh Cảnh cầm bút Có thể nói Trần Thanh Cảnh viết văn như là một sự giải tỏa, một sự thôi thúc từ nội tại Là một dược sĩ, tác giả Trần Thanh Cảnh bước sang văn chương như một sự thôi thúc bản năng tự nhiên Chính bản năng viết tự nhiên

đó khiến cho tác giả càng lấn sân, càng đam mê, càng viết hay

PGS TS Đoàn Lê Giang đã nhận xét trong lời giới thiệu “Tôi nghĩ Cảnh không định làm nhà văn, nhưng vì cuộc sống mà anh trải nghiệm rất phong phú, độc đáo, anh lại hay đọc sách, cả nghĩ nên chỉ cần có một chút khiếu viết là anh có thể viết ra thành truyện Đó là những câu chuyện ngồn ngộn chất sống về cái hôm nay” (Dẫn theo [38])

Nói về bản thân mình, Trần Thanh Cảnh tự đánh giá mình là con người

“đa nhân cách” nhưng khi đến với văn chương là một con người đa sầu, đa

Trang 13

cảm vì “một nhà văn mà không đa sầu đa cảm, không có trái tim mẫn cảm thì viết ra một tác phẩm cũng khó mà chạm được đến trái tim người đọc” Và với trái tim đa sầu đa cảm đó, nhà văn Trần Thanh Cảnh vẫn tiếp tục cảm nhận và viết về cuộc sống như nó vốn có vậy Là một người đã đọc văn của Trần Thanh Cảnh từ những buổi đầu, nhà văn Sương Nguyệt Minh cho rằng: “Trần Thanh Cảnh là một nhà văn mạnh về đời sống Anh đã thu nạp hết hiện thực, đến một thời điểm thích hợp cho nó vỡ òa trong con chữ Truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh mang tầm vóc của một tiểu thuyết Hiện thực được dồn nén,

cô đọng đến cực điểm” (Dẫn theo [35])

1.1.1.2 Vài nét về các tác phẩm chính

Bắt đầu viết văn khi đã hơn 40 tuổi, và là một cây bút rẽ ngang, khi mà vừa là dược sĩ, vừa viết văn, nhưng Trần Thanh Cảnh cũng đã sớm khẳng định được tên tuổi của mình ngay từ những tác phẩm đầu tiên Chỉ trong vòng

4 năm, tác giả đã cho ra đời 3 tập truyện ngắn và 1 tiểu thuyết được Nhà xuất bản Trẻ thông báo sắp ấn hành cùng với nhiều truyện ngắn đã được in trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước Bước vào nghề viết khá muộn, hơn 40 tuổi mới bắt đầu cầm bút nhưng những trang viết của Trần Thanh Cảnh đã sớm để

lại dấu ấn riêng Mới đây tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc của tác

giả đã được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2015 ở thể loại văn xuôi

Năm 2013, Trần Thanh Cảnh đã viết và in tập truyện ngắn mang tên

Đại gia Mặc dù tập truyện ngắn Đại gia hoàn toàn do tác giả tự viết, tự in, tự

xin giấy phép, không phát hành, chỉ để tặng bạn bè nhưng tác phẩm này vẫn được giới chuyên môn đánh giá cao bởi nó đã nói lên nhiều vấn đề của cuộc sống đặt ra, phản ánh cuộc sống một cách chân thực Hơn thế, thái độ mạnh dạn dấn thân vào những đề tài xương xẩu nhất bằng ngòi bút không hề né tránh và rất đời của tác giả đã được người đọc trân trọng Trong tập truyện

Trang 14

Đại gia, truyện Đại gia và ba bà vợ là truyện có sức nặng nhất Với ngòi bút

chân thực, Trần Thanh Cảnh giúp người đọc được tiếp cận và hiểu thêm về cuộc sống của một đại gia cũng như những gì trải qua trong cuộc đời họ Trần Thanh Cảnh đã xoáy sâu vào vấn đề xung quanh tình yêu là tiền tài và danh vọng, những thủ đoạn, chiêu trò của đại gia đã phản ánh bộ mặt thật của một

bộ phận thuộc tầng lớp lắm tiền nhiều của

Mỹ nhân làng Ngọc là tập truyện ngắn ra đời tiếp theo sau tập truyện

ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, và được xem như tập hai của Kỳ nhân làng Ngọc

Trần Thanh Cảnh tiếp tục viết về những mảnh đời bất hạnh éo le bậc nhất xứ

Kinh Bắc Tập truyện ngắn Mỹ nhân làng Ngọc bao gồm nhiều truyện ngắn

xung quanh đời sống sinh hoạt người dân vùng Kinh Bắc Nhân vật chính được tác giả Trần Thanh Cảnh miêu tả rất đa dạng Từ một kẻ tứ cố vô thân không danh phận cho đến những ông tiến sĩ đầu bạc, quyền cao vọng trọng

Dù là ai thì số phận họ là những người chịu ảnh hưởng bởi thời cuộc, nhất là thời kỳ sau đổi mới Chuyện về luật nhân quả và thân phận người đàn bà là

hai chủ đề được thể hiện đậm nét bậc nhất trong tập truyện ngắn Mỹ nhân

làng Ngọc Tác phẩm được đặt tên như vậy, bởi lẽ tác giả viết hướng nhiều tới

phận đàn bà Những bóng hồng trong ngôi làng Ngọc dường như mang dáng dấp của nàng Kiều trong thơ Nguyễn Du, xinh đẹp, tài giỏi một tay cáng đáng gia đình Có lẽ cũng vì họ xinh đẹp quá, giỏi giang quá mà phải chịu kiếp hồng nhan bạc mệnh sống khắc khoải, khổ sở đến khi nhắm mắt xuôi tay Dù vậy, bản thân tác giả vẫn dành cho người phụ nữ sự tôn trọng, xóa bỏ suy nghĩ cổ hủ tồn tại trọng nam khinh nữ bấy lâu

Trần Thanh Cảnh là một nhà văn “tinh quái”, nhưng nhân văn; nhìn đời rất lạ nhưng cũng rất đời với những tư tưởng nhân văn đến lạ lùng trong mỗi tác phẩm của mình Tác phẩm của ông mặc dù đề cập đến những vấn đề nóng của làng quê nơi ông sinh ra, và nhân vật cũng là những khuôn mẫu có thật

Trang 15

trong cuộc sống nhưng cái đọng lại trên hết trong những trang văn của ông vẫn là tình người Ông tìm về cái đạo giữa dòng đời bất biến từ đó toát lên được cái nhân văn trong câu chữ Làng quê bị suy đồi đến mấy nhưng tình người bao đời nay vẫn không thay đổi Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, khi một gia đình xảy ra chuyện là cả làng tán loạn chạy đi giúp đỡ, dù ma chay cưới hỏi chuẩn bị chu đáo Hành động tuy nhỏ nhưng chan chứa nghĩa tình, sưởi ấm và giữ niềm tin cho độc giả, nhắn nhủ một điều rằng hóa ra cuộc đời này cũng chưa tới nỗi xuống cấp tồi tệ Như nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có viết: “Là người từng trải và va vấp nhiều, Trần Thanh Cảnh đến với văn chương như một cứu cánh Văn học trước thời kỳ đổi mới luôn chạy theo những cái bất thường, hay cái đạo của đời thường Trần Thanh Cảnh là người

đã phát hiện ra một trong những cái đạo đó” (Dẫn theo [35])

1.1.1.3 Vài nét về tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh

Kỳ nhân làng Ngọc là tập truyện ngắn thứ hai của nhà văn Trần Thanh

Cảnh, nhưng là cuốn ra mắt bạn đọc đầu tiên do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành vừa được ra mắt ngày 17 tháng 4 năm 2015 Và tác phẩm đã nhanh chóng được bạn đọc tiếp nhận, các nhà phê bình đánh giá cao và đã đoạt giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2015 ở hạng mục văn xuôi

Kỳ nhân làng Ngọc là tập truyện bao gồm 14 truyện ngắn khắc họa số

phận của những con người ở một ngôi làng nằm cạnh núi Thiên Thai ở vùng Kinh Bắc ven sông Đuống Đó là đôi trai gái tuổi dậy thì, thanh niên nuôi chí lớn, phụ nữ truân chuyên, ông già tứ cố vô thân, trí thức ở huyện, quan lớn ở phố…Những con người này, mỗi người mang một số phận khác nhau nhưng đều có điểm chung là trải qua cuộc đời éo le, nhiều khổ cực, nhiều thăng trầm trong sự nghiệp hoặc sóng gió trên tình trường Trần Thanh Cảnh đặt họ vào trong những bi kịch tình yêu, trong thời kinh tế thị trường, trong sự biến động

Trang 16

của lịch sử và con người gắn với phong tục, nếp sống của quê hương để họ tự xoay sở, tạo nên những bước ngặt cuộc đời

Bi kịch tình yêu là chủ đề được thể hiện xuyên suốt trong các truyện

ngắn Những bi kịch tình yêu được thể hiện rõ nhất qua Hội làng, Gái đảm,

Mùa thi, Giấc mơ Đó là những câu chuyện tình buồn, những chuyện tình

ngang trái mà nam nữ không đến được với nhau Hội làng là câu chuyện tình

giữa Hằng - một cô gái nổi tiếng xinh đẹp của làng Ngọc và Tuấn- một chàng trai nổi tiếng thông minh, học giỏi Họ yêu nhau với tất cả sự trong sáng, ngây thơ của tuổi học trò Nhưng sự đời trái ngang đã khiến cho họ xa cách nhau: nàng bị buộc lấy chồng rồi theo vào Nam với đồ dẫn cưới là năm tạ xi măng, còn chàng đi học đại học rồi lấy vợ ngoài Hà Nội Nhưng rồi duyên phận lại cho họ gặp nhau tình cờ ở Vịnh Pattaya Họ hẹn gặp nhau ở mùa Hội làng năm sau Thế rồi đến hội làng năm ấy, Tuấn và Hằng cùng về và họ gặp nhau, không biết họ đã nói với nhau những gì, họ đã trao cho nhau những gì sau bao nhiêu năm xa cách Những hôm sau số phận lại đẩy họ xa nhau, chỉ còn một lời hẹn: Sang năm lại về chơi hội nhé Bi kịch tình yêu có lúc là nguyên nhân cho những mâu thuẫn, bất đồng giữa các mối quan hệ anh em, bạn bè dẫn đến

những thay đổi trên đường đời của nhân vật (Sương đêm cuối ngõ, Hoa gạo

tháng ba, Hương đêm) Nhưng dù thế nào, những mối tình ấy vẫn mang vẻ

đẹp chân chất hương quê, của vị ngọt tình yêu đầu đời đầy mãnh liệt, để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc

Viết về con người trong thời kinh tế thị trường là những truyện: Gái

đảm, Sếp tổng, Có trời và Ngôi biệt thự bỏ hoang Nhân vật trong những

truyện ngắn này đều là những con người “tài” trong công việc, thế nhưng cuộc đời của họ lại trớ trêu và bất hạnh Nhưng qua những số phận ấy, Trần Thanh Cảnh phản ánh những thực tại xã hội của tình và tiền Con người có thể lấy tình để có thể có tiền, cũng như có thể lấy tiền để mua tình Đó là thực

tế trong xã hội thời kinh tế thị trường Con người có thể vì những nhu cầu vật

Trang 17

chất tầm thường mà đánh đổi cả nhân phẩm, nhân cách của mình, có thể dẫm đạp lên những đạo lí làm người

Truyện ngắn Hoa núi, Kỳ nhân làng Ngọc, Hương đêm, Hoa gạo tháng

ba thể hiện số phận của con người trước những biến động của lịch sử Số phận

của các nhân vật gắn liền với những biến động của thời cuộc và các giai đoạn lịch sử của đất nước Tác giả vẽ nên một bức tranh liền mạch từ thời kỳ Pháp thuộc, Cách mạng Tháng Tám, kháng chiến chống Mỹ, cải cách ruộng đất, thời

kỳ bao cấp cho đến thời kinh tế thị trường Trong đó, các nhân vật phải bơi theo dòng xoáy của định mệnh và có những ngã rẽ làm thay đổi cả cuộc đời

Kỳ nhân làng Ngọc là một cuốn sách mới mẻ nhưng gần gũi, quen

thuộc Mới mẻ không chỉ bởi nội dung: viết về những vấn đề nóng hổi, sex

mà còn mới mẻ ở lối viết của nhà văn Những truyện ngắn sử dụng bút pháp huyền ảo, xây dựng những biểu tượng: hoa mơ - sự trinh trắng của người con gái, sương đêm - cuộc đời mờ nhạt, vô vị Những câu văn ngắn, dồn dập:

“Làng Ngọc, quê Hằng, vào đám, mở hội” (Hội làng), “Xuân Hạ Thu Đông”

(Hoa gạo tháng ba) tạo cảm giác mới lạ Các nhân vật được đặt cho biệt danh hài hước, châm biếm: Quang bản phủ, ông Ba be cùng với giọng văn sắc lạnh Tất cả những điều đó tạo ra sự mới mẻ cho độc giả Bên cạnh đó, văn học dân gian cũng được nhà văn đưa vào trong tác phẩm của mình qua

những câu ca dao, tục ngữ: “Tháng riêng là tháng ăn chơi/Tháng hai cờ bạc,

tháng ba hội hè”, “Cờ bạc là bác thằng bần/ Cửa nhà bán hết cho chân vào cùm”… tạo ra sự gần gũi, quen thuộc với văn học truyền thống

Có thể nói "Kỳ nhân làng Ngọc" là một tập truyện đặc sắc, đa chiều, mang lại cho người đọc nhiều cảm xúc, suy ngẫm về phận người, cách sống

và cả triết lý nhân sinh

1.1.2 Trần Thanh Cảnh - những vấn đề được đặt ra nghiên cứu

1.1.2.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu đối với tác phẩm Trần Thanh Cảnh

Trang 18

Trần Thanh Cảnh là một gương mặt mới chưa tham gia và là thành viên của hội nhà văn nào, nhưng có phong cách độc đáo, lối viết mới mẻ; truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh là đối tượng quan tâm của giới nghiên cứu phê

bình Năm 2015, tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc xuất sắc giành được giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam ở hạng mục truyện ngắn Từ đây

tên tuổi cũng như tác phẩm của Trần Thanh Cảnh càng được đánh giá cao Hồ

Anh Thái, trong lời giới thiệu tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc đã có

nhận xét: “Gặp nhau, người ta có thể chìa ra cái danh thiếp để tự giới thiệu Nhà văn có lẽ chỉ cần chìa 1 tác phẩm của mình, để tự giới thiệu Danh thiếp của nhà văn chính là một tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Cái danh thiếp ấy

của Trần Thanh Cảnh là truyện Kỳ nhân làng Ngọc” [40]

Đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đi sâu vào từng tác phẩm của ông, đặc biệt là về ngôn ngữ để thấy được những cái mới, lạ của Trần Thanh Cảnh Song tác phẩm của nhà văn này vẫn được đề cập đến thường xuyên trong các bài viết được được đăng tải trên các tờ báo, tạp chí chuyên ngành với tư cách là một nhân tố quan trọng góp phần làm nên làn

sóng đổi mới truyện ngắn đương đại Có thể kể đến như: Văn chương Việt

Nam năm 2015 - Một cách nhìn (Bùi Việt Thắng) (Tạp chí Văn nghệ quân đội, tháng 2/2016); Tấm danh thiếp của Trần Thanh cảnh (Đăng Hoàng) (Tạp

chí Văn nghệ quân đội, tháng 4/2015; Nhà văn Trần Thanh Cảnh sẽ viết tiếp

câu chuyện về làng Ngọc (Hoàng Minh) (Báo Đại đoàn kết, tháng 2/2016);

“Kỳ nhân làng Ngọc - Vẻ đẹp từ cuộc sống bình dị” (Huyền Trang) (Tạp chí Văn học quê nhà, tháng 12/2016)

Truyện ngắn Trần Thanh Cảnh, đặc biệt là tuyển tập truyện ngắn Kỳ

nhân làng Ngọc dành được sự quan tâm sôi nổi và rộng rãi trên các trang web,

báo điện tử với nhiều cách đánh giá, nhìn nhận khác nhau: Nét đặc sắc của Kỳ

nhân làng Ngọc (Nguyễn Văn Hùng) (www Nhandan.com); Sức nóng từ

Trang 19

những gương mặt mới (Hải Giang) (báo Hà Nội mới.com); “Kỳ nhân làng Ngọc” được giới phê bình khen ngợi (Quỳnh Anh) (vnexpress.net)

Các bài viết ở các tạp chí chuyên ngành nói trên chủ yếu là những nghiên cứu nhận diện một cách khái quát nhất diện mạo và các xu hướng cũng như đặc điểm chính của văn học Việt Nam từ sau đổi mới trong đó có đề cập (điểm qua) đến truyện ngắn Trần Thanh Cảnh là một trong những ví dụ điển hình cho những sáng tạo, cách tân của truyện ngắn này (Bài viết của Bùi Việt Thắng nói trên)

Những bài viết của Đăng Hoàng, Hoàng Minh, Hải Giang chủ yếu là đưa ra những đánh giá, nhận định chung về tác giả Trần Thanh Cảnh và những điểm mới lạ trong sáng tác của ông Còn những bài viết của Huyền Trang, Nguyễn Văn Hùng, Quỳnh Anh thì nói đến tác phẩm xuất sắc của Trần

Thanh Cảnh là Kỳ nhân làng Ngọc - vừa đạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt

Nam Tuy nhiên, những bài viết đó chủ yếu là nói về điểm mới của Trần Thanh Cảnh khi chọn đề tài mới gần với cuộc sống đời thường, chọn những con người có thật trong cuộc sống

Bài viết của Huyền Trang viết về nội dung của tác phẩm Huyền Trang

đã điểm lại những truyện ngắn có trong tập Kỳ nhân làng Ngọc và đưa ra

những nhận định khái quát về những cách khai thác nội dung của Trần Thanh Cảnh Cũng vẫn là những nội dung của cuộc sống đời thường, nhưng Trần Thanh Cảnh đã viết nó với những nỗi niềm day dứt, trăn trở khiến cho người đọc phải có những suy ngẫm về chính quê hương của mình Đặc biệt Huyền Trang nhấn mạnh cách kết thúc truyện một cách đặc biệt của nhà văn, đó là cái kết thúc đầy ám ảnh, gợi lên những triết lí về cuộc sống

My Lan khi viết về Mỹ nhân làng Ngọc cũng đã đưa ra những nhận

xét khái quát về nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm My Lan nhấn mạnh đến nhân vật trong truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh là số phận

Trang 20

những con người éo le, bất hạnh bậc nhất xứ Kinh Bắc Số phận của họ bị tác động bởi thời cuộc đặc biệt là thời kì sau đổi mới My Lan cũng khẳng định rằng trên hết tác phẩm muốn tìm về những đạo lý giữa cuộc đời đó là tình người, tình đời

Ngoài ra trên nhiều phương tiện thông tin có thể thấy truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh còn nhận được sự quan tâm tìm hiểu từ nhiều độc giả qua các bài viết: Coi làng như hạt nhân xã hội (Nguyễn Hoàng Đức) (www.daibieunhandan.vn) Các bài viết trên nhìn chung đều ghi nhận những đóng góp của Trần Thanh Cảnh trên phương diện nội dung (viết về số phận những con người trong thời đại ở một làng quê) và cách viết mới mẻ, đầy thu hút Trong đó cũng có nhận xét cho rằng Trần Thanh Cảnh cần phải viết một cách kiềm chế hơn, để tránh lúc đầu thì quá bùng nổ mà đến khi kết thúc lại hơi hụt hẫng

Như vậy, có thể thấy truyện ngắn Trần Thanh Cảnh, đặc biệt là tuyển

tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc có sức hút lớn đối với bạn đọc và các nhà

nghiên cứu Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào đi sâu tập trung nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ (từ ngữ và câu) trong truyện ngắn Trần

Thanh Cảnh nói chung và tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc của Trần

Thanh Cảnh nói riêng, để thấy được những cái mới, lạ của Trần Thanh Cảnh

Vì vậy công trình nghiên cứu này sẽ là một sự tìm tòi khai thác những cái mới

lạ trong ngôn ngữ truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh, để thấy được những đóng góp của nhà văn trẻ này, đồng thời theo dõi tìm hiểu những sáng tác mới của ông sau này

1.1.2.2 Vấn đề ngôn ngữ trong tác phẩm Trần Thanh Cảnh nói chung

và trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc nói riêng

Sau năm 1975, đất nước thống nhất Hoàn cảnh lịch sử thay đổi nên văn học Việt Nam cũng có những sự thay đổi lớn cả về nội dung lẫn hình

Trang 21

thức Đặc biệt từ năm 1986 tới nay, cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, văn học cũng có bước phát triển mạnh, đã có nhiều truyện ngắn đặc sắc ra đời Trong một giai đoạn có nhiều tác giả thay đổi cách viết, nhiều gương mặt mới xuất hiện và một lượng lớn truyện ngắn ra đời Có những tác giả mà nhà phê bình Đoàn Ánh Dương gọi là “những kiến trúc sư lứa đầu” của truyện ngắn thời sau đổi mới như Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh, Nguyễn Quang Thiều, Võ Thị Hảo… Sang thế kỷ 21, xuất hiện thế hệ nhà văn trẻ với giọng

điệu riêng như Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư…Trần Thanh Cảnh

cùng những tác phẩm của mình với ngôn ngữ giọng điệu riêng cũng đã góp phần vào sự phát triển rầm rộ của một giai đoạn mà văn học, và khẳng định vai trò của thể loại truyện ngắn trong văn học

Sau 1975, nhiều tác giả nhập cuộc rất nhanh với cái đời thường, đương thời bằng cái nhìn bớt dần lãng mạn, lý tưởng hóa, thay thế cảm hứng ngợi ca bằng cảm hứng triết luận, thay thế cảm hứng sử thi bằng cảm hứng thế sự để tập trung làm nổi bật những vấn đề mâu thuẫn, phức tạp của đời sống thường nhật Cùng với sự thay đổi về nội dung thì hình thức của các tác phẩm cũng phải thay đổi Các tác giả văn học, đặc biệt là văn học sau 1986, đã cố gắng tìm tòi các cách thể hiện mới, lạ Ngôn ngữ văn xuôi ở giai đoạn này không bóng bẩy, trau chuốt kĩ lưỡng mà rất trần trụi, thô nhám như chính đời sống vậy

Là một nhà văn “trẻ”, nhưng Trần Thanh Cảnh cũng đã có những cách tân góp phần vào đổi mới văn học trên mọi lĩnh vực trong đó có ngôn ngữ Bước vào làng văn học bằng tuyển tập truyện ngắn ra mắt bạn đọc đầu tiên nhưng cũng ngay tức thì được đánh giá cao, Trần Thanh Cảnh đã cho thấy sự đổi mới sẽ luôn là cách thức để thu hút bạn đọc Lấy bối cảnh hiện thực là một làng quê vùng Kinh Bắc, ven sông Đuống - một cái làng giả định mà ông

đặt tên là làng Ngọc - tác giả đã kể những câu chuyện kỳ lạ về cuộc đời của

những con người nơi đây bằng những ngôn ngữ rất đời thường, rất bình dân,

Trang 22

khắc họa một cách chân thực về một làng quê - cái làng quê mà theo tác giả là quê chẳng ra quê, phố cũng chẳng ra phố

Trần Thanh Cảnh là một gương mặt mới của nhà văn đương đại Việt Nam nhưng có phong cách độc đáo, lối viết mới mẻ Ngôn ngữ trong tác phẩm của ông không gai góc, sắc nhọn, nhưng cũng không tỉa tót, bóng bẩy

mà rất chân chất mang đậm chất thôn quê Nó giúp nhà văn phản ánh đúng đối tượng miêu tả, đúng hiện thực đầy phức tạp, bề bộn, nhiều chiều Có thể nói Trần Thanh Cảnh đã rất dám dấn thân vào những đề tài rất xương xẩu, không hề né tránh và rất đời Đó cũng chính là điều làm cho tác phẩm của

Trần Thanh Cảnh rất cuốn hút, lôi cuốn người đọc

1.2 Cơ sở lí thuyết của đề tài

1.2.1 Khái niệm truyện ngắn và sơ lược về thể loại truyện ngắn

Truyện ngắn là một thể loại văn học đặc sắc được nhiều tác giả lựa chọn làm thể loại sáng tác Trong đời sống thì thể loại truyện ngắn đã có từ lâu thể hiện qua những câu chuyện mà con người kể với nhau hàng ngày Tuy nhiên để hình thành một thể loại văn học thì khá là muộn Và khái niệm về truyện ngắn cũng là một sự tranh cãi trong giới nghiên cứu Trung Quốc và Nhật Bản, trước đây người ta vẫn coi truyện ngắn thuộc thể loại tiểu thuyết, được gọi là "tiểu thuyết đoản thiên" để phân biệt với loại tiểu thuyết chương hồi dài tập hay "tiểu thuyết trường thiên" Người Việt nam dùng

từ truyện ngắn để chỉ "tiểu thuyết đoản thiên" và tiểu thuyết để chỉ "tiểu

thuyết trường thiên" Như vậy, ngay trong khái niệm về truyện ngắn thì trước đây các học giả cũng chưa tách biệt một thể loại văn học riêng là truyện ngắn

mà coi nó là một tiểu loại của tiểu thuyết Vì vậy cũng rất khó khăn để đưa ra một khái niệm về truyện ngắn

Theo các soạn giả Từ điển thuật ngữ văn học, truyện ngắn là “tác phẩm

tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự, hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là

Trang 23

ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [19; 314].

Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân nhấn mạnh đến những

đặc điểm để nhận diện truyện ngắn đó là: “Truyện ngắn thường nhằm khắc họa một hiện tượng, phát hiện một đặc tính trong quan hệ con người hay trong đời sống tâm hồn con người Truyện ngắn thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp, chồng chéo Nhân vật truyện ngắn ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách đầy đặn, thường khi là hiện thân cho một trạng thái quan

hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người” [1; 360]

Trước đó, truyện ngắn đã tồn tại dưới hình thức truyền miệng truyền thống trong dân gian như các truyện ngụ ngôn, nhưng chỉ đến khi có sự xuất hiện ồ ạt của một tầng lớp độc giả biết đọc biết viết ở thế kỷ XIX ở phương Tây thể loại truyện ngắn bằng văn tự mới ra đời Truyện ngắn xuất hiện ở phương Tây khi được đăng trên một tạp chí xuất bản đầu thế kỷ XIX, phát triển lên đến đỉnh cao nhờ những sáng tác xuất sắc của văn hào E.T.A Hoffmann và Anton Chekhov, sau đó trở thành một hình thức nghệ thuật lớn của văn học thế kỷ XX

Truyện ngắn khi ra đời đã có tốc độ phát triển khá nhanh Như ta đã thấy, chỉ trong khoảng thời gian từ đầu đến giữa thế kỷ XIX, Hawthorne, Poe và Turgenev đã có thể viết nên những truyện ngắn kinh điển có sức sống đến tận hôm nay Giữa thế kỷ XIX, truyện ngắn đã hiện rõ hình hài và cuối thế kỷ này truyện ngắn phát triển đến đỉnh cao hoàn mỹ với những truyện ngắn vào loại bậc thầy của Anton Chekhov Từ Chekhov đến đầu thế kỷ XX, truyện ngắn bước vào thời đại hoàng kim của nó, đặc biệt là ở Mỹ Thể loại văn học này xuất hiện đậm đặc trên báo chí với sự đón nhận một cách háo hức của độc giả

Ở Việt Nam, truyện ngắn đầu tiên xuất hiện trên văn đàn là “Sống chết

Trang 24

mặc bay” được in trên báo Nam Phong tháng 12 năm 1918, của Phạm Duy

Tốn - là nhà văn xã hội tiên phong của nền văn học mới Việt Nam hồi đầu thế

kỷ XX Truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của ông được coi là truyện ngắn

đầu tiên theo lối tây phương của văn học Việt Nam Sau truyện ngắn này, trên văn đàn văn học VN hiện đại đã xuất hiện nhiều nhà văn như: Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, v.v…với các tác phẩm được xem là mẫu mực của truyện ngắn Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đội ngũ các nhà văn viết truyện ngắn ngày càng đông đảo xuất hiện thêm các nhà văn mới (Nguyên Ngọc, Kim Lân, Nguyễn Khải, Tô Hoài, Nguyễn Minh Châu) Do tính chất của thời đại quy định, truyện ngắn Việt Nam ở giai đoạn này được sáng tác theo cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi Sau năm 1975, đặc biệt là sau thời kì đổi mới 1986, truyện ngắn Việt Nam hướng vào những chuyện đời sống thường nhật với cảm hứng thế

sự đời tư Cùng với những nhà văn tự chuyển hướng sáng tác của mình cũng xuất hiện thế hệ nhà văn mới

1.2.2 Một số đặc trưng cơ bản của truyện ngắn

Trong quá trình vận động và phát triển, truyện ngắn vẫn không ngừng thay đổi cả về nội dung và hình thức thể hiện Tuy nhiên có thể rút ra một số đặc điểm của thể loại truyện ngắn như sau:

Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời Nội dung thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó

là ngắn Truyện ngắn có thể kể cả một cuộc đời hay đoạn đời, một sự kiện hay một chốc lát trong cuộc sống nhân vật Nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời…Truyện ngắn nói chung không phải vì truyện của nó ngắn mà vì cách nắm bắt cuộc sống của thể loại Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện

Trang 25

tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan niệm nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người Chính vì vậy trong truyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít

sự kiện phức tạp Chỗ khác biệt quan trọng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn là nếu nhân vật chính của tiểu thuyết thường là một thế giới thì nhân vật truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới Truyện ngắn không nhằm tới việc khắc họa những tính cách điển hình, có cá tính đầy đặn và nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh

So với các thể loại khác, nhân vật trong truyện ngắn có những nét riêng Truyện ngắn thường ít nhân vật Nhân vật trong truyện ngắn cũng ít khi được khắc họa tỉ mỉ như trong truyện dài và truyện vừa Truyện ngắn thường không nhằm tới việc khắc họa những tính cách toàn diện, đầy đặn, với nhiều mặt tương quan với hoàn cảnh Tuy nhiên, không phải vì thế mà nhân vật truyện ngắn không có ý nghĩa khái quát cao, đúng như nhận xét của Ma Văn Kháng: tôi cho rằng nhân vật trong truyện ngắn không thể phức tạp theo kiểu truyện dài nhưng vẫn có thể có nhiều khía cạnh khiến cho người đọc cảm thấy

cả nhân vật lẫn tác giả của nó không đơn giản Có thể nói giữa một nhà văn viết tiểu thuyết và một tác giả truyện ngắn có sự khác nhau rất cơ bản: nhà văn viết tiểu thuyết phải theo dõi tìm hiểu nhân vật của mình còn nhà văn truyện ngắn phải sử dụng nhân vật sao cho thật đắc địa Truyện ngắn không phải là nơi các nhân vật hiện ra đủ mọi vẻ như là nó vốn có ở đây Nhân vật truyện ngắn thường hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Mặt khác, do đó, truyện ngắn lại có thể

mở rộng diện tích, nắm bắt các kiểu loại nhân vật đa dạng trong cuộc sống

Truyện ngắn là một thể loại văn học Nó thường là các câu chuyện được kể bằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu truyện dài như tiểu thuyết Thông thường truyện ngắn có độ dài chỉ

từ vài dòng đến vài chục trang, trong khi đó tiểu thuyết rất khó dừng lại ở

Trang 26

con số đó Vì thế, tình huống truyện luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất của nghệ thuật truyện ngắn Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một tình huống, một chủ đề nhất định Trong khi đó, tiểu thuyết chứa được nhiều vấn

đề, phủ sóng được một diện rộng lớn của đời sống Do đó, truyện ngắn thường hết sức hạn chế về nhân vật, thời gian và không gian trong truyện ngắn cũng không trải dài như tiểu thuyết Đôi khi truyện ngắn chỉ là một khoảnh khắc của cuộc sống

Cốt truyện là vấn đề được rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu đề cao Khác với các thể loại tự sự khác, truyện ngắn với các đặc trưng của nó thường tái hiện một khoảnh khắc nào đó của đời sống nhân vật chứ không phải là một quá trình, vì thế cốt truyện của truyện ngắn thường khá sâu và vai trò của các chi tiết, đặc biệt là các chi tiết tiêu biểu, là vô cùng quan trọng Các truyện ngắn sáng tác theo phương thức truyền thống thường ưu tiên hàng đầu cho cốt truyện và đó đồng thời cũng là nhân tố hàng đầu tạo nên cái hay, dở, sự hấp dẫn hay nhàm chán của tác phẩm Tuy nhiên, nếu truyện ngắn sáng tác theo lối truyền thống thường phát triển theo năm bước: trình bày, khai đoạn, phát triển, đỉnh điểm và kết thúc, thì truyện ngắn hiện đại thế kỉ XX dường như không chú ý lắm đến cốt truyện, nhiều truyện ngắn còn có xu hướng hủy diệt cốt truyện

1.2.3 Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn

Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, thường bao gồm một lớp truyện thể hiện một vấn đề, một bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm trạng nhân vật Lớp sự kiện trong truyện ngắn xảy ra trong một không gian nhất định Những tính cách, những quan hệ trong truyện ngắn được miêu tả ở thời khắc chúng bộc lộ rõ bản chất, quy luật Như vậy truyện ngắn chỉ xoáy vào một điểm của hiện thực như là sự thể hiện kết quả của một quá trình

Hình thức của truyện ngắn là ngắn gọn Tuy nhiên sự giao động về khối

Trang 27

lượng của thể loại này có biên độ rất lớn Trong thực tế, có cốt truyện đầy đủ các khâu: trình bày, khai đoạn, phát triển, đỉnh điểm và kết thúc Song bên cạnh

đó có những cốt truyện lại chỉ là sự vận động của dòng tâm trạng Truyện ngắn

có thể kể về một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một chốc lát trong cuộc sống nhân vật Cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời Vì vậy, sức nén của truyện ngắn thường rất lớn, có khi chỉ trong một số lượng ít ỏi trang giấy mà làm hiện lên

cả một cuộc đời tạo được không khí của một giai đoạn lịch sử Có thể nói rằng, truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng mang tính thể loại của một số cây bút hiện nay Hình thức tự sự cỡ nhỏ này có thể vươn tới những giới hạn mới

Truyện ngắn là cách thức tiếp cận miêu tả đời sống và con người Đối với truyện ngắn, một thể loại tự sự mà yêu cầu về sự ngắn gọn, hàm súc được đặc biệt đề cao, thì sự hấp dẫn và chất lượng nghệ thuật của tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào kết cấu Truyện ngắn, với dung lượng nhỏ, đòi hỏi người viết phải chưng cất, dồn nén hiện thực và bố trí, sắp xếp các thành phần, các yếu tố thuộc về chất liệu vừa khoa học, vừa có tính nghệ thuật cao nhất Trong tình hình đó thể loại truyện ngắn được tổ chức theo một cách hiểu truyền thống phổ biến là quá trình nhân quả Các nhà viết truyện ngắn sau

1975 đã có những cách tổ chức mới, có khi nhà văn vào truyện bằng cách kết thúc vấn đề rồi mới lý giải khơi gợi sự liên tưởng, suy ngẫm của người đọc

Khi sáng tác nói chung và viết truyện ngắn nói riêng, nhà văn phải sắp xếp các cảnh ngộ, tính cách và sự kiện theo một trình tự, một hệ thống nhất định theo những tỷ lệ nhất định để trình bày với người đọc nội dung tác phẩm được gọi là tổ chức kết cấu tác phẩm Kết cấu là kiến trúc tác phẩm, là quan

hệ hữu cơ giữa toàn thể với bộ phận, giữa bộ phận với bộ phận nhằm biểu đạt nội dung Có thể nói rằng các kiểu kết cấu thông thường như kết cấu theo

Trang 28

trình tự thời gian (tuyến tính), kết cấu bằng cách đi thẳng vào giữa truyện, kết cấu theo hai tuyến nhân vật thì kết cấu tâm lý ở thời kỳ mới nổi bật lên là hình thức truyện ngắn ở luận đề Tính luận đề hiện lên như một sức mạnh riêng, độc đáo của truyện ngắn Kết cấu truyện ngắn không chia thành nhiều tuyến phức tạp nên nhà văn càng có điều kiện tập trung tạo sức dồn nén có tính liên tục của các sự kiện và nhiều mối quan hệ trực tiếp giữa chúng để làm nên cốt truyện Sự phân chia trước một truyện ngắn nói riêng và tác phẩm văn học nói chung có thể nhìn thấy trực tiếp mối quan hệ giữa các phần, các đoạn được phân chia trên bề mặt văn bản tương ứng với từng ý lớn Sự phân chia đó là một khía cạnh của kết cấu và ta gọi sự phân chia đó là bố cục Khái niệm bố cục thuộc nội hàm khái niệm kết cấu Bố cục là sự tổ chức bề mặt ngôn từ của tác phẩm Kết cấu bề mặt hay chiều sâu thì nhiệm vụ của chúng đều hướng tới làm rõ chủ đề tư tưởng, bộc lộ tính cách nhân vật, tổ chức truyện thành một thể thống nhất Như vậy, cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận thức một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người

Ngôn ngữ truyện ngắn mang đậm dấu ấn phong cách nhà văn rất rõ nét bởi việc lựa chọn nghiêm ngặt chất liệu ngôn ngữ, đặc điểm ngôn ngữ xét về mặt dung lượng cũng như kết cấu, bố cục, cốt truyện của truyện ngắn đều thể hiện rõ cá tính sáng tạo của nhà văn Ngôn ngữ truyện ngắn là nơi nhà văn có thể thử nghiệm phong cách và sử dụng ngôn ngữ vừa là tài năng vừa là cá tính sáng tạo, vừa là hiệu quả thể hiện của mỗi một nhà văn để làm nên phong cách riêng của mình Văn học là nhân học là tấm lòng của mỗi nhà văn khi hướng đến phục vụ con người, nâng cao đời sống tinh thần cho con người, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ cho con người

Phong cách nhà văn là nét riêng, độc đáo để phân biệt nhà văn này với nhà văn khác Những nét riêng ấy là sự lặp đi lặp lại có hệ thống trên nhiều

Trang 29

tác phẩm văn học hoặc trên một tác phẩm của cùng một tác giả những yếu tố nghệ thuật Nét riêng đó thể hiện cách nhìn cách cảm của mỗi nhà văn đối với thế giới khách quan và tài năng của nhà văn đó trong việc sử dụng các phương tiện biểu đạt Phong cách nhà văn vừa mang những nét riêng cá nhân, vừa mang dấu ấn của dân tộc và thời đại Phong cách nhà văn chịu sự chi phối của các yếu tố như thế giới khách quan, tâm lý, khí chất và cá tính của mỗi người Đó là nhân tố quyết định sự hình thành phong cách của nhà văn Khi phong cách của mỗi nhà văn đã hình thành rồi thì thường có tính bền vững và tương đối ổn định Tuy nhiên phong cách của nhà văn vẫn có sự thay đổi, phát triển trong từng điều kiện nhất định

Như vậy, khi nghiên cứu phong cách nhà văn, chúng ta nhất thiết phải tìm ra nét riêng của nhà văn đó Phải tìm xem nhà văn đó đã kế thừa những

gì ở truyền thống văn học dân tộc và họ đã có những đổi mới, phát triển, đóng góp nào cho kho tàng văn học dân tộc Để làm được điều đó chúng ta cần phải khảo sát trên nhiều tác phẩm của một tác giả có sự lặp đi lặp lại nhiều lần những yếu tố nghệ thuật Trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc

có những cây bút trẻ đã tạo cho mình phong cách ngôn ngữ riêng khơi dậy trong lòng người giá trị nhân văn cao đẹp - nhà văn Trần Thanh Cảnh là một tác giả như thế

1.3 Tiểu kết chương 1

Như vậy, từ khi ra đời cho đến nay, thể loại truyện ngắn đã có được chỗ đứng vững chắc và chiếm vị trí quan trọng không thể thiếu đối với hoạt động sáng tạo nghệ thuật của nhân loại với những thành công và đóng góp to lớn của nó cho nền văn học Trong quá trình phát triển, thể loại truyện ngắn vẫn không ngừng biến đổi và phát triển cả về nội dung và hình thức Ở Việt Nam,

sự đổi mới của truyện ngắn diễn ra sôi nổi từ sau năm 1986 và đã gặt hái được nhiều thành công to lớn với rất nhiều tên tuổi như Nguyễn Huy Thiệp, Ma

Trang 30

Văn Kháng, Mạc Can, Võ Thị Hảo, Y Ban, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Tư Ở giai đoạn sau này, Trần Thanh Cảnh cũng đã tự ghi tên mình trong dòng chảy của nền văn học Việt Nam với những truyện ngắn xuất sắc Qua phần tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Trần Thanh Cảnh, chúng ta có thể khẳng định rằng, với những nỗ lực cách tân, tìm tòi, sáng tạo, ông đã khẳng định được tên tuổi của mình trong văn học Việt Nam đương đại Những cơ sở

lý thuyết về ngôn ngữ truyện ngắn đã trình bày sẽ là công cụ để chúng tôi vận

dụng nghiên cứu vấn đề từ ngữ trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng

Ngọc của Trần Thanh Cảnh

Trang 31

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ TRONG TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN

KỲ NHÂN LÀNG NGỌC CỦA TRẦN THANH CẢNH

2.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ và từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật

2.1.1 Từ ngữ trong ngôn ngữ

Từ là đơn vị từ cơ bản của từ vựng và của ngôn ngữ nói chung Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có thể dùng độc lập Trong thành phần từ vựng của mỗi ngôn ngữ, bên cạnh từ chiếm số lượng chủ đạo còn có các cụm từ cố định Xét về chức năng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, từ và cụm từ cố định có nhiều điểm giống nhau, tuy nhiên cụm từ cố định do các từ cấu tạo nên Cho nên, từ

là đơn vị cơ bản của từ vựng Từ cũng là đơn vị cơ sở đề cấu tạo các đơn vị lớn hơn là cụm từ, câu, văn bản Trong các đơn vị ngôn ngữ, từ là đơn vị duy nhất có thể đảm nhận nhiều chức năng nhất như: chức năng định danh, chức năng phân biệt nghĩa, chức năng cấu tạo đơn vị lời nói, chức năng thông báo (tiềm ẩn) Thuộc tính nhiều chức năng của từ cho phép nó trở thành một loại đơn vị có tính chất phổ biến nhất, cho phép nó chiếm vị trí trung tâm trong cấu trúc của ngôn ngữ

Các đơn vị ngôn ngữ như hình vị, từ, cụm từ và câu đều có hai mặt Tuy nhiên từ tồn tại ở trong hai biến dạng: với tính cách như một kí hiệu đa nghĩa tiềm tàng khi nằm trong hệ thống từ vựng và với tính cách một kí hiệu thực tại khi dùng trong lời nói Trong hệ thống từ vựng, từ có thể có nhiều nghĩa nhưng trong ngữ đoạn, chỉ có một ý nghĩa nào đó của từ được thực tại hóa mà thôi, nhiều khi từ còn thêm những sắc thái ý nghĩa mới khác với các ý nghĩa của hệ thống

Từ có cấu trúc ý nghĩa rất phức tạp Trong nội dung của các thực từ dung hợp những giá trị khác nhau xét theo quan điểm mức độ khái quát và

Trang 32

tính chất của sự khái quát hóa Mỗi từ riêng biệt, ngoài ý nghĩa từ vựng vốn

có của mình, bao giờ cũng có một nghĩa tố ngữ pháp chỉ ra từ loại của nó Tùy theo cái được biểu đạt là sự vật, hành động hay tính chất mà từ đó có các nghĩa tố chỉ ra nó thuộc danh từ, động từ hay tính từ

Như vậy, từ là đơn vị tồn tại tự nhiên trong ngôn ngữ và chính nó là đơn

vị trung tâm của ngôn ngữ Tuy nhiên để nhận diện và đưa ra định nghĩa về từ thì rất khó Cái khó ở đây là do sự khác nhau về cách định hình, về chức năng

và những đặc điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng như trong cùng một ngôn ngữ Có từ mang chức năng định danh; có từ không mang chức năng định danh; có từ chỉ là dấu hiệu của những cảm xúc nào đó; có từ liên hệ với những sự vật, hiện tượng ngoài thực tế; có từ lại chỉ biểu thị những quan hệ trong ngôn ngữ; có từ có kết cấu nội bộ; hoặc có từ tồn tại trong nhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau và cũng có từ chỉ tồn tại trong một dạng thức Hiện tượng đồng âm và đa nghĩa cũng gây không ít khó khăn trong việc tách biệt và đồng nhất các từ Cho đến nay, trong ngôn ngữ học, các định nghĩa về

từ đều được đưa ra không ít Các định nghĩa ấy, ở mặt này hay mặt kia đều đúng, nhưng đều không đủ và không bao gồm hết được tất cả các sự kiện được coi là từ trong các ngôn ngữ và ngay cả trong một ngôn ngữ cũng vậy

Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học cũng đã đưa ra rất nhiều khái niệm

về từ của tiếng Việt Các nhà ngôn ngữ học đã có sự thống nhất chung về từ ở một số đặc điểm chính: âm thanh, ý nghĩa, cấu tạo và khả năng hoạt động Ở đây, chúng tôi chọn định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu làm cơ sở cho việc xác định và nghiên cứu đơn vị từ trong tác phẩm của Trần Thanh Cảnh: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [11; 16]

Trang 33

2.1.2 Từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật

Từ là đơn vị ngôn ngữ có sẵn, tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ, tạo thành kho từ vựng của mỗi ngôn ngữ Trong kho từ vựng của ngôn ngữ, từ tồn tại ở trạng thái tĩnh với các tiềm năng nhất định Chỉ trong quá trình tham gia vào các hoạt động giao tiếp, từ mới thực sự có cuộc sống sinh động, mới bộc lộ rõ và cụ thể hóa các thuộc tính hay đặc điểm thuộc các bình diện khác nhau của nó và thậm chí có thể có những biến đổi và chuyển hóa đa dạng, phong phú hơn so với khi nó tồn tại ở trạng thái tĩnh của hệ thống ngôn ngữ

Trong thực tiễn của đời sống xã hội và cá nhân, hoạt động giao tiếp diễn ra trong những hoàn cảnh cụ thể, xác định Vì vậy khi tham gia vào hoạt động giao tiếp cụ thể, các từ chuyển từ trạng thái chung, khái quát, trừu tượng sang trạng thái riêng cụ thể, tức là các từ hiện thực hóa các thuộc tính, các đặc điểm trừu tượng, mang tính tiềm năng của mình Sự hiện thực hóa đó diễn ra

ở các bình diện của từ

Ví dụ, từ đi khi được xác định nghĩa trong từ điển [34; 240], với tư

cách là một đơn vị ngôn ngữ, xét về từ loại, có khi nó được xem là động từ và

cũng có khi nó được xem là phụ từ Với từ loại động từ, từ đi có 7 nghĩa khác nhau, cụ thể như: đi từng bước một, đi họp, xe đi chậm quá, chạy đi lúc nào,

đi một nước cờ cao, đi sâu vào đời sống…Và với tính cách là phụ từ, đi còn

có thể hiện mệnh lệnh thúc giục, khuyên răn: im đi, nói đi Như vậy, khi đi vào phát ngôn, nghĩa của từ đi mới được bộc lộ, cụ thể hóa và xác định

Cũng trong hoạt động giao tiếp, đồng thời với sự cụ thể hóa thì từ có thể được gia tăng những sắc thái mới, nội dung mới do chính sự vật mà nó biểu thị đem lại:

Ví dụ: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

(Viếng lăng Bác - Viễn Phương)

Trang 34

Trong câu thơ thứ nhất, mặt trời mang ý nghĩa từ vựng chỉ sự vật cụ thể Tuy nhiên trong câu thơ thứ hai, mặt trời không chỉ sự vật cụ thể khách

quan nữa mà để chỉ con người - một con người đáng kính - Bác Hồ Đây như một sự so sánh ngầm Bác Hồ như một vầng sáng soi rõ con đường đấu tranh

giành độc lập của dân tộc Như vậy, mặt trời ở đây không còn nguyên nghĩa

như trong từ điển nữa mà đã được phương thức tu từ ẩn dụ tác động vào nhằm đạt hiệu quả nghệ thuật trong giao tiếp

2.2 Các lớp từ tiêu biểu trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng

Ngọc của Trần Thanh cảnh

2.2.1 Từ láy

2.2.1.1 Một số nét sơ lược về từ láy

a Về khái niệm từ láy

Khái niệm từ láy hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau của các nhà ngôn ngữ học Theo Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên): “Từ láy là những từ cấu tạo bằng cách lặp lại thành phần âm thanh của một hình vị hoặc một từ

Từ láy phổ biến ở các ngôn ngữ đông và đông nam châu Á Có thể phân ra từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận” [18,70] Định nghĩa về từ láy của Nguyễn Thiện Giáp nhấn mạnh đến phương thức cấu tạo từ láy và ông cũng có những phân loại cụ thể cho từ láy Tuy nhiên, vì quan niệm của tác giả, từ là đơn vị

có cấu tạo một tiếng nên cái cách nói từ láy lặp lại “một từ” chính là lặp lại tiếng gốc như quan niệm của các tác giả khác Nhiều tác giả khác như Đỗ Hữu Châu [11; 41]; Diệp Quang Ban [4; 33], Nguyễn Thái Hòa [21; 246], Đinh Trọng Lạc [22; 33],… tuy mỗi tác giả có cách định nghĩa khác nhau, nhấn mạnh vào những đặc điểm khác nhau của từ láy nhưng đều thống nhất cho rằng từ láy là từ được tạo ra theo phương thức láy do quy tắc lặp lại toàn

bộ hay bộ phận hình thức âm tiết của âm tiết gốc, nghĩa sắc thái hóa, mang tính biểu cảm, gợi tả

Trang 35

Ở trong luận văn này, chúng tôi dựa theo quan niệm của Đỗ Hữu Châu

để khảo sát Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [11, 41]

b Về đặc điểm của từ láy

Từ láy là lớp từ được sử dụng rất phổ biến trong lời ăn, tiếng nói hàng ngày và đặc biệt là trong sáng tạo văn học Ngay từ xa xưa, ông cha ta đã đặc biệt dùng từ láy vào trong các sáng tác của mình:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như ngồi đống lửa, như ngồi đống rơm

Bởi vì từ láy có tính biểu trưng cao, có khả năng gợi hình gợi cảm, tạo tính sinh động cụ thể cho những đối tượng được đề cập trong phát ngôn nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc, người nghe Từ láy được tạo ra bởi phương thức láy, tuy nhiên phương thức láy ở trong tiếng Việt cũng vô vùng phong phú nên tạo ra được vô vàn những từ láy mang giá trị biểu cảm Vì vậy, cho đến nay từ láy luôn luôn thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà ngôn ngữ học

Từ láy được cấu tạo theo phương thức láy Phương thức láy là phương thức tác động vào một hình vị rời tự thân có nghĩa (hoặc một đơn vị phức hợp

có nghĩa) làm xuất hiện một hình vị láy có hình thức ngữ âm giống hoặc gần giống với nó Hình vị có nghĩa sẽ được gọi là hình vị cơ sở Phương thức láy

có thể tạo ra hình thái từ mới, tức là tạo ra những từ có cấu trúc nghĩa mới, khác so với cấu trúc của đơn vị cơ sở

Về mặt cấu tạo, từ láy có thể được phân loại dựa theo nhiều bước và mỗi bước dựa vào một tiêu chí được coi là thỏa đáng

Trang 36

Sự phân loại bước thứ nhất căn cứ vào số lần tác động của phương thức láy từ láy ta có từ láy đôi, từ láy ba, từ láy bốn Phương thức láy tác động lần đầu vào một hình vị gốc một âm tiết sẽ cho ta các từ láy đôi hay từ láy hai âm tiết Tiếp đó, phương thức láy có thể tác động lần thứ hai vào một từ láy đôi

để cho ta các từ láy bốn âm tiết Phương thức láy cũng có thể tác động một lần vào một hình vị một âm tiết cho ta một từ láy ba âm tiết

Sự phân loại bước thứ hai dựa vào mức độ điệp trong các bộ phận âm tiết của từ láy đôi để chia chúng thành hai loại: từ láy bộ phận và từ láy hoàn toàn Các từ láy bộ phận lại có thể được chia thành từ láy âm và từ láy vần

Về mặt ngữ nghĩa, nghĩa của các từ láy được tạo thanh do sự sắc thái nghĩa của các hình vị cơ sở Dạng phổ biến nhất của sắc thái hóa ý nghĩa hình

vị cơ sở là cụ thể hóa nghĩa của hình vị cơ sở làm cho nghĩa của từ láy cụ thể,

rõ nét, xác định hơn, hẹp hơn, gợi tả hơn, có giá trị biểu hiện và biểu cảm cao hơn so với hình vị cơ sở Một số từ láy bị giảm nhẹ hoặc thu hẹp bớt nghĩa của các hình vị cơ sở Một số từ láy có cùng khuôn vần và có cùng mô hình cấu tạo thường có cùng một giá trị ngữ nghĩa nào đấy

Do sự hài hòa về ngữ âm và nghĩa nên từ láy có giá trị tu từ rất cao khi được sử dụng Từ láy không chỉ tạo ra nhịp điệu mà còn có thể đánh thức các thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác kèm theo những ấn tượng

về sự cảm thụ chủ quan, những cách đánh giá, những thái độ của người nói trước sự vật, hiện tượng, đủ sức thông qua các giác quan hướng nội và hướng ngoại của người nghe mà tác động mạnh mẽ đến học Do đó, từ láy được sử dụng phổ biến trong những phong cách đòi hỏi sự cụ thể hóa hình tượng ở mức độ cao mà điển hình là phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

Như vậy, có thể nói các từ láy là những công cụ tạo hình rất đắc lực của nghệ thuật văn học Tuy nhiên để lựa chọn và sử dụng lớp từ này phù hợp với

Trang 37

đề tài, nội dung của tác phẩm cũng như phong cách ngôn ngữ từng thể loại đòi hỏi sự lựa chọn nhạy bén, tinh tế và năng lực ngôn ngữ của tác giả

2.2.1.2 Từ láy trong tuyển tập truyện ngắn “Kỳ nhân làng Ngọc” của Trần Thanh Cảnh

Qua nghiên cứu, khảo sát tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc

của Trần Thanh Cảnh, chúng tôi thấy nhà văn đã vận dụng triệt để vai trò, tính năng của ngôn ngữ nghệ thuật, mà cụ thể là sử dụng lớp từ láy Sau đây là

bảng thống kê số lượng và tần số sử dụng từ láy trong tuyển tập truyện ngắn

Kỳ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh

Sử dụng phương pháp thống kê, tiến hành khảo sát tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, chúng tôi nhận thấy lớp từ láy được Trần Thanh Cảnh sử dụng với tần suất cao: với 300 trang truyện ngắn số lượng lượt từ láy

được sử dụng là 1001 lần Trong đó, 205 lần sử dụng từ láy hoàn toàn, chiếm

tỉ lệ 20,5%, 796 lần từ láy bộ phận được dùng, chiếm tỉ lệ 79,5 % Trong 796 lần từ láy bộ phận được sử dụng, có 140 lần từ láy phần vần xuất hiện, chiếm

tỉ lệ 17,6% lần so với tần số từ láy bộ phận và chiếm 14% so với tổng số lần

từ láy được dùng; từ láy phụ âm đầu được dùng 656 lần, chiếm tỉ lệ 82,4% lượt dùng của từ láy bộ phận và chiếm 65,5% so với tổng số lần từ láy được dùng Kết quả cụ thể được thể hiện qua bảng tổng hợp 2.1.sau:

Bảng 2.1 Thống kê tần số sử dụng từ láy trong

tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc

Từ láy Số lần láy hoàn toàn

dược dùng

Số lần láy bộ phận được dùng Láy vần Láy phụ âm đầu

Tổng 205 (20,5 %) 796 (79,5)

Trang 38

Qua bảng thống kê trên ta thấy Trần Thanh Cảnh sử dụng từ láy với tần

số rất cao Đặc biệt một số truyện ngắn, số lần sử dụng từ láy trong truyện rất

nhiều: truyện Hương đêm số lần sử dụng từ láy là 130 lần, truyện Giỗ hậu số lần sử dụng từ láy là 182 lần, truyện Hoa gạo tháng ba số lần sử dụng từ láy

là 81 lần, truyện Kỳ nhân làng Ngọc số lần sử dụng từ láy là 112 lần

Trong tiếng Việt, từ láy là lớp từ vừa mang tính hình ảnh, biểu trưng cao nhất, đồng thời cũng mang tính hòa phối ngữ âm, giàu nhạc điệu nhất Vì thế có thể nói, việc sử dụng từ láy trong văn học như là một tất yếu của nghệ thuật sáng tạo ngôn từ của các nhà văn, nhà thơ Song sử dụng từ láy hiệu quả hay không, làm sao phát huy được vai trò của nó thì lại đòi hỏi tài năng của nhà văn Làm sao, trong một câu, một đoạn, mỗi từ láy là một nốt nhạc góp phần tạo nên âm điệu chung cho cả bài Từ láy không chỉ tạo nên tính nhạc cho câu văn, sự hòa âm cho cả tác phẩm mà còn là bức tranh hội họa của văn chương, không có khung hình cụ thể song vì thế mà sống động, nhờ sức gợi

mở tưởng tượng mang tính biểu trưng biểu tượng của từ Và với phương thức tạo từ láy thì ngoài vốn từ láy đã có sẵn, các nhà văn cũng có thể tự tạo ra những dạng láy mới Không chỉ có vậy, với nghệ thuật sử dụng từ ngữ của nhà văn, tác giả không những tạo nên những kết hợp từ láy độc đáo, bất ngờ sáng tạo trong những câu văn, trong những tác phẩm còn có thể tạo cho từ những sắc thái nghĩa mới, sức sống mới Bởi vì ngôn ngữ nghệ thuật chỉ thực

sự độc đáo, không trở thành sáo mòn khi nó phát huy tối đa tác dụng, tạo ra sự

bổ sung mới để không những phù hợp với nội dung mà nó phản ánh mà còn tạo nên sự mới mẻ hấp dẫn

Trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc Trần Thanh Cảnh sử

dụng phần lớn các từ láy âm (láy phụ âm đầu) Thường những từ láy này được

sử dụng trong những ngữ cảnh thích hợp, mang ý nghĩa sắc thái hóa, tạo nên

ấn tượng cho người đọc

Trang 39

a Các dạng từ láy được dùng trong tuyển tập truyện ngắn “Kỳ nhân làng Ngọc”

Theo tiêu chí số lượng và cách láy chúng tôi thống kê được các dạng sau:

- Từ láy hai tiếng (láy đôi) có 1001 lần từ láy loại này xuất hiện Trong

từ láy đôi có 205 lần từ láy hoàn toàn xuất hiện, chiếm tỉ lệ 20,5%, có 796 lần

từ láy bộ phận được dùng, chiếm tỉ lệ 79,5% Như vậy Nguyễn Thanh Cảnh chủ yếu dùng từ láy đôi, trong đó số lần từ láy bộ phận được dùng chiếm tỉ lệ gấp hơn 3 lần so với từ láy hoàn toàn

+ Láy hoàn toàn: Trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, từ

láy hoàn toàn được dùng tuy có số lần xuất hiện không cao như từ láy bộ phận nhưng lại có mặt với các dạng khác nhau

Lớp từ láy hoàn toàn đối trọng âm Hay nói cách khác đây là những từ

láy điệp cả âm đầu, vần và thanh điệu chúng chỉ đối trọng âm khi đọc Ví dụ:

giăng giăng, nhong nhong, dần dần, lâu lâu, lù lù, gấp gấp, đăm đăm, lia lịa, thiếu thiếu, phê phê, sàn sàn, đường đường, khéo khéo, mờ mờ, lừa lừa, từ từ,

lừ lừ, lắc lắc, sơ sơ, xinh xinh, xè xè, phừng phừng, phăm phăm, băng băng, chồm chồm, vẩn vẩn, thao thao, bùng bùng, tênh tênh, buồn buồn

Việc dùng những từ láy hoàn toàn đã tạo ra khả năng hòa âm, tạo tính nhạc cho câu văn, đoạn văn làm cho câu văn trở nên hữu hình cụ thể và sinh động hơn Thử đọc một vài câu có dùng từ láy loại này

- Tiết xuân phân, mưa giăng giăng bay, đào tàn lâu rồi, xoan mới nhu nhú vài giọt tím mờ, rặng tre, cây mít, cây ổi búp lá mới rón rén xanh mơ như vẫn đương ngại ngùng cơn rét lộc…(Hội làng - tr.9)

- Không hiểu sao, từ độ đó trở đi, nhìn trai nào Yến cũng thấy hay hay, cũng “cho” được (Gái đảm - tr.24)

- Lại xa nhau mãi mãi về phía vô cực (Mùa thi - tr.45)

- Trong lúc ngồi đợi khách VIP hẹn về muộn, sếp Tiến ngồi ở bộ tràng

kỷ xế bên gian thờ nhìn đăm đăm lên bức ảnh cụ thân sinh (Sếp tổng - tr.68)

Trang 40

- Cơ mà bàn tay anh ấy tài thật, xoa vào mông mà cả người em cứ thấy

êm ái, lâng lâng, nhôn nhao khắp các chỗ (Ngay trong đêm - tr.94)

Lớp từ láy hoàn toàn đối thanh:

Ví dụ, trong tuyển tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, Trần Thanh Cảnh

đã dùng các từ láy hoàn toàn đối thanh như: nhu nhú, lanh lảnh, rều rễu, ken két,

hao háo, khe khẽ, kha khá, lành lạnh, ngấm ngầm, dong dỏng, ngong ngóng, hơn hớn, cuống cuồng, rờn rợn, rơm rớm, nhan nhản, sang sảng, nho nhỏ, nheo nhéo, lẳng lặng, lồ lộ, rờ rỡ, mơn mởn, cuồn cuộn, mang máng, xoành xoạch…

Như vậy ngoài những từ láy tuân thủ nguyên tắc thanh điệu thanh bằng đối với thanh trắc trong mỗi nhóm cùng âm vực và bằng trước trắc sau, Trần Thanh Cảnh còn tạo ra những từ láy không cùng âm vực, tạo nên sự phong phú tạo ra âm hưởng trầm bổng cho câu văn Đọc một số câu văn mà tác giả

đã dùng từ láy hoàn toàn đối thanh, ta thấy từ láy được dùng rất tự nhiên:

- Cô bạn cùng đi hét lên lanh lảnh, túm cổ áo Hoàng, lôi đầu ra khỏi ngực Thúy, dúi Hoàng ngã lăn lông lốc xuống chiếu nghỉ (Mùa thi - tr.38)

- Mấy năm bộ đội, không được gần gũi đàn bà, thấy lúc nào trong người cũng hao háo, thiếu thiếu (Ngay trong đêm - tr.89)

- Cái lý do để dân làng ngấm ngầm ghét Quang “bản phủ”, nó nằm ở mục có tính truyền thống quê hương (Có trời - tr.100)

- Nay giáo làng nhan nhản.(Ngôi biệt thự bỏ hoang - tr.155)

- Bị ám ảnh và gần như mê hoặc giọng nói hùng biện, truyền cảm mà vẫn sang sảng: “Sư phạm là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”

(Ngôi biệt thự bỏ hoang - tr.156)

- Rồi gây dựng cho một cơ ngơi kha khá (Giỗ hậu - tr.213)

- Thế rồi dân làng Ngọc như quên hết chuyện xưa, lẳng lặng mỗi người một tý, cho bố con ông Lư cất được gian nhà trên căn lều cũ khi xưa (Giỗ hậu - tr.219)

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
2. M.Baktin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtoiepxki (Trần Đình Sử dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtoiepxki
Tác giả: M.Baktin
Năm: 1993
3. M. Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch và giới thiệu, in lần thứ hai năm), Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
4. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội 5. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp Việt Nam. Phần câu, NXB Đại họcSư phạm I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt", Nxb Giáo dục, Hà Nội 5. Diệp Quang Ban (2004), "Ngữ pháp Việt Nam. Phần câu
Tác giả: Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội 5. Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
6. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
7. Hoàng Trọng Canh (2011), Ngữ nghĩa học từ vựng tiếng Việt - tập bài giảng chuyên đề theo học chế tín chỉ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học từ vựng tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2011
8. Trần Thanh Cảnh (2013), Đại gia, NXB Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại gia
Tác giả: Trần Thanh Cảnh
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2013
9. Trần Thanh Cảnh (2013), Mỹ nhân làng Ngọc, NXB Trẻ, Hà Nội 10. Nguyễn Tài Cẩn (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ nhân làng Ngọc", NXB Trẻ, Hà Nội 10. Nguyễn Tài Cẩn (2004), "Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Trần Thanh Cảnh (2013), Mỹ nhân làng Ngọc, NXB Trẻ, Hà Nội 10. Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2004
11. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
12. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ vựng tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ vựng tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1986
13. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục, Hà Nội 14. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, NXB Quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng", NXB Giáo dục, Hà Nội 14. Đỗ Hữu Châu (2001), "Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục, Hà Nội 14. Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
15. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, tập 1, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
16. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
17. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
18. Nguyễn Thiện Giáp (2001), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2000
20. Cao Xuân Hạo (1999), Tiếng Việt - Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt - Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
21. Nguyễn Thái Hòa (2005), Từ điển tu từ - phong cách - thi pháp học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ - phong cách - thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
22. Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 23. Hồ Lê (1976), Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt", Nxb Giáo dục, Hà Nội, 23. Hồ Lê (1976), "Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 23. Hồ Lê
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1976
24. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Bài tập ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w