Văn hóa, đặc biệt là ngôn ngữ được người Pháp sử dụng như là một công cụ để phát triển quan hệ với các nước Đông Dương, trong đó Việt Nam được coi là quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HỒ THỊ LỊCH
QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ, VĂN HÓA
GIÁO DỤC, KHOA HỌC - KỸ THUẬT GIỮA PHÁP
VÀ VIỆT NĂM TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2016
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới
Mã số: 60.22.03.11 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn KH: PGS.TS Bùi Văn Hào
NGHỆ AN - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Sau Đại học, Khoa Lịch sử, Tổ Lịch sử Thế giới và các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy lớp Cao học Sử, khóa 23, trường Đại học Vinh
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc PGS TS Bùi Văn Hào, người đã tận tình động viên, giúp đỡ và hướng dẫn khoa học để tôi hoàn thành
luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, những người đã luôn động viên và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
Mặc dù đã cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, nhưng chắc chắn luận văn vẫn còn có thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của các nhà khoa học và quý thầy cô
Vinh, tháng 8 năm 2017
Hồ Thị Lịch
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ KINH TẾ, VĂN HÓA - GIÁO DỤC, KHOA HỌC - KỸ THUẬT GIỮA PHÁP VÀ VIỆT NAM TỪ 2005 ĐẾN NĂM 2016 8
1.1 Bối cảnh quốc tế 8
1.2.Quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trước năm 2005……….………14
1.3 Chính sách đối ngoại của Pháp và Việt Nam từ năm 2005 đến 2016 22
1.3.1 Chính sách của Pháp đối với Việt Nam 22
1.3.2 Chính sách của Việt Nam đối với Pháp 26
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2: QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA PHÁP VÀ VIỆT NAM TRÊN CÁC 32 LĨNH VỰC KINH TẾ, VĂN HÓA - GIÁO DỤC, KHOA HỌC - KỸ THUẬT TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2016 32
2.1 Quan hệ kinh tế 32
2.1.1 Lĩnh vực thương mại 32
2.1.2 Lĩnh vực đầu tư 41
Trang 42.2.3 Lĩnh vực hỗ trợ phát triển 46
2.2 Hợp tác văn hóa - giáo dục 53
2.2.2 Lĩnh vực văn hóa 53
2.2.2 Lĩnh vực giáo dục - đào tạo 59
2.3 Hợp tác khoa học - kỹ thuật 69
Tiểu kết chương 2 74
Chương 3 : MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ KINH TẾ, VĂN HÓA - GIÁO DỤC, KHOA HỌC - KỸ THUẬT GIỮA PHÁP VÀ VIỆT NAM TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2016 75
3.1 Một số thành tựu và hạn chế 75
3.1.1 Những thành tựu chủ yếu 75
3.1.2 Một số tồn tại, hạn chế 79
3.2 Vai trò của hợp tác kinh tế, văn hóa – giáo dục, khoa học – kỹ thuật trong mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2016 87
3.2.1 Góp phần thúc đẩy quan hệ chính trị giữa hai nước 87
3.2.2 Làm “cầu nối” giữa Việt Nam với EU 90
3.2.3 Thúc đẩy văn hóa - giáo dục, khoa học kỹ thuật hai nước phát triển 88
3.3 Một số bài học kinh nghiệm 89
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AAFV The Vietnam – France
Friendship Association
Hội hữu nghị hợp tác Việt –
Pháp AFD Agence Francaise de Développemen Cơ quan Phát triển Pháp
APEC Asia – Pacific Economic
Cooperation
Diễn dàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương ARF ASEAN Regional Forum Diễn dàn khu vực ASEAN
ASEAN Association of South East
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á ASEM The Asia- Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á – Âu
FDI Foreign Diret Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài FSP Free State Projec Quỹ đoàn kết Ưu tiên
IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ Quốc tế
NICs Newwly Industrialized Country Nước công nghiệp mới
ODA Offcial Development Assistance Hỗ trợ phát triển chính thức
OIF Organisation Internationnale
De La Francophonie Tổ chức quốc tế Pháp ngữ UNESCO
United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp Quốc UNSC United Nations Security Council Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Kim ngạch XNK giữa Việt Nam –Pháp từ năm 2005 – 2006 34 Bảng 2: Mặt hàng XNK năm 2011 41 Bảng 3 : Cam kết tài trợ của Pháp cho Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2012 49
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Một trật tự thế giới hình thành và phát triển sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, thay thế cho trật tự hai cực Ianta Từ đối đầu chuyển sang đối thoại cùng tồn tại hòa bình vừa hợp tác, vừa cạnh tranh và phát triển là xu thế chủ đạo trong quan
hệ quốc tế từ cuối thế kỷ XX đến nay Trong bối cảnh lịch sử mới, các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển đều khẩn trương điều chỉnh chính sách đối ngoại để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quan hệ giữa Pháp và Việt Nam không nằm ngoài tiến trình vận động đó
Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, quan `hệ giữa Pháp và Việt Nam chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao Sau khi Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới, chủ trương “mở cửa” để hội nhập quốc tế, quan hệ giữa hai nước đã có nhiều thay đổi Nhất là từ đầu thế kỷ XXI đến nay, quan hệ giữa hai nước đã có nhiều biến chuyển quan trọng, không chỉ trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao mà còn được tăng cường mạnh mẽ trên các lĩnh vực khác như kinh tế, văn hóa - giáo dục và khoa học – kỹ thuật Trên cơ sở đó, tháng 9/2013, hai nước đã nâng tầm quan hệ lên “đối tác chiến lược”
Đi sâu nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa - giáo dục, khoa học -
kỹ thuật giữa Pháp và Việt Nam từ 2005 đến nay, về mặt khoa học sẽ góp thêm
tư liệu để nhận diện đúng những nhân tố tác động, thực trạng, cũng như đặc trưng của quan hệ kinh tế, văn hóa - giáo dục, khoa học – kỹ thuật giữa hai nước trong bối cảnh lịch sử mới
Mặt khác, thông qua nghiên cứu vấn đề trên, về mặt thực tiễn, sẽ rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm nhằm tăng cường quan hệ giữa hai nước trên tất
cả các lĩnh vực, nhất là về kinh tế, văn hóa - giáo dục, khoa học – kỹ thuật, để góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 8Với những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề "Quan hệ hợp tác kinh tế,
văn hóa - giáo dục, khoa học - kỹ thuật giữa Pháp và Việt Nam từ 2005 đến năm 2016" làm đề tài luận văn Thạc sĩ Lịch sử
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, đã có khác nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, luận văn, luận án đề cập đến quan hệ Pháp - Việt Nam nói chung và sự hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực tác kinh tế, văn hóa - giáo dục, khoa học - kỹ thuật giữa
Pháp và Việt Nam từ 2005 đến năm 2016 Trong quá trình được một số công
trình tiêu biểu sau:
2.1 Các công trình nghiên cứu ở Pháp
Công trình nghiên cứu: “Quelle Présence Francaise dans I’espace Tndochinoi’s? Mosdanlites d’une coopération esconomique, sociale culturelle”
(Sự hiện diện nào của Pháp ở Đông Dương? Những hình thức hợp tác của Pháp
ở Đông Dương trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội), của tác giả Jean
Billet, (bản dịch của Nguyễn Quân - Viện thông tin khoa học xã hội – 1995) đã chỉ rõ mục đích và quan điểm Pháp trở lại Đông Dương trong thời kỳ sau Chiến tranh lạnh Văn hóa, đặc biệt là ngôn ngữ được người Pháp sử dụng như là một công cụ để phát triển quan hệ với các nước Đông Dương, trong đó Việt Nam được coi là quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp nhiều nhất ở khu vực này
Công trình nghiên cứu: “Francois Mitterrand à I’Asie” (1997) (Francois Mitterrand với Châu Á, của Georges Sauvier – Đại học Sorbonne cho rằng Pháp
là nước tiên phong trong việc “phá băng” với Việt Nam và Pháp cũng là nước phương Tây đầu tiên đưa Việt Nam đến với cộng đồng thế giới sau Chiến tranh lạnh Tác giả lý giải phần nào nguyên nhân và cách thức đưa Pháp trở lại châu
Á, đó là Pháp muốn dựa trên mối quan hệ “truyền thống” để khôi phục lại vị trí
Trang 9ở Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, trong bối cảnh quan hệ giữa hai châu lục Âu - Á đang phát triển hiện nay
Luận án: “La diplomatie culturelle Francaise: La culture face à de nouveaux enjeeux”, năm 2008, của M.Gerbult Loic đã phân tích về lịch sử và vai trò của chính sách ngoại giao văn hóa Pháp tại nước ngoài, trong đó có Việt Nam
Một số tờ báo nổi tiếng của Pháp như: Le Figaro, Le Monde, Paris Match
có nhiều bài viết về Việt Nam nhân dịp các lãnh đạo cao cấp của Việt Nam
sang thăm Pháp hoặc các nguyên thủ Pháp sang thăm chính thức Việt Nam Có
thể kể đến một số bài viết tiêu biểu như “Le desveloppemnt du Francais –
Vietnamien” (Le Figaro, 09/6/2005), “Vietnam Incontournable” (phụ trương của Paris Match, 30/9/2007) các bài báo dừng lại ở việc đưa tin về hoạt động ngoại
giao hai nước thông qua các cuộc trao đổi đoàn cấp cao hai nước và điểm một số thành tựu của quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trong khoảng thời gian xác định
Một số công trình viết về các Tổng thống Pháp trong những năm từ 2005
đến năm 2016 cũng đã cung cấp thông tin quan trọng về quan hệ hợp tác kinh tế,
văn hóa - giáo dục, khoa học - kỹ thuật giữa Pháp và Việt Nam “La tragédie d’un Président” (Con đường dẫn đến quyền lực Tổng thống) của Franz-Oliver
Gisbert, nhà xuất bản Flammarion (10/2006); “Les diplomats – Derrière la
facade dé ambassades de France” (Những nhà ngoại giao – phía sau vẻ bề ngoài
của các sứ quán Pháp), của Franck Renaud, NXB Nouveau Monde, năm 2010;
là những công trình nghiên cứu đã ít nhiều đề cập đến các nguyên nhân dẫn đến thành tựu cũng như hạn chế trong quan hệ giữa Pháp và Việt Nam
Ngoài ra, báo cáo thường niên của Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam “Quan
hệ Pháp – Việt: sự kiện và con số” (La cooperation Franco – Vietnammienne:
Faits et chiferes) cũng đã giới thiệu về quan hệ hợp tác Pháp – Việt trong một số lĩnh vực như giảng dạy, phát triển ngôn ngữ, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, hợp tác nghiên cứu khoa học
Trang 102.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Quan hệ giữa Pháp và Việt Nam nói chung cũng như trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học – kỹ thuật đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Công trình nghiên cứu “Chính sách đối ngoại của Pháp dưới nền cộng
hòa thứ V”, của Dương Văn Quảng (2003), đã cung cấp những nét lớn trong
chính sách đối ngoại của Pháp dưới thời Cộng hòa thứ V
Tác giả Nguyễn Thị Quế trong “Chính sách đối ngoại của Cộng hòa Pháp
trong giai đoạn sau Chiến tranh lạnh”, năm 2006 đã phác họa những nét lớn
trong chính sách đối ngoại của Pháp sau Chiến tranh lạnh, nhất là trong những năm đầu thế kỷ XXI
Tập hợp các bài viết trong “Hai trăm năm cách mạng Pháp (1789 – 2009)
và quan hệ Việt – Pháp trong lịch sử” (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009)
đã đề cập đến quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể, đồng thời phân tích tác động của mối quan hệ này đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay ở Việt Nam
Quan hệ kinh tế, văn hóa – giáo dục, khoa học – kỹ thuật giữa Pháp và Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2016 cũng được đề cập đến trong nhiều bài báo khoa học, tham luận của các hội thảo Đáng chú nhất là các bài viết của các tác
giả: “Quan hệ Việt Nam – Cộng hòa Pháp trong bối cảnh toàn cầu hóa” của Ngô Minh Oanh, (Nghiên cứu Đông Nam Á, năm 2006);“Quan hệ Pháp – Việt
trong những năm gần đây” của Trần Vũ Phương (Nghiên cứu châu Âu, số 5,
2016; “Ba mươi lăm năm quan hệ Việt Nam – Pháp” của Nguyễn Thu Phương (Tạp chí Cộng sản số 768, 2008); “Hợp tác Pháp – Việt Nam trong thời gian
qua và triển vọng” của Nguyễn Minh Thuấn (Tạp chí Kiến thức quốc phòng
hiện đại, số 8, 2013); “Vị trí Việt Nam trong chính sách châu Á mới của Pháp” của Võ Minh Hùng (Tạp chí nghiên cứu châu Âu, số 8 ,2010); “Quan hệ Việt
Trang 11Nam – Pháp - Thành tựu và kinh nghiệm sau hơn 3 thập kỷ thiết lập quan hệ
ngoại giao” của Dương Thị Thanh Tình ( Nghiên cứu châu Âu, số 6, 2009 Từ các góc độ khác nhau, các bài viết đã đề cập đến những thành tựu của quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học –
kỹ thuật
Tóm lại, đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết và luận án trong cũng như ngoài nước đề cập đến quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa – giáo dục, khoa học – kỹ thuật Nhưng cho đến nay, chưa
có công trình nào trực tiếp đi sâu nghiên cứu quan hệ hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực này từ năm 2005 đến năm 2016 Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước, kết hợp với việc khai thác tư liệu mới ở TTXVN, Viện Nghiên cứu châu Âu, Học viện Ngoại giao và các trang mạng, chúng tôi tập trung giải quyết các nội dung của luận văn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa - giáo dục, khoa học - kỹ thuật giữa Pháp và Việt Nam từ 2005 đến năm 2016
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế,
văn hóa - giáo dục, khoa học - kỹ thuật giữa Pháp và Việt Nam từ 2005 đến năm
2016
- Về không gian: Luận văn giới hạn không gian nghiên cứu quan hệ hợp tác về
kinh tế, văn hóa – giáo dục, khoa học – kỹ thuật từ năm 2005 đến năm 2016 ở Pháp và
Việt Nam
- Về nội dung:
+ Từ 2005 đến năm 2016, Pháp và Việt Nam có quan hệ trên tất cả các lĩnh vực Tuy nhiên, vì thời gian và tư liệu có hạn, luận văn chỉ tập trung nghiên
Trang 12cứu quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - giáo dục, khoa học - kỹ
thuật
+ Trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa - giáo dục, khoa học - kỹ thuật, từ năm
2005 đến năm 2016, Pháp và Việt Nam vừa có quan hệ hợp tác song phương lẫn
đa phương, nhưng nội dung đề tài chỉ mới có điều kiện tập trung nghiên cứu
quan hệ song phương giữa hai nước
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng rõ thực trạng quan hệ hợp tác giữa Pháp và Việt Nam từ 2005 đến năm 2016 trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - giáo dục, khoa học - kỹ thuật
- Rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm về quan hệ kinh tế, văn hóa
- giáo dục, khoa học - kỹ thuật giữa Pháp và Việt Nam từ 2005 đến năm 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu đề tài là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta với nước Cộng hòa Pháp
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong quá trình thực hiện
đề tài là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra, trong quá trình xử
Trang 13lý tư liệu, một số phương pháp khác như thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp…cũng đã được kết hợp sử dụng
6 Đóng góp của luận văn
Thông qua nghiên cứu “Quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa - giáo dục, khoa
học - kỹ thuật giữa Pháp và Việt Nam từ 2005 đến năm 2016”, đề tài có những
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tư liệu tham khảo để giảng dạy
và học tập quan hệ quốc tế trong thời kỳ hiện đại
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa -
giáo dục, khoa học - kỹ thuật giữa Pháp và Việt Nam từ 2005 đến năm 2016
Chương 2: Quan hệ hợp tác giữa Pháp và Việt Nam trên các lĩnh vực kinh
tế, văn hóa - giáo dục, khoa học - kỹ thuật từ 2005 đến năm 2016
Chương 3: Một số nhận xét về quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa - giáo
dục, khoa học - kỹ thuật giữa Pháp và Việt Nam từ 2005 đến năm 2016
Trang 14Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ KINH TẾ,
VĂN HÓA - GIÁO DỤC, KHOA HỌC - KỸ THUẬT GIỮA PHÁP VÀ
VIỆT NAM TỪ 2005 ĐẾN NĂM 2016
1.1 Bối cảnh quốc tế
Bước vào thế kỉ XXI, tình hình thế giới và khu vực biến đổi sâu sắc, tác động trực tiếp tới quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ song phương giữa các quốc gia, trong đó có quan hệ giữa Pháp và Việt Nam Trong quan hệ quốc tế thời
kỳ này, có một số xu huớng nổi bật như sau:
Thứ nhất, mặc dù vẫn diễn ra các cuộc chiến tranh, xung đột cục bộ, gây
mất ổn định một số khu vực, nhưng hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển
vẫn là xu thế chủ đạo trên thế giới Với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và
xung đột khu vực theo chiều hướng ngày càng phức tạp trong đó đáng chú ý nhất là chủ nghĩa dân tộc nổi lên khắp nơi Ở nhiều nơi vẫn đang diễn ra các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, khủng bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên nhiên tiếp tục diễn ra với tính chất ngày càng gay gắt Thêm vào đó là sự xuất hiện những lực lượng mới, hình thành mạng lưới mới, mối đe dọa đến từ lực lượng khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) Khu vực Trung Đông và cả thế giới đang đứng trước những thách thức và nguy cơ mới về an ninh trước sự lớn mạnh của tổ chức này Cuộc khủng hoảng di cư ở châu Âu lớn nhất từ trước đến nay và khủng hoảng nợ công vẫn tiếp tục gây chao đảo Căng thẳng do tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc – Nhật Bản, Nhật Bản – Hàn Quốc có những dấu hiệu gia tăng … Tuy nhiên, hội nhập quốc tế đang làm gia tăng ràng buộc, lợi ích giữa các nước với nhau, nhất là đan xen lợi ích về kinh tế Các nước giành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định
Trang 15đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của mỗi nước nhằm phục vụ đường lối, chính sách phát triển kinh tế nước mình, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế, khai thác nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự phát triển đất nước Điều này khiến các nước vừa đấu tranh, vừa thỏa hiệp, kiềm chế lẫn nhau, hạn chế không
để xẩy ra xung đột bùng phát thành chiến tranh quy mô lớn Hơn nữa, mong muốn sự hòa bình, ổn định luôn là nhu cầu thường trực, lợi ích thiết yếu của nhân dân và Chính phủ các nước trên thế giới Do đó, các mối quan hệ hướng tới việc ổn định, hòa hiếu cùng nhau phát triển, đem lại lợi ích quốc gia của mỗi bên
là xu thế chính trong quan hệ quốc tế, là mong muốn của Chính phủ, Nhân dân Việt Nam và Nhân dân Pháp Đây là cơ sở quan trọng để hai bên thúc đẩy quan
hệ, tạo được đồng thuận của nhân dân hai nước
Thứ hai, toàn cầu hóa đang biến đổi rất nhanh chóng Một đặc điểm quan
trọng của thế giới trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ hiện đại là toàn cầu hóa kinh tế trở thành một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia Tuy nhiên xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia chi phối Bản thân nó chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh [39] Toàn cầu hóa không chỉ tạo ra những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, mà còn thúc đẩy mối quan hệ liên quốc gia gia tăng cả về bề rộng lẫn chiêu sâu Tự do hóa kinh tế dựa vào nhau, liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau, khiến cho tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng Toàn cầu hóa thúc đẩy hợp tác, phân công lao động quốc tế sâu rộng, kích thích tăng trưởng kinh tế Các hình thức hợp tác, liên kết kinh tế trở nên nhiều vẻ và rất phong phú về nội dung Toàn cầu hóa tạo điều kiện phát triển giao lưu văn hóa và tri thức quốc tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và tình hữu nghị giữa các dân tộc, đồng thời tạo điều kiện cho các nước, các lực lượng chính trị bày tỏ chứng kiến, bảo vệ lợi ích, tập hợp lực lượng nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược của mình Xu
Trang 16hướng này thúc đẩy quá trình liên kết thị trường, vốn, sức lao động, dịch vụ, công nghệ và các quy định pháp chế kinh tế giữa các nước trên thế giới, trên cơ
sở hợp tác và phân công lao động quốc tế sâu rộng Điều này góp phần gắn kết các nền kinh tế với nhau với mục tiêu chung vì lợi ích đôi bên cùng có lợi trong hội nhập quốc tế mà hội nhập kinh tế quốc tế là vai trò nòng cốt
Mặt khác, những lợi ích và bất lợi do toàn cầu hóa tạo ra không được chia
sẻ một cách đồng đều, làm trầm trọng thêm khoảng cách phát triển giữa các quốc gia và trong từng quốc gia Toàn cầu hóa là một quá trình đầy mâu thuẫn, trước hết, đó là mâu thuẫn giữa một bên là lợi ích của các thế lực tư bản, đế quốc bá quyền với một bên là chủ quyền của các quốc gia dân tộc, giữa tăng trưởng kinh tế với bất công xã hội, giữa áp lực của tư bản độc quyền xuyên quốc gia với sự lựa chọn con đường phát triển của các nước đang phát triển, giữa các lực lượng lợi dụng toàn cầu hóa để mở rộng sự bóc lột về kinh tế, áp đặt về chính trị với các lực lượng đấu tranh chống toàn cầu hóa phi nhân bản, bảo vệ độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội… Do đó toàn cầu hóa không chỉ thuần túy là một quá trình kinh tế, kỹ thuật, mà còn là cuộc đấu tranh kinh tế xã hội, kinh tế chính trị và văn hóa tư tưởng rất gay gắt với thời cơ và thách thức đan xen nhau đối với nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển Đồng thời làm nảy sinh các thách thức về an ninh phi truyền thống đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam và Pháp Những thách thức như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, bệnh tật, tội phạm quốc tế, khủng hoảng tài chính quốc tế, khủng
bố quốc tế… đang tác dộng mạnh mẽ đến cộng đồng quốc tế Đây là những vấn
đề lớn, phức tạp, tác động tới nhiều quốc gia, khiến một nước riêng rẽ, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam khó có thể tự giải quyết mà cần sự hợp tác của cộng đồng quốc tế, nhất là từ những nước phát triển như Pháp, Mĩ, Nhật Bản…
Trang 17Thứ ba, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại tiếp tục phát triển ngày càng cao, tác động sâu sắc tình hình kinh tế, chính trị xã hội và quan hệ quốc tế Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại có những bước phát
triển nhảy vọt, tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Sự phát triển
của khoa học công nghệ đặt nhân loại đứng trước những vấn đề toàn cầu hết sức bức xúc mà không một quốc gia nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương như: bảo vệ môi trường, hạn chế bùng nổ dân số, đẩy lùi những bệnh dịch hiểm nghèo, chống tội phạm quốc tế…
Kinh tế của các nước đang phát triển tăng trưởng một cách mạnh mẽ, vai trò của các nước này được nâng cao hơn trước Với ưu thế về địa – chính trị, giàu tài nguyên thiên nhiên, các nước phát triển trở thành những đối tác quan trọng trong quan hệ quốc tế Trong quan hệ này, thường thì các nước phát triển
có trình độ kỹ thuật, công nghệ cao như Mĩ, Pháp, Nhật Bản… sẽ có lợi thế hơn các nước đang phát triển, nhất là trong việc ứng dụng khoa học, công nghệ Tuy nhiên, họ cũng chịu sức ép phải tận dụng lợi thế tuyệt đối này để mở rộng thị trường, thúc đẩy vốn đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt tới các quốc gia đang phát triển có nhiều ưu đãi thu hút FDI vào thị trương rộng lớn… như Việt Nam Đồng thời, Việt Nam đang trong quá trình phát triển, có nhu cầu rất lớn về khoa học, công nghệ của các nước tiên tiến, trong đó có Pháp Do đó nhu cầu hợp tác khoa học – công nghệ đang gắn kết Việt Nam và Pháp với nhau
Thứ tư, khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày càng có vai trò quan trọng được cả thế giới quan tâm, đánh giá cao Xét trên nhiều góc độ, sự hợp
tác khu vực lớn nhất thế giới hiện nay là Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Đến nay APEC có 21 nền kinh tế thành viên từ bốn châu lục Dân số của các nước APEC trên 2,6 tỷ người (gần 50% dân số thế giới), đóng góp gần 50% thương mại và 60% GDP thế giới APEC chủ yếu hoạt động theo hướng tập hợp lực lượng chính trị để tạo thế trong các cuộc đàm phán đa
Trang 18bên và ổn định kinh tế khu vực APEC được thành lập với tầm nhìn dài hạn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, sự thịnh vượng cho khu vực và thắt chặt quan hệ trong cộng đồng châu Á – Thái Bình Dương, hướng tới mục tiêu tự do hóa thương mại
và đầu tư vào năm 2010 đối với các thành viên phát triển và năm 2020 đối với
các thành viên đang phát triển
Cùng với quá trình hợp tác trong khuôn khổ APEC, sự hợp tác giữa các nhóm nước ở trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương ngày càng gia tăng ASEAN có xu hướng đẩy mạng liên kết sâu rộng và toàn diện hơn để tăng sức mạnh như một cộng đồng Một loạt chương trình đã được thông qua nhằm định hướng cho tương lai hợp tác Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) như Tầm nhìn ASEAN 2020, thành lập cộng đồng ASEAN với ba trụ cột chính là hợp tác an ninh chính trị, hợp tác kinh tế và hợp tác văn hóa xã hội đan xen và
hỗ trợ lẫn nhau vì mục đích đảm bảo hòa bình, ổn định và thịnh vượng chung trong khu vực vào năm 2015 Ngoài việc tăng cường quá trình hơp tác, liên kết nội bộ, ASEAN cũng đang mở rộng liên kết ra bên ngoài theo các mô hình khác nhau như ASEAN +1, ASEAN +3, các khu vực mậu dịch tự do giữa ASEAN với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ
Khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang trở thành khu vực kinh tế năng động, nơi hầu hết các cường quốc, trong đó có Pháp, có lợi ích và mức độ quan tâm lớn Nơi đây là “không gian sinh tồn”, tập trung quyền lực của nhiều cường quốc, trong đó có Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản… Một số quốc gia trong khu vực này đang “vươn mình” trở thành trung tâm kinh tế thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Singapore… Một số quốc gia mới nổi cũng đang có vai trò quan trọng khu vực như Indonesia, Malaysia… hiện nay các nước trên đang liên kết chặt chẽ trong các tổ chức khu vực và “đóng góp” tích cực vào sự năng động của kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương Với vị trí địa chính trị, địa kinh tế quan trọng, là khu vực kinh tế năng động,
Trang 19động lực của kinh tế toàn cầu… là “con đường”, cơ hội “thiết yếu” cho sự vươn lên cho nhiều quốc gia nhưng cũng là nơi chứa đựng nhiêu vấn đề, điểm nóng phức tạp liên quan đến tranh chấp chủ quyền, an ninh hàng hải, hạt nhân… đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của nhiều nước, nên khu vực này ngày càng thu hút sự quan tâm của các cường quốc trên thế giới, trong đó có Pháp
Khu vực Đông Nam Á, nơi cửa ngõ quan trọng tiến vào châu Á cho các cường quốc, nhằm thiết lập vai trò, tranh giành lợi ích, chiếm lĩnh thị trường, gia tăng ảnh hưởng của mình Trong điều kiện đó Việt Nam là quốc gia cửa ngõ của Đông Nam Á, có vai trò, vị thế quan trọng trong khu vực này, mà Pháp có thể tranh thủ
Thứ năm, khu vực châu Âu, nơi Pháp có vai trò đáng kể đang trải qua
những khó khăn nhất định Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới năm 2008 đã làm cho kinh tế châu Âu bị ảnh hưởng mạnh mẽ, đáng chú ý nhất là hậu quả của khủng hoảng nợ công Với vai trò và sự kết nối chặt chẽ trong khu vực châu Âu, Pháp cũng bị ảnh hưởng nhất định từ cuộc khủng hoảng này Do đó, việc nhanh chóng phục hồi và tăng cường kinh tế thông qua thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang khu vực kinh tế năng động nhất thế giới là châu Á
- Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam là ưu tiên của Pháp Đồng thời về phía Việt Nam, mặc dù khu vực châu Âu bị thiệt hại nhất định về kinh tế trong khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 và khủng hoảng nợ công hiện nay, nhưng châu Âu vẫn là thị trường lớn cho doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập Từ góc độ kinh tế, việc thúc đẩy quan hệ với Pháp có lợi cho Việt Nam thâm nhập thị trường châu Âu, do đó yếu tố châu Âu có tác động nhất định đến cả hai nước trong việc thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược
Mặc dù trong quá khứ quan hệ hai nước có những thăng trầm, có lúc là kẻ thù của nhau, nhưng cả Việt Nam và Pháp đã cùng vượt qua những mặc cảm trong quá khứ để đưa quan hệ hai nước ngày càng nồng ấm lên bằng việc tăng
Trang 20cương sự hiểu biết lẫn nhau Tuy khác nhau về trình độ phát triển và gặp không
ít những rào cản, nhưng kể từ khi quan hệ ngoại giao giữa hai nước được thiết lập, mối quan hệ giữa hai nước ngày càng tiến triển tốt đẹp Quan hệ giữa Pháp
và Việt Nam không chỉ dừng lại trong mối quan hệ song phương mà còn diễn ra trong khuôn khổ của các mối quan hệ đa phương thông qua các tổ chức và diễn đàn khu vực, thế giới như Liên minh châu Âu, ASEAN, APEC… Những thành tựu bước đầu đạt được trên các lĩnh vực, kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa giáo dục, khoa học – kỹ thuật, quân sự và y tế kể từ khi hai nước thiết lập quan
hệ ngoại giao đến năm 2005, là sự khởi đầu tốt đẹp cho mối quan hệ giữa hai quốc gia sau này
1.2 Quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trước năm 2005
Quan hệ giữa Pháp và Việt Nam đã diễn ra từ rất sớm Ngay từ thế kỉ XVI – XVII, những nhà truyền giáo Pháp đã đến truyền đạo, nhằm mở đường cho quá trình xâm lược Việt Nam Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công tại Đà Nẵng, mở đầu cho quá trình xâm chiếm Việt Nam Đến năm 1884, thực dân Pháp cơ bản hoàn thành xâm lược Việt Nam
Từ cuối thế kỉ XIX cho đến 1954, mối liên hệ duy nhất giữa hai nước chỉ đơn thuần là giữa một kẻ đi xâm lược với nhân dân một dân tộc đang ngày đêm không ngừng đứng lên chống lại kẻ xâm lược Sức mạnh của lòng yêu nước đã đưa nhân dân Việt Nam hai lần quật khởi giành độc lập, tự do từ tay Pháp Đó là Cách mạng tháng Tám năm 1945 và Chiến thắng Điện Biên Phủ buộc Pháp phải
kí Hiệp định Geneve chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương [25;tr.215]
Sau Hiệp định Geneve, mặc dù cuộc chiến giữa Pháp và Việt Nam đã kết thúc nhưng quan hệ hai nước không mấy tốt đẹp do mối quan hệ đồng minh chồng chéo, phức tạp của thời kì Chiến tranh lạnh và cuộc chiến tranh do Mĩ tiến hành ở Việt Nam Tuy nhiên trong thời gian diễn ra cuộc kháng chiến chống
Trang 21Mĩ của nhân dân Việt Nam, nước Pháp với kinh nghiệm từng trải đã không ít lần cảnh báo đế quốc Mĩ về một thất bại không thể tránh khỏi ở Việt Nam Pháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tổ chức Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam Sau khi Hiệp định Paris được kí kết, nhất
là sau khi Việt Nam được thống nhất, Pháp đã nhanh chóng ý thức được vai trò của Việt Nam đối với việc thâm nhập vào châu Á của mình
Trong giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1973, quan hệ giữa hai nước mới chỉ dừng lại ở cấp Tổng đại diện Thời kì này, Việt Nam vừa hoàn thành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và lại tiếp tục phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ, nên các hoạt động ngoại giao giữa hai nước không có điều kiện để phát triển Tuy nhiên, nhân dân Pháp luôn tỏ thái độ quan tâm và ủng hộ cuộc đấu tranh chống đế quốc Mĩ của nhân dân Việt Nam Lập trường của chính phủ Pháp trong vấn đề này là phản đối chính sách can thiệp của chính quyền Mĩ tại Việt Nam, cho rằng chính sự can thiệp này là nguồn gốc gây ra chiến tranh và đòi Mĩ chấm dứt mọi hành động leo thang quân sự trên lãnh thổ Việt Nam Trong giai đoạn này, Chính phủ và nhân dân Pháp đã có nhiều hành động tích cực thể hiện mong muốn “một Việt Nam độc lập với bên ngoài, hòa bình và thống nhất bên trong, hòa hợp với các nước láng giềng” (phát biểu của Tổng thống De Gaulle ngày 29/8/1963) Nhiều cuộc biểu tình, tuần hành, diễn thuyết của nhân dân tiến bộ Pháp ủng hộ nhân dân việt Nam, đòi Mĩ rút quân về nước đã diễn ra Hay chính phủ Pháp đã vận động triệu tập lại Hội nghi Geneve mong đạt được một thỏa thuận quốc tế mở đường cho hòa bình ở Việt Nam (nhưng không thành công) Trong những năm 1968 đến 1973, Pháp đóng vai trò tích cực trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đàm phán giữa
Mĩ và Việt Nam về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình
Ngày 12/4/1973 Cộng hòa Pháp chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, mở ra một bước ngoặt mới, là
Trang 22điều kiện tiên quyết để quan hệ hai nước được khai thông và phát triển [20;tr.3]
Kể từ đây quan hệ giữa Pháp và Việt Nam bước sang một trang mới Trong bối cảnh quốc tế và khu vực lúc bấy giờ, khi cuộc chiến tranh lạnh và trật tự hai cực Ianta chưa kết thúc, việc hai nước chính thức đặt quan hệ ngoại giao với nhau thể hiện rõ sự nỗ lực rất cao của Chính phủ hai nước Đây là sự kiện hết sức quan trọng, mở ra một bước ngoặt mới như là một điều kiện tiên quyết để quan
hệ hai nước được khai thông và phát triển Chính sách đối ngoại của Pháp đối với Việt Nam thời kì này đã được thể hiện khá rõ nét, đó là thái độ nhất quán ủng hộ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, mong muốn tăng cường quan
hệ với Việt Nam [25;218]
Từ khi hai nước chính thức đặt quan hệ ngoại giao, Pháp luôn là người bạn thủy chung của Việt Nam Trước sau như một, “Pháp đã giúp Việt Nam phá
vỡ thế bao vây, cấm vận của Mĩ và các nước phương Tây trong những năm cuối thập kỉ 80 và đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, giúp Việt Nam sớm hòa nhập với các
tổ chức kinh tế quốc tế, cải thiện và tăng cường quan hệ với các nước thành viên
EU, nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế”[12]
Từ năm 1973 đến năm 2005, do hoàn cảnh, quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trải qua nhiều thăng trầm Từ năm 1973 đến năm 1977, quan hệ giữa hai nước diễn ra tốt đẹp Từ năm 1978 đến năm 1981, quan hệ giữa hai nước lại trầm lắng Từ năm 1981đến năm 1993, hai nước tái khởi động các mối quan hệ Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khi tình hình thế giới và khu vực có những biến chuyển lớn lao, hai nước đã điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình cho phù hợp với tình hình mới Từ đó, quan hệ giữa Pháp và Việt Nam có những bước phát triển mới, theo hướng ngày càng tích cực hơn, có những đột phá mới Mặc
dù quan hệ hai nước không tránh khỏi những hạn chế và chưa đáp ứng được mong muốn của hai bên, nhưng với những nỗ lực từ cả hai phía quan hệ giữa
Trang 23Pháp và Việt Nam cũng đã có những khởi đầu, kết quả tốt đẹp trên tất cả các lĩnh vực, nhất là về kinh tế, văn hóa - giáo dục, khoa học – kỹ thuật
Quan hệ kinh tế song phương giữa hai nước thời kì này còn mang tính
một chiều và chủ yếu được thực hiện thông qua viện trợ phát triển của Pháp dành cho Việt Nam Trong thập niên 70 của thế kỉ XX, Pháp đã kí với Việt Nam các Nghị định thư tài chính trị giá hàng trăm triệu Franc Hai bên cũng ký kết một số Hiệp định hợp tác như dịch vụ bưu chính, viễn thông (11/6/1975); vận tải hàng không dân dụng (14/4/1977); hàng hải (7/9/1978)
Trong những năm 80 của thế kỉ XX, do vấn đề Campuchia chi phối, nên quan hệ hai nước ít nhiều bị ngưng đọng Mặc dù các nước phương Tây thi hành chính sách cô lập Việt Nam, gây sức ép đòi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, nhưng thái độ của nước Pháp vẫn có mức độ Thương mại giữa hai nước vẫn tăng trưởng liên tục qua các năm, đặc biệt vào cuối thập niên 80 đầu thập niên
90 của thế kỷ XX tổng kim ngạch buôn bán giữa hai nước vẫn tăng trưởng liên tục qua các năm 1984 là 347 triệu Franc thì năm 1989 tăng lên 650 triệu Franc Chỉ trong hai năm 1988, 1989 Pháp đã có gần 11 dự án đầu tư vào Việt Nam
Sau Chiến tranh lạnh, cả Pháp và Việt Nam đều coi kinh tế là một trong những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mình Những Hiệp định được kí kết đã tạo ra hành lang pháp lý để tiến trình hợp tác kinh tế giữa hai nước ngày càng phát triển và gặt hái được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực
Trong những thời gian này quan hệ thương mại giữa Pháp và Việt Nam đã
và đang phát triển khá năng động Từ năm 1993 kim ngạch trao đổi thương mại giữa hai nước tăng trưởng đều và khá cao, tốc độ bình quân đạt 10%/năm, đưa Pháp trở thành bạn hàng quan trọng thứ hai của Việt Nam trong khối trị trường chung châu Âu [1] Cuối thập niên 90 thế kỉ XX, tuy bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở khu vực châu Á, nhưng quan hệ buôn bán giữa hai nước vẫn tương đối ổn định và tăng cao Theo con số thống kê của Pháp,
Trang 24kim ngạch buôn bán hai chiều năm 1999 đạt 5,8 tỷ Franc Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Pháp tăng mạnh, đạt 3,8 tỷ Franc Còn xuất khẩu hàng hóa của Pháp sang Việt Nam đạt 2 tỷ Franc Pháp trở thành nước xuất khẩu sang châu Âu lớn nhất Việt Nam [24;tr.46]
Những năm đầu thế kỉ XXI, quan hệ thương mại giữa hai nước có những bước tiến vượt bậc Năm 2003, kim ngạch hai chiều đạt 1,3 tỷ Euro, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang Pháp 890 triệu Euro và Pháp xuất khẩu sang Việt Nam đạt hơn 400 triệu Euro
Các mặt hàng hai bên trao đổi ngày càng phong phú và đa dạng Việt Nam nhập từ Pháp các loại máy móc thiết bị, máy bay dân dụng, thuốc tân dược, hóa chất và sản phẩm sữa… và xuất khẩu sang Pháp các mặt hàng chính là dày dép, dệt may, đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ, thủy sản và các loại nông sản Ngoài ra, những mặt hàng xuất khẩu khác như sản phẩm gỗ, đồ nhựa, các sản phẩm cơ khí, những năm qua xuất khẩu sang Pháp cũng tăng đáng kể Đặc biệt, lần đầu tiên Pháp nhập 43 triệu Euro thiết bị điện tử từ Việt Nam như đầu video, máy
quay phim và máy vô tuyến trong năm 2005 [30]) Trong số các mặt hàng Pháp
xuất khẩu sang Việt Nam, lớn nhất là dược phẩm, chiếm 21%; tiếp đó là máy móc và các thiết bị điện chiếm 21%; máy và dụng cụ cơ khí chiếm 12%
Về đầu tư, kể từ khi : Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1988, Việt Nam đã thu hút được sự chú ý của các công ty Pháp Ngay sau chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Pháp Mitterrand năm
1993, Pháp đã có tới 22 dự án đầu tư vào Việt Nam được cấp giấy phép, với tổng số vốn đầu tư 283 triệu Euro [38; tr.42,43] Bước sang năm 1997, trong khi hầu hết các nước khác đều giảm đầu tư vào Việt Nam do bị tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, thì số vốn đầu tư của Pháp lại tăng Chỉ riêng trong năm 1997, Pháp đã đầu tư vào Việt Nam 826,8 triệu Euro với 18 dự
án, đưa tổng số vốn đầu tư của Pháp ở Việt Nam lên đến 1,862 tỷ Euro, đứng
Trang 25thứ 6 trong số các nước có vốn đầu tư vào Việt Nam và cũng là quốc gia có vốn đầu tư lớn nhất ở Việt Nam trong số các nước châu Âu [38; tr.42,43] Đầu thế kỉ XXI với tốc độ tăng trưởng kinh tế khả quan trong nhiều năm, cùng với sự bình
ổn về chính trị, Việt Nam đã được các nhà đầu tư Pháp đánh giá là môi trường đầu tư an toàn và ổn định Nhờ vậy, Việt Nam tiếp tục thu hút các dự án đầu tư của Pháp Trong những năm 2000, 2001, 2002 Pháp liên tục chiếm vị trí cao, đứng thứ sáu trong số các nước và các vùng lãnh thổ đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam Năm 2005 đầu tư của Pháp là 29,64 triệu Euro với 23 dự án, vẫn tăng nhưng lại thấp hơn đầu tư của Hà Lan, Đan Mạch, đứng thứ ba trong các nước châu Âu đầu tư vào Việt Nam Mặc dù chỉ đứng thứ ba trong các nước châu Âu đầu tư vào Việt Nam, song đầu tư của Pháp năm 2005 đã tăng gấp 4 lần so với năm 2004
Về viện trợ chính thức ODA, năm 1989, Pháp là nước phương Tây đầu tiên viện trợ cho Việt Nam, với khoản viện trợ là 5 triệu Franc [38; tr.47,48] Trong những năm đầu thế kỉ XXI, Pháp tiếp tục ưu tiên dành viện trợ ODA cho Việt Nam
và là nhà tài trợ song phương lớn thứ hai (chí đứng sau Nhật Bản) Từ năm 2002, viện trợ ODA của Pháp cho Việt Nam liên tục tăng Năm 2002 là 103 triệu Euro, năm 2003 là 106 triệu Euro, năm 2004 là 339,4 triệu Euro, năm 2005 là 339,8 triệu
Euro [29; tr.69] Viện trợ của Pháp cho Việt Nam khá đa dạng và được phân bố
trong tất cả các lĩnh vực, nhưng ưu tiên chủ yếu vẫn là về pháp luật và chính sách; giáo dục và nghiên cứu; trao đổi văn hóa và chuyển giao tri thức; hỗ trợ quá trình chuyển đổi nền kinh tế; xóa đói giảm nghèo, cải thiện điều kiện xã hội
Những thành tựu trong quan hệ kinh tế giữa Pháp và Việt Nam từ năm
2005 trở về trước là cơ sở quan trọng để hai nước tăng cường hợp tác lĩnh vực này trong những năm 2005 – 2016
Quan hệ văn hóa, giáo dục, khoa học – kỹ thuật giữa Pháp và Việt Nam
được bắt đầu bắt đầu từ rất sớm, khi Pháp tiến hành phổ biến ngôn ngữ và văn
Trang 26hóa của mình đến các thuộc địa trên thế giới Chính sách ngoại giao văn hóa Pháp tại Việt Nam trong thời kì thuộc địa là sử dụng văn hóa Pháp nhằm “khai sáng văn minh” cho xã hội Việt Nam Pháp tiến hành một loạt các chính sách đưa dấu ấn văn hóa Pháp vào đời sống Việt Nam trên tất cả các bình diện mà quan trọng, nhất là giáo dục, ngôn ngữ, kiến trúc, văn học nghệ thuật, khoa học
– kỹ thuật, hệ thống hành chính…
Sau năm 1975, trước thái độ coi trọng và mong muốn thúc đẩy quan hệ của chính quyền Việt Nam, Chính phủ Pháp quan tâm đến Việt Nam nhiều hơn Việc tăng cường quan hệ với Việt Nam giúp Pháp giữ vững và mở rộng hơn nữa ảnh hưởng đối với khu vực Đông Nam Á và cả thế giới thứ ba Hơn nữa, Pháp tăng cường quan hệ với Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi, bởi ngoài mối quan hệ truyền thống lâu đời thì ảnh hưởng của Pháp đối với xã hội Việt Nam còn lớn: một thế hệ trí thức Việt Nam được tiếp cận và yêu thích nền văn hóa Pháp, sử dụng thông thạo tiếng Pháp… Chính vì vậy, nhân chuyến thăm của Pháp của Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ ngày 25 đến ngày 30/4/1977, hai bên đã
kí kết nhiều hiệp định, trong đó có “Hiệp định về văn hóa, khoa học và kỹ thuật” [29; tr.69]
Từ năm 1981 đến năm 1988, so với quan hệ kinh tế, quan hệ văn hóa, giáo dục, khoa học – kỹ thuật giữa hai nước phát triển tương đối nhanh Các chương trình hợp tác song phương đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học – kỹ thuật được Pháp tài trợ trực tiếp cho Việt Nam Đầu năm 1982 Việt Nam và Pháp thiết lập Ủy ban hỗn hợp Hợp tác văn hóa khoa học – kỹ thuật liên chính phủ Pháp tài trợ cho việc xây dựng Khoa tiếng Pháp thuộc Đại học sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội (hoàn thành năm 1984), tu sửa lại Viện pháp ngữ tại thành phố Hồ Chí Minh Pháp cũng giúp hiện đại hóa Bệnh Viện Xanh Pôn (Hà Nội), thúc đẩy nhiều thỏa thuận giữa các trường đại học Việt Nam và Pháp Năm 1983, hai nước kí Nghị định thư hợp tác về y và dược Cũng năm
Trang 271983, Pháp trao 25 học bổng ngắn hạn và dài hạn cho sinh viên và thực tập sinh Việt Nam Hiệp định hợp tác giữa CNRS (Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia) và Viện khoa học quốc gia Việt Nam mở đường tiếp nhận khoảng 150 nhà khoa học Pháp sang làm việc tại Việt Nam Năm 1984, tài trợ về kỹ thuật của Pháp có tổng giá trị lên đến 28,7 triệu Franc [4; tr.25-46]
Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX trở đi, quan hệ văn hóa, giáo dục, khoa
học – kỹ thuật giữa Pháp và Viêt Nam đã được phục hồi và phát triển mạnh mẽ Năm 1992, ngân sách dành cho giáo dục của Pháp ở Việt Nam là 50 triệu Franc Năm 1994 tăng lên 74,6 triệu Franc và năm 1996 là 72 triệu Franc [15] Pháp là quốc gia đầu tư cho giáo dục ở Việt Nam lớn nhất so với các nước châu Á khác Văn phòng trường Viễn Đông Bác cổ mở cửa (năm 1993); Viện trao đổi văn hóa với Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh đi hoạt động; Dự án Quỹ Đoàn kết ưu tiên (FSP) “Chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao tại Việt Nam” (PFIEV) được triển khai; Chương trình liên kết một số trường đại học là những minh chứng cho sự phát triển quan hệ văn hóa – giáo dục giữa hai nước
Bên cạnh hợp tác giáo dục, giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa Pháp và Việt Nam cũng ngày càng phong phú, đa dạng Pháp là đối tác quan trọng trong việc
tổ chức các Festival – Liên hoan nghệ thuật Huế (2 năm một lần, từ năm 2000),
tổ chức triển lãm văn hóa Chăm tại Paris… Giao lưu văn hóa giữa hai nước ngày càng phát triển khi Chính phủ Pháp quyết định dành cho Việt Nam một khoản tài trợ 1,4 triệu Euro hỗ trợ cho chính sách hội nhập văn hóa của việt Nam với phương châm khẳng định, tôn trọng sự đa dạng văn hóa Việt
[20] Chính phủ Pháp đã nhiệt tình ủng hộ Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị
thượng đỉnh các nước sử dụng tiếng Pháp lần thứ VII tại Hà Nội (1997)
Mặc dù quan hệ giữa Pháp và Việt Nam ít nhiều bị ảnh hưởng bởi di sản của thời kì thực dân và kí ức về thất bại nặng nề của Pháp tại Điện Biên Phủ, nhưng sau khi Việt Nam đã giành độc lập, quan hệ giữa hai nước luôn phát triển
Trang 28để hướng tới tương lai Ngay cả trong thời kỳ chiến tranh lạnh với những tác động của cục diện đối đầu Đông – Tây, nước Pháp vẫn là một cầu nối trong quan hệ của Việt Nam với các nước tư bản chủ nghĩa, là nơi diễn ra các hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử Việt Nam như việc kí Hiệp định hòa bình Pari (1973) hay Paris cũng là nơi tiến hành đàm phán giải quyết hòa bình vấn đề Campuchia năm 1991 Hơn 40 năm qua Pháp đã hỗ trợ Việt Nam rất nhiều về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam hội nhập với thế giới và khu vực, trong thời kì chuyển đổi nền kinh tế, phát triển xã hội Trong quan hệ hợp tác song phương, việc tăng cường củng cố sự hiểu biết và tin cậy có ý nghĩa quan trọng hàng đầu để xây dựng quan hệ hữu nghị hợp tác lâu dài vì lợi ích của cả hai nước Pháp và Việt Nam
1.3 Chính sách đối ngoại của Pháp và Việt Nam từ năm 2005 đến 2016
1.3.1 Chính sách của Pháp đối với Việt Nam
Trong những năm từ 2005 đến 2016, quan hệ giữa Pháp và Việt Nam đã chuyển biến về chất Pháp coi Việt Nam là một ưu tiên trong chính sách của họ
ở châu Á, đánh giá Việt Nam có vai trò và vị trí quan trọng ở Đông Nam Á, là nhân tố quan trọng trong việc duy trì hòa bình ổn định trong khu vực
Bước vào thế kỉ XXI, trước những thay đổi của tình hình quốc tế và lợi ích của quốc gia, Pháp đã có những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại Trước sự phát triển năng động và những biến đổi mạnh mẽ trong cục diện chính trị ở châu Á, Pháp thấy rõ lợi ích của mình ở đây và đã nhanh chóng điều chỉnh lại chính sách đối với khu vực Pháp cũng muốn với vị thế quan trọng của Việt Nam tại ASEAN để thúc đẩy lợi ích của Pháp tại khu vực, tranh giành lợi ích với các nước đang thúc đẩy quan hệ với ASEAN, tạo ảnh hưởng, vị thế nhất định trong quan hệ với các nước lớn khác trong khu vực như Mĩ và Trung Quốc Mặc dù vai trò của Pháp có suy giảm do sức mạnh của các đối tác khác tăng lên nhưng Pháp vẫn triển khai một chính sách đối ngoại toàn diện với khu vực Đông
Trang 29Nam Á trong đó có Việt Nam Sự bình thường hóa ở khu vực Đông Nam Á lại cũng đặt ra cho Pháp những thách thức đó là sự cạnh tranh với việc mở rộng ảnh hưởng của các cường quốc khác Muốn giữ vững chỗ đứng của mình ở đây, nước Pháp cần phải tăng cường củng cố mối quan hệ với Việt Nam - đất nước ngày càng trở nên quan trọng và có uy tín trong khu vực
Do yếu tố lịch sử, văn hóa và nhất là do tiềm năng, vị trí của Việt Nam trên đường đổi mới ngày càng được nâng cao trong khu vực và trên thế giới Pháp mong muốn thắt chặt quan hệ với Việt Nam, tạo ảnh hưởng, sức hấp dẫn
và lấy lại hình ảnh, vị thế của Pháp tại Việt Nam, từ đó lan tỏa ảnh hưởng sang các nước Đông Nam Á khác: “Việt Nam nằm trong khu vực châu Á là một trong những ưu tiên chính sách đối ngoại của Pháp vì quan hệ giữa Pháp và Việt Nam
có những đặc thù mà những đối tác khác không có Có thể nói từ sau Chiến tranh lạnh đến nay Pháp thực hiện một chính sách đối ngoại nhất quán đối với Việt Nam, coi Việt Nam là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Pháp ở khu vực Với chính sách đó, Pháp mong muốn duy trì và đẩy mạnh ảnh hưởng truyền thống của họ ở ba nước Đông Dương và hy vọng Việt Nam đóng vai trò
“cầu nối” cho sự hợp tác của Pháp với các nước trong khu vực [27] Phát triển
quan hệ với Việt Nam, Pháp có một lợi thế mà không có một nước lớn nào có được, đó là sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp trong đời sống Việt Nam Văn hóa Pháp trong quá khứ đã để lại dấu ấn và ảnh hưởng đến một bộ phận dân cư Việt Nam và Đông Dương, các thuộc địa mà Pháp đã cai trị hàng trăm năm Do đó việc khôi phục và phát triển ảnh hưởng của Văn hóa Pháp, đặc biệt trong lĩnh vực ngôn ngữ là yếu tố quan trọng trong chính sách của Pháp đối với Việt Nam
Đặc biệt hơn, kể từ sau khi Pháp tuyên bố “hành động chủ động của Pháp tại châu Á” và coi Việt Nam là cửa ngõ vào Đông Nam Á, chính phủ nước này không ngừng đẩy mạnh quan hệ trên tất cả các lĩnh vực Một mặt, Pháp giúp Việt Nam xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với châu Âu, ngược lại Việt Nam giúp Pháp có chỗ
Trang 30đứng trong khu vực châu Á [49] Trong buổi tiếp đón Tổng bí thư Việt Nam Lê
Khả Phiêu (tháng 5/2000), Tổng thống Cộng hòa Pháp Jacques Chirac đã nhấn mạnh: “Tại các Hội nghị thượng đỉnh của các quốc gia châu Á và châu Âu, chúng
ta cùng phấn đấu cho một thế giới đa cực, một thế giới mà cả hai nước đều mong muốn xây dựng’’[33] Năm 2004 trong chuyến thăm Việt Nam, Tổng thống cộng hòa Pháp Jacques Chirac cũng khẳng định: “Cộng hòa Pháp coi việc phát triển quan hệ với Việt Nam là một ưu tiên trong chính sách của Cộng hòa Pháp đối với khu vực châu Á và tiếp tục hỗ trợ công cuộc đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam” [50]
Thông qua Việt Nam, Pháp có thể đẩy mạnh quan hệ hợp tác với ASEAN, giúp nước Pháp đa phương hóa quan hệ chính trị, đối ngoại của mình trong điều kiện toàn cầu hóa, tăng cường sự hiện diện chính trị và an ninh của mình ở châu
Á Bên cạnh đó còn giúp Cộng hòa Pháp tạo thế cân bằng với Mĩ, Nhật Bản, Trung Quốc… tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, góp phần mang lại hòa bình, ổn định chính trị cho hai lục địa châu Á - Âu cũng như trên thế giới Mặt khác, Việt Nam là nước đang phát triển, đang đổi mới và hội nhập tích cực vào nền kinh thế giới với dân số hơn 90 triệu người, lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, tay nghề cao và được đánh giá là một trong những nền kinh tế phát triển năng động và tương đối ổn định trên thế giới hiện nay Thế mạnh của Việt Nam là tình hình chính trị, xã hội ổn định, môi trường đầu tư thông thoáng cởi mở Đặc biệt Việt Nam là thị trường rộng lớn với mối liên kết thị trường ASEAN – AFTA, ASEAN +3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc), giúp cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp nước Pháp tiếp cận với khu vực thị trường quan trọng này, từ đó ngày càng thâm nhập sâu vào thị trường châu Á – Thái Bình Dương và tăng cường khả năng cạnh tranh với các nước như Mĩ, Đức, Nhật Bản… Có thể nói, Việt Nam là một lá bài kinh tế của nước Pháp thâm nhập ngày càng sâu vào khu vực này Lợi thế và sức hấp dẫn của mối quan hệ giữa
Trang 31Pháp và Việt Nam đã được Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam Jean Nougreda chỉ rõ trong bài phát biểu năm 2004: “Chính sách Việt Nam của Cộng hòa Pháp được suy tính trên quy mô khu vực Chính sách này mang lại lợi ích cho cả hai nước, Cộng hòa Pháp có thể giúp Việt Nam phát triển và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với châu Âu Để đáp lại, Việt Nam giúp Cộng hòa Pháp có lại chỗ đứng trong khu vực châu Á Đó là một bàn đạp cho sự trở lại châu Á của Pháp’’ [23] Trong cuộc họp báo sáng 24/3/2010 tại Hà Nội, nhân dịp nhận nhiệm kỳ công tác ở Việt Nam, Đại sứ Cộng hòa Pháp Francois Girault khẳng định, Cộng hòa Pháp coi “Việt Nam là cửa ngõ của Cộng hòa Pháp vào châu Á”, [34] cầu nối để Cộng hòa Pháp mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực
Năm 2013 đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong quan hệ giữa Pháp và Việt Nam Nhân kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, hai bên đã tổ chức “Năm Pháp – Việt Nam” và nâng tầm quan hệ song phương lên đối tác chiến lược Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để hướng tới sự phát triển ở tầm cao mới, hiệu quả hơn, sâu sắc hơn, đáp ứng được yêu cầu về phát triển và đối ngoại của hai nước Nước Pháp đang thực hiện chính sách tăng cường sự hiện diện và quan hệ với các nước châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á Tổng thống Pháp Francois Holland đã có nhiều chuyến thăm đến khu vực này, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Laurent Fabius cũng có nhiều chuyến công cán sang khu vực Đông Nam Á Chuyến thăm Việt Nam từ ngày 3 đến ngày 5/8/2013 của Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Laurent Fabius là nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai bên
Trong cuộc hội đàm nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Cộng hòa Pháp Francois Hollande (từ ngày 5 đến 7/9/2016), Chính phủ hai nước đã khẳng định quyết tâm đưa quan hệ đối tác chiến lược sang một giai đoạn mới, phát triển thực chất, sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, ứng phó với biến đổi khí hậu
Trang 32Trên cơ sở bối cảnh khu vực, nước Pháp đã thiết lập, điều chỉnh chính sách đối ngoại đối với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực Pháp mong muốn thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư với Việt Nam, tăng cường xuất khẩu hàng hóa, công nghệ Pháp vào Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư Pháp đầu
tư, kinh doanh hiệu quả tại Việt Nam, chiếm lĩnh thị trường Việt Nam trên nhiều mặt hàng, lĩnh vực… tạo sức cạnh tranh với một số mặt hàng với các nước khác… Bên cạnh đó, Pháp muốn thúc đẩy các dự án hợp tác xuất khẩu vũ khí, khí tài quân sự cho Việt Nam; hợp tác nghiên cứu và bán công nghệ cao cho Việt Nam; thúc đấy các dự án khoa học công nghệ tại Việt Nam, tăng cường đầu tư các dự án y tế, giáo dục tại Việt Nam; thu hút học sinh, bệnh nhân, khách du lịch tại Việt Nam đến Pháp học tập, chữa bệnh, du lịch hoặc tiếp cận các điều kiện học tập, chữa bệnh tiên tiến của các nhà đầu tư Pháp tại Việt Nam; thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa hai nước, tư đó duy trì hình ảnh của nước Pháp tại Việt Nam, mong muốn Việt Nam tham gia sâu hơn vào các tổ chức do Pháp đứng đầu
1.3.2 Chính sách của Việt Nam đối với Pháp
Trước sự biến động của tình hình thế giới và khu vực, Việt Nam vừa có những cơ hội lớn để mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế, vừa phải đối phó với những thách thức to lớn, phức tạp trên nhiều lĩnh vực Chính sách đối ngoại của Việt Nam có những thay đổi nhất định qua mỗi giai đoạn lịch sử, những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt là giữ vững nguyên tắc về độc lập tự chủ, tự lực tự cường, phát huy nội lực trong nước kết hợp với hợp tác quốc tế, các nguyên lý
về quan hệ với các nước lớn, cách tiếp cận về cục diện thế giới, thời đại cùng các nội dung quan trọng khác, là kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng và Nhà nước, cho ngoại giao Việt Nam trong suốt thời kì hiện đại
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X (2006-2010) nêu quan điểm thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển Chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế Đồng thời đề ra chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập
Trang 33kinh tế quốc tế” Điều đó thể hiện, Việt Nam hoàn toàn chủ động quyết định đường lối, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế, không để rơi vào thế bị động Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI chủ trương triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII cũng đề cập rõ hơn và ở mức cao nhất mục tiêu đối ngoại Lần đầu tiên, mục tiêu đối ngoại “vì lợi ích quốc gia, dân tộc” được nêu trong Văn kiện Đại hội XI Văn kiện Đại hội XII làm rõ hơn và phát triển thành
“Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi.” Qua đó, Đảng ta khẳng định: Thứ nhất, lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc là đồng nhất; Thứ hai, lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam được xác định trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, không phải là những lợi ích dân tộc
vị kỷ, hẹp hòi; Thứ ba, bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc phải là nguyên tắc tối cao của mọi hoạt động đối ngoại, lợi ích quốc gia - dân tộc phải là tối thượng, là tiêu chí hàng đầu đánh giá hiệu quả của mọi hoạt động đối ngoại Đây là biểu hiện bước phát triển mới về tư duy đối ngoại chuyển từ “Hội nhập kinh tế” lên
“Hội nhập quốc tế”, hội nhập toàn diện, đồng bộ từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, giáo dục, an ninh quốc phòng…
Cộng hòa Pháp là một trong những cường quốc hàng đầu về kinh tế, tài chính, khoa học, công nghệ ở châu Âu cũng như trên thế giới Cộng hòa Pháp còn là một trong những nước có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của Liên minh châu Âu và là một trong những trụ cột hiện nay của liên minh này Trong những năm gần đây quan hệ giữa Pháp và Việt Nam có những bước phát triển vượt bậc: tháng 9/2013 hai bên nhất trí ra tuyên bố về quan hệ Đối tác chiến lược và đặc biệt tháng 9/2016 Việt Nam và Pháp khẳng định quyết tâm chung đưa Đối tác chiến lược Việt Nam - Pháp hướng tới một tầm nhìn hợp tác dài hạn Do vậy, Việt Nam luôn coi việc phát triển hữu nghị với Cộng hòa Pháp là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại Chính sách quan
Trang 34hệ hữu nghị, hợp tác với Pháp tương đối nhất quán của Việt Nam từ những năm
1960 đến nay là cơ sở để Việt Nam củng cố và tăng cường, xây dựng mối quan
hệ đối tác chiến lược lâu dài với Pháp
Cơ sở hình thành chính sách của Việt Nam đối với Pháp xuất phát từ đánh giá vai trò của Pháp trong các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam Việt Nam luôn nhìn nhận Pháp với vai trò quan trọng ở cả quy mô toàn cầu, khu vực và cấp độ song phương Quy mô toàn cầu thể hiện rõ nhất ở vai trò là thành viên Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, cùng với bốn cường quốc khác là Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp có ảnh huỏng tới các vấn đề an ninh, chính trị quan trọng của quốc gia, hòa bình, ổn định trên thế giới và khu vực, trong đó có Việt Nam Quy mô khu vực được thể hiện qua vai trò của Pháp tại châu Âu nói chung, các quốc gia EU nói riêng Pháp là một trong những nước có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của Liên minh châu Âu, Pháp có vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa Việt Nam với EU nói chung và các nước thành viên EU nói riêng, cả về lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa – xã hội Quy mô song phương thể hiện lợi ích song trùng giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực, có sự gắn bó nhất định về lịch sử Bên cạnh đó nền tảng chính sách đối ngoại thời kì đổi mới của Việt Nam với phương châm ngoại giao độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước lớn, cường quốc… Đây là cơ sở để Việt Nam thúc đẩy quan hệ với các nước nói chung và Pháp nói riêng Đáng chú ý, chính sách đối ngoại của Việt Nam thời gian gần đây còn thể hiện việc tăng cường thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, với các nước trên thế giới, trong đó có Pháp, đồng thời đưa các quan hệ đối tác đi vào thực chất, chiều sâu… do đó đây là nền tảng cho Việt Nam chủ động thúc đẩy hợp tác với Pháp thiết lập đối tác chiến lược
Đánh giá về vai trò của Pháp và lợi ích của Việt Nam trong quan hệ với Pháp, Việt Nam chủ động hợp tác với Pháp về các vấn đề chính trị, đối ngoại giữa hai nước và quốc tế mà hai bên quan tâm Thúc đẩy quan hệ chính trị -
Trang 35ngoại giao với Pháp, tạo cơ sở để các nước, tổ chức quốc tế tăng cường quan hệ nhiều mặt với Việt Nam, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam sâu hơn, tạo lợi ích đan xen giữa Việt Nam và các nước, đồng thời nâng cao vai trò
vị thế của Việt Nam trong các tổ chức quốc tế và trên trường quốc tế Thúc đẩy quan hệ với Pháp còn tranh thủ tiếng nói, ảnh hưởng, nguồn lực của Pháp trong giải quyết các vấn đề an ninh truyền thống như: tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông giữa Việt Nam, các nước Đông Nam Á và Trung Quốc, đảm bảo an ninh hàng hải và hòa bình, ổn định cho khu vực trước tham vọng lớn của Trung Quốc; giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống trong khu vực đang đe dọa trực tiếp đến việt Nam và các nước Đông Nam Á: chống khủng bố, bảo vệ môi trường, nguồn nước, phòng chống dịch bệnh, các loại tội phạm công nghệ cao…
Việt Nam chủ động hợp tác với Pháp nhằm thúc đẩy ký kết và thực thi các thỏa thuận, hiệp định thương mại, đầu tư song phương và đa phương có hai nước tham gia Thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang Pháp, từ đó tiếp cận thu hút nguồn vốn đầu tư, chất xám, khoa học, kỹ thuật, công nghệ và môi trường… của Pháp và các nước châu Âu vào các lĩnh vực ở Việt Nam Bên cạnh đó tăng cường thu hút tài trợ và thúc đẩy hợp tác với Pháp trong phát triển văn hóa, khoa học kỹ thuật, môi trường, y tế và giáo dục của Việt Nam… để tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam… qua đó gắn chặt lợi ích của Pháp gắn vào Việt Nam, tạo cơ sở, tiền đề cho phát triển các quan hệ với Pháp cũng như châu
Âu [17; tr.42-47]
Đồng thời Việt Nam tăng cường hợp tác, đối thoại chính trị - an ninh – quốc phòng, thúc đẩy kí kết và triển khai các thỏa thuận, hợp tác an ninh – quốc phòng với Pháp Qua quan hệ với Pháp nhằm tranh thủ tiếng nói và hành động của Pháp trên các diễn đàn an ninh – quốc phòng tại khu vực và quốc tế có lợi cho giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, các nước Đông Nam Á với Trung Quốc tại biển Đông Hợp tác với Pháp nhằm tăng cường tiềm lực vũ khí quốc phòng, đào tạo đội ngũ sĩ quan quân sự và an ninh cho quá trình từng bước
Trang 36hiện đại hóa lực lượng vũ trang của Việt Nam Bên cạnh đó Việt Nam có mục tiêu tranh thủ các nguồn tài trợ, học bổng từ Pháp để phát triển giáo dục, nâng cao trình độ cán bộ, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực mũi nhọn mà Pháp có thế mạnh Đồng thời tranh thủ các hỗ trợ, dự án y tế của Pháp tại Việt Nam để nhân dân Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp cận với nền y tế hiện đại của nước Pháp
Việc mở rộng và tăng cường mối quan hệ toàn diện với Đối tác chiến lược
là nước Pháp, Việt Nam tranh thủ những lợi thế của mối quan hệ truyền thống trước đây để phát triển mà còn mở cánh cửa để Việt Nam thâm nhập vào Liên minh châu Âu, mở rộng và phát triển các quan hệ song phương và đa phương với các nước thành viên trong tổ chức này Năm 2005, Chính phủ Việt Nam đã thông qua đề án tổng thể quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu và chương trình hành động để năm 2015 với mục tiêu đưa quan hệ Việt Nam với Liên minh châu Âu nói chung và Cộng hòa Pháp nói riêng trở thành “quan hệ đối tác toàn diện và bền vững, trên tinh thần ổn định lâu dài và tin cậy lẫn nhau, vì hòa bình, hợp tác và phát triển phồn vinh trong các thập kỉ của thế kỉ XX” Việt Nam mong muốn nước Pháp là “cánh cửa lớn” để Việt Nam đi vào châu Âu, luôn coi Pháp là đối tác đặc biệt tại châu Âu và dành cho Pháp một vị trí xứng đáng trong quan hệ đối ngoại cũng như ưu tiên trong các lĩnh vực hợp tác
Có thể nói củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Tăng cường mối quan hệ này không chỉ vì hai nước đã có mối quan hệ lâu dài trong lịch sử mà còn do những yếu tố quốc tế, khu vực và lợi ích thiết thực của mỗi nước
Trang 37Tiểu kết chương 1
Sự biến động của tình hình thế giới và quá trình toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ đã tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ song phương giữa các nước, kể cả các nước phát triển lẫn đang phát triển Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã trở thành xu thế chung của mọi quốc gia Trong bối cảnh đó, sự tăng cường quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, nhất
là kinh tế, văn hóa – giáo dục, khoa học – kỹ thuật giữa Pháp và Việt Nam là yêu cầu tất yếu
Mặc dù Pháp và Việt Nam đã có mối quan hệ từ lâu đời, nhưng phải trải qua nhiều thăng trầm Với tư tưởng “bỏ qua quá khứ, hướng tới tương lai”, sau khi hiệp định Giơnevơ (năm 1954) được ký kết, hai nước đã từng bước xích lại gần nhau Từ năm 2005 trở về trước, quan hệ giữa hai nước đã được phục hồi và đạt được nhiều thành tựu, nhất là trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao Từ năm
2005 đến năm 2016, trên cơ sở xác định đúng xu thế phát triển của thế giới, Chính phủ hai nước đã đề ra chính sách đối ngoại phù hợp, để tăng cường hơn nữa sự hợp tác không chỉ về chính trị - ngoại giao, mà cả về kinh tế, văn hóa – giáo dục, khoa học – kỹ thuật
Trang 38Chương 2 QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA PHÁP VÀ VIỆT NAM TRÊN CÁC LĨNH VỰC KINH TẾ, VĂN HÓA - GIÁO DỤC, KHOA HỌC - KỸ
THUẬT TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2016
2.1 Quan hệ kinh tế
Song song với những tiến triển tốt đẹp trong quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế và hợp tác trên các lĩnh vực khác cũng có những khởi sắc đáng khích lệ hai bên đã kí kết hàng loạt hiệp định hợp tác, chương trình hỗ trợ, dự án đầu tư, buôn bán, chuyển giao công nghệ… Nhờ đó, quan hệ kinh tế được tăng cường,
mở rộng trên mọi lĩnh vực: Tài chính, thương mại, đầu tư… Hiện nay, Cộng hòa Pháp là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam, là nước châu
Âu có đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Việt Nam và là nước đứng thứ hai thế giới về viện trợ phát triển song phương cho Việt Nam Các doanh nghiệp của Cộng hòa Pháp hiện có mặt trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế quan trọng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam
2.1.1 Lĩnh vực thương mại
Cộng hòa Pháp là một cường quốc hàng đầu về kinh tế, tài chính, khoa học công nghệ ở châu Âu cũng như trên thế giới Cộng hòa Pháp còn là một trong những nước có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của Liên minh châu Âu và là một trong những trụ cột hiện nay của liên minh này Trong những năm gần đây, quan hệ giữa Pháp và Việt Nam, đặc biệt là quan hệ kinh tế đang có bước phát triển vượt bậc với nhiều hứa hẹn Cộng hòa Pháp đang là nước đứng đầu châu Âu trong lĩnh vực đầu tư vào Việt Nam Vì vậy, việc mở rộng và tăng cường mối quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam, Cộng hòa Pháp không chỉ để tranh thủ những lợi thế của mối quan hệ truyền thống trước đây để phát triển mà còn mở cánh cửa để Việt Nam xâm nhập vào Liên
Trang 39minh châu Âu, mở rộng và phát triển mối quan hệ song phương và đa phương với các nước thành viên trong tổ chức này Hai bên đã thành lập hội đồng cao cấp vì sự phát triển và hợp tác kinh tế Việt Nam và Cộng hòa Pháp được triển khai từ năm 2006 Cộng hòa Pháp đã định hướng hợp tác trung hạn với Việt Nam, tập trung thế mạnh của Cộng hòa Pháp vào 5 lĩnh vực ưu tiên trong đó có trọng tâm kinh tế: Pháp luật và chính sách, giáo dục và nghiên cứu, trao đổi văn hóa và chuyển giao tri thức, hỗ trợ quá trình chuyển đổi nền kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện điều kiện xã hội
Theo Báo Lao động số ra ngày 13/22/2009 hiện Pháp đứng thứ hai trong các nước châu Âu (sau Hà Lan) và đứng thứ mười trong tổng số 77 nước và lãnh thổ đầu tư ở Việt Nam Tính đến tháng 2/2009, Pháp đầu tư ở Việt Nam với tổng
số vốn cam kết khoảng 2,38 tỷ USD cho 198 dự án Đầu tư trực tiếp của Pháp tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, giao thông và viễn thông, khách sạn và du lịch, chế biến thực phẩm Hai Thủ tướng đã cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hai nước vào đầu tư và kinh doanh trên lãnh thổ của nhau, đặc biệt trong các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng, hàng không
vũ trụ, viễn thông, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường và đặc biệt trong lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu…
Tuy nhiên trong mối quan hệ này, lợi thế không chỉ là một chiều thuộc về Cộng hòa Pháp, mà Việt Nam cũng hội đủ thực lực để thu hút sự quan tâm của Cộng hòa Pháp, hai nước cùng dẫn dắt mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam ngày càng phát triển Việt Nam còn là một nước thành viên tích cực của ASEAN, có vai trò quan trọng trong tổ chức này, có thể làm cầu nối cho Cộng hòa Pháp trong việc tăng cường các mối quan hệ, mở rộng thị trường của Cộng hòa Pháp ở khu vực Đông Nam Á nói riêng và khu vực châu Á nói chung Lợi thế và sức hấp dẫn của mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam đã tóm gọn trong phát biểu của Đại sứ Pháp tại Việt Nam, Jean Nogareda năm 2004: “Chính sách
Trang 40Việt Nam của Cộng hòa suy tính trên quy mô khu vực Chính sách này mang lại lợi ích cho cả hai nước, Cộng hòa Pháp có thể giúp Việt Nam phát triển và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với châu Âu Để đáp lại, Việt Nam giúp Cộng hòa Pháp có lại chỗ đứng trong châu Á Đó là một bàn đạp cho sự trở lại châu Á của Cộng hòa Pháp.”
Quan hệ thương mại giữa Pháp và Việt Nam trong thời gian qua liên tục phát triển Hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Cộng hòa Pháp tăng mạnh hơn hàng hóa của Cộng hòa Pháp xuất khẩu sang Việt Nam Trong những năm gần đây, Việt Nam luôn xuất siêu vào thị trường Cộng hòa Pháp (Bảng 1)
Bảng 1: Kim ngạch XNK giữa Việt Nam –Pháp từ năm 2005 – 2006
từ Cộng hòa Pháp hơn 400 triệu Euro Năm 2006, kim ngạch hai chiều tiếp tục tăng khoảng 10%, đạt 1,6 tỷ Euro
Trong khoảng 5 năm trở lại đây, kim ngạch trao đổi thương mại hai chiều Việt Nam và Cộng hòa Pháp và vốn đầu tư của Cộng hòa Pháp sang Việt Nam