1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trong văn học việt nam

146 89 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Thuyết Viết Về Đề Tài Chiến Tranh Trong Văn Học Việt Nam Từ Năm 2000 Đến Nay
Tác giả Nguyễn Việt Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Đinh Trí Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Văn Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nổi bật lên có Viết về chiến tranh - vấn đề và hiện tượng Tôn Phương Lan, Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975 trong tương quan với văn họ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VIỆT ANH

TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH

TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VIỆT ANH

TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH

TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Lý luận Văn học

Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS ĐINH TRÍ DŨNG

NGHỆ AN - 2017

Trang 3

Trân trọng cảm ơn PGS.TS Đinh Trí Dũng cùng quý thầy cô giảng viên

chuyên ngành Lí luận văn học, khoa Ngữ văn, trường Đại học Vinh đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi thực hiện luận văn thành công tốt đẹp!

Trân trọng cảm ơn BGH, tổ Ngữ văn - GDCD trường THPT Nguyễn Chí Thanh

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình tôi học tập, nghiên cứu!

Trân trọng cảm ơn gia đình nội, ngoại đã động viên về tinh thần lẫn vật chất, góp phần quan trọng giúp tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này!

Tác giả

Nguyễn Việt Anh

Trang 4

Trang

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của đề tài 10

7 Cấu trúc của luận văn 10

Chương 1 BỨC TRANH CHUNG CỦA TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ CHIẾN TRANH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY 11

1.1 Vài nét về tiểu thuyết và tiểu thuyết viết về chiến tranh 11

1.1.1 Vài nét về tiểu thuyết 11

1.1.2 Khái niệm tiểu thuyết viết về chiến tranh và tiểu thuyết viết về chiến tranh từ năm 2000 đến nay mà tác giả sử dụng trong luận văn 12

1.2 Bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa của Việt Nam sau 1975 13

1.2.1 Đời sống chính trị - xã hội 13

1.2.2 Đời sống văn học 14

1.3 Sơ lược về các chặng đường phát triển của tiểu thuyết Việt Nam từ 1975 đến nay 19

1.3.1 Chặng đường 1975 - 1985 19

1.3.2 Chặng đường 1986 - 2000 20

1.3.3 Chặng đường từ 2000 đến nay 21

1.4 Vị trí của mảng tiểu thuyết viết về chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975 23

1.4.1 Những thành tựu đáng chú ý của tiểu thuyết viết về chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975 23

1.4.2 Vị trí quan trọng của tiểu thuyết viết về chiến tranh trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 24

Tiểu kết chương 1 25

Trang 5

ĐẾN NAY NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 26

2.1 Mở rộng biên độ phản ánh hiện thực 26

2.1.1 Khai thác các cuộc chiến tranh biên giới sau 1975 26

2.1.2 Mở rộng đối tượng phản ánh cả hai phía chiến tuyến ta - địch 37

2.1.3 Khai thác đa chiều hiện thực chiến tranh 40

2.2 Quan tâm đến số phận con người trong và sau chiến tranh 54

2.2.1 Đào xới lại những bi kịch con người trong chiến tranh 54

2.2.2 Mổ xẻ những bi kịch của con người thời hậu chiến 59

2.2.3 Xoáy sâu vào bi kịch chấn thương tâm lý - một hội chứng chiến tranh 61

2.3 Phản ánh chiến tranh với cảm hứng nhân bản sâu sắc 65

2.3.1 Chú ý mặt nhân bản, nhân loại khi viết về chiến tranh 65

2.3.2 Viết về chiến tranh để thể hiện cảm hứng hòa giải dân tộc 73

2.3.3 Viết về chiến tranh để thể hiện niềm tin yêu cái đẹp, nghệ thuật, tình yêu, tôn giáo… 76

Tiểu kết chương 2 81

Chương 3 TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ CHIẾN TRANH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT 82

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 82

3.1.1 Xu hướng khách quan hóa nhân vật 82

3.1.2 Xu hướng huyền thoại hóa 86

3.1.3 Xu hướng đi sâu vào tâm linh 90

3.2 Nghệ thuật kết cấu 92

3.2.1 Khai thác kết cấu dòng ý thức 93

3.2.2 Thử nghiệm kết cấu lồng ghép, phân mảnh 97

3.3 Giọng điệu nghệ thuật 109

3.3.1 Giọng sử thi 110

3.3.2 Giọng khách quan, tự nhiên 111

3.3.3 Giọng trữ tình, cảm thương 114

3.3.4 Giọng triết lí, suy nghiệm 116

3.4 Ngôn ngữ nghệ thuật 122

3.4.1 Ngôn ngữ chính trị, quân sự: 122

Trang 6

3.4.3 Ngôn ngữ biểu tượng, ẩn dụ 126

Tiểu kết chương 3 129

KẾT LUẬN 130

TÀI LIỆU THAM KHẢO 133

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Sau 1975, đặc biệt là sau 1986, tiểu thuyết Việt Nam liên tục gặt hái được nhiều thành tựu Trong đó, tiểu thuyết viết về chiến tranh đã đóng góp tiếng nói quan trọng trong công cuộc đổi mới văn xuôi nước nhà nói chung, đổi mới thể loại tiểu thuyết nói riêng Việc nghiên cứu về tiểu thuyết nói chung, tiểu thuyết viết

về đề tài chiến tranh nói riêng từ năm 2000 đến nay sẽ giúp hiểu rõ hơn quy luật vận động đổi mới của văn học nói chung, văn xuôi nói riêng trong bối cảnh hòa bình, đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay

1.2 Tiểu thuyết là thể loại quan trọng trong các thể loại văn xuôi Sự biến đổi của thể loại phản ánh những yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống và người đọc Trong mảng tiểu thuyết viết về chiến tranh, sự đổi mới về nội dung và hình thức là khá rõ nét Nghiên cứu tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam từ năm 2000 đến nay cho phép có cái nhìn thấu đáo hơn về quy luật vận động và đổi mới của thể loại quan trọng này

1.3 Từ năm 2000 trở lại đây, liên tiếp xuất hiện những cây bút trẻ thế hệ 7x, 8x Tác phẩm viết về đề tài chiến tranh của họ là cơn gió lạ, đem đến không khí mới

mẻ cho tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam đương đại Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng tới lí giải sự đổi mới khi viết về chiến tranh của thế hệ nhà văn trẻ, đem đến cái nhìn dân chủ, khách quan, công bằng về vị trí của họ khi theo đuổi dòng văn chương cao đẹp này

1.4 Dòng văn chương cách mạng 1945 - 1975 chiếm vị trí quan trọng, xuyên suốt chương trình dạy học trong nhà trường phổ thông Sự cập nhật, liên hệ mở rộng diễn biến của mảng tiểu thuyết về chiến tranh đương đại giúp cho giáo viên và học sinh có được đối sánh hay, thú vị Đề tài này nhằm hướng tới nâng cao hiệu quả dạy học văn học cách mạng cho giáo viên và học sinh

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Tiểu thuyết về chiến tranh viết từ năm 2000 đến nay có những bước phát triển khá tích cực, đón nhận sự quan tâm sâu sắc của giới nghiên cứu, trở thành đề tài của rất nhiều công trình luận văn, luận án

Trang 8

Về phạm vi nghiên cứu tiểu thuyết từ năm 2000 đến nay, có hai khuynh hướng cơ bản đó là: Một là nghiên cứu tổng quát về tiểu thuyết từ năm 2000 trong bối cảnh đổi mới tiểu thuyết từ sau 1975 đến nay; Hai là nghiên cứu một nhóm hoặc một hiện tượng cụ thể, riêng biệt của tiểu thuyết chiến tranh từ năm 2000

2.1 Nghiên cứu khái quát về tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam

từ năm 2000 đến nay:

Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã đưa ra cái nhìn tổng quan về tiểu thuyết chiến tranh từ năm 1975 đến nay, trong đó đan lồng các hiện tượng tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI Nhìn chung các bài viết, công trình nghiên cứu chủ yếu giải quyết ba vấn đề của tiểu thuyết từ năm 2000: Đặc điểm của nhà văn hậu chiến viết về chiến tranh ra sao? Tiểu thuyết đã nhìn về con người và đời sống có gì mới? Tiểu thuyết

đã có những chuyển biến như thế nào về hình thức nghệ thuật?

Chu Văn Sơn với Thế hệ nhà văn sau năm 1975, họ là ai?, Tôn Phương Lan với Nhà văn khoác áo lính sau chiến tranh viết về chiến tranh, Đỗ Hải Ninh với Đôi

điều suy nghĩ từ một mùa tiểu thuyết… đã có những phân tích về đội ngũ cầm bút,

làm rõ đặc điểm và vai trò quan trọng của lớp nhà văn hậu chiến Đỗ Hải Ninh

khẳng định trong bài Đôi điều suy nghĩ từ một mùa tiểu thuyết về vị trí kế thừa của

lớp nhà văn trẻ: “Nếu trước đây, nhà văn viết tiểu thuyết ở độ tuổi hai mươi, ba mươi không nhiều thì vài năm trở lại đây, người ta nghĩ đến “thời của tiểu thuyết trẻ” bởi sự tiếp nối của hàng loạt cây bút thế hệ 7X, 8X” [81] Chu Văn Sơn phân tích tâm thức thẩm mĩ đặc biệt của của họ rằng: “Họ là chủ thể cốt lõi của hệ thẩm

mỹ hậu chiến Với sự xuất hiện của họ, mẫu nhà văn chiến sĩ/cán bộ thời chiến đã nhường chỗ hoàn toàn cho mẫu nhà văn kẻ sĩ/trí giả hiện đại thời bình” [93]

Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra tính kế thừa, nối tiếp những giá trị nội dung

và nghệ thuật truyền thống của tiểu thuyết chặng đường từ 2000 đến nay Trong bài

viết Một hình dung về quá trình phát triển của tiểu thuyết sử thi Việt Nam từ năm

1945 đến nay (2013), Nguyễn Thanh Tú mô tả sự vận động của cảm hứng sử thi

trong cả một quá trình từ 1945 đến nay: “Có thể hình dung quá trình phát triển của tiểu thuyết sử thi Việt Nam từ năm 1945 đến nay như một dao động hình sin, điểm

bắt đầu là Xung kích, Con trâu, Vùng mỏ… , lên cao với Đất Nước và cực đại là

Dấu chân người lính… rồi đi xuống đến cực tiểu là Nỗi buồn chiến tranh… Và đi

lên với Đất trắng, Mùa chim én bay, Ăn mày dĩ vãng, Ngày rất dài, Những bức

Trang 9

tường lửa, Thượng Đức, Xiêng Khoảng mù sương, Xuân Lộc… sự hình dung này

chỉ căn cứ vào tính chất thể loại để xem xét chất sử thi đậm nhạt khác nhau chứ không căn cứ vào giá trị tác phẩm” [112]

Đa số các công trình tập trung làm rõ những vấn đề đổi mới của tiểu thuyết sau năm 1975, trong đó có tiểu thuyết viết về chiến tranh của thập kỉ đầy thế kỉ XXI Sự đổi mới trong quan niệm và cách khai thác hiện thực của tiểu thuyết rất

được chú ý Nổi bật lên có Viết về chiến tranh - vấn đề và hiện tượng (Tôn Phương Lan), Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam giai

đoạn sau 1975 trong tương quan với văn học 1945 - 1975 (Tiểu Sinh), Một hình dung về quá trình phát triển của tiểu thuyết sử thi Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Tiểu thuyết sử thi - ba mươi năm đổi mới (Nguyễn Thanh Tú), Sự đổi mới quan niệm về đề tài chiến tranh của các nhà văn Việt Nam sau 1975 (Nguyễn Thị

Thanh)… Các bài viết đã chỉ ra những xu hướng đổi mới trong cách tiếp cận hiện thực của tiểu thuyết sau 1975 dựa trên cứ liệu của tác phẩm sau năm 2000 Đỗ Hải

Ninh đã phân tích trong Tiểu thuyết - những chân trời phía trước: “Mỗi tác phẩm có

cách tiếp cận và thể hiện riêng nhưng đều hướng tới giải mã những tình thế khác nhau trong nỗ lực chống lại sự vô cảm, sự thiếu vắng tình người Đó cũng là dư âm của quá khứ, lịch sử và chiến tranh vẫn không ngừng được truy vấn, phơi mở

trong Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 (Trần Mai Hạnh), Miền hoang (Sương Nguyệt Minh), và tiếp tục với những cái tôi thế hệ trong hành trình kiếm tìm bản thể ở Mình

và họ (Nguyễn Bình Phương), Cơ bản là buồn (Nguyễn Ngọc Thuần), Xác phàm

(Nguyễn Đình Tú) Ký ức chiến tranh vẫn ẩn náu trong tâm thế con người hiện tại theo một cách nào đó với độ lùi thời gian cho những chiêm nghiệm: vừa thực vừa

ảo qua lời kể gián tiếp trong Mình và họ, Xác phàm, trực diện khốc liệt, ám ảnh trong Miền hoang, hay nhìn từ phía bên kia trong Biên bản chiến tranh 1-2- 3-

4.75, thấm thía nỗi buồn hậu chiến ở bất cứ phía nào trong Cơ bản là buồn Đặc

biệt, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc cùng được nhắc đến trong hai cuốn tiểu

thuyết Mình và họ (dù tác phẩm này được viết từ trước đây ít lâu) và Xác phàm thể

hiện tinh thần nhập cuộc của nhà văn với không khí thời đại” [83]

Nguyễn Thanh Tú trong Tiểu thuyết sử thi - ba mươi năm đổi mới (2016) đã

khái quát lên 4 khuynh hướng phản ánh hiện thực chủ yếu của tiểu thuyết là khuynh hướng lịch sử - tái hiện, khuynh hướng lịch sử hư cấu, khuynh hướng tự thuật, tự

Trang 10

truyện, khuynh hướng văn hóa - tái hiện Trong lập luận, tác giả đã khái quát dựa trên

những cứ liệu tiểu thuyết chiến tranh từ năm 2000 như tiểu thuyết: Thượng Đức, Lính

trận, Đỉnh máu, Bến đò xưa lặng lẽ, Rừng thiêng nước trong, Phòng tuyến Sông Bồ, Xiêng Khoảng mù sương, Đất không đổi màu, Một ngày là mười năm…

Nguyễn Thanh Tú và Hoàng Thị Giang đã có những phân tích khái quát về cái nhìn mới mẻ, giải sử thi về con người và đời sống hiện thực chiến tranh của tiểu

thuyết đầu thế kỉ XXI trong bài Tiểu thuyết sử thi - những đặc trưng thể loại (2013)

Các tác giả nhận xét: “Các tiểu thuyết tiếp nối truyền thống ở cách viết và phương thức tiếp cận hiện thực thường đề cập đến việc nhận thức lại lịch sử một cách ráo riết với tinh thần sòng phẳng trước quá khứ Một số cuốn dễ khiến người ta liên tưởng tới dòng văn học vết thương ở Trung Quốc, khơi lại và mổ xẻ tận cùng những

vết thương lịch sử với ý thức phản tỉnh rõ rệt như ở Sóng chìm (Đình Kính), Tiếng

khóc của nàng Út (Nguyễn Chí Trung), Thời của thánh thần (Hoàng Minh Tường), Cuồng phong (Nguyễn Phan Hách), Lửa đắng (Nguyễn Bắc Sơn)” [116]; “Trong

tiểu thuyết sử thi hôm nay, cấu trúc hình tượng nhân vật được nhận thức lại, trả về với vị thế đúng như nó vốn có, phức tạp, đa dạng, đa diện hơn Tập thể cách mạng, tập thể anh hùng cũng không thiếu những kẻ đào ngũ, cơ hội, cũng có những sai

lầm nghiêm trọng do suy nghĩ ấu trĩ, giản đơn (Những bức tường lửa, Thượng Đức), nhân vật người anh hùng có khi lại có một lý lịch không trong sạch (Khúc bi tráng

cuối cùng), có tính cách không mấy tốt đẹp (Những bức tường lửa), bồng bột, chủ

quan khinh địch (Thượng Đức), đố kỵ, háo danh (Xiêng Khoảng mù sương)” [116];

“Người lính trong tiểu thuyết đã được giải phóng ra khỏi công thức “người trời” hôm qua để trở về với đúng nghĩa con người bình thường, người đời, nhờ vậy mà nhân vật thật hơn, sinh động hơn” [116]

Nhiều công trình nghiên cứu tập trung mổ xẻ sự đổi mới của tiểu thuyết sau

1975 đến nay trên bình diện nghệ thuật Tôn Phương Lan với Một cách nhìn về đổi

mới tiểu thuyết chiến tranh, Lương Xuân Thành với Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết 2004 - 2009 về đề tài chiến tranh (Luận văn Thạc sĩ), Nguyễn Thị Bình

với Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1996 - 2006, Đào Thị Hoài Bắc với luận văn Thạc sĩ Lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết 2004 -

2009 về đề tài chiến tranh…

Đỗ Hải Ninh tiếp tục khẳng định trong Tiểu thuyết - những chân trời phía

trước một số hiện tượng tiểu thuyết như Xác phàm, Miền hoang có sự cách tân nghệ

Trang 11

thuật khá mạnh mẽ: “Đổi mới tư duy và những cách tân thi pháp tiểu thuyết đã không còn xa lạ với người đọc Việt Nam hiện nay, công chúng cũng dần thích ứng với lối viết kỹ thuật biến ảo và những thủ pháp nghệ thuật mới mẻ Đã có nhiều nỗ lực làm mới lạ hình thức tiểu thuyết thành công và sự đổi mới lối viết ngày càng đi vào chiều sâu…” [83]

Tôn Phương Lan trong Một cách nhìn về đổi mới tiểu thuyết chiến tranh

thông qua việc khảo sát một số tiểu thuyết ra đời vào đầu thế kỉ XXI (Bến đò xưa lặng lẽ, Rừng thiêng nước trong, Ngày rất dài, Những bức tường lửa, Khúc bi tráng cuối cùng) đã chỉ ra xu hướng cách tân nghệ thuật rằng rằng: “Như vậy, với những

điểm nhìn mới, những sáng tác viết về chiến tranh trong những năm gần đây cho ta thấy sự đổi mới của nó: cái ác liệt của chiến tranh đã được nhìn sâu vào bản chất Chúng ta dễ nhận ra việc đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới cách nhìn là cơ sở nghệ thuật quan trọng để có được sự đa dạng về phong cách và giọng điệu với nhiều phương thức biểu hiện mới mà trước đó chưa có như sử dụng hiện thực tâm linh, dòng ý thức, yếu tố kì ảo… Nhưng trong văn xuôi viết về chiến tranh, kĩ thuật đó chưa được áp dụng nhiều” [62]

Trong một số các công trình nghiên cứu chuyên sâu, như Yếu tố kì ảo trong

văn xuôi đương đại (2006) của Bùi Thanh Truyền, Ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại đối với tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2010 (2016) của Nguyễn Hồng

Dũng, Tính đối thoại trong giọng điệu tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 (2016) của Lê Thị Thúy Hằng, Những hình thái diễn ngôn mới trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam

sau Đổi mới (2016) của Nguyễn Văn Hùng đã đi tìm dấu ấn nghệ thuật hậu hiện đại

trong văn xuôi Việt Nam trong một số hiện tượng tiểu thuyết chiến tranh của Xuân Đức, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú…

2.2 Nghiên cứu về một hiện tƣợng tác giả, tác phẩm của tiểu thuyết chiến tranh từ năm 2000 đến nay:

Bên cạnh tập trung nghiên cứu tổng quan về tiểu thuyết chiến tranh sau 1975, giới nghiên cứu lí luận và phê bình đặc biệt quan tâm đến những hiện tượng cụ thể Mỗi một tác giả hay tác phẩm đều có hàng chục đến hàng trăm bài báo, các công trình khoa học tiếp cận, khai thác

Các tác phẩm của những cây bút kì cựu tiếp tục nhận được sự quan tâm sâu

sắc Bàn về tiểu thuyết Khuất Quang Thụy, có thể kể tới các Luận văn Thạc sĩ như

Trang 12

Cái nhìn về chiến tranh trong tiểu thuyết của Khuất Quang Thụy (2015) của Nguyễn

Thị Hoa Lê, Tiểu thuyết của Khuất Quang Thụy trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết

Việt Nam về chiến tranh (2013) của Nguyễn Thị Lệ… Các bài báo phê bình như

“Về anh hùng, về chiến tranh và đồng đội hay “nỗi buồn chiến tranh” khác nhân đọc Những bức tường lửa của Khuất Quang Thụy của Nguyễn Trí Hoan, Nhân vật người lính trong tiểu thuyết của Khuất Quang Thụy của Đinh Thị Thanh Hương, Đối chiến - Khuất Quang Thụy, cái nhìn đầy sòng phẳng của Tô Thùy Yên, Chiến tranh dưới góc nhìn xã hội học của Khuất Quang Thụy của Văn Chinh Bàn về Đối

chiến - tác phẩm mới nhất về đề tài chiến tranh của Khuất Quang Thụy, Tô Thùy Yên bày tỏ cảm nghĩ: “Tôi đã vô cùng cảm ơn nhà văn Khuất Quang Thụy một người lính, một nhà văn đã đi qua cuộc trường chinh lịch sử vẫn có thể mở lòng mình cùng với độ lùi thời gian đã cho ta thấy được đủ đầy hai mặt của chiến tuyến với một thái độ khách quan và trân trọng đến tất cả những con người đã sống và chiến đấu của một thủa chiến tranh…” [120]

Mùa hè giá buốt, Phượng hoàng của Văn Lê, Rừng thiêng nước trong của

Trần Văn Tuấn, Thượng Đức, Đỉnh máu của Nguyễn Bảo Trường Giang, Lính trận,

Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh… cũng là trung tâm chú ý của đời sống tiếp nhận

và nghiên cứu Các bài viết về Thượng Đức, Đỉnh máu đều nhấn mạnh chất bi hùng

và cái nhìn nhân văn về con người của văn xuôi Nguyễn Bảo Trường Giang Tìm

hiểu về tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh, bài viết như Lính trận - sự thật trần trụi

đằng sau bản hợp xướng một bè bi tráng, Tấn Phong ca ngợi chất trung thực, tỉnh

táo trong cách nhìn người lính của nhà văn

Miền hoang của Sương Nguyệt Minh được đánh giá là sáng tạo độc đáo, giàu

chất hậu hiện đại Lã Nguyên trong bài Tôi đọc Miền hoang của Sương Nguyệt Minh

đã ca ngợi bút pháp chuyển đổi điểm nhìn trần thuật Nghệ thuật chuyển đổi điểm nhìn được thể hiện ngay ở dụng công của Sương Nguyệt Minh trong việc kiến tạo hệ thống nhân vật có tới năm người kể Chất mới lạ trong trần thuật ấy cũng được Nguyễn Thị Mai trong luận văn Thạc sĩ năm 2016 (Đại học Sư phạm Hà Nội 2)

Cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh phân tích

sâu rõ

Đối với các tác phẩm của Văn Lê, bản thân nhà văn nhấn mạnh viết là để

phản ánh chân thật chiến tranh, để “củng cố đạo đức và lẽ phải” Viết về Mùa hè giá

Trang 13

buốt, Lê Văn Định nhấn mạnh yếu tố “bút pháp hiện thực nghiêm nhặt và tỉnh táo”,

“đã làm cho người đọc xúc động sâu sắc về sự cao cả của người lính trong một thế

đối đầu không cân sức”, Trần Sáng thì đề cao vẻ đẹp “bi tráng” Nói về Phượng

hoàng, Đậu Dung khẳng định ý nghĩa nhân văn xoáy vào một vấn đề then chốt, đó là

phẩm hạnh của con người trong chiến tranh “Với 564 trang văn Mùa hè giá buốt

được viết ra từ chính ký ức của ông Ở đó, có những mảnh hiện thực khắc nghiệt, xót xa, có lằn ranh giữa sống và chết Và ở đó có một mùa hè giá buốt cả tâm hồn với những người còn sống hoặc đã hi sinh Cuốn sách như một cách nhìn lại lịch sử…” [21] Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Ngọc Hà đi sâu phân tích cách tiếp

cận hiện thực Chiến tranh và con người trong hai tiểu thuyết Mùa hè giá buốt và

Phượng hoàng của Văn Lê, Nguyễn Thị Thu Hà chỉ ra các Đặc điểm tiểu thuyết về chiến tranh của Văn Lê trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật

Những năm gần đây, diễn đàn văn học trở nên sôi động với sự xuất hiện của các cây bút trẻ viết về chiến tranh như Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú

Nguyễn Đình Tú được biết đến với bộ ba tiểu thuyết chiến tranh là Xác phàm, Bên

dòng Sầu Diện, Hoang tâm Có nhiều quan điểm đề cao sự đột phá về đề tài và lối

viết của Xác phàm Nguyễn Thị Minh Thái có đánh giá chung sự pha trộn ngẫu

hứng, tinh tế chất liệu tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú, giữa hai màu đen trắng, sự đan quyện hai không gian rất cách xa nhau: chiến tranh - hòa bình, sự sống - cái chết, đời sống tâm linh bí hiểm và sự thật phũ phàng trong đời sống hằng thường

của người Việt hiện đại Ấn tượng của Lã Nguyên về tác phẩm Bên dòng Sầu Diện

là giọng điệu trữ tình cảm thương rất đặc biệt Tiếng nói chủ âm của tác phẩm là tiếng nói bi kịch Hoà âm cùng giọng chủ, những giọng khác cũng đi một âm sắc buồn

Mình và họ của Nguyễn Bình Phương là một hiện tượng thú vị của mảng tiểu

thuyết viết về chiến tranh Đoàn Cầm Thi cho đó là “cuốn tiểu thuyết đầy máu”, đậm

“mỹ cảm bạo lực”, đã “chạm tới, hơn nữa, đã phanh phui chất hoang bạo luôn len lỏi giữa cuộc sống vật chất và tinh thần người Việt” [103] Nguyễn Văn Hùng chỉ ra:

“Nhiều vấn đề từ quá khứ đến hiện tại được kết nối, soi rọi và luận giải: căn nguyên và

hệ lụy của bạo lực, bản chất và những di chứng của chiến tranh, căn tính và văn hóa tộc người, mình/dân tộc mình trong tương quan với họ/dân tộc họ…” [54]

Trang 14

Những cách tân hình thức tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương ở Mình và họ

rất được giới nghiên cứu chú ý, đề cao Nguyễn Văn Hùng cũng nhận xét: “Gia tăng, gấp bội và dịch chuyển điểm nhìn là biểu hiện độc đáo, sinh động trong nỗ lực khám phá, luận giải hiện thực và con người có chiều sâu của Nguyễn Bình Phương Đó là hình thức phối hợp, đan xen nhiều điểm nhìn/quan điểm trần thuật trên nguyên tắc

đối thoại Chính điều này đã giúp Mình và họ vượt thoát tính đơn thanh, độc thoại

một chiều của mô hình tự sự truyền thống; đan cài nhiều tiếng nói, thi triển liên tục những trường đối thoại, tạo dựng tính đa âm cho tiểu thuyết” [56] Nguyễn A Say

với Tiểu thuyết Mình và họ của Nguyễn Bình Phương gợi mở từ lý thuyết trò chơi đã

chỉ ra lối kết cấu phân mảnh đặc sắc của tác phẩm này

Nhìn chung, bức tranh nghiên cứu tiểu thuyết viết về chiến tranh từ năm 2000 đến nay có đặc điểm sau:

a Về phương diện phạm vi khảo sát:

Tiểu thuyết viết về chiến tranh năm 2000 đến nay chủ yếu được xem xét ở cấp

độ nhỏ, ở một vài phương diện, được thể hiện vừa đủ trong khuôn khổ một bài báo khoa học, bài phê bình, bài giới thiệu, bài phỏng vấn… Chưa có công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống cả một chặng đường từ năm 2000 đến nay

b Về phương diện nội dung:

Trong nhiều công trình, các tác giả nghiên cứu phân tích, đánh giá các hiện tượng tiểu thuyết từ năm 2000 đến nay với ý đồ làm ngữ liệu minh họa cho cả chặng đường văn xuôi hay tiểu thuyết sau 1975, chứ không coi nó một chặng đường mới

có những đặc trưng riêng cần phải phân định

Đa số các công trình khoa học chỉ tìm hiểu, nghiên cứu những hiện tượng cụ thể, riêng biệt chứ chưa có cái nhìn tổng quan, trọn vẹn cả một chặng đường dài từ sau 2000 đến nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tiểu thuyết viết về chiến tranh trong văn học Việt Nam từ năm 2000 đến nay Trong đó tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau: thành tựu

và vai trò cơ bản, đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức nghệ thuật

3.2 Phạm vi tài liệu khảo sát

Để thực hiện đề tài, chúng tôi tập trung khảo sát các tiểu thuyết sau:

Trang 15

- Trung Trung Đỉnh (2010), Lạc rừng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội

- Văn Lê (2009), Mùa hè giá buốt, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội

- Sương Nguyệt Minh (2014), Miền hoang, Nxb Trẻ, Tp Hồ chí Minh

- Trần Văn Tuấn (2004), Rừng thiêng nước trong, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội

- Khuất Quang Thụy (2010), Đối chiến, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội

- Nguyễn Đình Tú (2013), Hoang tâm, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh

- Nguyễn Đình Tú (2014), Xác phàm, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh

- Nguyễn Bình Phương (2014), Mình và họ, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh

Đó đều là những tác phẩm đã từng đạt những giải thưởng của Bộ Quốc phòng, Hội Nhà văn và nhận được sự quan tâm sâu sắc của độc giả, giới nghiên cứu khoa học trong những năm gần đây

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ mở rộng khảo sát thêm một số tác

phẩm khác như: Những bức tường lửa (2004) của Khuất Quang Thụy, Lính trận (2013) của Trung Trung Đỉnh, Phượng hoàng (2014) của Văn Lê, Thượng Đức (2005) của Nguyễn Bảo Trường Giang, Xiêng Khoảng mù sương (2006) của Bùi Bình Thi, Sóng chìm (2007) của Đình Kính, Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 (2014) của Trần Mai Hạnh, Bên dòng Sầu Diện (2009) của Nguyễn Đình Tú… để có cái

nhìn toàn diện, thấu đáo hơn

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là làm rõ đặc điểm của mảng tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam chặng đường từ năm 2000 đến nay (qua một số tác phẩm tiêu biểu)

4 2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu chính của đề tài như sau:

- Chỉ ra đặc điểm về phương diện nội dung của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh từ năm 2000 đến nay

- Chỉ ra đặc điểm về phương diện hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết viết về

đề tài chiến tranh từ năm 2000 đến nay

- Ở một mức độ nào đó, lí giải nguyên nhân dẫn tới chuyển biến mới của tiểu thuyết viết về chiến tranh ở chặng đường này, đồng thời chỉ ra được sự đóng góp quan trọng của đội ngũ nhà văn, nhất là là nhà văn trẻ trong công cuộc đổi mới thể loại tiểu thuyết đương đại

Trang 16

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài, người viết chủ yếu sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Bức tranh chung của tiểu thuyết viết về chiến tranh trong văn

học Việt Nam từ năm 1975 đến nay

Chương 2: Tiểu thuyết viết về chiến tranh từ năm 2000 đến nay nhìn từ

phương diện nội dung

Chương 3: Tiểu thuyết viết về chiến tranh từ năm 2000 đến nay nhìn từ

phương diện hình thức nghệ thuật

Trang 17

Chương 1 BỨC TRANH CHUNG CỦA TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ CHIẾN TRANH

TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY

1.1 Vài nét về tiểu thuyết và tiểu thuyết viết về chiến tranh

1.1.1 Vài nét về tiểu thuyết

Văn học có cả một đời sống thể loại phong phú, mỗi một thể loại có phương thức phản ánh hiện thực khác nhau, có một đời sống số phận lịch sử riêng Tiểu thuyết chỉ là một thể loại của lịch sử văn học có số phận đặc biệt Trong công trình

nghiên cứu “Tiểu thuyết như một thể loại văn học”, Bakhtin - nhà khoa học nhân

văn lỗi lạc người Nga đã nhận định: “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và chưa định hình (…) Nòng cốt thể loại của tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán được hết những khả năng uyển chuyển của nó” [35] Tuy vậy, trên quan điểm loại hình, các nhà lí luận vẫn có thể đưa ra những

khái niệm xác định về thể loại tiểu thuyết Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa:

“Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn

không gian và thời gian” [47, 277] Định nghĩa ấy nhấn mạnh quy mô đồ sộ và năng

lực bao quát độ sâu rộng hiện thực của thể loại này

Tuy vậy, thực tế sáng tác hiện nay có xu thế phá vỡ đại tự sự, thu ngắn tiểu thuyết bằng các mảnh vỡ, tạo nên dạng tiểu thuyết cỡ vừa, cỡ nhỏ đã thay đổi quan niệm về tiểu thuyết cũng như hình thức sinh tồn của nó trong đời sống văn học hiện đại

Nói đến tiểu thuyết là nói đến thể loại tự sự có khả năng bao quát lớn về

chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, phản ánh toàn vẹn và

sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực

Tiểu thuyết rất nhạy cảm, linh hoạt với biến động môi trường xã hội So với thơ ca, truyện ngắn, thì tiểu thuyết có năng lực thể hiện mạnh mẽ nhất sinh ngữ của thời đại Bakhtin viết: “Đó là thể loại duy nhất nảy sinh và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thế giới và vì thế mà thân thuộc sâu sắc với thời đại ấy, trong khi đó thì các thể loại lớn khác chỉ được thời đại mới kế thừa ở dạng đã hoàn tất (…) do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn bản thân hiện thực” [7, 23]

Trang 18

Thế mạnh của nó là có thể vay mượn, sử dụng, khai thác mọi diễn ngôn khác nhau của xã hội và các thể loại văn học để phản ánh hiện thực Trần Đình Sử quan niệm tiểu thuyết là “văn bản trần thuật được tổ chức như một tập hợp siêu văn bản, liên văn bản” Tô Hoài cho tiểu thuyết “là một thể hỗn hợp thu hút hết các thể loại khác Không ai trói buộc được nó trong bất cứ chừng mực nào Chúng ta có thể đem

và tiểu thuyết một hình thức nào đó của văn xuôi cũng được: kịch, bút kí, truyện ngắn, truyện dài và cả thơ nữa, đem từng chương, từng đoạn hoặc từng chữ - dùng thẳng hay dùng tinh thần nó - để miêu tả một ý nghĩ, một hành động của nhân vật, hình thức nào tiểu thuyết cũng dung nạp được tất” [80, 180]

1.1.2 Khái niệm tiểu thuyết viết về chiến tranh và tiểu thuyết viết về chiến tranh từ năm 2000 đến nay mà tác giả sử dụng trong luận văn

Khái niệm tiểu thuyết viết về chiến tranh mà người viết sử dụng có ý nghĩa phân biệt giữa đề tài chiến tranh với các đề tài khác trong đời sống phong phú của

tiểu thuyết Trong Dẫn luận về văn học, căn cứ vào “những đặc điểm chung về chủ

đề”, V.L.Cherets chia các thể tài tự sự ra làm ba loại: thể tài lịch sử dân tộc, thể tài

thế sự, thể tài đời tư Tiểu thuyết chiến tranh thuộc thể tài tiểu thuyết lịch sử, và là một bộ phận của dòng tiểu thuyết sử thi

Với tiểu thuyết lịch sử, Trần Đình Sử đã từng cho rằng đó là một loại của tiểu thuyết, chuyên viết về những nhân vật và sự kiện có thật trong lịch sử, do đó

mà có tên gọi “lịch sử” Lịch sử dân tộc, nhân loại thì phong phú, bao gồm trong đó

cả những vấn đề văn hóa, chính trị, xã hội đã diễn ra trong quá khứ, có khoảng cách thời gian khá rõ với hiện tại Chiến tranh chỉ là một phương diện của cấu trúc hiện thực lịch sử Do đó, tiểu thuyết lịch sử do đó cũng có nhiều dòng nhỏ khác nhau: tiểu thuyết lịch sử văn hóa, tiểu thuyết lịch sử danh nhân, tiểu thuyết lịch sử chiến

tranh… Rõ ràng, xét về phạm vi bao quát hiện thực, tiểu thuyết viết về chiến tranh

là một bộ phận của tiểu thuyết viết về lịch sử

Khái niệm “tiểu thuyết chiến tranh” có ý nghĩa khu biệt khuynh hướng tiểu

thuyết chiến tranh với các khuynh hướng tiểu thuyết thế sự, tiểu thuyết đời tư, tiểu

thuyết viễn tưởng, tiểu thuyết trinh thám Tiểu thuyết chiến tranh là dạng tiểu

thuyết sử thi Đó là dòng tiểu thuyết phản ánh những sự kiện hoành tráng có tầm thời đại bằng cảm hứng anh hùng, cảm hứng dân tộc và cảm hứng lịch sử Tiểu thuyết đời tư phản ánh những vấn đề cuộc sống cá nhân nhỏ bé với cảm hứng nhân

Trang 19

đạo, nhân văn Tiểu thuyết thế sự xoáy sâu vào các vấn đề thời sự xã hội đang diễn

ra, với cảm hứng hiện thực, cảm hứng phê phán Xét về nội dung và thi pháp thì tiểu

thuyết chiến tranh có những đặc trưng riêng, thế mạnh riêng

Tiểu thuyết viết về chiến tranh hiện đại của Việt Nam có quá trình phát triển khá phức tạp, với nhiều chặng đường khác nhau Mỗi một chặng đường, tiểu thuyết

có diện mạo nội dung và nghệ thuật khác nhau “Tiểu thuyết chiến tranh từ năm

2000 đến nay” là khái niệm có tính phân kì lịch sử, xác định một chặng đường vận

động của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam viết về chiến tranh Nó chỉ chặng đường vận động và phát triển của tiểu thuyết viết về chiến tranh từ năm 2000 đến nay

1.2 Bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa của Việt Nam sau 1975

1.2.1 Đời sống chính trị - xã hội

Sau năm 1975, đất nước bước vào thời kì hòa bình nhưng khủng hoảng toàn diện, sâu sắc Về kinh tế, lao động sản xuất què quặt, đời sống nhân dân nghèo nàn, lạc hậu Cơ chế quan liêu bao cấp bất cập, trì trệ hạn chế sự phát triển Về chính trị, chúng ta phải đối phó với chiến lược diễn biến hòa bình của thù trong giặc ngoài Đảng vừa phải giải quyết những xung đột về giai cấp, ý thức hệ vừa phải chống lại

âm mưu chống phá của bọn Pol Pot và nước láng giềng Trung Quốc Đổi mới đã thành vấn đề có ý nghĩa sống còn của đất nước

Từ năm 1986, sau Đại hội VI, Đảng đề xướng Công cuộc đổi mới toàn diện, thực hiện mục tiêu phát triển đất nước theo hướng CNH, HĐH, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, hội nhập toàn cầu Nền kinh tế mở, vận hành theo cơ chế thị trường từ đó đến nay đã đưa nước ta thoát khỏi sự khủng hoảng và từng bước được phục hồi giúp cho đời sống nhân dân dần được cải thiện

Về mặt văn hóa, xã hội và tư tưởng có những chuyển biến phức tạp Đất nước, con người trở về với cái đời thường muôn mặt trắng - đen, tốt - xấu, bi - hài… lẫn lộn Ý thức cá nhân với những nhu cầu đời tư của con người thức tỉnh, đòi hỏi được tôn trọng Các giá trị đạo đức, nhân cách… truyền thống không còn phù hợp,

bị lung lay, rạn nứt, các chuẩn mực giá trị mới thì chưa định hình rõ nét

Đường lối đổi mới văn hóa, văn nghệ của Đảng đã góp phần quan trọng giải phóng cá tính sáng tạo cho giới văn nghệ sĩ Chủ trương mở cửa giao lưu hợp tác hòa nhập về mọi mặt tạo điều kiện cho văn hóa, văn học tiếp thu những tinh hoa văn hóa văn học thời đại

Trang 20

1.2.2 Đời sống văn học

1.2.2.1 Đổi mới tư duy về văn học, về nhà văn

a Đổi mới tư duy về văn học

Trước 1975, đội ngũ nhà văn cách mạng đặc biệt coi trọng sứ mệnh chiến đấu cổ vũ chính trị, phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân của văn

học Nguyễn Đình Thi, trong Công việc của người viết tiểu thuyết (1969) đã viết:

“Tiểu thuyết ngày nay không những là một công cụ đắc lực để tìm hiểu và miêu tả

sự thật của đời sống con người, mà nó còn phải chiến đấu để làm thay đổi được xã hội, góp phần tạo ra một cách sống mới, một tâm hồn mới cho con người” [102, 267],

“Người viết ngày nay không thể né tránh các sự kiện lớn, trái lại những sự kiện đó

là nguồn dồi dào và đầy hứng thú để viết” [102, 293] Văn xuôi và tiểu thuyết đi trong trường tư tưởng văn nghệ là vũ khí, nhà văn là chiến sĩ Nghĩa vụ của văn học

là thể hiện được cái sắt lửa vĩ đại của thời đại cách mạng, cổ vũ nhân dân, người lính chiến đấu, đóng góp tiếng nói đấu tranh chống lại kẻ thù Văn học lấy đời sống hiện thực cách mạng vĩ đại của đất nước, dân tộc làm nguồn cảm hứng chủ yếu

Sau năm 1975, tư duy văn học cũ đã không còn phù hợp với hiện thực xã hội

và yêu cầu phát triển văn nghệ của nước nhà Từ những năm 80 trở đi, quan niệm về sáng tạo văn học có sự đổi mới mạnh mẽ Ý thức văn học gắn bó với cuộc sống thời đại, với số phận cá nhân con người hình thành trong thế hệ các nhà văn Đổi mới Nguyễn Minh Châu đề cao mối quan hệ máu thịt giữa nghệ thuật với con người rằng: “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” Nguyễn Huy Thiệp nhấn mạnh mục đích vì con người của văn chương rằng: “Văn chương giúp cho con người nhận thức về mình, nhận chân sự hiểm nguy

trong đường đời” [104, 73] Nhà văn Dạ Ngân tâm đắc cái thiên chức cứu rỗi cao

quý của văn chương với bản thân và cuộc đời: “Với tôi văn chương được coi như là đạo, bởi cứ nói gì gì nó vẫn cứ có ý nghĩa cứu rỗi, hướng thiện cho con người” [97, 179] Nền nghệ thuật mới dần hướng tới đời tư cá nhân, quan tâm tới số phận con người nhiều hơn

Quan niệm về con người trong văn học có sự đổi mới sâu sắc Điểm khác biệt của các giai đoạn văn học khi xử lí mối quan hệ giữa lịch sử và con người được

Nguyễn Thị Bình phân tích trong bài Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong

văn xuôi nước ta từ sau năm 1975 như sau: “Biến cố lịch sử trở thành đường viền của

Trang 21

số phận cá nhân hoặc là cái cớ ban đầu để nhà văn khảo sát hành trình tự ý thức của con người Nếu ở văn học giai đoạn trước, con người là cái phương tiện để biểu đạt cái

lịch sử, thì bây giờ lịch sử lại trở thành phương tiện để biểu đạt con người” [15, 22]

Quan niệm con người đời thường, đời tư đa chiều, phức tạp, con người ngoại

lệ, con người bất toàn, con người bề sâu tâm hồn… dần thay thế các quan niệm cũ

trong tiểu thuyết và văn xuôi đương đại Trong Luận án tiến sĩ Tiểu thuyết về chiến

tranh Việt Nam sau 1975 - những khuynh hướng và sự đổi mới nghệ thuật, Nguyễn

Thị Thanh kết luận như sau: “Từ cái nhìn lí tưởng một chiều, văn học sau năm 1975

đã đề xuất một cái nhìn đa diện, phức tạp và sâu sắc hơn về con người Từ khoảng giữa thập kỉ 80 văn học dần dần nghiêng về kiểu con người cá nhân, con người số phận, con người đã được nhìn nhận từ các góc độ tự nhiên, triết học, nhân bản… Bên cạnh con người đạo lí, con người bản năng cũng được chú ý khai thác Bên cạnh con người ý thức còn có con người tâm linh, con người vô thức Bên cạnh con người vẹn toàn lí tưởng còn có con người khiếm khuyết, bất toàn” [96, 41] Nói chung con người và hiện thực trong cái nhìn của văn học mới phong phú, khách quan, phức tạp và bất khả tín nhận thức hơn

Từ những năm 90 trở đi, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa giải cấu trúc… văn học đi theo khuynh hướng giải thiêng, xóa bỏ đại tự sự, xóa bỏ trung tâm đơn trị Quan niệm hiện thực bất khả tín, con người phân mảnh, đa mảnh, con người ẩn ức tâm linh… ngày càng phổ biến Quan niệm sáng tác văn học là trò chơi diễn ngôn đã tạo

ra một làn sóng cách tân hình thức thể loại mạnh mẽ Phạm Thị Hoài coi văn

chương là “trò chơi vô tăm tích” [51, 7], Trần Huy Quang nghĩ: “Tôi coi văn chương để

giải trí Không có cô đầu, không đánh bạc, nhảy disco thì đọc tiểu thuyết, thế thôi Viết cũng vậy, đều là trò chơi của người ta cả, đừng gán cho văn chương những cái

gì cao siêu mà oan uổng nó” [97, 132]

b Đổi mới quan niệm về nhà văn

Song song với đổi mới quan niệm về văn học là đổi mới quan niệm về nhà văn Văn học sau 1975 đặc biệt tôn trọng cá tính sáng tạo, coi tự do bộc lộ cái tôi là động lực của sự phát triển tài năng, đời sống văn học Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị: “Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên những giá trị đích thực trong

văn hóa, văn nghệ để phát triển tài năng” [14, 17] Nguyễn Minh Châu kêu gọi mọi

Trang 22

người chấp nhận đa dạng, chấp nhận sáng tối và hoàn toàn đặt lòng tin vào nhà văn” Tạ Duy Anh nhấn mạnh khát vọng tìm kiếm cái mới, cái riêng Cởi trói cho nhà văn, giải phóng cái tôi nghệ sĩ đã thành khẩu hiệu đổi mới theo hướng dân chủ hóa, nhân bản hóa của văn học sau 1986

Văn học đặc biệt đề cao trách nhiệm nhân văn của người nghệ sĩ đối với con người và cuộc sống Nguyễn Huy Thiệp chú trọng đến sự tỉnh táo, nhạy cảm tinh tế của người cầm bút trước những mặt trái đời sống: “Nhà văn là gì? Chẳng là gì cả

Nó chỉ là một linh hồn nhỏ đầy lỗi lầm và luôn tìm cách sám hối để vượt qua những lỗi lầm ấy Nó là con vật nhạy cảm hết sức đáng thương với các thói xấu của bầy đàn Nó viết không phải vì nó, vì cả bầy đoàn rút ra từ đấy một lợi ích cộng đồng, một lợi ích văn hóa” [108, 56] Thu Bồn cũng có quan điểm tương đồng: “Nhà văn cần phải là người thầy thuốc mổ xẻ ung nhọt của xã hội - đó chính là những ung nhọt của con người” [97, 20]

Tiểu thuyết là một trong những thể loại có sự phát triển mạnh mẽ và chi phối sâu sắc đến đời sống văn học sau 1975 Đổi mới tư duy thể loại tiểu thuyết khá toàn diện từ nội dung đến hình thức nghệ thuật Nhà văn Đổi mới từ chối lối tiểu thuyết đơn âm, độc diễn, truyền thụ áp đặt hiện thực một chiều Họ đề cao tiểu thuyết có tính đa thanh, có sức vẫy gọi đối thoại đa chiều cởi mở dân chủ Nguyễn Thị Thu Huệ khuyên nhà văn: “chỉ nên là một người bạn tâm tình với người đọc chứ đừng là

người dạy người đọc vì chưa chắc cứ là nhà văn đã giỏi, đã có văn hóa” [97, 130]

Nhà tiểu thuyết phải luôn có tâm thế đối thoại: “có thể xuất hiện trong bất tư thế tác giả nào, có thể miêu tả những sự việc có thật trong đời mình hoặc ám chỉ đến chúng, có thể can thiệp vào cuộc trò chuyện giữa các nhân vật, có thể bút chiến công khai với các địch thủ văn học của mình” [7, 57] Tiểu thuyết phải “khoan sâu theo chiều dọc, đa thanh hóa sự đối thoại, nhiều vỉa ý nghĩa, bi kịch của thời đại được dồn nén trong một cuộc đời bình thường, không áp đặt chân lí” [72, 57]

1.2.2.2 Quan niệm về đề tài chiến tranh và nhà văn viết về chiến tranh

a Quan niệm về đề tài chiến tranh

Viết về chiến tranh, nhà văn sau 1975 vẫn nêu cao những quan niệm truyền thống của văn học sử thi cách mạng Nguyễn Trí Huân tâm niệm: “Thiên chức của

nhà văn viết về chiến tranh là chống chiến tranh” [121, 13] Hồ Phương khẳng định:

“Nhưng dù thế nào, viết về chiến tranh vẫn cứ lấy mâu thuẫn ta - địch làm sợi chỉ

Trang 23

xuyên suốt, không khí bi hùng và cách mạng của cuộc vật lộn sống còn của dân tộc vẫn phải bao trùm” [86, 107]

Đa số cây bút viết về chiến tranh là để tri ân: “Viết về hai cuộc kháng chiến,

về chiến tranh, nhiều đồng chí cầm bút trong quân đội đã đứng tuổi nhiều lần nói tới công việc đó như một trách nhiệm, một món nợ chưa trả được Một món nợ chưa trả

và không thể nào quên Viết về chiến tranh… mấy tiếng ấy không đơn thuần là chuyện một đề tài văn chương, mà có còn gì đây? Có máu thịt của mình Kẻ sống và người chết, có kỉ niệm tình đồng đội, đồng chí mình Có cuộc đời mình và cuộc đời dân tộc” [17, 50]

Nhà văn thời Đổi mới đặc biệt tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử và đặc biệt quan tâm đến số phận bi thương của con người và dân tộc trong chiến tranh Chu Lai cho rằng quan trọng nhất là phải chân thực, quan trọng nhất là nói lên được nổi đau của nhân vật trong chiến tranh, vì chiến tranh là nước mắt Nhà văn Văn Lê cũng nói: “Chiến tranh không bao giờ chỉ toàn một màu vinh quang, để

đi đến chiến thắng có biết bao nhiêu máu và nước mắt (…) chính vì thế các sáng tác

về đề tài chiến tranh cách mạng cũng phải dần đi theo khuynh hướng phản ánh hiện thực chân thật nhất của chiến tranh” [69] Nhà văn nhìn con người và sự kiện chiến tranh bằng nhận thức trung thực, tỉnh táo và lập trường nhân đạo cao thượng

Sau năm 1975 đến nay, vấn đề nhà văn viết về chiến tranh một cách sáng tạo được đặt ra Đa số các nhà văn đều đề cao năng lực xử lí đề tài chiến tranh sao hay, thuyết phục Người thì nói: “Chiến tranh đang cần được phản ánh với cá tính của người viết, thái độ của người viết” [25, 129] Nguyễn Hưng Quốc thì cho rằng:

“Một cuộc chiến tranh có thể mang tính chính nghĩa hay phi nghĩa; nhưng một tác phẩm viết về chiến tranh chỉ có vấn đề hay hay dở mà thôi‟‟ [90]

b Quan niệm về nhà văn trong thời bình viết về chiến tranh

Tiểu thuyết 1945 - 1975 được viết trong dòng chảy sự kiện nóng bỏng, thời

sự Giữa nhà văn với con người, cuộc sống chiến tranh rất gần gũi, thậm chí chan hòa, thấm đẫm thành máu thịt của nhau Tình cảnh viết về chiến tranh của tiểu

thuyết ngày nay đã khác trước, đặc biệt từ năm 2000 Xét trên bình diện thời gian,

không gian thì sự gắn bó của nhà văn với thời chiến không thực sự sống động, ấm nóng Giữa người viết ngày nay có độ lùi khá xa so với chiến tranh Đề tài là sự kiện trên đà nguội nhiệt, nó không trực quan, trực diện mà là vang bóng một thời,

Trang 24

ẩn khuất, thách thức năng lực hồi ức, thái độ trung thực, nhiệt huyết về lịch sử đối với người viết Đặc biệt với các nhà văn trẻ sinh ra sau hay lớn lên sau 1975 như Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú thì lại càng xa cách với chiến tranh Họ chủ yếu sống với chiến tranh qua sách vở, qua chuyện kể của nhân dân hay các cựu chiến binh Họ viết với độ không trải nghiệm thực tiễn sinh động đúng theo nghĩa đen Viết về đề tài chiến tranh đối với nhà văn trẻ là một thử thách khó khăn

Tuy nhiên sáng tạo nghệ thuật không phải là câu chuyện phép cộng tư liệu theo thời gian một cách máy móc cơ học Vốn sống, độ trải nghiệm thực tế rất quan trọng nhưng ở đây còn là vấn đề của tâm hồn, trí tưởng tượng, của năng lực xử lí Nhà văn Trung Quốc Mạc Ngôn đã từng bảo vệ quyền viết về chiến tranh của nhà văn trẻ thời bình, khước từ quan niệm đề cao độc quyền sáng tạo của nhà văn lão

thành cách mạng Khi tâm sự về việc viết Gia tộc Cao lương đỏ, ông cho rằng các

nhà văn lão thành đã từng trải nghiệm qua chiến tranh, có rất nhiều tư liệu, nhưng

họ lại không còn đủ tinh lực để sáng tác nữa, còn các bạn trẻ có tinh lực lại không

có sự từng trải trong chiến tranh Họ cần thông qua các phương thức khác để bù đắp

cho sự khiếm khuyết này, đó là tưởng tượng ng nhấn mạnh sáng tác văn học của nhà văn không cần phải photo lại lịch sử, vì đó là nhiệm vụ của các nhà sử học Nhà văn sáng tác đề tài chiến tranh - hiện tượng ngu muội trong tiến trình lịch sử của loài người, sự biểu hiện của họ trong tác phẩm là chiến tranh đã bóp méo tâm hồn của con người, hoặc là sự thay đổi của tính cách con người trong chiến tranh Xét từ

ý nghĩa này, những ai cho dù chưa trải nghiệm qua chiến tranh, cũng có thể sáng tác văn học mang đề tài chiến tranh

Quan niệm của Mạc Ngôn thực ra đã được chứng minh bởi lịch sử tiểu

thuyết viết về chiến tranh của thế giới La Quán Trung với Tam quốc diễn nghĩa, Lep Tôn xtôi với Chiến tranh và Hòa bình vĩ đại nhờ những trang miêu tả chiến

tranh hoành tráng, sinh động Nhưng họ đâu phải là một tế bào sống của sinh thể sự kiện lịch sử được phản ánh Giữa họ và đề tài thậm chí có độ dài khoảng cách hàng mấy trăm năm Óc tưởng tượng vô bờ bến, sự liên tưởng chính xác giúp nhà văn tiến sát hiện thực và viết rất hay về chiến tranh Nguyễn Đình Tú khẳng định mạnh

mẽ về giá trị của tài năng rằng: “Đề tài dù khó đến đâu thì cũng đều bị khuất phục bởi các tài năng Vì thế sự trải nghiệm không nên hiểu một cách giản đơn là “trải qua”, các cây bút trẻ hoàn toàn có thể viết về những điều họ không trải qua mà vẫn

Trang 25

hay, đó chính là bí ẩn muôn đời của văn chương” [32] Nguyễn Bình Phương nhấn mạnh vai trò sáng tạo của nhà văn “Vấn đề ở chỗ cách khai thác, cách xử lí và mục đích của mỗi nhà văn khi viết chủ đề này như thế nào mới là quan trọng” [30]

1.2.2.3 Đổi mới về nội dung và hình thức sáng tác

Sau năm 1975, văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã có sự vận động đổi mới khá toàn diện, phong phú, sâu sắc về nội dung và hình thức, phù hợp với hoàn cảnh đất nước và thời đại

Về nội dung, văn học và tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt Nam đã có sự

mở rộng biên độ phản ánh hiện thực Nhà văn đã chú trọng phân tích con người cá nhân, khám phá nó ở góc độ cá nhân đời tư, bộc lộ chiều tâm linh sâu thẳm, chỉ ra

sự phức tạp, đa chiều về số phận, tính cách Cảm hứng nhân bản, nhân văn dần thay thế cảm hứng sử thi lãng mạn, cảm hứng đối thoại dần thay thế cảm hứng tuyên truyền Nhiều vấn đề con người và xã hội hậu chiến, hiện đại được đặt ra, phân tích, bình luận đối thoại như nỗi niềm thế sự, bi kịch hậu chiến, dục vọng bản năng, xung đột và hòa giải dân tộc, tình yêu, tôn giáo, văn hóa, tín ngưỡng… có ý nghĩa nhân loại cao

Về mặt hình thức, sự đổi mới văn học diễn ra mạnh mẽ trên các phương diện: ngôn ngữ, kết cấu, hình tượng, giọng điệu… Trong nhiều sáng tác, các nhà văn trẻ trưởng thành sau chiến tranh mạnh dạn thể nghiệm thi pháp hậu hiện đại đem đến diện mạo mới lạ, góp phần thúc đẩy sự vận động vượt thoát ra khỏi trường

sử thi cho văn học nước nhà đương đại

1.3 Sơ lược về các chặng đường phát triển của tiểu thuyết Việt Nam từ

1975 đến nay

1.3.1 Chặng đường 1975 - 1985

Đây là chặng đường tiểu thuyết phát triển trong hoàn cảnh đất nước vừa mới thoát ra khỏi chiến tranh Chặng đường này, tiểu thuyết ghi nhận sự đóng góp của những cây bút đã trưởng thành từ trong hai cuộc kháng chiến, đặc biệt là thế hệ nhà

văn chống Mỹ Mở rừng (1976) của Lê Lựu, Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi

nhà (1977) của Nguyễn Minh Châu, Nắng đồng bằng (1977) của Chu Lai, Năm

1975 họ đã sống như thế nào (1978) của Nguyễn Trí Huân, Thung lũng thử thách

(1978), Họ cùng thời với ai (1980) của Thái Bá Lợi, Trong cơn lốc (1976) của Khuất Quang Thụy, Đất trắng (tập 1- 1979, tập 2 - 1984) của Nguyễn Trọng Oánh,

Trang 26

Cửa gió (1981) của Xuân Đức, Biển gọi (1982) của Hồ Phương, Thời gian của người (1983) của Nguyễn Khải, Đất miền Đông (1984) của Nam Hà, Sao đổi ngôi

(1985) của Chu Văn, Người lính mặc thường phục (1986) của Mai Ngữ…

Đây là chặng đường tiểu thuyết viết về chiến tranh vẫn đi trong trường văn học

sử thi cách mạng Cảm hứng anh hùng ca về đất nước, dân tộc trong chiến tranh vẫn dạt dào, thấm đẫm trong từng trang viết Người lính vẫn được nhìn chủ yếu bằng con mắt lí tưởng hóa Tuy vậy, đã có dấu hiệu cho thấy sự đổi mới của dòng tiểu thuyết sử thi cách mạng Một số cây bút đã mạnh dạn phản ánh hiện thực khốc liệt với những mất mát đau thương số phận, tinh thần của người lính và dân tộc, xoáy vào chiều sâu nội tâm, chỉ ra khiếm khuyết, hạn chế của con người Góc độ tiếp cận hiện thực và con người tuy chưa đi chệch quỹ đạo văn học sử thi nhưng cách xử lí hiện thực ít nhiều đã

có sự biến đổi Nhà văn đã bắt đầu có ý thức tiết giảm cái nhìn lí tưởng hóa, chú ý nhiều hơn đến diễn biến tư tưởng - tâm lý con người

1.3.2 Chặng đường 1986 - 2000

Trong thời điểm cao trào của Đổi mới, tiểu thuyết phát triển rất nhanh Bên cạnh những cây bút gạo cội, xuất hiện những gương mặt mới rất có bản lĩnh như Dương Hướng, Bảo Ninh… đóng góp cho sự nở rộ huy hoàng của tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết viết về chiến tranh nói riêng Có thể kể tới hàng loạt tác phẩm

rất giá trị, từng gây ấn tượng mãnh liệt cho người đọc ở chặng đường này như: Ông

cố vấn - Hồ sơ một điệp viên (1987 - 1988) của Hữu Mai, Tư Thiên (1994) của

Xuân Thiều, Một ngày và một đời (1997) của Lê Văn Thảo, Chim én bay (1987) của Nguyễn Trí Huân, Nước mắt đỏ của Trần Huy Quang, Không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy, Đại tá không biết đùa của Lê Lựu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Vòng tròn bội bạc, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Bến không chồng của Dương Hướng, Thời xa vắng của Lê Lựu, Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh, Thời

của những tiên tri giả (1999) của Nguyễn Viện,…

Đây là chặng đường, tiểu thuyết chiến tranh nằm trong quỹ đạo vận động, bứt phá ra khỏi trường văn học sử thi của văn học hiện đại Các cây bút thể hiện đã

thái độ tỉnh táo, trung thực trong phản ánh hiện thực Trong Văn xuôi chiến tranh -

Hai giai đoạn phát triển, Đinh Xuân Dũng chỉ ra: “Khuynh hướng chính của sự

phát triển đó là khả năng phân tích, mổ xẻ và bình giá hiện thực đa chiều của chiến tranh, đó là sự phân tích mối quan hệ phức tạp giữa số phận từng con người với biến

Trang 27

cố chiến tranh, đó là năng lực đặt ra những vấn đề nóng bỏng nhất trong chiến tranh

và sau chiến tranh do tác động dai dẳng của chiến tranh trong đời sống của từng cá nhân và toàn xã hội” [22, 94 - 95] Nguyễn Thị Thanh nhấn mạnh: “Sự cách tân mang tính đột phá của tiểu thuyết về chiến tranh được ghi nhận ở các cây bút đặt trọng tâm ở việc phân tích bi kịch của con người và những vấn đề đời sống thế sự thời hậu chiến” [96, 58] Chiến tranh trở thành bối cảnh để nhà văn khám phá con người Con người được nhìn nhận ở góc độ đời tư, được mổ xẻ trên nhiều bình diện bằng con mắt đa chiều Những mặt trái thân phận, những diễn biến tâm hồn phức tạp, những nhu cầu cá nhân được phân tích, mổ xẻ sâu sắc

Đề tài, cảm hứng của tiểu thuyết chiến tranh từ 1986 đến trước 2000 đã dịch chuyển từ sử thi đến cá nhân, đời thường, từ vấn đề lịch sử, dân tộc đến các vấn đề nhân bản, nhân văn, từ thời chiến đến hậu chiến Các vấn đề được soi chiếu bằng cảm quan cá nhân, điểm nhìn nhân văn trong bối cảnh đất nước đổi mới, xu thế hóa giải dân tộc và toàn cầu hóa Đối thoại trở thành nguyên tắc nghệ thuật trong tiếp cận hiện thực chiến tranh Tác phẩm đi sâu vào phân tích, tra vấn, triết lí chứ không chỉ dừng lại miêu

tả, phản ánh đơn giản về con người và đời sống chiến tranh Nhiều nhà văn đã mạnh dạn khai thác các yếu tố hiện thực huyền thoại, giễu nhại, dòng ý thức, áp dụng lý thuyết mảnh vỡ… trong xây dựng nhân vật, tổ chức kết cấu, phương thức trần thuật tạo nên sự đột phá hình thức mạnh mẽ cho tiểu thuyết chiến tranh

1.3.3 Chặng đường từ 2000 đến nay

Nhịp độ phát triển của tiểu thuyết chiến tranh đầu thế kỉ XXI tiếp tục sôi động với hàng loạt các cuộc thi sáng tác về chiến tranh do Hội Nhà văn, Bộ Quốc

phòng… tổ chức Năm 2004, Cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết sử thi về đề tài

chiến tranh cách mạng chính thức khởi động đã thu hút nhiều cây bút tham gia Bên

cạnh sự khẳng định bản lĩnh, vị trí của những nhà văn cựu binh như Xuân Đức, Xuân Thiều, Chu Lai, Khuất Quang Thụy, Văn Lê, Sương Nguyệt Minh… có sự vươn lên rất đáng chú ý của nhiều gương mặt nhà văn trẻ tài năng, tâm huyết, đã từng thành danh trong các mảng đề tài, thể loại văn học khác như Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Bình Phương Sau năm 2000 xuất hiện các cây bút nghiệp dư đóng góp thú vị cho bức tranh văn học như Vũ Công Chiến, Trần Mai Hạnh… Họ là những nhân chứng sống về chiến tranh một thời Họ viết chủ yếu với động cơ giãi bày kí

ức, kể lại kỉ niệm chiến trường một thời đạn lửa, hay lật lại hồ sơ chiến tranh Cá

Trang 28

biệt như Trần Mai Hạnh với Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 đem đến những trang

viết sinh động về sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn, cho gợi ý về hướng tự sự tả thực phi hư cấu về chiến tranh

Trong khoảng hơn 15 năm trở lại đây, mảng tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt

Nam gặt hái khá nhiều thành tựu Có thể kể đến các tác phầm như: Những bức tường

lửa của Khuất Quang Thụy (Giải thưởng Hội Nhà văn - 2005, Giải thưởng Nhà nước

về văn học nghệ thuật - 20070, Đất không đổi màu của Nguyễn Quốc Trung (Giải thưởng Mê Kông - 2006), Thượng Đức của Nguyễn Bảo Trường Giang (Giải thưởng Hội Nhà văn - 2006, Giải thưởng Bộ Quốc phòng - 2009), Sóng chìm của Đình Kính (Giải thưởng Hội Nhà văn - 2007), Tiếng khóc của Nàng Út của Nguyễn Chí Trung (Giải thưởng Hội Nhà văn - 2008, Giải thưởng Bộ Quốc phòng - 2009), Ngày còn dài của Nam Hà (Giải thưởng Bộ Quốc phòng - 2009), Xuân Lộc (Giải thưởng Bộ Quốc phòng - 2009) của Hoàng Đình Quang, Mùa hè giá buốt (Giải thưởng Bộ Quốc phòng

- 2009), Phượng hoàng của Văn Lê, Màu rừng ruộng (Giải thưởng Bộ Quốc phòng - 2009) của Đỗ Tiến Thụy, Bên dòng sầu diện (Giải thưởng Bộ Quốc phòng - 2009),

Hoang tâm, Xác phàm của Nguyễn Đình Tú, Rừng thiêng nước trong của Trần Văn

Tuấn, Đối chiến của Khuất Quang Thụy, Miền hoang của Sương Nguyệt Minh, Xiêng

Khoảng mù sương của Bùi Bình Thi, Khúc bi tráng cuối cùng, Mưa đỏ của Chu Lai, Mình và họ của Nguyễn Bình Phương, Hồi ức lính của Vũ Công Chiến, Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của Trần Mai Hạnh…

Cảm hứng sử thi trong tiểu thuyết viết về chiến tranh như hình sin đi xuống

chạm đến cực tiểu với Nỗi buồn chiến tranh ở chặng đường trước năm 2000 thì bất

ngờ vươn lên trở lại với Thượng Đức, Đỉnh máu, Mùa hè buốt giá, Lính trận, Rừng

thiêng nước trong, Xác phàm, Đối chiến, Xiêng Khoảng mù sương,… sau năm

2000 Bên cạnh những vấn đề con người đã được nói tới ở chặng đường trước, tiểu thuyết hôm nay đi vào các vấn đề tâm linh, văn hóa, sắc tộc, hòa giải dân tộc với giọng điệu phân tích, đối thoại triết lí sâu sắc

Tiểu thuyết viết về chiến tranh từ sau năm 2000 đến nay thể hiện tinh thần

“giải sử thi”, “giải đại tự sự” đậm nét Cảm thức ngoại biên, cảm thức tâm linh, cảm thức nhân văn về kẻ thù… hiện diện ở nhiều tác phẩm Thi pháp tiểu thuyết mang dáng dấp chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa giải cấu trúc, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo,

chủ nghĩa hậu hiện đại đã manh nha trong một số tác phẩm như Miền hoang, Mình

Trang 29

và họ, Hoang tâm… Nguyên tắc đối thoại mở về hiện thực hoài nghi, bất khả tín

làm nên tinh thần mới mẻ cho tiểu thuyết chiến tranh hôm nay So với các chặng đường trước, tiểu thuyết viết về chiến tranh sau năm 2000 là sự tiếp tục mạch sử thi

và nối dài mạch đổi mới ở mức độ đa dạng và mạnh mẽ hơn

1.4 Vị trí của mảng tiểu thuyết viết về chiến tranh trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975

1.4.1 Những thành tựu đáng chú ý của tiểu thuyết viết về chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975

Từ 1975 trở đi, đời sống tiểu thuyết viết về chiến tranh diễn ra sôi động Đội ngũ sáng tác khá hùng hậu, nhiều xu hướng nghệ thuật mới hình thành, thành tựu nội dung và hình thức đạt được đa dạng hơn Đội ngũ nhà văn viết tiểu thuyết chiến tranh Việt Nam gồm hai thế hệ: Thế hệ các nhà văn trưởng thành trước năm 1975 nay tiếp tục sáng tác như Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Chu Lai, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Trí Huân, Xuân Đức, Khuất Quang Thụy, Văn Lê… Thế hệ các nhà văn trẻ trưởng thành sau chiến tranh như Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy… sớm khẳng định mình, có những đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới tiểu thuyết sử thi cách mạng hiện nay

Số lượng tác phẩm tiểu thuyết chiến tranh trong hơn 30 năm qua ra đời là rất lớn Nhiều tác phẩm đạt giá trị nhân văn to lớn, trở thành điển hình nghệ thuật xuất

sắc cho văn học phản chiến được trong nước và quốc tế ngợi ca như Nỗi buồn chiến

tranh của Bảo Ninh

Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam sau 1975 có sự phân hóa đa dạng thành nhiều

xu hướng Dựa vào chủ đề, có thể thấy tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 có sự nở rộ nhiều khuynh hướng khác nhau: tiểu thuyết thế sự, tiểu thuyết đời tư, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết tính dục, tiểu thuyết hình sự, tiểu thuyết kinh dị Dựa vào hình thức nghệ thuật, cũng có thể thấy tiểu thuyết viết về chiến tranh Việt Nam sau 1975 có nhiều mô thức nghệ thuật khác nhau: tiểu thuyết lịch sử - sự kiện, tiểu thuyết dòng ý thức, tiểu thuyết hiện thực huyền ảo, tiểu thuyết đa mảnh, tiểu thuyết liên văn bản, tiểu thuyết thị giác, tiểu thuyết phi hư cấu…

Tiểu thuyết về chiến tranh sau năm 1975 là dòng tiểu thuyết đậm đà tinh thần yêu nước Về cơ bản, nó vẫn cứ mang tiếng nói yêu nước và tự hào dân tộc sâu sắc

Nó là bài ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là lời khẳng định sự vĩ đại của đất nước, con người Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh Nó tiếp tục cảm

Trang 30

hứng phê phán chiến tranh và ngợi ca khát vọng hòa bình của dân tộc Mặt khác, tiểu thuyết sau năm 1975 đã đạt tới những giá trị nhân bản, nhân văn nhất định Nhà văn quan tâm sâu sắc đến mặt trái chiến tranh, đến nỗi đau to lớn về số phận và tinh thần của dân tộc và mỗi một cá nhân Họ gắn việc phản ánh chiến tranh với các vấn

đề nhân văn có ý nghĩa nhân loại

1.4.2 Vị trí quan trọng của tiểu thuyết viết về chiến tranh trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh sau năm 1975 đã thể hiện vai trò cực kì quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của tiểu thuyết hiện đại nước nhà Từ

1975 đến khoảng giữa thập kỉ 90, tiểu thuyết viết về chiến tranh vẫn được coi là trụ cột, đóng góp thành tựu cơ bản và quan trọng nhất cho thể loại tiểu thuyết Từ những năm 2000 đến nay, trong hoàn cảnh các thể loại văn học và khuynh hướng tiểu thuyết khác phát triển khá nhanh chóng, tiểu thuyết viết về chiến tranh tuy bị chèn ép và đánh mất vị trí độc tôn, chủ đạo, song vẫn đóng góp tiếng nói rất quan trọng cho đời sống văn học, cho thể loại tiểu thuyết

Mỗi một dòng tiểu thuyết đều có những đặc trưng nội dung hay hình thức riêng Tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh sau năm 2000 với những đặc thù về cách nhìn con người và đời sống cũng như thi pháp thể tài anh hùng ca hiện đại, với lịch sử phát triển qua hơn 30 năm nay đã đóng góp quan trọng làm nên thành tựu phong phú, đa dạng, mới mẻ cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Những đổi mới về quan niệm hiện thực con người, những cách tân về nội dung, về thể loại, thi pháp của nó góp phần thúc đẩy sự đổi mới, phát triển hiện đại hóa của thể loại tiểu thuyết nói chung

Khuynh hướng tiểu thuyết viết về chiến tranh có vai trò bảo lưu, tiếp nối những mạch nguồn nghệ thuật truyền thống quan trọng của văn học cách mạng, văn học cổ Trong xu thế văn học, văn hóa hội nhập, sự biến hình xâm nhập lẫn nhau của các thể loại, dòng tiểu thuyết viết về chiến tranh vẫn giữ được bản sắc riêng Các yếu tố sử thi, huyền thoại, dân tộc, những sắc thái cảm xúc thẩm mĩ trang nghiêm, tráng lệ, những quan niệm đẹp về con người, tư tưởng yêu nước và tự hào dân tộc… chính là thế mạnh độc đáo của nó Do đó, tiểu thuyết viết về chiến tranh sau năm 1975 có vai trò tạo ra sự cân bằng cần thiết, kết nối, dung hòa giữa hiện đại với truyền thống, nhân loại với dân tộc, lịch sử với thời đại, cá nhân với cộng đồng, chính trị với nhân văn… cho quá trình đổi mới của tiểu thuyết nói chung

Trang 31

Tiểu kết chương 1

Qua những phân tích trên, có thể thấy rằng từ năm 2000 trở đi, đời sống tiểu thuyết về chiến tranh đã bước sang một chặng đường mới Đây là chặng đường mà cao trào đổi mới đã đi qua, công cuộc đổi mới dần đi vào chiều sâu Với độ lùi thời gian nhất định, văn học đã dần thoát ra khỏi trường ảnh hưởng của văn học sử thi Lớp nhà văn kì cựu đã bước vào độ chín của vốn sống và bản lĩnh đổi mới Lớp các nhà văn trẻ trưởng thành sau 1975 đã có những đóng góp tích cực tạo nên luồng gió mới cho dòng tiểu thuyết này Trong khoảng hơn một thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, tiểu thuyết về chiến tranh đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng về số lượng và chất lượng, về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, vừa mang tính kế thừa, vừa có tính sáng tạo rất cao Vấn đề đổi mới nội dung và hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết về chiến tranh từ năm 2000 đến nay sẽ được trình bày ở chương 2 và chương

3 của luận văn

Trang 32

Chương 2 TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ CHIẾN TRANH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Mở rộng biên độ phản ánh hiện thực

Sau năm 1975, văn xuôi tiếp tục theo đuổi đề tài chiến tranh Tuy nhiên, khuynh hướng văn học này có nguy cơ tụt hậu, không phù hợp với hoàn cảnh thời đại mới và nghệ thuật mới Đề tài này đã được đào đi xới lại trong 30 năm tưởng như không còn gì để nói thêm nữa trở thành thách thức lớn đối với thế hệ cầm bút thời hậu chiến Để không bị đông cứng trong những quy phạm truyền thống, để vượt thoát ra khỏi lối mòn tư duy hiện thực của tiểu thuyết thời chiến, tiểu thuyết mới cần tạo ra những đột phá về nội dung và nghệ thuật

Tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh từ năm 2000 đến nay tiếp tục có những bước chuyển động đổi mới đáng kể về nội dung Bên cạnh sự tiếp nối những mạch nguồn đề tài, chủ đề và cảm hứng truyền thống, tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh hiện nay liên tục chuyển hướng phạm vi đề tài và tăng cường sức khám phá, phân tích những vấn đề sâu kín, phức tạp của con người và đời sống trong mối quan hệ với chiến tranh Sự lựa chọn mở rộng biên độ phản ánh của đề tài chiến tranh là một trong những hướng đổi mới khá rõ nét trong tiểu thuyết hiện nay Xét về mặt bề rộng, đề tài không khuôn đóng trong khoảng không gian - thời gian lịch sử 1945 - 1975 Xét về mặt bề sâu, các vấn đề hiện thực lịch sử được soi chiếu, khám phá phong phú, đa dạng với cái nhìn mới mẻ hơn Về cơ bản có 3 phương thức mở rộng năng lực phản ánh hiện thực của tiểu thuyết viết về chiến tranh từ năm 2000 đến nay, bao gồm:

Thứ nhất là hướng khai thác các sự kiện bên ngoài giai đoạn 1945 - 1975, tìm đến với những sự kiện chiến tranh sau năm 1975

Thứ hai là mở rộng đối tượng phản ánh, mô tả khách quan cả hai phía đối tuyến ta - địch

Thứ ba là tiếp cận nhiều chiều, nhiều phương diện khác nhau của con người,

đời sống trong chiến tranh và sau chiến tranh

2.1.1 Khai thác các cuộc chiến tranh biên giới sau 1975

2.1.1.1 Quan niệm về các cuộc chiến tranh biên giới của tiểu thuyết viết về chiến tranh từ năm 2000 đến nay:

Tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn 1945 - 1975 có cả một hệ thống đề tài truyền thống riêng Hầu như tiểu thuyết 1945 - 1975 tập trung khai thác vào các vấn

Trang 33

đề thuộc hai sự kiện chính trị cách mạng vĩ đại liên quan tới vận mệnh tổ quốc, dân tộc Việt Nam đó là: Chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng hòa bình chủ nghĩa xã hội Hai cuộc chiến tranh chống thưc dân Pháp, đế quốc

Mĩ và tay sai trở thành đề tài trung tâm, xuyên suốt của ba thập kỉ văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng Gần như tiểu thuyết ngày ấy đi song đôi với nhịp điệu đời sống chính trị cách mạng Sự phản ánh năng động, nhạy bén, bám sát diễn biến lớn lao của thời đại của tiểu thuyết góp phần củng cố chắc chắn mối quan hệ văn học với đời sống, nghệ thuật và cách mạng, kịp thời tạo nên những động lực tinh thần to lớn cho dân tộc trong sống và chiến đấu lúc bấy giờ

Từ năm 1975 đến khoảng cuối thập kỉ 90, tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh có những chuyển động trong phạm vi phản ánh và cách nhận thức hiện thực, con người, cuộc sống Những năm đầu hậu chiến, văn học chưa bứt hẳn khỏi mô hình phản ánh nhưng cái nhìn về hiện thực đã dần thay đổi, đi từ mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực, nhìn thẳng vào sự thật đến tái nhận thức lịch sử và nghiền ngẫm hiện thực Với một độ lùi thời gian nhất định nhà văn có được sự chiêm nghiệm, đánh giá chân xác sự thật chiến trường và trong tâm hồn người lính

Nhà văn thời hậu chiến viết trong ý thức vượt thoát ra khỏi phạm trù sử thi,

hay cảm hứng minh họa của tiểu thuyết giai đoạn kháng chiến Các trang viết đậm

đặc không khí máu lửa chiến tranh, đã bắt đầu hướng tới phân tích, chiêm nghiệm những vấn đề nhân sinh sâu kín, phức tạp của con người trong quá khứ và thực tại, phơi bày sự thật trái chiều, phũ phàng có ý nghĩa nhân loại Chiến tranh chủ yếu được thể hiện qua cái nhìn tràn đầy cảm hứng nhân văn hay khát vọng nói lên sự thật một cách trung thực, khách quan nhất Những vấn đề phi sử thi chưa được văn học thời chiến ngày trước không quan tâm hoặc lãng tránh bắt đầu hiện diện, nở bung ra, đem đến khí vị mới, sức sống mới cho tiểu thuyết thời đổi mới

Dù đã có sự kéo giãn, mở mang hiện thực phản ánh trên nhiều phương diện mới, khác, nhưng vẫn phải khẳng định rằng, tiểu thuyết hậu chiến 1975 đến 1999 vẫn hít thở khí quyển hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại và đi trong dư âm cảm hứng sử thi cách mạng Nhà văn có đi xa đến đâu vẫn bị neo níu trở lại với mảnh đất hiện thực quen thuộc, vẫn đặc biệt thủy chung với thời chống Pháp, chống Mỹ trên mọi nẻo đường sáng tạo

Từ năm 2000 đến nay, “song song với sự “mở rộng” về nhận thức là sự mở

rộng về đề tài” Những vùng cấm lịch sử, những vấn đề ngoại biên của văn xuôi

Trang 34

cách mạng sử thi xuất hiện trong đời sống tiểu thuyết Một số cây bút đã mạnh dạn bứt phá ra khỏi đề tài chiến tranh cách mạng 1945 - 1975, tìm đến các cuộc chiến

tranh biên giới sau 1975 Trong hoàn cảnh bị rào chắn bởi những đề tài cũ, một số

cây bút mạnh dạn đổi hướng, đi tìm thời gian đã mất, dấn thân vào bí ẩn lịch sử Xung đột giới tuyến rẻo cao, biên ải trở thành điểm đến hấp dẫn của họ.“Đã xuất hiện những tiểu thuyết viết về những cuộc chiến trước đây ít được nhắc tới như chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới phía Bắc hay phía bên kia

chiến tuyến…” [82] Xét về mặt nghệ thuật, đó là dấu hiệu của sự mở lối về đề tài,

là dấu hiệu của xu hướng mở rộng phạm vi hiện thực phản ánh của tiểu thuyết

đương đại viết về chiến tranh

Các sự kiện chiến tranh biên giới thập kỉ 70, 80 của thế kỉ 20 gần như là những đề tài mới, phi chính thống của văn học cách mạng Vì nhiều nguyên cớ mà chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc ngắn mà khốc liệt

ấy ít được chính sử công khai, và có lúc bị coi là vùng cấm bất khả xâm phạm đối với văn học nghệ thuật và các diễn đàn công luận khác Dù các sự kiện ấy đã qua đi hàng chục năm nay, để lại những dấu ấn đau đớn mà đáng tự hào, có tác động lớn lao dài lâu đến đời sống dân tộc, đất nước không thua kém gì hai cuộc chiến tranh trước đó song rất ít được văn học đề cập tới một cách xứng đáng Về nghệ thuật, hai

sự kiện lịch sử này chưa có tư cách và địa vị xứng đáng với tầm vóc lịch sử của nó trong đời sống văn học và tiểu thuyết nước nhà Đỗ Hải Ninh đã chỉ ra cái sự thật phi lí của quan niệm về văn học và đời sống là từ sau năm 1975, mặc dù nước ta vẫn còn chứng kiến hai cuộc chiến tranh biên giới nhưng văn học giai đoạn này thường được gọi là văn học hậu chiến Nói như vậy có nghĩa rằng dòng văn xuôi hay tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 thực chất đã lạc hướng, lỗi nhịp so với lịch sử, đã đánh rơi đáng tiếc một mảng không gian - thời gian hiện thực chiến tranh

của đất nước, dân tộc cần khai thác

Điều đáng nói là giữa lúc tiểu thuyết chúng ta còn ngại đụng chạm tới, thì tiểu thuyết Trung Quốc đã đưa sự kiện chiến tranh biên giới Việt Trung bổ sung vào

hệ thống đề tài hiện đại Nổi bật gần đây năm 2004, nhà văn Mạc Ngôn đã cho ra

mắt cuốn Ma chiến hữu Cuốn sách đã nhận nhiều luồng phê bình khác nhau từ giới

học giả đến bạn đọc công chúng Việt Nam Rất nhiều ý kiến lên án gay gắt, cho rằng Mạc Ngôn nợ người Việt Nam một lời xin lỗi vì cuốn sách đã xuyên tạc lịch

Trang 35

sử, bóp méo sự thật về cuộc chiến, vì cái tinh thần tác giả ngợi ca chủ nghĩa anh hùng dân tộc cực đoan của người lính Trung Quốc Không ít những luồng ý kiến khẳng định tính nhân văn của tác phẩm khi thấy cái giọng điệu mỉa mai, phê phán

về chiến tranh, cũng như cái chất giọng bi ai về chấn thương tâm lý của người

lính, nhân dân Trung Hoa sau chiến tranh Ma chiến hữu của Mạc Ngôn là tác

phẩm nói về các tổn thương tinh thần của người lính Trung Quốc trong cuộc chiến diễn ra chớp mắt so với chiều dài lịch sử ngàn năm binh biến mà đất nước rộng lớn này đã gây ra cho láng giềng Người nông dân, lương dân bị bần cùng hóa, bị ném vào lò lửa chiến tranh, biến thành công cụ trong cuộc chiến với hy vọng đổi đời, chấp nhận hy sinh để làm anh hùng nhưng rốt cuộc trở thành một đám “thân tàn ma dại” bị lịch sử bỏ quên Những “điển hình” đó không được nhìn từ thứ chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa anh hùng hão huyền, mà trực diện, soi thấu nỗi khốn cùng của thân phận con người

Dù là gì, thì tác phẩm vẫn đem đến một cách nhìn về chiến tranh biên giới từ phía bên kia, cho bạn đọc thấy được những bi kịch nhân văn ghê gớm của bất kì ai,

dân tộc nào trong cuộc chiến ấy Có thể coi Ma chiến hữu là ám ảnh của một người lính trở về sau chiến tranh Trong hồi kí Biến, Mạc Ngôn chỉ ra cái hão tưởng anh

hùng và suy nghĩ ấu trĩ, giản đơn, bị áp bức chính trị của đại bộ phận thanh niên lao động Trung Quốc thể hiện trước, trong và sau sự kiện 1979: “Năm 1979, dù đối với đất nước hay cá nhân tôi, cũng đều là một năm hết sức quan trọng Trước tiên là ngày 17 - 2, cuộc chiến với Việt Nam bùng nổ Hai trăm ngàn quân từ hai tuyến Quảng Tây và Vân Nam tràn vào biên giới Việt Nam Các đồng đội nhập ngũ cùng đợt với chúng tôi có rất nhiều người đã ra tiền tuyến Ở sâu thẳm trong lòng, tôi rất ngưỡng mộ họ Tôi hy vọng mình cũng có cơ hội như thế, ra chiến trường, làm anh hùng, có thể lập công, khi trở về được đề bạt làm cán bộ, dẫu hy sinh cũng kiếm được cho bố mẹ ở quê cái danh gia đình liệt sĩ, thay đổi địa vị chính trị của gia đình, coi như không uổng công họ sinh ra và nuôi dưỡng tôi Kỳ thực, không chỉ mình tôi

có ý nghĩ này Suy nghĩ này rất đơn giản, rất ấu trĩ, nhưng đích thực là một thứ tâm

lý biến dạng của đám con cháu nhà trung nông bị áp bức chính trị như chúng tôi

Sống uất ức, thà rằng chết oanh liệt còn hơn” [78, 69]

Bất kì một đề tài văn học nào cũng bắt nguồn từ chiều sâu quan niệm về nghệ thuật và đời sống Sự rẽ nhánh ra khỏi dòng chảy đề tài chiến tranh cũ của tiểu

Trang 36

thuyết từ năm 2000 xuất phát từ đôi mắt nhìn lịch sử của nhà văn Nhà văn Bảo

Ninh, tác giả tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh khi đánh giá Ma chiến hữu đã nêu ra

vấn đề thái độ của văn học Việt Nam trước sự kiện chiến tranh biên giới ng viết

trong bài Đọc “Ma chiến hữu” đăng trên báo Văn Nghệ Trẻ: “Một số nhà văn và

độc giả bạn hữu của tôi thấy rằng việc xuất bản một cuốn sách có nội dung liên quan tới cuộc chiến năm 1979 mà tác giả lại của phía đối phương là một sự báng bổ Song tôi, và chắc chẳng riêng tôi, không nghĩ thế Là một nhà văn nặng tình nghĩa với người nghèo khổ, tác giả Mạc Ngôn sẽ khó mà có thể bưng tai bịt mắt bỏ qua một đại tai ương, một bi kịch lớn lao cay đắng đến như vậy ( ) Cuộc chiến năm

1979 chẳng những không bao giờ phai mờ trong ký ức của thế hệ chúng tôi, những người đương thời với cuộc chiến ấy, mà cả trong tâm trí các thế hệ sau cũng thế, ngay dù có muốn khỏa lấp thì vẫn sẽ mãi còn đó Và để hiểu, để suy ngẫm về cuộc chiến ấy thì tất nhiên sẽ có những độc giả và nhà văn thế hệ sau chúng tôi tìm đọc các tác phẩm văn học viết về nó Văn học Việt Nam tịnh không có tác phẩm nào, thì thôi, người ta đành đọc một chiều qua văn học dịch Thiết nghĩ như thế cũng được, như thế còn hơn là một sự im lìm trống vắng bao trùm lên hiện thực sừng sững và

hiển nhiên của thời kỳ lịch sử kinh hoàng và bi thương ấy”

Quan niệm về lịch sử có ý nghĩa chi phối máu thịt về nội dung hiện thực của dòng tiểu thuyết này Đỗ Hải Ninh đã khẳng định: “… trong suốt mấy chục năm qua, chiến tranh không những chưa bao giờ bị quên lãng trong kí ức của các thế hệ người Việt mà còn luôn được lật trở, tìm kiếm, truy vấn từ những góc độ khác nhau” [82] Nhiều nhà văn thời bình hôm nay quan niệm lịch sử là dòng chảy kết nối liền mạch giữa các sự kiện Họ lại càng ý thức sâu sắc giá trị của các sự kiện

lịch sử đối với quá khứ, hiện tại và tương lai Tác giả cuốn tiểu thuyết Biên bản

chiến tranh 1- 2 -3 - 4 75, Trần Mai Hạnh từng cho rằng lịch sử và cuộc sống luôn

là một dòng chảy liên tục, bất tận, trong cuộc sống hiện tại của ngày hôm nay có nền tảng và giá trị tinh thần vô giá của quá khứ, đồng thời nó cũng chứa đựng mầm mống và sức sống mãnh liệt của tương lai Tâm thế nhà văn đứng trước hai sự kiện

chiến tranh biên giới chính là làm sao để trả lại cái chân giá trị của nó Nó cũng cần được đánh giá một cách bình đẳng như bao cuộc chiến tranh khác Lớp nhà văn như

Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Bình Phương coi đó sự miêu tả là quyền lợi và nghĩa vụ của thế hệ con cháu Mọi sự im lặng hay chối từ nó đồng nghĩa với sự phụ bạc máu

Trang 37

xương hi sinh các thế hệ cha ông, đi ngược lại truyền thống chính nghĩa mà dân tộc

đã từng thể hiện Nhà văn Nguyễn Đình Tú trình bày tâm huyết của mình rằng sau này lớn lên, nhìn lại lịch sử dân tộc, anh thấy đây là một cuộc chiến gần với mình nhất nhưng thế hệ trẻ hầu như không được biết đến Với tư cách nhà văn, anh thấy cuộc chiến này cần phải được nhắc đến, còn nhắc đến ở khía cạnh nào thì tùy mỗi nhà văn… Đây cũng là lúc các hình thức văn học nghệ thuật cần phải lên tiếng về hai cuộc chiến tranh biên giới bởi sự im lặng quá lâu sẽ gây ra hậu quả là chúng ta

tự chối từ những trang sử được viết bằng máu và nước mắt của chính chúng ta, đồng thời mất đi sự cảnh giác cần thiết đối với những kẻ thù nằm ở đâu đó bên kia

biên giới Thừa nhận lịch sử không thể tẩy xóa được, Nguyễn Bình Phương coi việc

phản ánh như là điều tất yếu, hiển nhiên: “Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc

đã có người viết, thậm chí nhiều người viết là đằng khác và sẽ còn nhiều nhà văn nữa quan tâm để viết tiếp Điều ấy là hiển nhiên vì đây cũng chỉ là một chủ đề như bao chủ đề khác, bởi sự kiện đã xảy ra và đã là một phần không thể tẩy xóa của lịch

sử giữ nước Vấn đề ở chỗ cách khai thác, cách xử lí và mục đích của mỗi nhà văn khi viết chủ đề này như thế nào mới là quan trọng” [30]

Với một thái độ nghệ thuật nghiêm túc cũng như tình cảm tha thiết với sự

thật lịch sử đã đưa các nhà văn xê dịch tới các vùng biên giới Sương Nguyệt Minh

với Miền hoang, Nguyễn Đình Tú với Hoang tâm phục dựng không gian chiến tranh biên giới Tây Nam, Nguyễn Bình Phương với Mình và Họ, Nguyễn Đình Tú với Xác phàm hành trình lên miền rẻo cao phía Bắc, đưa bạn đọc trở lại với cuộc

chiến đẫm máu Trung - Việt

Miền hoang được viết bởi cây bút giàu kinh nghiệm trận mạc Sương Nguyệt

Minh Truyện kể về cuộc hành trình khủng khiếp của bốn kẻ giữa rừng Miên hoang dại sau trận giao chiến khốc liệt, gồm tên đại tá Lục Thum, thằng Rô - đám tàn quân Pol Pot, Saly - cô y tá giả câm, Tùng - lính tình nguyện Việt Nam bị bắt làm tù binh Xoay quanh bốn nhân vật là những tình tiết khốc liệt, ghê rợn Saly là nạn nhân của chế độ diệt chủng, cô bị Lục Thum bắt làm nô lệ tình dục Tên đại tá Lục Thum tàn bạo thất trận, tàn phế với vết thương hoại tử giòi bò nhung nhúc, vẫn giở trò dâm dục với Saly, luôn mồm huênh hoang về sức mạnh của đại quân Pol Pot - Iêng xa ri, về công xã Ang kar Thằng Rô - tên cận vệ trung thành mê muội lúc nào cũng nhìn Tùng nghi ngờ và ghen tức, chực chôn sống, chém đầu tên tù binh Việt

Trang 38

Nam Để sống sót, Tùng phải cam chịu những trận đòn sống chết bất ngờ từ thằng

Rô, phục dịch Lục Thum một cách cay cực, nhục nhã Cái miền hoang cả bọn rơi lạc đầy rẫy cạm bẫy chết chóc: những bãi mìn Pôn pốt gài, những đầm lầy cá sấu, những đàn sói đói dữ lao vào giành miếng ăn trước sự khiếp đảm và uất hận của cả bọn Đói khát, đau ốm và hãi hùng khiến Tùng ác mộng liên tục Tùng nuôi ý định

bỏ chạy nhưng rừng Miên khắc nghiệt buộc anh phải quay lại với chúng Một lần được Saly giúp, Tùng đã chạy thoát Bắt được dấu vết quân giải phóng nhân dân Cămpuchia, quân tình nguyện Việt Nam Tùng vui sướng vô cùng Song khi đọc dòng biểu ngữ người Campuchia chào mừng quân tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế và rút hết về nước Tùng thực sự kinh hoàng

Hoang tâm của Nguyễn Đình Tú kể lại hành trình đầy siêu thực của nhân vật

Anh tại khu du lịch Cửa Núi Anh tình cờ gặp gỡ một cô gái Son Phấn bí ẩn tại ga Nguyên Thủy Hai người cùng nhau đi vào khu du lịch Cửa Núi, bắt đầu cho một hành trình tưởng chừng chỉ có trong huyền thoại Họ qua trận đồ đá kì vĩ của bộ tộc người Mã, rồi lại thoát khỏi cuộc rượt đuổi của thú rừng, lạc vào bộ tộc người Khi với truyền tích về tục ăn não người của nhà vua, cung điện của một vị nữ trưởng tộc người Mụ… Song hành với câu chuyện hiện tại là câu chuyện quá khứ Những mảnh kỉ niệm về chiến trường K sống dậy trong hồi ức của nhân vật anh dọc hành trình: khoảnh khắc nên thơ của bông hoa Lòng Hào hoang sơ đẹp buồn nở giữa lòng chiến địa; cuốn sổ ghi chép thơ văn của một người lính Sài Gòn cũ; dòng tâm trạng sâu kín riêng tư của người lính sau những trận đánh; những cuộc bắn giết khốc liệt lẫn nhau với bọn K; những hình ảnh tang thương của đồng đội; những cảnh buồn đổ nát, xác xơ và đầy chết chóc của làng mạc, dân K

Xác phàm của Nguyễn Đình Tú là câu chuyện chiến đấu hi sinh anh dũng

của thế hệ cha ông tại Pháo đài Cảnh giác ở thị xã Vùng Biên trong công cuộc

chống bọn Khợ 17 ngày đêm Từ bé, Nam đã là đứa “không có giới tính”, luôn mơ

hồ nhận thấy thân xác mình được sinh ra trên cõi đời này là để thực hiện một sứ mệnh đặc biệt của tạo hóa Một lần lao mình xuống đầm sen Nam xuýt chết đuối và được Việt cứu sống Sau sự kiện đó, Nam thay đổi kì lạ Nam thấy được những hình ảnh về Bố Việt và Bố Nam trong chiến tranh, từ khi mà hai đứa còn chưa được sinh

ra Nam thường đem kể lại cho Việt nghe cuộc chiến của Bố trong sư đoàn Vàng cùng nhân dân chống Khợ trên các trận địa Đồi Tả, Đồi Hữu từ những ngày đầu tiên

Trang 39

giặc tiến qua cửa khẩu Quốc Môn vào thị xã Vùng Biên cho đến ngày họ bị chôn vùi dưới các tầng hầm pháo đài Cảnh giác

Mình và họ của Nguyễn Bình Phương là câu chuyện về một đám thanh niên

phạm tội giết người chạy trốn lên biên giới Chúng bị công an bắt, áp giải trở về Hiếu

vì chạy trốn mà rơi xuống vực Linh hồn Hiếu lại đi theo mà không biết mình đã chết Hiếu lần theo trang nhật kí của anh Thuận - cựu binh chiến tranh đi qua những địa danh khác nhau Hành trình xe lên rồi xe xuống đầy những mẩu chuyện về phỉ miền biên ải Trong đó nổi lên là câu chuyện của anh trai Hiếu Trong chiến tranh, trên đỉnh Tà Vần, Thuận bị giặc Tàu chém bay một mảng đầu, bắt làm tù binh Hết chiến tranh Thuận trở

về Đời sống hôn nhân, mâu thuẫn gia đình đổ vỡ, cộng với những ám ảnh cuộc chiến

và thời gian tù binh, khiến Thuận trở nên “dở người” mắc hội chứng hậu chiến, hóa điên, bị mọi người chối bỏ Nhật kí và cuộc sống của anh đầy những tiếng “cừ rừm” ghê lạ Thuận đã chết trong cảnh đói khát, cô độc

Sự xuất hiện các đề tài chiến tranh biên giới ở đây không mang tính chất trùng lặp hay phủ nhận, phế truất đề tài chiến tranh cách mạng cũ Nó có ý nghĩa như là sự bổ khuyết mảnh thiếu hụt, mở rộng chiều kích phản ánh hiện thực lịch sử một thời, làm phong phú thêm kho đề tài chiến tranh của văn xuôi dân tộc Khi mà các nhà văn đang

chật vật tìm lối mở cho đề tài chiến tranh thì Miền hoang, Xác phàm, Hoang tâm, Mình

và họ… đã đem đến những giải pháp khai thông rất đáng chú ý

2.1.1.2 Khai thác sáng tạo đề tài các cuộc chiến tranh biên giới

Không phải miêu tả đối tượng khác có nghĩa rằng văn học sẽ mới Có thể lấy quan niệm của Nguyễn Bình Phương như một điểm tựa lý luận về thực tiễn khai thác sáng tạo một đề tài lịch sử: “Vấn đề ở chỗ cách khai thác, cách xử lí và mục đích của mỗi nhà văn khi viết chủ đề này như thế nào mới là quan trọng” [30] Đôi khi vẫn là cái sự việc, con người cũ, nhưng dưới những góc nhìn khác thì nó trở nên mới mẻ Thay đổi cách nhìn, cách miêu tả là việc làm quan trọng để tái cấu trúc đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết hôm nay Đề tài chiến tranh biên giới được tiểu thuyết thể hiện một cách sáng tạo, linh hoạt theo tinh thần đổi mới, phá vỡ quan

niệm sử thi độc sáng, đơn trị về hiện thực của tiểu thuyết 1945 - 1975

Khai thác chủ đề chiến tranh biên giới này, các cây bút dẫn bạn đọc đến với nhiều mảnh không gian khác nhau của xã hội miền núi, vùng biên hay nước bạn Không gian nghệ thuật có sự đan quyện giữa không gian chính trị lịch sử nóng

Trang 40

bỏng, không gian văn hóa tâm linh, bí ẩn, không gian thiên nhiên nguyên sơ, hoang dại Các không gian này được trãi trên các cuộc hành trình thực và ảo chông chênh, khúc khuỷu của các nhân vật gây cảm giác phiêu lưu lạ lẫm, mới mẻ Mãnh lực mê hoặc, cuốn lôi của các trang viết về đề tài chiến tranh vùng biên chính là đưa đẩy bạn đọc liên tục trôi lạc vào những vùng miền xa lạ, những thế giới huyền bí dị

thường Miền hoang, Hoang tâm dựng lên không gian đất nước Campuchia với

những cánh rừng nguyên sơ đầy tiếng rú ghê rợn của sói, những trại tị nạn, những bom sóc, thành phố cháy trụi, đầy xác người, những đền đài hoang phế, bức tượng

vũ nữ Apsara đổ nát, những bóng dân thường và lũ diệt chủng Khmer Đỏ áo đen ẩn

hiện trong bóng đêm, những truyền thuyết Ma lai bản địa kinh dị Mình và họ đưa

bạn đọc đến với vùng rẻo cao phía Bắc, sống giữa cái không gian đỉnh Tà Vần mây

trắng thanh sơ, u buồn, thực ảo Nguyễn Bình Phương khéo cài bạn đọc theo cái

cuộc hành trình xe lên xe xuống cùng Hiếu để trải nghiệm sự khúc khuỷu, hoang vu của núi non, khám phá đời sống sinh hoạt, phong tục độc đáo, dị quái, chìm trong chiều sâu lịch sử chính trị, xung đột sắc tộc đẫm máu, li kì

Chân dung xã hội miền núi đất nước mình hay nước bạn hiện lên trong đời sống tiểu thuyết chiến tranh mang những sắc thái cảm xúc thẩm mĩ thật mới mẻ Thế giới đó đẹp và buồn, hồn nhiên và man dại, chân phác mà huyền bí, dị thường, thực mà hoang lạ Cảm xúc khi đọc là vừa hãi sợ, vừa thích thú Ít ra, khi đến với các tác phẩm ấy bạn đọc được phiêu lạc trong nhiều chiều cuộc sống vùng cao, vùng biên ải

Thực ra, đây không phải là không gian nghệ thuật quá mới mẻ của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, nhà văn Ma Văn Kháng đã từng miêu tả rất hay hình ảnh con người và cuộc sống rẻo cao, biên tái Tuy nhiên, đặt không gian đó trong cái quỹ đạo bi hùng của các cuộc chiến tranh biên giới thì Ma Văn Kháng chưa mấy khi làm như các cây bút tiểu thuyết từ năm 2000 đến nay Trong tiểu thuyết mới, không gian lịch sử chính trị quân sự trùm phủ lên các không gian khác Phía bên trong đó, văn hóa, phong tục, tâm linh, tình cảm… chảy như những mạch nguồn thầm lặng trong cái sinh thể cộng đồng, dân tộc, đất nước Cái xử lí rất thành công của các nhà văn về đề tài chiến tranh biên giới đó chính là đan lồng được nhiều mảnh hiện thực

phi sử thi khác nhau châu tuần quanh vấn đề lịch sử Ngay như Lạc rừng, Lính trận viết về vùng đất Tây Nguyên trong thời chống Mỹ, dù không hướng tới các sự kiện

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Phan Vàng Anh (2013), Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI, Văn học hậu hiện đại diễn giải và tiếp nhận, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại diễn giải và tiếp nhận
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2013
2. Thái Phan Vàng Anh (14/09/2010), Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn hậu hiện đại, nguồn: http://bichkhe.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn hậu hiện đại
3. Đào Tuấn Ảnh (2005), Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh
Năm: 2005
4. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
5. Lại Nguyên Ân (5/2015), “Văn học Đổi mới hay là sự thức tỉnh nửa với của một lớp nhà văn”, Tham luận Hội thảo Sáng tác văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới: thực trạng và triển vọng, Viện Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Đổi mới hay là sự thức tỉnh nửa với của một lớp nhà văn”, Tham luận "Hội thảo Sáng tác văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới: thực trạng và triển vọng
6. Nguyễn Bảo (2007), “Tiếng khóc của nàng Út - tiếng khóc của một thời”, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (668), tr.102 - 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng khóc của nàng Út - tiếng khóc của một thời”, "Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Nguyễn Bảo
Năm: 2007
7. M. Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
8. Đào Thị Hoài Bắc (2012), Lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết 2004 - 2009 về đề tài chiến tranh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết 2004 - 2009 về đề tài chiến tranh
Tác giả: Đào Thị Hoài Bắc
Năm: 2012
9. Lê Huy Bắc (11/05/2011), Những khuynh hướng chính trong văn chương hậu hiện đại, nguồn: http://nguvan.hnue.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khuynh hướng chính trong văn chương hậu hiện đại
10. Lê Huy Bắc (2013), Trò chơi ngôn ngữ trong tư duy hậu hiện đại, nguồn: http://nguvan.hnue.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi ngôn ngữ trong tư duy hậu hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2013
11. Ngô Vĩnh Bình (2006), Văn xuôi về đề tài chiến tranh cách mạng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi về đề tài chiến tranh cách mạng
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2006
12. Ngô Vĩnh Bình (23/10/2010), “Văn học về đề tài chiến tranh, thành tựu và thách thức, nguồn: www.hoinhavanvietnam.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học về đề tài chiến tranh, thành tựu và thách thức
13. Nguyễn Thị Bình (2008), Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay, Đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Bộ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2008
14. Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, văn nghệ (Từ Đại hội VI đến Đại hội VII), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, văn nghệ (Từ Đại hội VI đến Đại hội VII)
Tác giả: Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1993
15. Nguyễn Thị Bình (2003), Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau năm 1975, Tạp chí Văn học, (4), tr.21 - 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau năm 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2003
16. Nguyễn Minh Châu (1987), “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, Báo Văn nghệ (49, 50), tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, Báo "Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
17. Nguyễn Minh Châu (1994), Trang giấy trước đèn (Tôn Phương Lan sưu tầm, tuyển chọn), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
18. Vũ Công Chiến (2016), Hồi ức lính, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ức lính
Tác giả: Vũ Công Chiến
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2016
19. Lê Đình Cúc (1991) Cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt và một số tiểu thuyết Mỹ gần đây. Tạp chí Văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Đình Cúc (1991) "Cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt và một số tiểu thuyết Mỹ gần đây
20. Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2003), Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết chiến tranh sau 1975, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết chiến tranh sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w