Được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là một trong những khu rừng đặc dụng có giá trị ĐDSH cao của vùng Bắc Trung Bộ cũng như của Việt Nam, vì thế đây cũng là một khu vực có
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chưa được công bố trong một nghiên cứu nào khác
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Nghệ An, ngày 20 tháng 08 năm 2017
Tác giả
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Vinh, Khoa Sinh học, Phòng Sau đại học, các phòng khoa của trường đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu
Xin gửi lời cảm ơn đến Tập thể lãnh đạo Vườn quốc gia Pù Mát; các anh chị
em và các bạn đồng nghiệp Phòng Nghiên cứu khoa học và Hợp Tác quốc tế; các Trạm Quản lý bảo vệ rừng; Các anh chị tại Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam và bà con nhân dân địa phương đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo của các thầy tại khoa Sinh học – Trường Đại học Vinh Tôi xin trân trọng cảm ơn Cuối cùng, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình và bạn bè đã hết lòng động viên, tạo mọi điều kiện trong suốt thời gian học tập
và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
4 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Lược sử nghiên cứu chim ở Việt Nam và khu vực nghiên cứu 3
1.1.1 Lược sử nghiên cứu ở Việt Nam 3
1.1.1.1 Nghiên cứu về chim Việt Nam giai đoạn trước năm 1975 3
1.1.1.2 Nghiên cứu về chim Việt Nam giai đoạn sau năm 1975 4
1.1.2 Lược sử nghiên cứu chim ở VQG Pù Mát 7
1.2 Điều kiện tự nhiên xã hội khu vực nghiên cứu 8
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 8
1.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 15
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
2.3 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Tư liệu nghiên cứu 20
2.3.2 Xác định các tuyến và điểm nghiên cứu 20
2.3.3 Phương pháp ghi nhận và định loại 23
2.3.3.1 Ghi nhận chim ngoài thiên nhiên 23
2.3.3.2 Phương pháp thu mẫu bằng lưới mờ 23
2.3.3.3 Phương pháp sử dụng bẫy ảnh 24
2.3.3.4 Phương pháp định loại 25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1 Thành phần loài chim ở VQG Pù Mát 26
3.1.1 Danh sách thành phần loài chim ở khu vực nghiên cứu 26
3.1.2 Các loài chim ghi nhận bằng phương pháp lưới mờ ở VQG Pù Mát 36
3.1.2.1 Thành phần loài 36
3.1.2.2 Tỉ lệ bắt gặp các loài bằng phương pháp lưới mờ 37
3.2 Đặc điểm phân bố của các loài chim theo độ cao và sinh cảnh sống 40
3.2.1 Phân bố của các loài theo độ cao 40
3.2.2 Phân bố của các loài theo sinh cảnh 44
Trang 63.2.2.1 Đặc điểm các sinh cảnh ở khu vực nghiên cứu 44
3.2.2.2 Đặc điểm phân bố của các loài chim theo sinh cảnh sống 45
3.2.2.3 Tính chất đặc trưng của phân bố chim theo sinh cảnh 48
3.3 Hiện trạng khu hệ chim ở VQG Pù Mát 50
3.3.1 Các loài chim quý, hiếm và có giá trị bảo tồn Error! Bookmark not defined 3.3.2 Các hoạt động ảnh hưởng đến tài nguyên động vật ở khu vực nghiên cứu 53
3.3.2.1 Các mối đe dọa trực tiếp 53
3.3.2.2 Các mối đe dọa gián tiếp 57
3.3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn các loài chim ở VQG Pù Mát 61
3.3.3.1 Nâng cao năng lực quản lý 61
3.3.3.2 Tăng cường hiệu quả của các hoạt động thực thi pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng 62
3.3.3.3 Phối hợp với các cấp chính quyền địa phương về công tác quản lý bảo vệ rừng 63
3.3.3.4 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã 63
3.3.3.5 Phát triển kinh tế cho dân cư vùng đệm 65
3.3.3.6 Xây dựng các chương trình nghiên cứu khoa học, điều tra và giám sát khu hệ chim 66
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
CR Rất nguy cấp (theo Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục Đỏ IUCN
2016)
DD Thiếu dẫn liệu (theo Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục Đỏ IUCN
2016) IUCN Danh Lục Đỏ IUCN
32/2006/NĐ - CP IUCN Hiệp hội Bảo tồn Thiên Nhiên Thế giới
KBT Khu bảo tồn
LR Ít nguy cấp (theo Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục Đỏ IUCN
2016) Nxb Nhà xuất bản
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thành phần các dân tộc sinh sống trong và quanh VQG Pù Mát 15
Bảng 1.2: Các loại đất đai trong khu vực 17
Bảng 1.3: Diện tích các loại đất nông nghiệp 18
Bảng 3.1: Thành phần loài chim ở VQG Pù Mát ghi nhận năm 2016 - 2017 26
Bảng 3.2: Danh sách các loài bổ sung cho khu hệ chim VQG Pù Mát 35
Bảng 3.3: Các loài thu được bằng bẫy lưới mờ 36
Bảng 3.4: Tổng hợp tỷ lệ bắt gặp loài thời gian 38
Bảng 3.5: Số loài chim thu được tại các sinh cảnh khác nhau 39
Bảng 3.6: Phân bố của các loài theo đai cao 40
Bảng 3.7: Phân bố của chim theo sinh cảnh ở VQG Pù Mát 45
Bảng 3.8: Đặc trưng phân bố chim theo sinh cảnh 48
Bảng 3.9: Tổng hợp các loài có ở mỗi sinh cảnh 50
Bảng 3.10: Danh sách các loài chim quý, hiếm, có giá trị bảo tồn 50
Bảng 3.11: Các loài chim thường bị săn bắt, buôn bán 55
Bảng 3.12: Biểu tổng hợp các vụ bi phạm 58
Bảng 3.13: Những khu vực thường bị khai thác gỗ 59
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1: Bản đồ vị trí VQG Pù Mát 9
Hình 2.1: Bản đồ thể hiện tuyến điều tra và các địa điểm đặt lưới mờ 22
Hình 2.2: Cách đặt và cuốn lưới mờ 24
Hình 3.1: Biểu đồ phân bố các loài theo đai cao 43
Hình 3.2: Biểu đồ phân bố các họ và loài chim theo sinh cảnh 47
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tính đa dạng cao trên thế giới, trong đó dãy Trường Sơn là một trong những vùng sinh thái tiêu biểu toàn cầu nên sự đa dạng về tài nguyên sinh vật ở khu vực này là rất lớn VQG Pù Mát nằm về phía Tây Nam tỉnh Nghệ An là một bộ phận trong vùng sinh thái toàn cầu dãy Trường Sơn Toàn bộ diện tích VQG nằm trong địa giới hành chính của ba huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương Diện tích vùng lõi là 94.804,4 ha và vùng đệm khoảng 86.000
ha Được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là một trong những khu rừng đặc dụng có giá trị ĐDSH cao của vùng Bắc Trung Bộ cũng như của Việt Nam, vì thế đây cũng là một khu vực có đa dạng cao về thành phần các loài chim
Trong những năm gần đây công tác nghiên cứu và bảo tồn ĐDSH ở Nghệ An nói chung cũng VQG Pù Mát đã và đang ngày càng được quan tâm nhiều hơn Các nghiên cứu về chim ở VQG Pù Mát đã chỉ ra một cách khái quát nhưng cũng cho thấy những giá trị khoa học cao về nguồn tài nguyên chim ở khu vực này Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đi sâu về các nhóm, đặc biệt là chưa chú trọng và dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu sự phân bố các loài Mặt khác, trong thời gian qua các hoạt động trực tiếp như săn bắt chim làm thực phẩm, làm cảnh hoặc gián tiếp là mất sinh cảnh sống do làm nương rẫy, chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong khu vực đã làm cho một số loài chim suy giảm về số lượng Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu sâu hơn về thành phần loài cũng như sự phân bố các loài trong khu vực để làm cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp bảo tồn trong tương lai
Nhằm đáp ứng cho những nhu cầu đó và cũng để phục vụ cho việc áp dụng những kiến thức đã được đào tạo vào thực tiễn nghiên cứu cụ thể của vườn quốc gia, chúng tôi
đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Thành phần loài và phân bố của chim ở Vườn quốc gia
Pù Mát, tỉnh Nghệ An”
Trang 102 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần loài và sự phân bố của các loài theo sinh cảnh sống và đai cao ở VQG Pù Mát làm cơ sở cho việc thực hiện các hoạt động giám sát, bảo tồn các loài chim quan trọng ở VQG
3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần loài chim ở VQG Pù Mát
- Đặc điểm phân bố của loài theo sinh cảnh sống và đai cao
- Tần số bắt gặp các loài chim ở khu vực nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng khu hệ chim và các mối đe dọa đến nguồn tài nguyên này
ở khu vực nghiên cứu
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lược sử nghiên cứu chim ở Việt Nam và khu vực nghiên cứu
1.1.1 Lược sử nghiên cứu ở Việt Nam
1.1.1.1 Nghiên cứu về chim Việt Nam giai đoạn trước năm 1975
Thời kỳ này, các công trình nghiên cứu về chim ở Việt Nam chủ yếu đượctiến hành bởi một số nhà khoa học nước ngoài như: Linnaeus (1758), Gmélin (1788), Lesson (1831) và Bonaparte (1856), Pier (1872) Các kết quả ở thời kỳ này còn rất sơlược.Trong khoảng thời gian từ 1875–1877,Tirant đã sưu tầm được một bộ sưu tập chim khá lớn ở miền Nam Việt Nam gồm khoảng 1.000 tiêu bản với 353 loài và phân loài [17]
Suốt thời gian đó, các nghiên cứu chim đều do người nước ngoài thực hiện trên
cả vùng Đông Dương, trong đó có Việt Nam như: Nghiên cứu của Oustalet và Germain,
1905 – 1907 với công trình “Danh sách chim miền Nam Bộ” Ở miền Bắc Việt Nam
có Boutan (1905) với các sưu tầm chim ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và một số điểm thuộc Hà Đông và vùng ven Hà Nội Tác giả đã ghi nhận được 90 loài và các dẫn liệu
về sinh học của một số loài Năm 1918, Kloss và cộng sự đã tiến hành tổ chức cuộc sưu tầm chim lớn nhất kể từ trước cho đến thời điểm đó ở Đông Dương, từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1918 ở các vùng Phan Rang, Langbiang của Việt Nam; kết quả đã thu thập được 1.525 tiêu bản của 235 loài và phân loài, trong đó có 34 dạng mới cho khoa học [17]
Năm 1924, Delacour và Jabouille đã thu thập được hơn 2.000 tiêu bản ở Quảng Trị, trong đó có 12 dạng mới Cùng thời gian đó, Steven đã sưu tầm được một số lượng lớn tiêu bản chim ở vùng Tây Bắc Việt Nam, với 219 loài và phân loài cùng một số dẫn liệu về sinh học và đã mô tả thêm 11 loài và phân loài chim mới ở miền Bắc Việt Nam [17]
Năm 1931, Delacour và Jabuille đã xuất bản công trình nghiên cứu tổng hợp về chim Đông Dương gồm 4 tập với 954 loài và phân loài, trong đó có các loài chim của Việt Nam [41, 42, 43, 44] Đây là công trình tổng hợp từ kết quả điều tra nghiên cứu chim của tác giả và một số người khác được tiến hành chủ yếu qua 5 cuộc điều tra từ
Trang 12năm 1924 đến 1930 Trong khoảng thời gian từ năm 1926 đến 1945, Delacour và nhiều tác giả khác cũng đã có các công trình nghiên cứu tại các tỉnh phía Bắc và vùng Đông Bắc như: Hà Tây, Hà Nội và một số nơi khác khác thuộc đồng bằngBắc Bộ Trong đó đáng chú ý là các kết quả nghiên cứu về sinh học, sinh thái của một số loài chim ở Lào Cai (Sa Pa, Fan Si Pan), Lạng Sơn, Vĩnh Phúc (Vĩnh Yên, Tam Đảo) và Bắc Kạn, Các kết quả nghiên cứu tiếp theo từ năm 1931 đến trước năm 1945 được Delacour bổ sung cho danh lục chim Đông Dương (1951) với 1.085 loài và phân loài [17]
Từ năm 1945, công tác nghiên cứu chim bị gián đoạn do chiến tranh và chỉ được thực hiện trở lại từ sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam, năm 1957 Bắt đầu thời kỳ này, các tác giả Việt Nam đã có điều kiện để tiến hành điều tra nhiên cứu và đã
có nhiều công trình được công bố Phần lớn các công trình được công bố đều tập trung
ở miền Bắc Việt Nam
Năm 1961, Võ Quý, Trần Gia Huấn đã khảo sát khu hệ chim vùng Chi Nê, tỉnh Hòa Bình, kết quả đã thống kê được 137 loài chim và chỉ ra sự phân bố của các loài theo sinh cảnh [14]; Võ Quý, Đỗ Ngọc Quang, 1965: Kết quả sưu tầm chim ở vùng Bảo Lạc, Trùng Khánh (Cao Bằng) và Mẫu Sơn (Lạng Sơn) [15]; Đào Văn Tiến, Võ Quý, 1969: Kết quả điều tra sưu tầm động vật có sương sống ở trên cạn ở vùng Chợ Rã (Bắc Kạn) [26]
Năm 1971, Võ Quý đã xuất bản cuốn sách “Sinh học của những loài chim thường gặp ở miền Bắc Việt Nam” Trong sách tác giả có dẫn chứng đầy đủ về đặc điểm nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim ở miền Bắc mà đa số là các loài có ý nghĩa về mặt kinh tế [17]
1.1.1.2 Nghiên cứu về chim Việt Nam giai đoạn sau năm 1975
Sau năm 1975, hàng loạt các công trình nghiên cứu về điều tra cơ bản tài nguyên thiên nhiên ở nước ta, trong đó có khu hệ chim của nhiều vùng được công bố dưới các hình thức khác nhau
Đáng chú ý ở giai đoạn này là sách chuyên khảo “Chim Việt Nam: Hình thái và phân loại” với 2 tập xuất bản năm 1975, 1981 của Võ Quý [18, 20] Công trình này đóng góp rất lớn cho nghiên cứu chim của Việt Nam, bao gồm: Các khóa định loại, mô
Trang 13tả đặc điểm hình thái và phân bố của 1.009 loài và phân loài chim Việt Nam, trong đó
có nhiều loài chim ở vùng Bắc Trung Bộ Năm 1978, Võ Quý tiếp tục xuất bản cuốn
“Đời sống các loài chim” [19] Năm 1987, Võ Quý và cộng sự có công trình nghiên cứu về tính toán số lượng tuyệt đối chim ở rừng ẩm nhiệt đới trong mùa sinh sản [21]
Năm 1995, Võ Quý và Nguyễn Cử xuất bản sách chuyên khảo về “Danh lục chim Việt Nam” Đây được xem là danh lục đầy đủ nhất về chim Việt Nam với số loài hiện biết ở thời điểm này là 828 loài thuộc 81 họ của 19 bộ, cùng với các đặc điểm về
độ phong phú, hiện trạng và phân bố của các loài [22]
Ngoài ra, các nghiên cứu về quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên chim cũng đã được quan tâm Nguyễn Cử (1995) đã công bố về các loài chim đặc hữu và vấn đề bảo vệ ĐDSH chim tại Việt Nam, với danh sách gồm 100 loài và phân loài chim đặc hữu; xác định 3 trung tâm chim đặc hữu của Việt Nam cũng như sự phân bố và tình trạng bảo vệ của các loài này [2] Cũng trong năm này, Nguyễn Cử và cộng sự đã có kiến nghị thành lập khu bảo vệ các loài chim Trĩ gồm: Gà lôi lam mào
đen Lophura imperialis và Gà lôi lam mào trắng Lophura hatinhensis ở khu vực rừng
núi thấp miền trung (EBA) [7]
Đồng thời, trong thời gian này, công tác nghiên cứu điều tra làm cơ sở cho các
dự án đầu tư xây dựng các VQG và KBTTN được thực hiện trên phạm vi toàn quốc Nhiều kết quả điều tra nghiên cứu về động vật và chim được tiến hành tại nhiều nơi trong cả nước, nhất là vùng Trung Bộ và Tây Nguyên của tập thể cán bộ Viện sinh thái
và Tài nguyên sinh vật phối hợp với các tổ chức quốc tế như BirdLife, FFI, WWF, Frontier v.v
Song song với các nghiên cứu trên là các đánh giá và đề xuất về quản lý, bảo vệ tài nguyên chim Năm 1998, Nguyễn Cử đã công bố về phân bố và tình trạng các loài chim ăn thịt ở Việt Nam [39] Trong Hội thảo ĐDSH Bắc Trường Sơn lần thứ hai năm
1999, các tác giả Nguyễn Cử và Nguyễn Thái Tự Cường đã có phân tích về hiện trạng chim vùng Bắc và Trung Trung Bộ của Việt Nam, trong đó đề cập đến 82 loài và phân loài chim đặc hữu của khu vực, các loài bị đe dọa cùng với sự phân bố, hiện trạng của chúng [3]
Từ sau danh lục chim Việt Nam xuất bản lần đầu năm 1995, các đợt điều tra tiếp
Trang 14theo đã bổ sung nhiều loài cho khu hệ chim Việt Nam, trong đó có nhiều loài mới cho khoa học được công bố [47, 48, 49] Năm 2000, Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và Karen Phillipps đã xuất bản cuốn sách “Chim Việt Nam” với số loài chim được ghi nhận đã tăng lên 850 loài Trong đó, hơn 500 loài chim đã được mô tả và có hình vẽ màu minh hoạ kèm theo [4] Có thể nói đây là công trình có ý nghĩa lớn nhằm giúp các nhà nghiên cứu chim ở Việt Nam có được tư liệu thiết thực phục vụ cho nghiên cứu chim trên thực địa
Năm 2000, Nguyễn Cử đã công bố về tình trạng bảo tồn của các loài chim ăn thịt ở Việt Nam tại Hội nghị Quốc tế về chim ăn thịt lần thứ 2 tổ chức ở Indonesia [40] Năm 2001, Nguyễn Cử đã công bố một số thông tin mới về kết quả điều tra chim ở Việt Nam, có 19 loài chim được bổ sung cho khu hệ chim Việt Nam trong thập niên 90 [5]
Các đợt nghiên cứu điều tra ĐDSH chim ở các VQG, KBTTN và các khu vực bảo tồn khác trong cả nước tiếp tục được đẩy mạnh Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy tính đa dạng cao của khu hệ chim Việt Nam
Nguyễn Cử (2009) đã công bố 52 loài mới bổ sung cho danh lục chim Việt Nam, nâng tổng số loài chim hiện biết lên 880 loài [6]
Có thể nói nghiên cứu chim ở Việt Nam đã được tiến hành ở hầu hết các vùng trong cả nước, nhất là ở các VQG, KBTTN và các khu vực bảo tồn trọng yếu; nghiên cứu khu hệ, sinh học, sinh thái các loài, đặc biệt chú ý đến công tác bảo tồn
Khu vực rừng núi thấp Trung Bộ được xem là một trong 3 vùng chim đặc hữu
ở Việt Nam và là quê hương của các loài gà lôi thuộc giống Lophura ở vùng Đông
Dương (Delacour, 1977) [8] Năm1995, Trương Văn Lã đã có những nghiên cứu chuyên sâu về 12 loài chim thuộc họ Trĩ và đặc điểm sinh học, sinh thái của Gà rừng
tai trắng Gallus gallus gallus, Trĩ bạc Lophura nycthemera nycthemera, Công Pavo muticus imperator ở Việt Nam và biện pháp bảo vệ chúng [13]
Trong thời gian từ 1988 – 1996, các vùng chim đặc hữu thuộc khu vực địa hình núi thấp Trung Bộ được điều tra nghiên cứu nhiều với sự tham gia của các cán bộ Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, tổ chức bảo tồn chim quốc tế (BirdLife International)
ở Việt Nam Năm 2002, Tordoff với sự tham gia của nhiều nhà khoa học ở trong và
Trang 15ngoài nước đã xác định được 63 vùng chim quan trọng của Việt Nam [27]
Năm 1999, Nguyễn Cử và Nguyễn Thái Tự Cường nghiên cứu về chim vùng Bắc và Bắc Trung Bộ của Việt Nam, trong đó đề cập đến các loài và phân loài chim đặc hữu và bị đe doạ cùng với sự phân bố, hiện trạng của chúng [3]
Nhiều công trình nghiên cứu về khu hệ chim đã được tiến hành ở các VQG và KBTTN trên phạm vi toàn quốc bởi các nhà khoa học của Việt Nam và các tổ chức quốc tế, như: Khảo sát của Lê Trọng Trải, năm 1997 ở KBTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hoá [29]; Năm 1999, tổ chức bảo tồn chim quốc tế BirdLife International tại Việt Nam phối hợp với Viện điều tra quy hoạch rừng (FIPI) đã tiến hành điều tra khảo sát nhằm xây dựng báo cáo khả thi cho KBTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá [30]; Các nghiên cứu ở VQG Bến En, tỉnh Thanh Hoá, năm 1998 [48]; Báo cáo khả thi xây dựng KBTTN
Vũ Quang, Hà Tĩnh, năm 1999 [9]; Khảo sát đánh giá dự án khả thi KBTTN Kẻ Gỗ của Lê Trọng Trải, Nguyễn Huy Dũng, Nguyễn Cử, Lê Văn Chẩm và Eames, năm 1996 [28]; Báo cáo khảo sát đánh giá giá trị bảo tồn của khu đề xuất bảo vệ Pù Huống bởi Kemp và Dilger, năm 1996 [51] và nhiều báo cáo khác được thực hiện năm 2002, 2003
“Danh lục chim Việt Nam” của Võ Quý, Nguyễn Cử năm 1995 [22]
1.1.2 Lược sử nghiên cứu chim ở VQG Pù Mát
- Tài liệu “Pù Mát một cuộc điều tra đa dạng sinh học của một khu bảo vệ ở Việt Nam, 2000” đã thống kê được 295 loài chim và đưa ra một số dẫn liệu về sự phân bố của 43 loài chim, trong đó có một số loài có giá trị bảo tồn Tài liệu có một số bức ảnh
Trang 16minh họa của một số loài chim được chụp bằng máy ảnh tự động, các bức ảnh này hiện được số hóa, lưu giữ trong máy tính
- Năm 2003, Lê Trọng Trải, Lê Văn Chẩm, Vũ Văn Dũng, Đỗ Tước và Steven Swan với đợt điều tra đánh giá nhanh tính đa dạng sinh học ở VQG Pù Mát, đã thống
kê được 185 loài, bổ sung 10 loài cho khu hệ chim của VQG Pù Mát so với các công trình đã công bố trước đó
- Năm 2005 – 2006, chương trình điều tra cơ bản Côn trùng và Chim do các nhà khoa học của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thực hiện tại Vườn quốc gia Pù Mát,
đã ghi nhận được 324 loài chim thuộc 49 họ, 15 bộ Trong đó có khoảng 31 loài chim quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen Đợt điều tra này cũng đã thu được 34 mẫu tiêu bản chim phục vụ nghiên cứu
- Ngô Xuân Tường, Lê Đình Thuỷ (2008) ghi nhận số lượng các loài chim ở VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An gồm 317 loài thuộc 49 họ, 14 bộ [34] Trên cơ sở đó, năm
2009 các tác giả này đã công bố thành phần loài chim di cư ở VQG Pù Mát gồm 72 loài thuộc 22 họ, 6 bộ [35]
- Ngô Xuân Tường, Lê Đình Thủy (2012) đã bổ sung cho khu hệ chim ở VQG
Pù Mát, tỉnh Nghệ An thêm 22 loài mới và thống kê được 323 loài thuộc 45 họ, 177 giống của 15 bộ [36]
1.2 Điều kiện tự nhiên xã hội khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý:
VQG Pù Mát được thành lập vào năm 1995, tiền thân là Khu BTTN Pù Mát, nằm
về phía Tây Nam của tỉnh Nghệ An, có độ cao tuyệt đối giao động từ 100m đến 1841m Đỉnh cao nhất trong toàn khu vực là đỉnh Pù Mát, được lấy đặt tên cho VQG
Toạ độ địa lý của Vườn trong khoảng: 18046'30'' - 19019' 42'' độ vĩ bắc và
104031'57'' - 105003'08'' độ kinh đông Ranh giới hành chính: Ranh giới phía Nam của vườn chạy dọc theo đường ranh giới quốc gia Việt - Lào; ranh giới các phần còn lại của Vườn được xác định như sau:
- Phía Đông giáp với các xã Phúc Sơn, Hội Sơn thuộc huyện Anh Sơn
Trang 17- Phía Tây giáp với xã Tam Hợp, Tam Đình, Tam Quang thuộc huyện Tương Dương
- Phía Bắc giáp với xã Lạng Khê, Châu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn thuộc huyện Con Cuông (Hình 1.1)
Hình 1.1 Bản đồ vị trí VQG Pù Mát
* Đặc điểm địa hình:
Địa hình VQG Pù Mát rất phức tạp và hiểm trở, bị chia cắt bởi các hệ suối chính:
Khe Thơi, Khe Choăng, Khu Bu (hợp lưu với khe Choăng) và Khe Khặng Các hệ suối này đều bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào và đổ về Sông Cả, có độ dốc bình quân 250 -
350, độ cao so với mặt nước biển giao động trong khoảng 100m đến 1841m, bình quân từ 800- 1500m, trong đó 90% diện tích ở độ cao dưới 1000m, khu vực cao nhất nằm ở phía Nam, càng về phía Tây - Nam các dông núi cao dần, gồm những đỉnh núi cao trên 1000m
Trang 18kế tiếp nhau kéo dài như Cao Vều, Pù Huổi Ngoã, Đỉnh Pù Mát, cũng từ các dông núi đó
có các thung lũng dốc trải dài xuống tạo thành một hệ thống các dông đồi vuông góc với các dông núi chính, các dông này có độ dốc cao, tạo thành các đỉnh có độ cao từ 800 - 1500m và tạo thành đường mòn cho một số loài thú lớn (có vùng sống, vùng kiếm ăn rộng) như: Voi, Bò tót, di chuyển qua lại giữa các vùng, nhất là mùa khô khi thức ăn khan hiếm hoặc nơi sống bị tác động Toàn khu vực có rất ít nơi bằng phẳng, những khu vực đồi bằng và thấp có dân sinh sống, sản xuất nông nghiệp [16]
* Địa chất và thổ nhưỡng:
- Địa chất: VQG Pù Mát nằm trên sườn của dải Trường Sơn Bắc Quá trình kiến
tạo địa chất được hình thành qua các kỷ Palêzôi, Đềvôn, Cácbon-Pecmi,Triat, Hexini… đến Miroxen cho đến ngày nay Trong suốt quá trình phát triển lâu dài của Trường Sơn thì chu kỳ tạo núi Hecxini, địa hình luôn bị ngoại lực tác động mạnh mẽ tạo nên 4 dạng địa mạo chủ yếu
+ Núi cao trung bình: Uốn nếp khối nâng lên mạnh, tạo nên một dải cao và hẹp nằm ngay biên giới Việt – Lào (có vài đỉnh cao trên 2000m như Pulaileng 2711m, Rào
cỏ 2286m), địa hình hiểm trở, qua lại rất khó khăn
+ Kiểu địa hình núi thấp và đồi cao chiếm phần lớn diện tích của miền và có độ cao từ 1000m trở xuống Tuy cấu trúc tương dối phức tạp, được cấu tạo bởi các trầm tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn
+ Thung lũng kiến tạo, xâm thực tuy chiếm một diện tích nhỏ nhưng lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, độ cao nhỏ hơn 300m bao gồm thung lũng các sông suối: Khe Thơi, Khe Choăng, Khe Khặng (Sông Giăng) và bờ phải Sông Cả Cấu tạo bằng các trầm tích bở rời dễ bị xâm thực Trong đó phổ biến là các dạng địa hình đồi khá bằng phẳng, bãi bồi và thềm sông khá phát triển
+ Các khối đá vôi nhỏ, phân tán dạng khối uốn nếp có quá trình Karst trẻ phân
bố hữu ngạn Sông Cả cao chừng 200-300m, cấu tạo phân phiến dầy màu xám sáng đồng nhất và tinh khiết [37]
- Thổ nhưỡng
Qua công tác khảo sát ngoài thực địa và tham khảo bản đồ thổ nhưỡng, trong khu vực có các loại đất chính như sau:
Trang 19- Đất Feralit mùn trên núi trung bình (FH): Đất có màu vàng đỏ hoặc vàng xám, tầng mùn dầy thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình Phân bố từ độ cao 800, 900m đến 1800m dọc biên giới Việt Lào
- Đất Feralit đỏ vàng vùng đồi và núi thấp (F): Đất có màu đỏ vàng hay vàng đỏ, tầng tích tụ dày Phân bố phía Bắc và Đông Bắc VQG
- Đất dốc tụ và đất phù sa (D, P): Đất có màu nâu xám, thành phần cơ giới trung bình, tơi xốp giàu dinh dưỡng Phân bố ven sông suối trong VQG
- Núi đá vôi (K2): Núi đá vôi dốc đứng có cây gỗ nhỏ che phủ thấp dưới 700m Phân bố thành dải nhỏ xen kẽ nhau bên hữu ngạn Sông Cả
* Khí hậu thủy văn
VQG Pù Mát nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam Các yếu tố khí hậu mang tính chất phân cực mạnh, hình thành hai mùa rõ rệt: Mùa nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô lạnh từ tháng
Ngược lại trong mùa nóng ẩm, do có sự hoạt động của đới gió Tây nên thời tiết rất khô và nóng, nhiệt độ trung bình lên trên 250C, tháng nóng nhất là tháng 6 và 7, nhiệt
độ trung bình là 290C
- Chế độ mưa ẩm:
Lượng mưa từ ít tới trung bình, 90% lượng nước tập trung trong mùa mưa Hai tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9 và 10, thường kèm theo lũ lụt Tuy lượng mưa lớn nhưng phân bố không đều, khu vực phía Bắc (Nam Kỳ Sơn – Mường Xén) có lượng mưa là 1.300mm, khu vực núi Cao Vều (Anh Sơn – Thanh Chương) có lượng mưa là 1.790 mm
Trang 20Độ ẩm không khí trong vùng đạt 85 - 86%, trong mùa mưa độ ẩm lên tới 90% Ở các khu vực trên 1.000m và tại các thung lũng trong mùa mưa độ ẩm có khi đạt tới 100% Tuy vậy những giá trị cực thấp về độ ẩm vẫn thường đo được trong thời kỳ khô nóng kéo dài
- Chế độ gió: Hai hướng chính vào 2 mùa:
+ Gió Tây Nam (gió Lào) từ tháng 4 đến tháng 10, tập trung vào các tháng 6, 7 khô nóng và có ngày nhiệt độ không khí lên đến 410C, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống động thực vật trong vùng
+ Gió mùa Đông Bắc lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, hàng năm thường có 16-17 đợt gió mùa Đông Bắc, mỗi đợt thường có mưa phùn nhất là vào cuối mùa Vì vậy, về mùa này ở huyện Anh Sơn và vùng thấp của Con Cuông có độ ẩm không khí lớn hơn và không bị khô kiệt như Tương Dương và vùng cao của Con Cuông [39]
- Hệ thống sông ngòi
Sông suối trong VQG khá đa dạng và hiểm trở, các dốc cao và bờ đá đã tạo nên nhiều ghềnh thác ở đây Tất cả các sông suối thuộc VQG Pù Mát đều bắt nguồn từ mái phía Đông của dãy Pù Xai Lai Leng và tất cả đều đổ vào Sông Cả Các khe suối lớn như: Khe Thơi bắt nguồn từ núi Pù Vàn, chảy theo hướng Đông Bắc qua các huyện Tương Dương và Con Cuông đổ vào Sông Cả tại xã Lạng Khê; Khe Choăng bắt nguồn từ núi
Pù Đen Đinh và Khe Bu bắt nguồn từ núi Pù Đón Cắn chảy theo hướng Đông Bắc trong địa phận huyện Con Cuông Hai khe này hợp lưu ở cuối nguồn và đổ ra Sông Cả tại xã Châu Khê; Khe Khặng (sông Giăng) bắt nguồn từ núi M-6 nằm trong địa phận huyện Con Cuông, chảy theo hướng Đông Nam qua huyện Anh Sơn và đổ vào Sông Cả tại địa phận huyện Thanh Chương
- Chế độ thủy văn
Đặc điểm địa hình và khí hậu ảnh hưởng đến chế độ thuỷ văn, mạng lưới sông suối và dòng chảy: Các khe, suối nhiều, lượng nước thay đổi theo mùa, có nhiều nơi cạn nước vào mùa khô Bốn dòng chảy chính là Khe Thơi, Khe Bu, Khe Choăng và Khe Khặng Trong đó, Khe Khặng có lưu lượng nước lớn nhất, tiếp đến là Khe Bu, Khe Thơi
và cuối cùng là khe Choăng Sông Cả có nhiều phụ lưu, nước chảy trung bình 363m3/s, tối đa 13.750m3/s (Phòng Khoa học VQG Pù Mát, 2011)
Trang 21* Khu hệ thực vật và động vật
- Hệ thực vật rừng
Qua kết quả nghiên cứu của các chuyên gia trong nước và quốc tế, hiện tại đã xác định được có 2.494 loài thực vật, 931 chi thuộc 202 họ Trong đó có 69 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), chiếm 2,77 % tổng số loài của khu hệ bao gồm 4 loài ở mức
CR (Rất nguy cấp), 22 loài ở mức EN (Nguy cấp), 43 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp) và
44 loài nằm trong sách đỏ IUCN 2008 bao gồm 4 loài ở mức CR (Rất nguy cấp), 4 loài
ở mức EN (Nguy cấp), 25 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp), 8 loài ở mức NT (Sắp bị đe doạ), 3 loài ở mức DD (Thiếu dẫn liệu) Qua các dẫn liệu cho thấy, Pù Mát có đủ sự đa dạng, phong phú về giá trị nguồn gen thực vật của một Vườn quốc gia ở Việt Nam
VU, 9 ở mức NT (Sắp bị đe dọa) và 9 loài ở mức DD
Tiêu biểu có các loài: Voi châu á Elephas maximus, Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus, Voọc xám Trachypithecus crepusculus, Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys, Tê tê vàng Manis pentadactyla, Hổ Panthera tigris, Gấu chó Helarctos malayanus, Gấu ngựa Ursus thibetanus, Rái cá lông mượt Lutrogale perspicillata, Mang trường sơn Muntiacus truongsonensis, Sao la Pseudoryx nghetinhensis, Sơn dương Capricornis sumatraensis
- Về Chim: Có 340 loài thuộc 50 họ và 15 bộ bao gồm cả chim bản địa và chim
di cư Trong đó 15 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) gồm 2 loài ở mức CR (Rất nguy cấp), 1 loài ở mức EN (Nguy cấp), 8 loài Chim ở mức VU (Sẽ nguy cấp), 1 loài ở mức NT (Sắp bị đe doạ) và 11 loài nằm trong Danh Lục Đỏ IUCN (2008) gồm 3 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp), 8 loài ở mức NT (sắp bị đe doạ)
Trang 22Tiêu biểu có các loài Trĩ sao, Công, Gà lôi trắng, Gà tiền Hai quần thể Trĩ sao
và Hồng hoàng, Niệc cổ hung được xem có tầm quan trọng cao mang tính quốc tế và các quần thể của các loài khác như Diều cá bé cũng có thể có tầm quan trọng bảo tồn quốc gia
- Về Lưỡng cư và bò sát: Tổng cộng có 86 loài Cụ thể có 33 loài Lưỡng cư và
53 loài Bò sát (16 loài Rùa, 12 loài Tắc kè, Kỳ đà, 25 loài rắn) Trong đó Lưỡng cư có
3 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) gồm 1 loài ở mức EN (Nguy cấp), 2 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp) và 3 loài nằm trong Danh Lục Đỏ IUCN 2008 gồm 2 loài ở mức
NT (Sắp bị đe doạ), 1 loài ở mức DD (thiếu dẫn liệu) Bò sát có 20 loài nằm trong Sách
Đỏ Việt Nam (2007) gồm 4 loài ở mức CR (Rất nguy cấp), 9 loài ở mức EN (Nguy cấp),
7 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp) và 17 loài nằm trong Danh Lục Đỏ IUCN 2008 gồm 2 loài ở mức CR (Rất nguy cấp), 9 loài ở mức EN (Nguy cấp), 4 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp), 2 loài ở mức NT (Sắp bị đe doạ) Tiêu biểu có các loài như Rùa Ba vạch, Rùa Núi viền, Rùa hộp trán vàng, rắn lục xanh, Rắn hổ chúa…
- Về cá: Có 83 loài thuộc 56 chi, 19 họ Trong đó, có 6 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) gồm 1 loài ở mức EN (Nguy cấp), 4 loài ở mức VU (Sẽ nguy cấp), 1 loài ở mức DD (Thiếu dẫn liệu) 1 loài nằm trong Danh Lục Đỏ IUCN 2008 ở mức DD (Thiếu dẫn liệu) Tiêu biểu có các loài: Cá chình, Cá lăng, Cá mát, cá lấu (Phòng Khoa học, 2011)
- Về Bướm: Tổng cộng có 459 loài bướm bao gồm: 365 loài bướm ngày, 94 loài bướm đêm (83 loài bướm sừng và 11 loài bướm Hoàng đế) Trong đó có 7 loài bướm ngày và 4 loài bướm đêm (bườm sừng) là những loài mới ở Việt Nam Ngoài ra còn có
3 loài bướm ngày nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) được xếp hạng ở mức VU (Sẽ nguy cấp)
- Về kiến: Bước đầu đã xác định được 78 loài thuộc 40 chi, 9 phân họ Kiến có mặt tại VQG Pù Mát Tuy nhiên, tên cụ thể của các loài kiến hiện đang chờ giám định (Phòng khoa học, 2008)
- Về Côn trùng: Tổng cộng hiện đã xác định được 1.084 loài thuộc 64 họ, của 7
bộ Trong đó có 71 loài đặc hữu
Trang 23Về lĩnh vực bảo tồn loài, Pù Mát chẳng những là một khu tầm cỡ quốc gia mà còn có giá trị cho cả Lào và Đông dương Điều đặc biệt quan trọng là quần thể một số loài chim và thú thực sự có nguy cơ bị tiêu diệt ở Việt Nam và trên thế giới vẫn còn khả
năng bảo tồn phát triển nếu VQG được quản lý, bảo vệ tốt đó là các loài Voi Elephas maximus, Hổ Panthera tigris, Sao la Pseudoryx nghetinhensis, Mang Trường sơn Muntiacus truongsonensis,, Thỏ vằn Nesolagus timminsi, Cầy vằn Chrotogale owstoni, Gấu chó Helarctos malayanus, Gấu ngựa Ursus thibetanus, Trĩ sao Rheinardia ocellata
1.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
* Dân tộc, dân số, lao động
Bảng 1.1 Thành phần các dân tộc sinh sống trong và quanh VQG Pù Mát
TT Tên dân tộc Số hộ Tỷ lệ (%) Số khẩu Tỷ lệ (%)
Trang 24Mật độ trung bình là: 41 người/km2, mật độ cao nhất là xã Đỉnh Sơn huyện Anh Sơn (mật độ là 498 người/km2) và thấp nhất xã Tam Hợp huyện Tương Dương (mật độ
là 8 người/km2) (Nguồn: Niên giám thống kê 2012)
- Lao động:
Tổng số lao động là 39.406 người, trong đó lao động nam 19.387 người và lao động nữ là 20.028 người Lao động trong khu vực chủ yếu làm nông nghiệp (Chiếm trên 91,9%), còn lại là các ngành nghề khác như: Thương mại, dịch vụ, giáo viên, y tế, cán
bộ viên chức làm việc tại các xã trong vùng.(Nguồn: Niên giám thống kê 2012)
Trong tổng 17 xã vùng đệm, qua điều tra có 114 bản thuộc vùng đệm với tổng số 24.541 hộ, và 96.132 khẩu, 39.406 lao động, trong đó huyện Con Cuông có 64 bản thuộc
7 xã với 10.167 hộ, 41.222 khẩu và 17.480 lao động; huyện Anh Sơn có 28 bản thuộc 5
xã với 10.048 hộ, 37.265 khẩu và 16.418 lao động; huyện Tương Dương có 22 bản thuộc
4 xã với 4.326 hộ, 17.645 khẩu và 5.508 lao động
* Y tế - giáo dục
- Cơ sở y tế, đội ngũ y bác sỹ
Mỗi huyện trên địa bàn vùng đệm đều có một bệnh viện đa khoa được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và trang bị trang thiết bị tương đối tốt Cơ sở vật chất y tế ở xã còn nhiều thiếu thốn Đa số các xã thuộc vùng đệm đều có trạm y tế chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân nhưng chưa kiên cố, thiếu các trang thiết bị y tế; trung bình mỗi xã có 1 trạm
xá Cán bộ y tế còn thiếu, chưa qua các lớp đạo tạo nâng cao Hiện nay hầu hết ở các xã vùng đệm chưa có cán bộ bác sỹ để chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân Đội ngũ cán bộ y
tế còn thiếu và yếu về chuyên môn, một số thôn bản chưa có cán bộ y tế
- Giáo dục
Theo báo cáo của UBND các huyện Tương Dương, Anh Sơn, Con Cuông thì 100% trẻ em đến tuổi đều đi học và các huyện đều đã hoàn thành chương trình phổ cấp giáo dục tiểu học Tuy nhiên, do điều kiện về địa hình, giao thông đi lại khó khăn nên các lớp học tiểu học không tập trung, thường đóng ở các thôn bản Do đó, công tác quản
lý giáo dục hạn chế và ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục ở cấp học này
* Hiện trạng sử dụng đất
Trang 25Bảng 1.2 Các loại đất đai trong khu vực
Huyện, xã Tổng Đất nông
nghiệp
Đất lâm nghiệp
Đất cây công nghiệp Đất khác
Trang 26Anh Sơn 11%, Con Cuông 2%, Tương Dương 0,5% diện tích tự nhiên Điều đó cho thấy rằng tiềm năng sản xuất lâm nghiệp lớn hơn sản xuất nông nghiệp và đó là điều cần chú
ý trong chiến lược phát triển kinh tế vùng
* Các ngành nghề sản xuất chủ yếu
- Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp là một ngành kinh tế chủ đạo của 3 huyện, nhưng với diện tích gieo trồng còn ít, năng suất cây trồng thấp nên đời sống của người dân nơi đây còn gặp nhiều khó khăn Vẫn còn 23% số hộ thiếu lương thực trong những tháng giáp hạt
Cây trồng nông nghiệp chủ yếu là lúa nước, lúa nương, khoai và sắn Ngoài các cây trồng chính nêu trên, trong khu vực còn có một số loài cây trồng khác như rau, đậu
và một số loài cây công nghiệp như vừng, lạc, mía… nhưng diện tích không đáng kể
Bảng 1.3 Diện tích các loại đất nông nghiệp
Trang 27- Chăn nuôi, Thuỷ sản
Do có điều kiện thuận lợi về diện tích rừng núi rộng lớn, thích hợp với chăn nuôi đại gia súc nên chăn nuôi trâu, bò và lợn khá phát triển trong vùng Phần lớn vật nuôi được thả rông gần như quanh năm, khi cần dùng đến thì người nuôi mới đi tìm về Bình quân mỗi hộ gia đình nuôi từ 1-2 con lợn, 1-2 con trâu hoặc bò, mỗi xã có từ 150 đến
200 đàn dê Các gia đình còn chăn nuôi gà, vịt
Chăn nuôi đóng một vai trò đáng kể đối với cuộc sống của đồng bào vùng đệm VQG Chăn nuôi không những giải quyết thực phẩm tại chỗ mà còn cung cấp sức kéo cũng như phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, góp phần làm tăng năng suất cây trồng cũng như việc cải tạo đồng ruộng
Điểm bất cập trong chăn nuôi ở đây là tỷ lệ thả trâu bò vào VQG hiện vẫn còn phổ biến ở một số xã cận kề ranh giới và đã gây những tổn thất nhất định đối với đa dạng sinh học của VQG
Ngoài ra, một số dân cư sinh sống bên bờ Sông Cả, Sông Giăng, Khe Choăng, Khe Thơi còn phát triển nghề đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản Năm 2009, thống kê ở 5 xã vùng đệm của huyện Anh Sơn cho thấy họ đã thu hoạch được 62 tấn cá, huyện Tương Dương thu 52 tấn và huyện Con Cuông thu gần 100 tấn
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu thành phần loài chim và sự phân bố của chúng theo sinh cảnh sống
và đai cao ở VQG Pù Mát
- Phạm vi nghiên cứu: VQG Pù Mát
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 8/2016 đến tháng 8/2017
- Địa điểm nghiên cứu: VQG Pù Mát thuộc xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Tập trung chủ yếu ở các khu vực Cao Vều, khe Khặng, khe Choăng, khe Thơi
2.3 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Tư liệu nghiên cứu
- Tổng số 94 mẫu chim thu được bằng phương pháp lưới mờ
- Các phiếu điều tra chim theo các tuyến, điểm khảo sát
- Bổ sung các loài bằng nguồn tư liệu từ các nghiên cứu đã công bố trước đây ở KVNC
2.3.2 Xác định các tuyến và điểm nghiên cứu
Tiến hành thu thập bản đồ vùng nghiên cứu, kết hợp với khảo sát thực địa để xác định các tuyến điều tra và địa điểm đặt bẫy lưới mờ (hình 2.1) Tuyến điều tra dài từ 3 – 5 km xuyên qua các sinh cảnh khác nhau
Trang 29Hình 2.1: Bản đồ thể hiện tuyến điều tra và các địa điểm đặt lưới mờ
Trang 302.3.3 Phương pháp ghi nhận và định loại
2.3.3.1 Ghi nhận chim ngoài thiên nhiên
Điều tra chim theo tuyến và sử dụng các dụng như ống nhòm, máy ảnh và sách ảnh để định dạng loài Tiến hành đi chậm dọc theo tuyến và quan sát chim bằng ống nhòm và ghi nhận các loài quan sát được vào biểu Thời gian tiến hành khảo sát vào buổi sáng khoảng từ 5 giờ 30 - 10 giờ 30, buổi chiều từ 13 giờ 30 - 18 giờ, tuỳ thuộc vào thời tiết trong ngày
* Phân chia các đai cao ở VQG Pù Mát
Vườn Quốc gia Pù Mát được chia thành 5 đai cao là: dưới 400m; từ 400m – 600m; từ 600m – 800m; từ 800m – 1000m và trên 1000m với các đặc điểm khác nhau
về thảm thực bì, khí hậu…
* Phân chia các sinh cảnh tại VQG Pù Mát
Trên cơ sở khảo sát tại VQG Pù Mát và nghiên cứu các tài liệu thứ cấp tôi đã phân loại thành 6 dạng sinh cảnh chủ yếu với các đặc điểm như sau:
- Rừng nguyên sinh
- Rừng thứ sinh
- Suối và thung lũng ven suối
- Trảng trống và cây bụi
- Làng bản và khu dân cư
2.3.3.2 Phương pháp thu mẫu bằng lưới mờ
Loại lưới được sử dụng là loại lưới dài 15m, cao 3m, mắt lưới 1,5 x 1,5 cm Lưới được dựng trên hai cọc cắt ngang qua các sinh cảnh rừng Khoảng cách đường băng cách mỗi bên lưới 1m, lưới cách mặt đất 0,5 m Lưới được mở liên tục từ 5h30 đến 18h00 Thời gian mở và đóng lưới có thể thay đổi tùy thời tiết ngày thả lưới Lưới được
kiểm tra sau khi đặt 1 – 2 giờ
Địa điểm đặt lưới phải tương đối bằng phẳng, tránh nơi có nhiều cây làm lưới bị mắc rất khó gỡ Có thể đặt tại vị trí tự nhiên sẵn có, tuy nhiên những vị trí này rất ít tìm
Trang 31được, hay tìm được thì không phù hợp để đặt lưới Thông thường để đặt được lưới cần dùng dao phát 1 tuyến đường thẳng, có bề rộng và chiều cao phù hợp
Hình 2.2: Cách đặt và cuốn lưới mờ
Ở các khu vực có điều kiện địa hình, thảm thực vật khác nhau thì việc lựa chọn vị trí đặt lưới cũng khác nhau: ở các khu vực như trảng trống, nhiều cây bụi nhỏ thường đặt lưới xen giữa các bụi cây ở khu vực trống trải
Đối với khu vực rừng rậm rạp thường phải phát tuyến và vị trí đặt lưới tốt nhất thường là chỗ giao tiếp giữa nơi sáng và nơi tối; tại các vị trí có sự chuyển tiếp từ sinh cảnh này sang sinh cảnh khác
Đối với sinh cảnh suối trong rừng và ven bờ: lưới được đặt dọc theo hai bên suối
để bắt các loài chim sinh sống và kiếm ăn trong các bụi cây; hoặc đặt ngang suối để bắt các loài kiếm ăn dọc theo suối như bồng chanh, chích choè nước, bói cá
Trang 32Phương pháp đặt bẫy ảnh
- Chọn vị trí đặt bẫy ảnh: Phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu để chọn các vị trí
phù hợp nhất để đặt bẫy Đối với các loài Gà thuộc giống Lophura, vị trí đặt bẫy để có
được hình ảnh của các loài Gà nên chọn nơi có độ cao dưới 300m so với mực nước
biển và các vị trí bằng hoặc là những nơi có độ dốc dưới 150,vị trí đặt bẫy phải là nơi
có tầng cây gỗ lớn đã khép tán và ở tầng dưới có nhiều cây bụi họ cau dừa như cây
lá nón, cau rừng
- Phát dọn, xử lý thực bì khu vực đặt bẫy: Chọn vị trí thích hợp (dễ phát hiện
loài cần tìm) phát sạch thực bì theo dạng hình nón hoặc hình chữ nhật Kích thước:
Chiều dài từ 5m – 7m; Chiều rộng từ 3m – 5m tùy vào từng loại máy
- Thao tác đặt bẫy ảnh:
Bước 1: Cố định máy bằng dây vải
Bưới 2: Cài đặt máy
Bước 3: Khởi động máy và cho máy chụp thử
Bước 4: Cho máy chụp để kiểm tra ảnh
Bước 5: Kiểm tra ảnh để phát hiện các vị trí che khuất trong ảnh để chỉnh sửa
không gian chụp
Bước 6: Hoàn thành đặt bẫy ảnh (Bật máy, cố định máy bằng dây cao su, dán
băng dính chống thấm nước vào máy)
Chú ý: Khi đặt máy cần tránh hai hướng Đông hoặc Tây để không bị ánh sáng
mặt trời chiếu trực tiếp vào máy
Đã tiến hành đặt 34 bẫy ảnh ở 3 điểm nghiên cứu ở hai khu vực là khe Choăng
và khe Khặng liên tục trong khoảng thời gian 3 tháng
Trang 33CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thành phần loài chim ở VQG Pù Mát
3.1.1 Danh sách thành phần loài chim ở khu vực nghiên cứu
Danh sách thành phần loài chim thu được thông qua sử dụng phương pháp bẫy bắt bằng lưới mờ, bẫy ảnh, quan sát trực tiếp được tổng hợp ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Thành phần loài chim ở VQG Pù Mát ghi nhận năm 2016-2017
tư liệu
1 Gà so cổ hung Arborophila davidi (Delacour, 1927) BA
2 Gà so ngực gụ Arborophila charltonii (Eyton, 1845) BA
4 Gà lôi trắng Lophura nycthemera (Linnaeus, 1758) BA
5 Gà tiền mặt vàng Polyplectron bicalcaratum (Linnaeus, 1758) BA
6 Gõ kiến lùn mày trắng Sasia ochracea (Hodgson, 1836) LM
7 Gõ kiến xanh gáy vàng Chrysophlegma flavinucha (Gould, 1834) QS
8 Gõ kiến xanh cổ đỏ Picus rabieri (Oustalet, 1898) LM
9 Gõ kiến nâu cổ đỏ Blythipicus pyrrhotis (Hodgson, 1837) LM
10 Cu rốc lớn Psilopogon virens (Boddaert, 1783) QS
11 Cu rốc tai đen Psilopogon incognitus (Hume, 1874) QS
Trang 34(6) Họ Bói cá Alcediniae
14 Bồng chanh đỏ Ceyx erithaca (Linnaeus, 1758) LM
15 Sả đầu nâu Halcyon smyrnensis (Linnaeus, 1758) QS
16 Bói cá nhỏ Ceryle rudis (Linnaeus, 1758) QS
17 Trảu lớn Nyctyornis athertoni (Jardine & Selby, 1830) QS
18 Bắt cô trói cột Cuculus micropterus (Gould, 1837) QS
19 Tìm vịt vằn Cacomantis sonneratii (Latham, 1790) QS
20 Tìm vịt tím Chrysococcyx xanthorhynchus (Horsfield,
21 Cu cu đen Surniculus lugubris (Horsfield, 1821) QS
22 Phướn (Coọc) Phaenicophaeus tristis (Lesson, 1830) QS
23 Bìm bịp lớn Centropus sinensis (Stephens, 1815) QS
24 Bìm bịp nhỏ Centropus bengalensis (Gmelin, 1788) QS
25 Yến núi Aerodramus brevirostris (Horsfield, 1840) QS
26 Yến hông trắng Apus pacificus (Latham, 1802) QS
27 Cú mèo khoang cổ Otus lettia (Hodgson, 1836) QS
28 Cú vọ mặt trắng Glaucidium brodiei (Burton, 1836) QS
29 Dù dì Nepan Bubo nipalensis (Hodgson, 1836) QS
30 Cú muỗi đuôi dài Caprimulgus macrurus (Horsfield, 1821) QS
Trang 3532 Cu gáy Spilopelia chinensis (Scopoli, 1786) QS
33 Cu ngói Streptopelia tranquebarica (Hermann, 1804) QS
34 Gầm ghì vằn Macropygia unchall (Wagler, 1827) BA
35 Cu xanh Treron seimundi (Robinson, 1910) QS
36 Gầm ghì lưng xanh Ducula aenea (Linnaeus, 1766) QS
37 Gầm ghì trắng Ducula badia (Raffles, 1822) QS
38 Gà nước vằn Lewinia striata (Linnaeus, 1766) QS
39 Kịch Gallinula chloropus (Linnaeus, 1758) QS
40 Choắt bụng trắng Tringa ochropus (Linnaeus, 1758) QS
41 Choắt nhỏ Actitis hypoleucos (Linnaeus, 1758) QS
42 Diều mào Aviceda leuphotes (Dumont, 1820) QS
43 Diều trắng Elanus caeruleus (Desfontaines, 1789) QS
44 Diều hoa miến điện Spilornis cheela (Latham, 1790) QS
45 Ưng ấn độ Accipiter trivirgatus (Temminck, 1824) BA
46 Cắt lưng hung Falco tinnunculus (Linnaeus, 1758) QS
47 Cò ngàng nhỏ Egretta garzetta (Linnaeus, 1766) QS
Trang 3651 Bách thanh nâu Lanius cristatus (Linnaeus, 1758) LM
52 Bách thanh đuôi dài Lanius schach (Linnaeus, 1758) QS
53 Bách thanh Lanius tephronotus (Vigors, 1831) QS
54 Bách thanh vằn Lanius tigrinus (Drapiez, 1828) QS
56 Chim xanh hông vàng Chloropsis hardwickii (Jardine & Selby,
57 Chim nghệ ngực vàng Aegithina tiphia (Linnaeus, 1758) QS
58 Chim nghệ lớn Aegithina lafresnayei (Hartlaub, 1844) QS
59 Giẻ cùi Urocissa erythrorhyncha (Boddaert, 1783) QS
60 Giẻ cùi bụng vàng Cissa hypoleuca (Salvadori & Giglioli,
61 Choàng choạc xám Dendrocitta formosae (Swinhoe, 1863) LM
62 Chim khách Crypsirina temia (Daudin, 1800) QS
63 Chim khách đuôi cờ Temnurus temnurus (Temminck, 1825) QS
64 Quạ đen Corvus macrorhynchos (Wagler, 1827) QS
(23) Họ Phường chèo Campephagidae
65 Phường chèo xám lớn Coracina macei (Lesson, 1831) QS
66 Phường chèo má xám Pericrocotus solaris (Blyth, 1846) QS
67 Phường chèo đỏ lớn Pericrocotus flammeus (Forster, 1781) QS
68 Phường chèo nâu Tephrodornis gularis (Raffles, 1822) QS
69 Phường chèo xám nhỏ Coracina polioptera (Sharpe, 1879) QS
(24) Họ Chèo bẻo Dicuridae
70 Chèo bẻo Dicrurus macrocercus (Vieillot, 1817) QS
71 Chèo bẻo xám Dicrurus leucophaeus (Vieillot, 1817) QS
72 Chèo bẻo rừng Dicrurus aeneus (Vieillot, 1817) QS
73 Chèo bẻo cờ đuôi trắng Dicrurus remifer (Temminck, 1823) QS
(25) Họ Rẻ quạt Monarchidae
Trang 3775 Rẻ quạt họng trắng Rhipidura albicollis (Vieillot, 1818) LM
76 Đớp ruồi xanh gáy đen Hypothymis azurea (Boddaert, 1783) LM
77 Thiên đường đuôi
phướn Terpsiphone paradisi (Linnaeus, 1758) LM
(26) Họ Đớp ruồi Muscicapidae
78 Đớp ruồi Xiberi Muscicapa sibirica (Gmelin, 1789) LM
79 Đớp ruồi nâu Muscicapa dauurica (Pallas, 1811) LM
80 Đớp ruồi họng hung Cyornis banyumas (Horsfield, 1821) LM
81 Đớp ruồi Hải Nam Cyornis hainanus (Ogilvie-Grant, 1900) LM
82 Đớp ruồi họng đỏ Ficedula parva (Bechstein, 1792) LM
83 Đớp ruồi Nhật Bản Cyanoptila cyanomelana (Temminck, 1829) LM
(27) Họ Chích choè Turdidae
84 Hoét đá Monticola solitarius (Linnaeus, 1758) QS
85 Hoét xanh Myophonus caeruleus (Scopoli, 1786) BA
86 Hoét vàng Zoothera citrina (Latham, 1790) LM
87 Hoét đất nâu Zoothera marginata (Blyth, 1847) QS
88 Hoét mày trắng Turdus obscurus (Gmelin, 1789) QS
89 Oanh cổ đỏ Luscinia calliope (Pallas, 1776) LM
90 Oanh lưng xanh Luscinia cyane (Pallas, 1776) QS
91 Chích choè than Copsychus saularis (Linnaeus, 1758) LM
92 Chích choè lửa Copsychus malabaricus (Scopoli, 1788) LM
93 Oanh đuôi trắng Cinclidium leucurum (Hodgson, 1845) QS
94 Chích choè nước lưng
95 Chích choè nước đầu
trắng Enicurus leschenaulti (Vieillot, 1818) QS
(28) Họ Lội suối Cinclidae
96 Lội suối Cinclus pallasii (Temminck, 1820) QS
97 Sáo đá Trung quốc Sturnus sinensis (Gmelin, 1788) QS
98 Sáo sậu Sturnus nigricollis (Paykull, 1807) QS
99 Sáo nâu Acridotheres tristis (Linnaeus, 1766) QS
Trang 38100 Sáo mỏ vàng Acridotheres cinereus (Bonaparte, 1851) QS
101 Sáo vàng Ampeliceps coronatus (Blyth, 1842) QS
103 Sáo mỏ vàng Acridotheres grandis (Moore, 1858) QS
(30) Họ Bạc má Paridae
105 Chim mào vàng Melanochlora sultanea (Hodgson, 1837) QS
(31) Họ Trèo cây Sittidae
106 Trèo cây lưng đen Sitta formosa (Blyth, 1843) QS
(32) Họ Nhạn Hirundinidae
107 Nhạn bụng trắng Hirundo rustica (Linnaeus, 1758) QS
(33) Họ Chào mào Pycnonotidae
109 Chào mào vàng mào
110 Chào mào Pycnonotus jocosus (Linnaeus, 1758) LM
111 Bông lau đít vàng Pycnonotus aurigaster (Vieillot, 1818) LM
112 Cành cạch bụng hung Alophoixus ochraceus LM
113 Cành cạch lớn Alophoixus pallidus (Swinhoe, 1870) LM
114 Cành cạch đen Hypsipetes leucocephalus (Gmelin, 1789) LM
(34) Họ Chiền chiện đồng Cisticolidae
115 Chiền chiện bụng vàng Prinia flaviventris LM
116 Chiền chiện đầu nâu Prinia rufescens (Blyth, 1847) QS
(35) Họ Vành khuyên Zosteropidae
117 Vành khuyên họng
vàng Zosterops palpebrosus (Temminck, 1824) QS
118 Vành khuyên Nhật Bản Zosterops japonicus (Temminck and
(36) Họ Chim chích Phylloscopidae
119 Chích đầm lầy nhỏ Locustella lanceolata (Temminck, 1840) QS
120 Chích mỏ rộng Acrocephalus aedon (Pallas, 1776) LM
121 Chích bông đuôi vàng Orthotomus sutorius (Pennant, 1769) LM
Trang 39122 Chích bông cánh vàng Orthotomus atrogularis (Temminck, 1836) QS
123 Chim chích nâu Phylloscopus fuscatus (Blyth, 1842) LM
124 Chích mày lớn Phylloscopus inornatus (Blyth, 1842) LM
125 Chích phương bắc Phylloscopus borealis (Blasius, 1858) QS
126 Chích chân xám Phylloscopus tenellipes (Swinhoe, 1860) QS
127 Chích đuôi trắng Phylloscopus davisoni (Oates, 1889) QS
128 Chích vàng mày đen Seicercus burkii (Burton, 1836) LM
129 Chích vàng đầu hung Seicercus castaniceps (Hodgson, 1845) QS
130 Chích mặt hung Abroscopus albogularis (Hodgson, 1854) QS
131 Chích đớp ruồi mỏ
vàng Abroscopus superciliaris (Blyth, 1859) QS
132 Chiền chiện lớn Megalurus palustris (Horsfield, 1821) QS
133 Chiền chiện đầu nâu Prinia rufescens (Blyth, 1847) QS
134 Chích hai vạch Seicercus plumbeitarsus (Swinhoe, 1861) QS
135 Chích đớp ruồi mày
136 Khướu ngực đen Garrulax monileger (Riley, 1930) BA
137 Khướu bạc má Garrulax chinensis (Scopoli, 1786) QS
138 Khướu ngực đốm Garrulax merulinus (Blyth, 1851) QS
139 Khướu đuôi đỏ Garrulax milnei (David, 1874) QS
140 Khướu đầu hung Garrulax erythrocephalus (Vigors, 1832) LM
141 Chuối tiêu đất Trichastoma tickelli (Blyth, 1859) LM
142 Chuối tiêu ngực đốm Pellorneum ruficeps (Swainson, 1832) LM
143 Hoạ mi đất ngực luốc Pomatorhinus ruficollis (Hodgson, 1836) QS
144 Họa mi đất mỏ đỏ Pomatorhinus ochraceiceps (Walden, 1873) QS
145 Hoạ mi đất ngực hung Pomatorhinus ferruginosus (Blyth, 1845) QS
146 Khướu đá nhỏ Napothera epilepidota (Temminck, 1827) QS
147 Khướu đất hung Spelaeornis formosus (Walden, 1874) LM
148 Khướu bụi trán hung Stachyris ruficeps (Blyth, 1847) LM
149 Khướu bụi vàng Stachyris chrysaea (Blyth, 1844) LM
Trang 40150 Khướu bụi đầu đen Stachyris nigriceps (Blyth, 1844) LM
151 Chích chạch má vàng Macronous gularis (Horsfield, 1822) QS
152 Kim oanh tai bạc Leiothrix argentauris (Hodgson, 1837) QS
153 Khướu mỏ quặp mày
trắng Pteruthius flaviscapis (Temminck, 1835) QS
154 Khướu đuôi dài Gampsorhynchus rufulus (Blyth, 1844) QS
155 Khướu lùn đuôi đỏ Minla ignotincta (Hodgson, 1837) LM
156 Lách tách đầu đốm Alcippe castaneceps (Hodgson, 1837) LM
157 Lách tách họng hung Alcippe rufogularis (Mandelli, 1873) LM
158 Lách tách đầu xám Alcippe grotei (Delacour, 1926) QS
159 Lách tách vành mắt Alcippe peracensis (Sharpe, 1887) LM
160 Khướu mào khoang cổ Yuhina castaniceps (Moore, 1854) BA
161 Khướu mào mặt đen Yuhina nigrimenta (Blyth, 1845) QS
162 Khướu mào bụng trắng Yuhina zantholeuca (Blyth, 1844) QS
163 Khướu đất đuôi dài Spelaeornis chocolatinus (Godwin-Austen &
164 Mi lưng nâu Heterophasia annectens (Blyth, 1847) QS
165 Khướu mào cổ trắng Yuhina diademata (Verreaux, 1869) QS
166 Khướu mỏ dẹt đầu
167 Chim sâu bụng vạch Dicaeum chrysorrheum (Temminck &
170 Hút mật họng vàng Aethopyga gouldiae (Vigors, 1831) QS
171 Hút mật đuôi nhọn Aethopyga christinae (Swinhoe, 1869) QS
172 Hút mật đỏ Aethopyga siparaja (Raffles, 1822) LM
173 Hút mật họng hồng Nectarinia sperata (Linnaeus, 1766) QS
174 Bắp chuối mỏ dài Arachnothera longirostra (Latham, 1790) LM