Mục tiêu nghiên cứu Thiết kế được quy trình rèn luyện năng lực hợp tác; Xây dựng và sử dụng được một số công cụ, vận dụng quy trình trên để rèn luyện NL hợp tác cho HS trong dạy học phầ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Sinh học
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đình Nhâm
Nghệ An - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, đƣợc các đồng tác giả cho phép
sử dụng và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Thị An
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bằng tình cảm trân trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin cảm ơn Thầy giáo – PGS.TS Nguyễn Đình Nhâm người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học, khoa Sinh học - Trường Đại học Vinh, Phòng đào tạo Sau đại học – Trường Đại học Sài Gòn và quý Thầy giáo, Cô giáo đã trực tiếp tham gia giảng dạy các chuyên đề của chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học – Lớp Cao học khóa 23, đã cung cấp những kiến thức quý báu và tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, quý thầy cô và các em học sinh trường THPT Nguyễn Huệ – Quận 9 – Tp Hồ Chí Minh, đặc biệt là các thầy
cô trong bộ môn Sinh học đã nhiệt tình hợp tác, hỗ trợ, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, tiến hành điều tra, thực nghiệm sư phạm trong quá trình nghiên cứu luận văn
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người thân đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Nhân dịp này, tôi mong muốn gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất!
TP Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2017
Người thực hiện
Bùi Thị An
Trang 6MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
5.1 Đối tượng 4
5.2 Khách thể nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4
6.2 Phương pháp điều tra cơ bản 4
6.3 Phương pháp tham vấn chuyên gia 4
6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 5
6.5 Phương pháp thống kê toán học 5
7 Giả thuyết khoa học 5
8 Những đóng góp mới của đề tài 5
9 Cấu trúc luận văn 5
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 LỊCH SỬ CỦA NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1.1 Những vấn đề nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài 6
1.1.2 Những vấn đề nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài 8
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.2.1 Khái quát về lý thuyết năng lực 11
1.2.2 Năng lực hợp tác trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông 14
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 19
CHƯƠNG 2: RÈN LUYỆN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC – SINH HỌC 12 THPT 25
Trang 72.1 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 12
THPT VÀ PHẦN SINH THÁI HỌC 25
2.1.1 Phân tích mục tiêu và cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 12 THPT 25
2.1.2 Phân tích mục tiêu và cấu trúc nội dung của phần Sinh thái học – Sinh học 12 THPT 28
2.2 QUY TRÌNH RÈN LUYỆN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC – SINH HỌC 12 THPT 30
2.2.1 Quy trình rèn luyện NLHT cho học sinh 30
2.2.2 Ví dụ vận dụng quy trình rèn luyện NLHT cho học sinh 33
2.3 THIẾT KẾ MỘT SỐ CÔNG CỤ RÈN LUYỆN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC – SINH HỌC 12 THPT 45
2.4 THIẾT KẾ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC HỢP TÁC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC – SINH HỌC 12 THPT 67
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 72
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 72
3.2 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 72
3.3 CÁCH THỨC TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 73
3.3.1 Chuẩn bị thực nghiệm 73
3.3.2 Tiến hành thực nghiệm 73
3.3.3 Kiểm tra, xử lí kết quả thực nghiệm 74
3.3.4 Phân tích kết quả thực nghiệm 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đảng ta luôn coi Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Mục tiêu của giáo dục Việt Nam là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, năng động, sáng tạo và có khả năng xây dựng xã hội trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Trong quan điểm chỉ đạo, Đảng ta luôn khẳng định đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Phát triển giáo dục và đào tạo có nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, là yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển của xã hội
Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 khoản 2 quy định: “Phương pháp
giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đổi mới căn bản, toàn diện về
giáo dục và đào tạo xác định: “Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo,
chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức Ngoài ra, theo xu hướng mới, Bộ Giáo dục đang chỉ đạo giáo dục phổ thông theo hướng tích hợp liên môn, dạy học theo hướng phát triển năng lực”
Thực hiện theo NQ 40/2010/QH của Quốc Hội, toàn quốc đã tiến hành thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông: Quá trình đổi mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực của giáo dục phổ thông mà quan trọng là đổi mới chương trình giáo dục để đáp ứng yêu cầu xây dựng đạt được mục tiêu việc “dạy chữ, dạy người, dạy nghề”, định hướng nghề nghiệp cho học sinh trong hoàn cảnh mới của xã hội Việt Nam hiện đại Trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông là tập trung đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của HS với sự tổ chức và hướng dẫn thích hợp của giáo viên,
Trang 9năng tự học, tự bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và vui thích trong học tập cho học sinh (HS)
Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, môn Sinh học ở trường phổ thông nói riêng là chuyển từ mô hình dạy học “lấy giáo viên làm trung tâm” sang mô hình
“lấy học sinh làm trung tâm” Hiện nay, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước trong chương trình giáo dục phổ thông yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học là
“chuyển từ cách dạy học theo quan điểm tiếp cận nội dung sang cách dạy học tiếp cận năng lực người học” Nhiều văn bản do Đảng và Nhà nước ban hành đã mang tính định hướng cho công cuộc đổi mới này Chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 của nước ta đã đề ra mục tiêu “nhằm tạo ra những con người được phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, con người cá nhân và con người xã hội; có những phẩm chất cao đẹp có học vấn phổ thông; có các năng lực chung làm nền tảng cho sự phát triển tối đa tiềm năng sẵn có của mỗi cá nhân và làm cơ sở cho việc lựa chọn nghề nghiệp” Như vậy, hiện nay mục tiêu giáo dục của nước ta đang hướng tới là việc dạy học hình thành và phát triển năng lực cho người học, đặc biệt
là năng lực hợp tác (NLHT) Năng lực hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Hoạt động nhóm làm cho từng thành viên bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết, thái độ của mình; được tập thể uốn nắn, điều chỉnh; phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỉ luật, tính tập thể, tinh thần tương trợ, hợp tác, ý thức cộng đồng, tạo không khí vui vẻ, mang đến niềm vui Hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, tăng khả năng tự tin Ngày nay, sự hợp tác còn là yếu tố không thể thiếu trong các hoạt động của con người như: Học tập, kinh doanh, sản xuất và phát triển của xã hội Đối với HS, hợp tác nhóm không chỉ giúp cho các em hòa đồng hơn với những người xung quanh mà còn giúp các em có được kết quả tốt nhất
Trang 10đồng thời phát huy được cá tính, sự sáng tạo, tinh thần trách nhiệm để hoàn thành
những công việc chung
Sinh thái học là khoa học nghiên cứu về mối quan hệ thống nhất giữa sinh vật thuộc các mức tổ chức khác nhau (quần thể, quần xã sinh vật,…) với môi trường
và trở thành khoa học về cấu trúc của thiên nhiên Để việc nghiên cứu có hiệu quả đòi hỏi ở người học cần phải có tính tích cực, chủ động, sáng tạo, đặc biệt khả năng làm việc nhóm để có thể lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng Bởi, hợp tác là một phẩm chất quý báu của người lao động Đặc biệt, càng quan quan trọng hơn trong
xã hội hiện đại, nó là mục tiêu của giáo dục (học để cùng chung sống), giúp mỗi người có thể hòa nhập cộng đồng xã hội, để tiến bộ, thành đạt trong cuộc sống và nghề nghiệp tương lai Vì vậy, việc rèn luyện NL hợp tác là rất cần thiết, có hợp tác thì HS mới có thể dễ dàng chiếm lĩnh tri thức, có NL hợp tác thì HS mới có thể
dễ dàng thành công trong cuộc sống sau này, đặc biệt là với các em học sinh lớp 12 sắp bước vào ngưỡng cửa cuộc đời
Xuất phát từ những lí do trên và để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học, đặc biệt là phát huy năng lực hợp tác cho HS lớp 12, chúng
tôi lựa chọn hướng nghiên cứu đề tài: “Rèn luyện năng lực hợp tác cho học sinh
trong dạy học phần Sinh thái học – Sinh học 12 THPT”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Thiết kế được quy trình rèn luyện năng lực hợp tác; Xây dựng và sử dụng được một số công cụ, vận dụng quy trình trên để rèn luyện NL hợp tác cho HS trong dạy học phần Sinh thái học – Sinh học 12 THPT nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc rèn luyện năng lực hợp tác trong dạy học sinh học phổ thông
- Điều tra thực trạng dạy và học theo hướng rèn luyện NLHT cho HS ở một
số trường THPT
- Nghiên cứu xây dựng quy trình và thiết kế một số công cụ để rèn luyện
Trang 11- Thiết kế một số giáo án dạy học phần Sinh thái học – SH 12 THPT theo hướng rèn luyện NLHT cho HS
- Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá NLHT cho HS
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của giả thuyết đề ra
4 Phạm vi nghiên cứu
- Năng lực hợp tác
- Nội dung kiến thức phần Sinh thái học – Sinh học 12 THPT
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng
- Quy trình rèn luyện NLHT cho HS
- Các công cụ tương ứng để rèn luyện NLHT cho HS
5.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học phần Sinh thái học – Sinh học 12 THPT
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài như: các tài liệu về kiến thức phần Sinh thái học; NL; NLHT Nghiên cứu các tài liệu về lý luận và phương pháp giảng dạy SH, các giáo trình, luận văn, luận án, tạp chí, bài viết … làm cơ sở khoa học cho luận văn nghiên cứu
6.2 Phương pháp điều tra cơ bản
Điều tra thực trạng việc dạy học theo hướng rèn luyện NL nói chung và NLHT nói riêng ở trường THPT thông qua phiếu điều tra, trao đổi, phỏng vấn giáo
viên (GV), HS
6.3 Phương pháp tham vấn chuyên gia
Sau khi xây dựng được các quy trình và bộ công cụ rèn luyện NLHT cho HS, chúng tôi sẽ tham khảo ý kiến của một số giảng viên, GV có kinh nghiệm
Trang 126.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sau khi xây dựng lý thuyết rèn luyện NLHT cho HS, chúng tôi tiến hành thực nghiệm (TN) ở trường THPT để kiểm tra tính đúng đắn, tính thực tiễn của đề tài Kết quả thực nghiệm được đánh giá qua phiếu khảo sát và bài kiểm tra
6.5 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng thống kê toán học phân tích kết quả nghiên cứu, xử lí số liệu thu được qua thực nghiệm sư phạm
7 Giả thuyết khoa học
Nếu lựa chọn được quy trình và thiết kế được các công cụ rèn luyện NLHT một cách khoa học và vận dụng tốt trong dạy học phần Sinh thái học – Sinh học 12 THPT thì sẽ rèn luyện NLHT cho HS
8 Những đóng góp mới của đề tài
- Lựa chọn và hệ thống hóa được cơ sở lý luận của đề tài là NLHT và rèn luyện NLHT cho HS
- Thiết kế được quy trình rèn luyện NL hợp tác cho HS
- Xây dựng được một số công cụ để rèn luyện NLHT cho HS trong dạy học phần Sinh thái học – Sinh học 12 THPT
- Vận dụng quy trình và các công cụ để tổ chức rèn luyện NL hợp tác cho HS trong dạy học phần Sinh thái học – Sinh học 12 THPT
- Lựa chọn và đề xuất các tiêu chí đánh giá NLHT cho HS trong dạy học phần Sinh thái học – Sinh học 12 THPT
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Rèn luyện NLHT cho HS trong dạy học phần Sinh thái học – Sinh học
12 THPT
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 13NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 LỊCH SỬ CỦA NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Những vấn đề nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài
Trên thế giới định hướng dạy học phát triển NLHT được hình thành trong xã hội từ rất lâu đời Nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục đã có những cách tiếp cận khác nhau về loại NL này đó là dựa trên ý tưởng mọi người cùng làm việc, cùng chia sẻ thông tin với nhau để đạt được mục đích cuối cùng
Ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất, Marco Fabio Quintilian cho rằng người học sẽ rất có lợi nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu John Amos Comenius tin rằng HS sẽ học tốt từ việc dạy cho bạn bè và học từ bạn bè…
Từ thế kỷ XVIII, lý thuyết về học tập hợp tác đã được thực hiện khá phổ biến
ở các nước tư bản Thời kỳ này ở Anh có Joseph Lancaster và Andrew Bell đã thực nghiệm và triển khai rộng rãi việc học tập hợp tác nhóm; ở Mỹ (thế kỷ XIX) điển hình có Fancis Parker đã đề cao học tập hợp tác khi cho rằng nếu quá trình học tập được thực hiện trên tinh thần chia sẻ nhóm, lớp với cả tình cảm và trí tuệ thì việc học sẽ không bao giờ bị nhàm chán; niềm vui lớn nhất của HS là cùng nhau chia sẻ thành quả học tập với các bạn
Năm 1916, John Dewey đã viết cuốn sách có tựa đề “Democracy and Education” (Nền dân chủ giáo dục) Theo Dewey, lớp học phải phản ánh được xã hội rộng lớn và phải là một phòng thí nghiệm cho việc học và cuộc sống thực tế Khoa sư phạm của Dewey yêu cầu GV phải tạo ra trong môi trường học tập một hệ thống xã hội có các quy tắc dân chủ Trách nhiệm chủ yếu của GV là sắp xếp các
HS trong việc tìm hiểu những vấn đề giữa các cá nhân và xã hội Dewey là người đã gây dấu ấn sâu sắc nhất trong việc áp dụng việc dạy học hợp tác vào trường học [44]
Trang 14đã đề xuất khái niệm “Nhóm là phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên” Kurt Lewin đã đưa ra khái niệm nhóm phải có hai yếu tố:
1) Phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên, nhóm phải năng động hơn, có tác động tích cực đến các thành viên
2) Tình trạng căng thẳng giữa các thành viên trong nhóm sẽ là động lực để thúc đẩy hoàn thành mục tiêu
Trong khoảng những năm 1940, ông Kurt Lewin đã nghiên cứu các hành vi, cách
cư xử của các vị lãnh đạo và các thành viên của nhóm dân chủ, ông kết luận: để hoàn thành mục tiêu chung của một nhóm thì phải thúc đẩy sự hợp tác, phải có sự cạnh tranh
Lí luận của Kurt Lewin sau đó đã được học trò của ông là Morton Deutsch phát triển Morton Deutsch đã xây dựng một lí thuyết về hợp tác và cạnh tranh vào năm 1940, lí thuyết này đã được áp dụng vào giáo dục và mang lại hiệu quả cao
Vào cuối những năm 60 của thế kỉ XX, phong trào phân biệt chủng tộc ở Mỹ diễn ra rất gay gắt, trước tình hình trên, nhiều nhà giáo dục buộc phải tìm kiếm con đường giáo dục nhằm làm cải thiện mối quan hệ chủng tộc trong môi trường lớp học Năm 1971, Elliot Aronson đã xây dựng và sử dụng mô hình lớp học Jigsaw,
mô hình này yêu cầu các HS phải biết chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với nhau để cả nhóm học tập đạt kết quả tốt nhất Jigsaw đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc hoàn thiện các hình thức tổ chức hoạt động hợp tác trong dạy học Mô hình Jigsaw thật sự đã đáp ứng được nhu cầu cấp thiết lúc bấy giờ, sự xung đột sắc tộc, sự cạnh tranh giữa các HS trong lớp học đã giảm hẳn
Năm 1979, tại hội nghị quốc tế được tổ chức tại Israel, các nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra giải pháp “Hợp tác học tập” Tại hội nghị này, những ưu nhược điểm của học tập hợp tác đã được các nhà giáo dục chỉ ra, phân tích, đồng thời nhấn mạnh muốn học tốt thì HS phải có kĩ năng hợp tác
Lí thuyết học tập hợp tác của Kurt Lewin được coi là cơ sở đưa đến hàng loạt những nghiên cứu và các cuộc tranh luận sau đó Gần nhất là tại hội nghị quốc tế
Trang 15đưa ra để thảo luận và xác định học tập hợp tác phải được xem là định hướng trong dạy học Các nghiên cứu về học tập hợp tác đã gắn liền tên tuổi các nhà nghiên cứu với các kĩ thuật hợp tác nhóm nổi tiếng dựa trên cơ sở lý luận và thực nghiệm ứng dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới như: Kĩ thuật Puzzle Jigsaw (Aronson et al, 1978; Aronson, 2000), kĩ thuật Nhóm điều tra (Sharan & Sharan, 1992), kĩ thuật TGT (Trò chơi giải đấu), kĩ thuật CIRC (Đọc hợp tác tích hợp và các thành phần)… Các nhà nghiên cứu đã chứng minh tính hiệu quả của phương pháp DHHT, sự hợp tác đã giúp HS hình thành các kĩ năng xã hội, phát triển tư duy, hòa nhập với cộng đồng tốt hơn
Tính đến năm 1992, nghiên cứu việc giảng dạy và học tập hợp tác đã thực hiện trên 200 trường đại học và cao đẳng, Astin đã rút ra kết luận rằng: sự tương tác giữa người học với nhau và giữa người dạy với người học là những cơ sở rõ ràng nhất để có thể dự đoán được những thay đổi tích cực về quan điểm nhận thức, phát huy khả năng giao tiếp, tư duy, các hành vi xã hội khác ở người học Vào năm
1996, lần đầu tiên PPDH hợp tác chính thức được áp dụng trong một số trường Đại học ở Mỹ, và hội nghị nghiên cứu vấn đề học hợp tác lần đầu được tổ chức tại Minneapolis
Như vậy, qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về dạy học hợp tác ở các nơi trên thế giới từ trước đến nay đều khẳng định những lợi ích của việc học tập hợp tác mang lại Thông qua học tập hợp tác, người học sẽ dễ dàng tiếp thu kiến thức mới, đồng thời học tập hợp tác cũng là cơ sở giúp người học rèn luyện thêm các NL cần thiết khác
Gần đây, trong chương trình giáo dục phổ thông của nhiều nước trên thế giới thì NLHT cũng được đề cập và nghiên cứu nhiều dưới các tên khác như NL làm việc nhóm, NL quan hệ với người khác
1.1.2 Những vấn đề nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài
Trang 16non/Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” hay “Học thầy học bạn, vô vạn phong lưu”…, như vậy từ xưa ông cha ta đã nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như hiệu quả
của học tập hợp tác Khi hợp tác với nhau tình đoàn kết, sự cảm thông, tinh thần tập thể được hình thành và phát triển
Trong thời kỳ khó khăn của công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, định hướng học tập hợp tác cũng được biểu hiện qua các nhóm học tập như nhóm tự quản, đôi bạn cùng tiến, sinh hoạt câu lạc bộ tuy nhiên do chưa có cơ sở vững chắc và phương pháp phù hợp nên chưa để lại những dấu ấn trong nền giáo dục
Bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XX cho đến gần đây, định hướng học tập này mới thực sự tạo ra sự chuyển biến đáng kể Ngày nay, thực hiện theo yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đã có rất nhiều tài liệu giáo dục và dạy học nói tới việc cần thiết chuyển từ dạy học lấy GV làm trung tâm sang dạy học lấy người học làm trung tâm Trong dạy học lấy người học làm trung tâm, nội dung dạy học chú trọng các NL thực hành vận dụng kiến thức, NL giải quyết vấn đề thực tiễn hướng vào sự chuẩn bị thiết thực cho tìm kiếm việc làm, hòa nhập và phát triển cộng đồng Và một trong những mô hình dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm đó là dạy học hợp tác Thời gian gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu cũng như nhiều bài viết quan tâm tới dạy học hợp tác, cũng như vấn đề rèn luyện NLHT cho HS thông qua dạy học Điển hình có một số tác giả như:
Tác giả Trần Bá Hoành trong bài viết “Những đặc trưng của phương pháp tích cực” trên Tạp chí giáo dục số 32 (6/2002) có nêu: “Từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm để họ tự chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình”[16]
Đặng Thành Hưng (2002) trong cuốn “Dạy học hiện đại – lý luận, biện pháp,
kĩ thuật”, đã đưa ra khái niệm nhóm hợp tác so sánh với kiểu học tranh đua và học
cá nhân, chỉ ra tầm quan trọng của học tập hợp tác và các nguyên tắc đảm bảo cho
Trang 17Trong bài viết “dạy học hợp tác – một xu hướng mới của giáo dục thế kỉ XXI”, của Trịnh Văn Biểu đăng trên kỉ yếu hội nghị khoa học năm 2011, khoa Hóa học – trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã giúp cho bạn đọc có cái nhìn tổng quát về cả quá trình hình thành và phát triển của PPDH hợp tác trên thế giới với những tên tuổi gắn liền như: John Dewey; Kurt Lewin; Elliot Aronson; anh
em nhà Johnson… Tác giả đã phân tích khái niệm dạy học hợp tác để người đọc thấy rõ dạy học hợp tác là PPDH phức hợp ứng với một nhóm người học Bài viết
đã nêu những đặc trưng, ưu điểm và hạn chế của dạy học hợp tác, đồng thời cũng cung cấp những kinh nghiệm sử dụng phương pháp này, giúp cho những ai quan tâm đến PPDH hợp tác để định hướng và thành công khi áp dụng vào giảng dạy thực tế [9]
Những năm gần đây đã có một số luận án nghiên cứu về dạy học hợp tác: Năm 2007, trong luận án tiến sĩ khoa học giáo dục “Tổ chức dạy học hợp tác trong môn toán ở trường THPT”, tác giả Hoàng Lê Minh đã hệ thống hóa một số vấn đề lí luận và vận dụng dạy học hợp tác trong môn toán ở trường THPT [27] Cùng năm này, Nguyễn Triệu Sơn trong luận án tiến sĩ “Phát triển khả năng học hợp tác cho sinh viên sư phạm Toán một số trường đại học miền núi nhằm nâng cao chất lượng của người được đào tạo”, đã đề xuất biện pháp phát triển khả năng học tập hợp tác cho sinh viên sư phạm Toán ở một số trường đại học miền núi
Bên cạnh các luận án tiến sĩ cũng có nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về dạy học hợp tác như: “Vận dụng dạy học hợp tác trong dạy học Sinh học 11” của Nguyễn Thị Thu Trang thuộc trường Đại học Thái Nguyên vào năm 2009 [36]; “Sử dụng phương pháp dạy học hợp tác nhóm nhỏ trong dạy học hóa học 11- Chương trình nâng cao ở trường THPT” của Trần Thị Thanh Huyền (2010)[22]; “Rèn luyện
kĩ năng hợp tác nhóm cho HS trong dạy học chương Sinh sản - Sinh học 11 THPT” của Lê Thị Duyên (2014)[11]; “Rèn luyện năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy
Trang 18Nhìn chung, các tác giả trên đều nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như hiệu quả của học tập hợp tác mang lại Hợp tác tạo ra những thành công trong học tập, tăng cường thái độ tích cực với các môn học, nâng cao NLHT giữa các HS với nhau, tạo tâm lí lành mạnh, phát triển và hòa nhập tích cực vào xã hội
Như vậy, rèn luyện NLHT trong trường học là rất quan trọng, việc rèn luyện NLHT góp phần nhất định vào việc rèn luyện NL này cho người học thông qua quá trình tổ chức dạy học Chúng tôi đã sử dụng môn Sinh học như là một công cụ, đã nghiên cứu và vận dụng cụ thể vào nội dung phần Sinh thái học – Sinh học 12 THPT nhằm rèn luyện NLHT cho HS
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Khái quát về lý thuyết năng lực
1.2.1.1 Khái niệm năng lực
Trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều định nghĩa về NL, ví dụ như các định nghĩa sau đây:
Định nghĩa NL như thuộc tính tâm lí có N.X Lâytex; P.A Ruđích và một số
nhà nghiên cứu khác, họ xem NL là tính chất tâm sinh lí của con người chi phối quá
trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định Định nghĩa này đã mở rộng khái niệm NL bao gồm các điều kiện tâm – sinh lí chi phối các loại hoạt động của con người
Theo A G Côvaliôp: “ Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu lao động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao”
Theo Từ điển Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân “Năng lực là khả năng đảm nhận công việc và thực hiện tốt công việc đó nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn”
Theo Đinh Quang Báo: “Năng lực là một thuộc tính tích hợp nhân cách, tổ hợp các đặc tính tâm lí của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp”
Trang 19Các định nghĩa trên đây tuy có khác nhau nhưng nhìn chung khái niệm NL trong học tập được hiểu là khả năng hoàn thành nhiệm vụ học tập gắn với một loại hoạt động nào đó Về bản chất, NL được tạo nên từ nhiều thành tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ và động cơ hành động thể hiện trong một bối cảnh cụ thể, các yếu tố này không tồn tại riêng rẽ mà chúng hòa quyện, đan xen vào nhau Do đó, NL ở mỗi người có được nhờ sự bền bỉ, kiên trì học tập, hoạt động, rèn luyện và trải nghiệm
1.2.1.2 Mô hình cấu trúc năng lực
Để hình thành và phát triển NL cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng Có nhiều loại NL và việc mô tả cấu trúc và các thành phần NL cũng khác nhau Chẳng hạn như cấu trúc chung của NL hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 NL thành phần: NL chuyên môn, NL phương pháp, NL xã hội, NL cá thể
NL chuyên môn là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn, chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động
NL phương pháp là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề NL phương pháp bao gồm NL phương pháp chung và NL phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề
NL xã hội là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp
NL cá thể là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi
Trang 20Mô hình cấu trúc NL ở trên có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại NL khác nhau Ví dụ NL của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: NL dạy học, NL giáo dục, NL chẩn đoán và tư vấn, NL phát triển nghề nghiệp
và phát triển trường học Mô hình bốn thành phần NL trên phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo UNESCO:
Sơ đồ 1.1 Mô tả các thành phần của NL ứng với các trụ cột giáo dục của
1.2.1.3 Phân loại năng lực trong dạy học
Trong dạy học, năng lực có thể chia làm hai loại NL chung (NL cốt lõi) và
NL chuyên biệt (hay NL đặc thù môn học)
Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2015 thì NL
Các trụ cột giáo dục của UNESCO Các thành phần của NL
Trang 21tập và làm việc Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các NL chung của HS NL chung bao gồm: NL tự học; NL giải quyết vấn đề và sáng tạo; NLHT; NL giao tiếp; NL tính toán; NL thẩm mỹ; NL sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông
NL đặc thù môn học là NL mà môn học có ưu thế hình thành và phát triển Một NL có thể là NL đặc thù của nhiều môn học khác nhau Ví dụ: môn Sinh học THPT có NL đặc thù như NL nghiên cứu khoa học; NL vận dụng kiến thức vào thực tiễn;…
1.2.2 Năng lực hợp tác trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông
Trang 22quyết một nhiệm vụ chung nào đó (Phan Thị Thanh Hội, Phạm Huyền Phương,
2015) [21]
Như vậy, hợp tác là khi mọi người biết làm việc chung với nhau và cùng hướng về một mục tiêu chung Thỉnh thoảng có một ý tưởng là cần thiết, thỉnh thoảng cần đưa ra ý tưởng của chúng ta Thỉnh thoảng chúng ta cần được chỉ dẫn và cần nghe theo một ý tưởng Hợp tác phải được chỉ đạo bởi nguyên tắc về sự tôn trọng lẫn nhau Một người biết hợp tác sẽ nhận được sự hợp tác Khi có yêu thương thì có sự hợp tác Khi nhận thức được những giá trị của cuộc sống, tôi có khả năng tạo ra sự hợp tác Sự can đảm, quan tâm, chăm sóc, sẵn sàng đóng góp là chuẩn bị đầy đủ cho việc tạo ra sự hợp tác Một người biết hợp tác thì có những lời lẽ tốt đẹp
và cảm giác trong sáng về người khác cũng như đối với nhiệm vụ Ngày nay, sự hợp tác còn là yếu tố không thể thiếu trong các hoạt động của con người như: Học tập, kinh doanh, sản xuất và phát triển của xã hội Đối với học sinh, sự hợp tác là vô cùng cần thiết trong rất nhiều trường hợp Nó sẽ giúp các em cùng nhau bước đến con đường phía trước một cách đầy vững chãi và tự tin, thực hiện mục tiêu nhanh
và đạt hiệu quả Khi tham gia hợp tác nhóm, phần lớn các em tự tin hơn trong giao tiếp, biết cách tự khẳng định bản thân mình trong môi trường tập thể, đồng thời phát huy được cá tính, sự sáng tạo, tinh thần trách nhiệm để hoàn thành những công việc chung Hãy sống với phương châm: “Thành công của nhóm chính là thành công của các thành viên trong nhóm”
1.2.2.2 Năng lực hợp tác
NL luôn gắn với một hoạt động cụ thể, NL gắn với hoạt động hợp tác trong nhóm gọi là NLHT NLHT là khả năng tổ chức và quản lí nhóm, thực hiện các hoạt động trong nhóm thành thạo, linh hoạt, có tính sáng tạo nhằm giải quyết nhiệm vụ chung một cách hiệu quả
1.2.2.3 Cấu trúc NLHT trong dạy học
Theo nghiên cứu của một số tác giả, NLHT được cấu trúc bởi các kĩ năng: 1) Nhóm kĩ năng tổ chức và quản lí (kĩ năng tổ chức nhóm hợp tác; kĩ năng lập kế
Trang 232) Nhóm kĩ năng hoạt động (kĩ năng diễn đạt ý kiến; kĩ năng lắng nghe và phản hồi;
kĩ năng viết báo cáo);
3) Nhóm kĩ năng đánh giá (kĩ năng tự đánh giá; kĩ năng đánh giá lẫn nhau)
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung nghiên cứu năng lực hợp tác trên các kĩ năng ở bảng 1:
Bảng 1: Các kĩ năng thành phần và các tiêu chí biểu hiện của mỗi kĩ năng Nhóm kĩ
Xác định được các công việc cụ thể theo trình tự và thời gian để hoàn thành các công việc
Tự đánh giá được ưu điểm và hạn chế của bản thân, đánh giá được khả năng của bạn, từ đó phân công hoặc tiếp nhận nhiệm vụ cho phù hợp
Tạo môi trường hợp tác
Có tinh thần hợp tác và thái độ hợp tác tốt Chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau
Thảo luận ôn hòa Giải quyết
mâu thuẫn
Kiềm chế bản thân Phát hiện và giải quyết được mâu thuẫn khi thảo luận
Trình bày được ý kiến/ báo cáo của nhóm
Bảo vệ ý kiến của riêng mình Lắng nghe
và phản hồi
Lắng nghe ý kiến của các bạn Thể hiện được ý kiến không đồng tình
Viết báo cáo Tổng hợp, lựa chọn và sắp xếp được ý kiến của các
thành viên trong nhóm một cách khoa học
Nhóm KN
đánh giá
Tự đánh giá Có khả năng tự đánh giá quá trình hợp tác của bản
thân
Trang 241.2.2.4 Vai trò của việc rèn luyện NLHT cho HS trong dạy học
Hoạt động nhóm trong dạy học (hay còn gọi là dạy học hợp tác) là một hình thức tổ chức dạy học mà trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên làm việc cùng nhau trong những nhóm nhỏ để hoàn thành mục đích học tập chung của nhóm đặt ra Trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Trong hoạt động nhóm có nhiều mối quan hệ giao tiếp: giữa học sinh với nhau, giữa giáo viên với từng học sinh, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh kiến thức Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Do đó việc rèn luyện NLHT cho HS trong dạy học có vai trò hết sức quan trọng
Đối với nhà trường, dạy học theo hướng rèn luyện NLHT cho HS giúp nâng cao hiệu quả của nhà trường trong nhiệm vụ phát triển nhận thức, nhân cách, tình cảm của HS Nhà trường trở thành một xã hội thu nhỏ, trong đó mỗi HS được bình đẳng, có cơ hội được giáo dục và phát triển như nhau, đồng thời cải thiện các mối quan hệ xã hội có tính chất giới, tôn giáo, thành phần của HS trong phạm vi nhà trường
Đối với HS, việc hình thành NLHT có ý nghĩa rất quan trọng Có được NLHT HS sẽ có được thành tích học tập tốt hơn nhờ sự cố gắng, tích cực của bản thân cũng như sự chia sẻ, giúp đỡ của bạn bè; đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa cá nhân và quan hệ xã hội, lĩnh hội nhiều giá trị xã hội, trưởng thành về nhân cách và hành vi Điều này tạo tiền đề vững chắc để khi bước vào xã hội với những mối quan
hệ phức tạp, HS không những không nhút nhát, thiếu tự tin mà còn nhanh chóng thích nghi và có thể xây dựng tốt các mối quan hệ xã hội, từ đó có thể được hưởng lợi trong các mối quan hệ đó Đây chính là điều kiện tiên quyết dẫn đến sự thành đạt của mỗi cá nhân trong cuộc sống Đồng thời, NLHT còn được coi như thước đo phẩm chất văn hoá cá nhân và cộng đồng và là cái đẹp lớn nhất của con người, một
NL luôn cần rèn luyện trong sự nghiệp trồng người
Trang 25Đối với GV, thông qua quá trình rèn luyện NLHT cho HS, giúp cho GV rất nhiều trong quá trình giáo dục HS, nhất là HS cá biệt Đồng thời, GV có cơ hội thể hiện nhiều vai trò khác nhau, vừa là người truyền thụ kiến thức, vừa là người tổ chức, quản lí, kiểm tra, giám sát, động viên cũng như nhắc nhở HS trong quá trình dạy học GV cũng có cơ hội phát hiện những NL khác của HS và lên kế hoạch bồi dưỡng để phát huy NL đó Như vậy, từ việc rèn luyện NLHT cho HS đã tạo được tình cảm tốt đẹp giữa thầy và trò, tạo được mối đoàn kết và lòng đam mê trong học tập của HS, từ đó HS sẽ cảm nhận được mỗi ngày đến trường là một ngày vui
1.2.2.5 Một số công cụ rèn luyện NLHT trong dạy học
Câu hỏi, bài tập
Theo tác giả Lê Đình Trung, câu hỏi là một dạng thức gồm động từ nghi vấn
và nội dung cần trả lời Trong đó, động từ nghi vấn thể hiện các mức độ của câu hỏi
và chỉ đạo nội dung cần trả lời Bài tập là một dạng thức thuộc bài toán, trong đó chứa đựng cái đã biết và cái cần tìm [37]
Câu hỏi, bài tập sử dụng trong dạy học được chia theo thang phân loại B J Bloom gồm 6 mức: nhớ, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá
Với mục đích rèn luyện NLHT cho HS thì câu hỏi, bài tập cần phải có mức
độ tư duy cao mới có thể phát huy vai trò của các thành viên trong nhóm Do đó, trong nghiên cứu này tôi xây dựng hệ thống các câu hỏi, bài tập từ mức hiểu trở lên làm công cụ rèn luyện NL hợp tác cho HS
Bài tập tình huống
Bài tập tình huống là những tình huống xảy ra trong quá trình dạy học được cấu trúc dưới dạng bài tập Trong dạy học Sinh học, những tình huống được đưa ra
là tình huống giả định hoặc tình huống thực đã xảy ra trong dạy học ở phổ thông
HS giải quyết được những tình huống trên, một mặt vừa giúp HS hình thành kiến thức mới, vừa củng cố và khắc sâu kiến thức Trong rèn luyện kĩ năng dạy học, bài
Trang 26Sử dụng bài tập tình huống trong dạy học có thể kích thích sự tham gia tích cực của HS vào quá trình học tập, HS sẽ chủ động, hứng thú thảo luận, tìm tòi để giải quyết tình huống mà GV đưa ra HS sẽ tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập, khả năng sáng tạo, điều chỉnh được nhận thức, hành vi, thái độ, từ đó có thể phát huy tính dân chủ, năng động và tinh thần tập thể
Như vậy, bài tập tình huống là một công cụ rất phù hợp để sử dụng rèn luyện các NL cần thiết cho HS trong quá trình dạy học, đặc biệt là NLHT
Dạy học dự án chỉ phù hợp với những nội dung nhất định, nó cũng đòi hỏi nhiều thời gian và công sức chuẩn bị, không thể tiến hành thường xuyên trong chương trình môn học Bên cạnh đó, dạy học dự án cũng đòi hỏi về tài chính, tài liệu tham khảo, phương tiện hỗ trợ cũng như yêu cầu NL cao đối với người dạy Tuy nhiên, trong dạy học Sinh học THPT nhất là phần Sinh thái học lớp 12 thì GV cũng nên áp dụng phương pháp này cho sinh động và hiệu quả
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Về thực trạng dạy học Sinh học theo hướng rèn luyện NLHT cho người học ở các trường THPT
Để tìm hiểu về thực trạng dạy học Sinh học ở trường THPT theo hướng rèn luyện NLHT cho HS, tôi đã sử dụng phiếu điều tra 47 GV dạy môn Sinh học ở 47 trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bằng phiếu điều tra và 300 HS lớp 12
Trang 27bàn quận 9, thành phố Hồ Chí Minh; (Phiếu điều tra ở Phụ lục 1), kết quả thu được
là phương pháp “vấn đáp tái hiện – thông báo” mức độ sử dụng thường xuyên chiếm đến 89,36%, mức độ thỉnh thoảng sử dụng chỉ chiếm 10,64% Các PPDH
Trang 28bao giờ sử dụng những phương pháp này, điều đó làm cho giờ dạy thiếu sinh động, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng mục tiêu của bài học, đặc biệt là mục tiêu rèn luyện các NL cho HS
Kết quả trên cũng cho thấy khi tổ chức dạy học phần Sinh thái lớp 12 phần lớn giáo viên dùng phương pháp “vấn đáp tái hiện – thông báo” nên phải giảng nhiều, hỏi câu hỏi vụn vặt, dẫn đến HS tiếp thu một cách thụ động, nhàm chán, không gây hứng thú cho người học Từ đó cho thấy phương pháp này chưa phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học do Đảng và Nhà nước đề ra
Bảng 1.2 Kết quả điều tra thực trạng việc rèn luyện NLHT cho HS
1
Theo thầy (cô), việc rèn
luyện NLHT trong dạy học
32 68,09
3
Thầy (cô) đánh giá như thế
nào về rèn luyện NLHT của
Trang 29pháp thực hiện hiệu quả Đó cũng là cơ sở khi đánh giá về NLHT của HS thì 100%
GV đều cho rằng HS chưa thực hiện tốt, có đến 61,7% GV thừa nhận NL này ở HS chỉ ở mức trung bình và yếu
Để tìm hiểu nguyên nhân, tôi đã tiến hành phỏng vấn một số GV Đa số các
GV cho rằng rất ngại tổ chức các hoạt động DHHT vì nhìn chung ý thức học tập của
HS còn thấp, tính tự giác chưa cao, còn mất trật tự trong giờ học Bên cạnh đó, sĩ số mỗi lớp học đông, rất khó tổ chức hoạt động cũng như bao quát hết lớp Mặt khác,
để soạn một tiết học với các hoạt động nhằm rèn luyện NLHT đòi hỏi GV phải chuẩn bị công phu, mất rất nhiều thời gian, khi áp dụng giảng dạy lại gặp khó khăn
về mặt chủ động thời gian và thường dạy không kịp giờ Ngoài ra, một số GV cũng cho rằng chưa được tập huấn nhiều, còn lúng túng, chưa hiểu rõ phương pháp nên chưa mạnh dạn áp dụng Bên cạnh đó còn do nội dung bài học quá nhiều
Bảng 1.3 Kết quả điều tra ý kiến của HS về thực trạng NLHT
Trang 30Kết quả điều tra thực trạng rèn luyện NLHT của HS cho thấy, đa số các em (98%) đều nhận thấy được tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của NLHT đối với mỗi người Tuy nhiên, khi yêu cầu đánh giá NL này đối với bản thân thì chỉ có 12,67% các em đánh giá đạt mức tốt, có đến trên 50% thừa nhận NLHT của mình chỉ đạt mức trung bình và yếu Nhiều HS (66,33%) cho rằng rất ít GV tổ chức rèn luyện NLHT cho các em trong các giờ học, một số HS (7,67%) còn cho rằng các em chưa được tổ chức hoạt động nhằm rèn luyện NL này
Tóm lại, qua điều tra thực trạng dạy – học ở một số trường THPT, cho thấy:
Về phía GV đánh giá rất cao vai trò của việc rèn luyện NLHT cho HS nhưng thường chưa chú ý nhiều đến việc rèn luyện NL này Về phía HS các em cũng nhận thức được tầm quan trọng của NLHT đối với bản thân, tuy nhiên NL này ở các em rất ít được rèn luyện năng lực này và hầu hết các em HS mong muốn được rèn luyện thêm thông qua quá trình học tập ở môn Sinh học nói riêng và các môn học nói chung
Trang 31TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Theo quan niệm giáo dục hiện đại, quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa thầy và trò, trong đó người học vừa là chủ thể vừa là khách thể của quá trình dạy học, người thầy giữ vị trí tổ chức và trọng tài khoa học Cần xác định và khẳng định vị trí chủ thể của HS trong quá trình dạy học
Trong chương này, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu và trình bày một cách
có hệ thống những cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chúng tôi đã tập trung giải quyết các nội dung cơ bản như:
Tổng quan về dạy học hợp tác trong giáo dục ở một số nước trên thế giới và một số công trình nghiên cứu về dạy học hợp tác ở Việt Nam Chúng tôi cũng đã làm rõ khái niệm NL; phân tích mô hình cấu trúc của NL; làm rõ khái niệm hợp tác; NLHT, cấu trúc NLHT cũng như vai trò của việc rèn luyện NLHT cho HS trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông
Thông qua điều tra nhận thức của GV và HS về thực trạng dạy học theo hướng rèn luyện NL nói chung và rèn luyện NLHT nói riêng, chúng tôi nhận thấy hầu hết GV đồng ý rằng việc rèn luyện NLHT cho HS trong dạy học ở trường phổ thông là cần thiết và nhiều GV rất quan tâm Tuy nhiên, việc thực hiện rèn luyện NLHT trong dạy học còn hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan
Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc rèn luyện NLHT cho
HS trong dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng, tôi sẽ nghiên cứu và đề xuất xây dựng quy trình rèn luyện NLHT cho HS trong dạy học phần Sinh thái học – Sinh học 12 THPT
Trang 32CHƯƠNG 2: RÈN LUYỆN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC – SINH HỌC 12 THPT 2.1 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 12 THPT VÀ PHẦN SINH THÁI HỌC
2.1.1 Phân tích mục tiêu và cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 12 THPT
Mục tiêu chương trình Sinh học 12 THPT
+ Trình bày được cơ chế hoạt động của các gen qua opêron ở sinh vật nhân sơ
Ý nghĩa điều hòa hoạt động gen ở sinh vật nhân sơ
+ Nêu được khái niệm cơ chế phát sinh, hậu quả và ý nghĩa của đột biến (gen, NST)
+ Giải thích được tại sao Menden lại thành công trong việc phát hiện ra các quy luật di truyền
+ Nhận biết được hiện tượng liên kết gen, giải thích được cơ sở tế bào học của hiện tượng hoán vị gen
+ Nêu được xu hướng thay đổi cấu trúc di truyền của quần thể tự thụ phấn và giao phối gần, tính được tần số alen và thành phần kiểu gen của quần thể
+ Giải thích được hiện tượng ưu thế lai và thoái hóa giống
+ Trình bày được các kĩ thuật tạo giống mới và thành tựu trong các lĩnh vực chăn nuôi, trồng trọt, y học, công nghệ, …
+ Nêu được các bằng chứng chứng minh mối quan hệ họ hàng giữa các loài + Giải thích được vai trò của các cơ chế cách li trong quá trình tiến hóa
+ Giải thích được nguồn gốc sự sống, sự phát triển của sinh giới qua các đại địa chất và sự phát sinh loài người
Trang 33+ Nêu được các nhân tố sinh thái và ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái lên
+ Nêu được một số đặc trưng cơ bản về cấu trúc của quần thể sinh vật
+ Nêu được ý nghĩa của việc nghiên cứu các đặc trưng cơ bản của quần thể trong thực tế sản xuất, đời sống
+ Nêu được khái niệm và các dạng biến động số lượng của quần thể: theo chu
kì và không theo chu kì
+ Nêu được cơ chế điều chỉnh số lượng cá thể của quần thể
+ Nêu được các đặc trưng cơ bản của quần xã: tính đa dạng về loài, sự phân bố của các loài trong không gian
+ Trình bày được mối quan hệ giữa các loài trong quần xã (hội sinh, hợp tác, cộng sinh, cạnh tranh, kí sinh, ức chế - cảm nhiễm, sinh vật này ăn sinh vật khác) + Trình bày được diễn thế sinh thái (khái niệm, nguyên nhân, ý nghĩa và các dạng diễn thế)
+ Nêu được khái niệm và các thành phần cấu trúc của hệ sinh thái, các kiểu hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo
+ Nêu được mối quan hệ dinh dưỡng: chuỗi và lưới thức ăn, bậc dinh dưỡng, tháp sinh thái và hiệu suất sinh thái
+ Nêu được khái niệm chu trình vật chất và trình bày được các chu trình sinh địa hóa: nước, cacbon, nitơ
+ Trình bày được quá trình chuyển hóa năng lượng trong hệ sinh thái
Trang 34+ Kĩ năng vận dụng các kiến thức lí thuyết đã học vào thực tế để giải các bài tập di truyền, để bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên hợp lí
- Về thái độ:
+ HS được củng cố niềm tin vào khoa học hiện đại trong việc nhận thức được bản chất và tính quy luật của các hiện tượng sinh học
+ Có ý thức vận dụng các tri thức, kĩ năng học được vào cuộc sống, lao động, học tập
Cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 12 THPT
Chương trình Sinh học 12 THPT hiện nay được chia làm 3 phần gồm
Phần năm: Di truyền học, phần sáu: Tiến hóa và phần bảy: Sinh thái học Thời lượng giảng dạy dành cho chương trình chuẩn là 48 tiết, cụ thể như sau:
Trang 352.1.2 Phân tích mục tiêu và cấu trúc nội dung của phần Sinh thái học – Sinh học 12 THPT
Mục tiêu của phần Sinh thái học
+ Nêu được khái niệm ổ sinh thái và phân biệt được nơi ở và ổ sinh thái
+ Trình bày được thế nào là một quần thể sinh vật Nêu được các mối quan hệ sinh thái giữa các cá thể trong quần thể: quan hệ hỗ trợ và quan hệ cạnh tranh Nêu được nguyên nhân và ý nghĩa sinh thái của các mối quan hệ đó
+ Nêu được một số đặc trưng cơ bản về cấu trúc của quần thể
+ Nêu được khái niệm kích thước quần thể và sự tăng trưởng kích thước quần thể trong điều kiện môi trường bị giới hạn và không bị giới hạn
+ Nêu được khái niệm và các dạng biến động số lượng của quần thể: theo chu
kì và không theo chu kì
+ Nêu được cơ chế điều chỉnh số lượng cá thể của quần thể về trạng thái cân bằng + Nêu được định nghĩa và mô tả được các đặc trưng cơ bản của quần xã: tính
đa dạng về loài, sự phân bố của các loài trong không gian
+ Trình bày được mối quan hệ hỗ trợ và đối kháng giữa các loài trong quần xã + Trình bày được diễn thế sinh thái (khái niệm, nguyên nhân, ý nghĩa và các dạng diễn thế)
+ Nêu được khái niệm và các thành phần cấu trúc của hệ sinh thái, các kiểu hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo
+ Nêu được mối quan hệ dinh dưỡng: chuỗi và lưới thức ăn, bậc dinh dưỡng,
Trang 36+ Trình bày được quá trình chuyển hóa năng lượng trong hệ sinh thái
+ Nêu được khái niệm sinh quển và các khu sinh học chính trên Trái đất + Trình bày được cơ sở sinh thái học của việc khai thác tài nguyên và bảo vệ thiên nhiên
+ Kĩ năng vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế về bảo vệ môi trường và
+ Nâng cao ý thức bảo vệ các loài sinh vật trong tự nhiên
Cấu trúc nội dung phần Sinh thái học – Sinh học 12 THPT
Nội dung này gồm 3 chương, được phân bố với thời lượng 12 tiết Cụ thể như sau:
Chương 1: Cá thể và quần thể sinh vật trình bày những vấn đề cơ bản của
các mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường: điều kiện môi trường, các loại môi trường và các nhân tố sinh thái của môi trường, ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái lên đời sống của sinh vật, của quần thể Mỗi cá thể đều bị tác động của các nhân tố
vô sinh và hữu sinh có thể là trực tiếp hay gián tiếp và hình thành các quy luật về giới hạn sinh thái Trên cơ sở tác động của các nhân tố sinh thái lên sinh vật để xét
Trang 37thái: quy luật giới hạn sinh thái, quy luật tác động không đồng đều của các nhân tố sinh thái lên chức phận sống của cơ thể, quy luật tác động qua lại giữa sinh vật với môi trường, quy luật về sự biến động số lượng cá thể của quần thể sinh vật
Chương 2: Quần xã sinh vật trình bày các khái niệm quần xã, các đặc trưng
cơ bản của quần xã sinh vật, mối quan hệ giữa các loài trong quần xã, diễn thế sinh thái và các loại diễn thế sinh thái Ở mức quần xã sinh vật, các mối quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố sinh thái và các quần thể sinh vật được nghiên cứu trên bình diện bao quát và tổng hợp Nội dung chương 2 còn nghiên cứu những tính chất cơ bản của quần xã (thành phần loài, sự phân bố cá thể trong không gian quần
xã, sự tác động qua lại của các loài trong quần xã)
Chương 3: Hệ sinh thái, sinh quyển và bảo vệ môi trường cung cấp cho
học sinh những hiểu biết khái quát về hệ sinh thái, sinh quyển, các thành phần của
hệ sinh thái, các kiểu hệ sinh thái trên trái đất, trao đổi chất và năng lượng trong hệ sinh thái, chu trình sinh địa hóa và vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên
2.2 QUY TRÌNH RÈN LUYỆN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC – SINH HỌC 12 THPT
2.2.1 Quy trình rèn luyện NLHT cho học sinh
Dựa trên quy trình rèn luyện NL nói chung, tôi thiết kế quy trình rèn luyện NLHT trong dạy học gồm 5 bước theo sơ đồ như sau:
Bước 1 Giới thiệu khái quát về NLHT
Bước 2 HS trải nghiệm các hoạt động hợp tác
Bước 3 HS rút ra quy trình hợp tác từ trải nghiệm
Bước 4 HS tiếp tục rèn luyện theo quy trình hợp tác
Trang 38* Giải thích quy trình :
Bước 1 Giới thiệu khái quát về NLHT
Mục đích: Giới thiệu khái quát về NLHT cho HS nhằm giúp các em có hiểu biết sơ bộ ban đầu về NLHT, tạo hứng thú học tập hợp tác ở HS, trên cơ sở đó HS
có thể chủ động, tự giác hợp tác với nhau để cùng lĩnh hội kiến thức
- Lắng nghe GV giới thiệu về NLHT; Tạo nhóm học tập
- Thảo luận những nội dung liên quan đến hợp tác và NLHT
Bước 2 HS trải nghiệm các hoạt động hợp tác
Mục đích: HS được trải nghiệm các hoạt động học tập theo hướng rèn luyện NLHT nhằm lĩnh hội kiến thức bài học và rèn các kĩ năng hợp tác như: KN tổ chức nhóm; lập kế hoạch; tạo môi trường hợp tác; giải quyết mâu thuẫn
* Hoạt động của GV:
- GV phân tích nội dung bài học, trên cơ sở đó xác định các đơn vị kiến thức
có thể xây dựng thành các công cụ cho HS hợp tác như các câu hỏi, bài tập, bài tập tình huống, bài tập dự án Giao nhiệm vụ cho HS để hoạt động nhóm
- Yêu cầu HS tổ chức thành nhóm hợp tác; lên kế hoạch hoạt động; thực hiện nhiệm vụ trong nhóm; thảo luận giữa các nhóm; rút ra kết luận và đánh giá
* Hoạt động của HS:
HS trải nghiệm các hoạt động hợp tác theo quy trình dưới sự hướng dẫn của GV
Bước 3 HS rút ra quy trình hợp tác từ trải nghiệm
Mục đích: HS hiểu rõ các thao tác, ý nghĩa của từng bước trong quy trình để thực hiện có hiệu quả việc rèn luyện NLHT
Trang 39- Hướng dẫn HS rút ra các bước của quy trình hợp tác qua trải nghiệm các hoạt động
- Chuẩn hóa các bước trong quy trình hợp tác mà HS đưa ra (nếu cần)
Sơ đồ 2.2 Các hoạt động trong quy trình hợp tác
Hoạt động của GV Hoạt động của HS
Tổ chức nhóm hợp tác
cho HS
HS nhận nhiệm vụ, tự nghiên cứu
Tổ chức thảo luận nhóm
Hợp tác với các bạn trong nhóm
Bước 1
Bước 2
Bước 3 Tổ chức thảo luận lớp Hợp tác với các bạn trong lớp
Bước 4 Kết luận, đánh giá Tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau
Trang 40Bước 4 HS tiếp tục rèn luyện theo quy trình hợp tác
Mục đích: HS tiếp tục rèn luyện NLHT theo quy trình nhằm làm lại, hoàn thiện các thao tác chưa đạt yêu cầu dưới sự theo dõi, điều chỉnh, hướng dẫn của GV
* Hoạt động của GV:
- Đưa ra các công cụ rèn luyện NLHT cho HS
- Đánh giá NLHT của HS theo tiêu chí sau mỗi lần HS hoạt động
* Hoạt động của HS:
HS thực hiện hợp tác theo quy trình (ở Bước 3)
Bước 5 Đánh giá việc rèn luyện NLHT và rút kinh nghiệm
Mục đích: GV và HS đánh giá việc rèn luyện các kĩ năng hợp tác với mục đích phản hồi thông tin vừa để điều chỉnh thao tác, vừa cho HS thấy được sự tiến bộ của mình trong việc sử dụng các kĩ năng, để tạo động lực thúc đẩy việc học và rèn luyện các NL khác
* Hoạt động của GV và HS:
- GV và HS cùng đánh giá lại quá trình rèn luyện NLHT, phân tích điểm đạt được và chưa đạt được trong quá trình rèn luyện
- Rút kinh nghiệm cho việc rèn luyện các NL khác
2.2.2 Ví dụ vận dụng quy trình rèn luyện NLHT cho học sinh
Rèn luyện NLHT cho HS trong dạy học Bài 36: Quần thể sinh vật và mối
quan hệ giữa các cá thể trong quần thể
* Bước 1 Giới thiệu khái quát về NLHT
GV giới thiệu khái quát cho HS về NLHT, vai trò NLHT
- Hướng dẫn các cách tạo nhóm: Làm việc theo cặp 2 học sinh; Làm việc theo nhóm nhiều học sinh: nhóm ngẫu nhiên, nhóm HS đã thân từ trước, nhóm ngồi gần nhau, nhóm ghép hình, Nhóm kim tự tháp; Hoạt động trà trộn; Hoạt động nhóm theo cấu trúc Jigsaw… Tuy nhiên, trong bài này chúng ta hoạt động nhóm 6 HS theo cấu trúc Jigsaw