Có thể nói trong văn học viết về chiến tranh ở ta, hiếm có tác phẩm nào đề cập vấn đề chiến tranh và bản năng sống của con người toàn diện như tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Min
Trang 1
HUỲNH THỊ LỆ NGA
CHIẾN TRANH VÀ BẢN NĂNG SỐNG CỦA CON NGƯỜI
TRONG TIỂU THUYẾT MIỀN HOANG
CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2017
Trang 2
HUỲNH THỊ LỆ NGA
CHIẾN TRANH VÀ BẢN NĂNG SỐNG CỦA CON NGƯỜI
TRONG TIỂU THUYẾT MIỀN HOANG
CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2017
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 MIỀN HOANG CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH TRONG MẠCH TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY 8
1.1 Khái lược những xu hướng tìm tòi của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh từ sau Đổi mới 8
1.1.1 Xoáy sâu vào số phận con người 8
1.1.2 Gia tăng tính triết luận 13
1.1.3 Áp dụng thước đo nhân bản để đánh giá con người và sự kiện 15
1.2 Đề cập vấn đề bản năng sống của con người - một nỗ lực thế tục hóa đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết sau Đổi mới 17
1.2.1 Một số giới thuyết 17
1.2.2 Sự vượt qua những rào cản, cấm kỵ 18
1.2.3 Những thành công và hạn chế 21
1.3 Miền hoang - sự tiếp nối những thể nghiệm tích cực của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh sau Đổi mới 24
1.3.1 Sương Nguyệt Minh, từ trải nghiệm đời lính tình nguyện đến sáng tạo nghệ thuật 24
Trang 41.3.3 Những nỗ lực “vượt gộp” ở đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết
Miền hoang 30
Chương 2 QUAN HỆ HAI CHIỀU GIỮA CHIẾN TRANH VÀ BẢN NĂNG SỐNG CỦA CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT MIỀN HOANG 33
2.1 Sức hủy diệt sự sống của chiến tranh 33
2.1.1 Bức tranh đau thương của nạn diệt chủng 33
2.2.2 Sự hoành hành của bản năng chém giết trong một chế độ quái gở 37
2.2.3 Những tự vấn nhức nhối 39
2.2 Sự trỗi dậy của bản năng sinh tồn trong chiến tranh 42
2.2.1 Bản năng tự vệ 42
2.2.2 Bản năng tìm đường sống 44
2.2.3 Bản năng tình dục 47
2.3 Con đường khẳng định chật vật của nhân tính 52
2.3.1 Khả năng điều chỉnh của văn hóa 52
2.3.2 Sức mạnh của hồi ức 54
2.3.3 Sự lên tiếng của tình thương và bản năng che chở 56
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN VẤN ĐỀ CHIẾN TRANH VÀ BẢN NĂNG SỐNG CỦA CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT MIỀN HOANG 60
3.1 Nỗ lực khám phá con người bằng điểm nhìn bên trong 60
3.1.1 Hệ thống điểm nhìn nghệ thuật trong tác phẩm 60
3.1.2 Hiệu quả nghệ thuật - tư tưởng của việc trao quyền cho nhân vật tự bộc lộ 66
3.1.3 Nghệ thuật kết nối các mảnh tâm tư 68
Trang 53.2.2 Những tình huống làm phát lộ phần “con” của nhân vật 73
3.2.3 Những tình huống thách thức, soi tỏ nhân tính 76
3.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 78
3.3.1 Cá biệt hóa và liên kết các bè ngôn ngữ 78
3.3.2 Sự thể nghiệm ngôn ngữ “chép sử” 82
3.3.3 Sự giao thoa giữa tính thô mộc và tính văn chương của ngôn ngữ 85
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài đến 30 năm, nhân dân ta vẫn chưa hoàn toàn được hưởng cuộc sống hòa bình Cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và tiếp đó là cuộc tiến công đánh đổ chế độ diệt chủng Polpot ở Campuchia đã làm hao tổn nặng nề nguyên khí đất nước Đến nay, các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam vẫn nhớ như in cuộc chiến dã man, đầy máu, nước mắt những năm tháng ấy Thế nhưng cuộc chiến đó vẫn chưa được thể hiện một cách đúng tầm trong các sáng tác văn học Đây hẳn là một điều khiến bao nhà văn trăn trở và sự trăn trở đó đã thúc dục nhà văn Sương
Nguyệt Minh viết nên tác phẩm Miền hoang dày dặn cả về số trang lẫn hàm
lượng thông tin thẩm mỹ Ra đời từ năm 2014 nhưng cho đến nay, tiểu thuyết này vẫn chưa được nhận một sự quan tâm nghiên cứu tương xứng của các nhà phê bình
1.2 Có thể xem Miền hoang của Sương Nguyệt Minh là cuốn tiểu
thuyết viết về đề tài chiến tranh bằng một góc nhìn mới lạ với cách viết cũng mới lạ Các trận đánh được nói tới rất ít nhưng sự khốc liệt của chiến tranh không vì thế mà không được thể hiện một cách đầy ám ảnh Đặc biệt, vấn đề bản năng sống của con người với những biểu hiện cơ bản và phong phú của
nó trong những hoàn cảnh thử thách ngặt nghèo rất được tác giả chú ý tìm hiểu, khám phá Có thể nói trong văn học viết về chiến tranh ở ta, hiếm có tác phẩm nào đề cập vấn đề chiến tranh và bản năng sống của con người toàn
diện như tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh Với chúng tôi, đây
thực sự là một đề tài nghiên cứu hấp dẫn và có ý nghĩa khoa học
1.3 Hiện nay, tiểu thuyết Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức của thời đại hội nhập và giao lưu toàn cầu Hướng tìm tòi nghệ thuật của
Trang 7Sương Nguyệt Minh cũng có nhiều điểm chung nhưng với những đổi mới, tìm tòi, sáng tạo của các nhà văn thế hệ trước hoặc cùng thế hệ Do vậy, việc tìm
hiểu tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh cũng có ý nghĩa góp
thêm dữ liệu để nghiên cứu sâu hơn về diện mạo của tiểu thuyết Việt Nam trong những năm qua
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Về sáng tác của Sương Nguyệt Minh nói chung
Nhà văn Nguyên Ngọc chia sẻ về cuốn sách của Sương Nguyệt Minh:
“Với đời sống văn học, chiến tranh luôn là một đề tài lớn, trong đó, đề tài về cuộc chiến của người lính Việt Nam trên chiến trường Campuchia là cuộc chiến vô cùng ác liệt, phức tạp, khắc nghiệt và gay gắt Sự sáng tạo trong bút pháp của Sương Nguyệt Minh đã góp phần giúp cho độc giả hiểu thêm về bản chất cuộc chiến này” [41,5]
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nhận định Miền hoang là cuốn tiểu
thuyết công phu, tâm huyết; môtip “lạc rừng” tuy không mới nhưng với tư cách là một người từng trực tiếp can dự vào cuộc chiến trên đất bạn Campuchia như Sương Nguyệt Minh thì đấy có lẽ là sự lựa chọn khả dĩ nhất
để nhà văn trút vào đấy một phần đời của mình với tất cả những trải nghiệm, suy tư, ám ảnh đầy ứ chật căng trong mình
Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu, vừa là đồng đội cũ, vừa là người biên tập cuốn sách này, rất đồng cảm với những gì nhà văn Sương Nguyệt Minh hồi ức, tái
hiện, gửi gắm trong Miền hoang, một cuốn tiểu thuyết ám gợi, vừa có
Campuchia vừa không có Campuchia
Nhà văn Nguyễn Văn Thọ và nhà văn Đỗ Bích Thúy tâm đắc với việc nhà văn Sương Nguyệt Minh biết tận dụng lợi thế của một tác giả truyện ngắn
để viết tiểu thuyết, đó là nghệ thuật chọn lựa, xử lí, phân bố và xâu chuỗi hệ thống chi tiết Khi đọc “Miền hoang” nhà văn Nguyễn Văn Thọ bày tỏ cảm
Trang 8xúc: “Sự khốc liệt, dữ dội và ám ảnh về cuộc chiến mà tác phẩm đã lột tả đủ
để người đọc thấy rằng, mỗi trang viết của Sương Nguyệt Minh như được viết bằng máu của đồng đội và của chính anh Vốn là một nhà văn đầy kinh nghiệm trong viết truyện ngắn, nên việc sử dụng chi tiết của Sương Nguyệt Minh rất đắt, cùng sự xâu chuỗi chi tiết tài tình đã cuốn hút người đọc” [21] Nhà văn Đỗ Bích Thúy cho rằng mình bị cuốn sách của nhà văn Sương Nguyệt Minh hấp dẫn ngay lần đọc bản thảo đầu tiên và cảm thấy mình là người phụ nữ dũng cảm khi đọc tiểu thuyết này bởi tính chất tàn bạo, mạn rợ ngoài sức tưởng tượng của bản thân về một cuộc chiến đó được tác giả phơi trần Nữ nhà văn này hoàn toàn tin tưởng rằng nhà văn Sương Nguyệt Minh
có thể làm chủ thể loại tiểu thuyết
Trước đây đã có các luận văn nghiên cứu về Sương Ngọc Minh nhưng chủ yếu xoay quanh các sáng tác truyện ngắn của ông Đó là các đề tài như
Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Sương Nguyệt Minh của Trần Thị Phương Loan tại Đại học Quốc Gia Hà Nội và Sự vận động trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh của Trần Hồng Gấm tại Đại học Thái Nguyên Và dề tài cách
tân nghệ thuật trong tiểu thuyết “ Miền hoang” cùa Sương Nguyệt Minh của Nguyễn Thị Mai tại Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
2.2 Về tiểu thuyết chiến tranh trong văn học Việt Nam sau Đổi mới
và vấn đề thể hiện bản năng sống của con người trong Miền hoang
Nhà phê bình Bùi Việt Thắng từng nhận định: “Phải nói ngay rằng chiến tranh là một “siêu đề tài” trong văn học hậu chiến Việt Nam Vì sao như thế? Là vì chúng ta cho đến nay vẫn chưa ra khỏi cuộc chiến theo nhiều nghĩa Dư âm và dư vị của chiến tranh vẫn còn hiện diện giữa đời sống của chúng ta.” [63]
Khi bàn về sức sống của đề tài chiến tranh cách mạng trong đời sống
văn học, trong bài viết Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau 1975 và những thành tựu nghệ thuật bị bỏ lỡ, Nguyễn Phượng đã khẳng định: “Theo tôi bây
Trang 9giờ cho đến nhiều chục năm về sau, chiến tranh vẫn là một đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều thế hệ vcon người Việt Nam cùng các bên tham gia vào
sự cố đặc biệt này” [59]
Thời gian gần đây, một số luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu một vài
phương diện của tiểu thuyết về chiến tranh: Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết chiến tranh sau 1975 (2003) của Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu về chiến tranh sau
1975 (2004) của Bùi Thị Hường, Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh Việt Nam 2004-2008 (2009) của Nguyễn Thị Duyên…
Ngoài các nghiên cứu về một chặng đường phát triển của tiểu thuyết chiến tranh, giới nghiên cứu còn đánh giá sự nghiệp sáng tác của tác giả
Chẳng han: Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết của Chu Lai (2004) của Phạm Thúy Hằng, Nhân vật người lính trong tiểu thuyết Khuất Quang Thụy (2008) của Đinh Thanh Hương, Thái Bá Lợi với tiểu thuyết viết về chiến tranh sau
1975 (2009) của Phạm Phú Phong…
Một khía cạnh nữa của tiểu thuyết viết về chiến tranh hôm nay cũng được tìm hiểu khá nhiều, đó là dục vọng và bản năng của con người Miêu tả dục vọng và bản năng không phải để phê phán con người mà là để tố cáo chiến tranh với sức tàn phá, hủy diệt ghê gớm của nó không cho con người được sống như chính họ mong muốn và khát khao Về vấn đề này Đỗ Hải Ninh cũng
đã khẳng định: “tiểu thuyết chiến tranh Việt Nam đương đại đã từng bước dịch chuyển, cất lên những tiếng nói đa chiều của con người về vấn đề lớn của nhân loại và của lịch sử dân tộc Những dịch chuyển hướng tới chủ nghĩa nhân văn
và sự đa dạng trong bút pháp nghệ thuật khiến cho tiểu thuyết viết về chiến tranh vang vọng xa hơn và hòa nhập dòng chảy của văn học thế giới ” [51]
Nguyễn Thị Xuân Dung khi Bàn về vấn đề dục vọng trong tiểu thuyết Việt Nam về chiến tranh từ 1986-1996, đã nhận xét: “Trong tiểu thuyết chiến
tranh từ 1986-1996 ta thấy hầu như tác phẩm nào cũng đề cập đến truyện bản
Trang 10năng, tình yêu- dục vọng của con người và thể hiện nó một cách tự nhiên, chân thật Điều đó càng phản ánh một cách rõ hơn bộ mặt trần trụi của chiến tranh và số phận khốc liệt của con người trong hiện thực tàn bạo ấy, qua đó hợp lí hóa đời sống bản năng của con người, đề cao nó trong một tinh thần nhân văn cao đẹp; lên án, phê phán chiến tranh là một thế lực phi nhân tính đã tước đoạt cướp mất của con người quyền được sống với những nhu cầu bình thường và thiết yếu của họ” [8]
Với Sương Nguyệt Minh, đây là lẩn đẩu tiên ông thử sức ở lĩnh vực
tiểu thuyết và ông đã sáng tạo nên Miền hoang qua những trải nghiệm thực tế
khi là người lính tại chiến trường Campuchia Những kí ức về nó đã làm sống
dậy cuộc chiến vì nước bạn Campuchia và sản sinh ra Miền hoang - tác phẩm
về đề tài chiến tranh và bản năng sống của con người
Như vậy, nhìn tổng quan, tuy đã được đề cập đến một số khía cạnh,
trong đó có những khía cạnh rất cơ bản, Chiến tranh và bản năng sống của con người trong tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh vẫn còn là
một vấn đề đầy thử thách, cần được tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chiến tranh và bản năng sống của
con người qua tiểu thuyết Miền hoang - tiểu thuyết mới nhất của Sương
Nguyệt Minh, xuất bản năm 2014 Tác phẩm đoạt giải Sách hay 2015
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Luận văn khảo sát toàn diện cuốn tiểu thuyết Miền hoang dày 631 trang
của Sương Nguyệt Minh, do nhà xuất bản Trẻ ấn hành và một số truyện ngắn của ông Ngoài ra, để có thêm tư liệu đối sánh, luận văn còn khảo sát các tác phẩm nổi tiếng khác viết về đề tài chiến tranh của các tác giả như Bảo Ninh
(với Nỗi buồn chiến tranh), Chu Lai (với Ăn mày dĩ vãng), Trần Văn Tuấn (với Rừng thiêng nước trong), Đình Kính (với Sóng chìm)
Trang 114 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu cách tiếp cận, thể hiện đề tài chiến tranh từ góc nhìn nhân bản của tác giả Sương Nguyệt Minh, cũng là của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Tìm hiểu dòng chảy của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh từ Đổi mới đến nay
4.2.2 Phân tích góc nhìn nhân bản của tác giả Sương Nguyệt Minh qua
tiểu thuyết Miền hoang khi khám phá, soi tỏ vấn đề bản năng sống của con người được bộc lộ trong điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh Đồng thời
khái quát điều cốt lõi và dấu ấn sáng tạo trong cách nhìn từ than phận con người của Sương Nguyệt Minh
4.2.3 Phân tích, đánh giá những cách tân nghệ thuật của Sương Nguyệt
Minh ở tiểu thuyết Miền hoang nhằm thể hiện vấn đề chiến tranh và bản năng
sống của con người qua các phương diện như kết cấu, lựa chọn điểm nhìn,
xây dựng nhân vật và tổ chức ngôn ngữ, giọng điệu
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, chúng tôi đặc biệt chú ý sử dụng các phương pháp sau:
6 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện vấn đề chiến tranh và
bản năng sống của con người được thể hiện trong tiểu thuyết Miền hoang của
Sương Nguyệt Minh
Trang 127 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai qua 3 chương:
Chương 1: Miền hoang của Sương Nguyệt Minh trong mạch tiểu thuyết
viết về đề tài chiến tranh từ Đổi mới đến nay
Chương 2: Quan hệ hai chiều giữa chiến tranh và bản năng sống của
con người trong tiểu thuyết Miền hoang
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện vấn đề chiến tranh và bản năng sống
của con người trong tiểu thuyết Miền hoang
Trang 13Chương 1
MIỀN HOANG CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH
TRONG MẠCH TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH
TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY
1.1 Khái lược những xu hướng tìm tòi của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh từ sau Đổi mới
Nhà lý luận, phê bình Bùi Việt Thắng đánh giá: “Nhìn tổng thể bức
tranh văn học Việt Nam nửa sau thế kỉ XX thì văn học về đề tài chiến tranh vẫn là cái còn lại đáng để nói với hậu thế và bạn bè quốc tế Nếu có niềm tự hào nào về văn học dân tộc thời hiện đại thì đó là văn học về đề tài chiến tranh, nơi đã vun đắp và gìn giữ lý tưởng sống cao cả của con người Việt Nam Tiểu thuyết, vẫn nằm trong quỹ đạo phản ánh hiện thực nhưng có đổi mới so với truyền thống Đó là sự phản ánh từ hiện thực “cần có” sang hiện thực “đang có”, từ hiện thực lư ng cực sang hiện thực đa cực Văn chương nước nhà bước đầu hoà vào dòng chảy văn chương thế giới”
1.1.1 Xoáy sâu vào số phận con người
Trên phương diện đề tài, tiểu thuyết có thể nói là đã tiếp cận và khai thác sâu hơn về hiện thực hằng ngày, đời sống cá nhân mà ở đó các nhà văn
đã dám nhìn thẳng, dám nhìn thật vào cuộc sống thời bình với những mảnh
v , những bi kịch của cuộc sống nhiều đổi thay Từ đó mổ xẻ và phơi bày một cách rõ nét qua cái nhìn đầy khách quan và đa chiều
Tiểu thuyết thời Đổi mới thể hiện một lối tư duy đa chiều về con người,
về số phận cá nhân Con người trong trạng thái động, tính cách phong phú, được miêu tả trên nhiều phương diện, nhiều cung bậc.Trong quan niệm mới
về thể loại, những số phận, những tâm lý cá nhân được đi sâu khai thác triệt
để cả đến những mảng tâm tư Lối viết mới đề cao yếu tố cảm nhận, sáng tạo
Trang 14cá nhân tạo dựng những tính cách đa dạng theo chiều sâu Một thế hệ nhân vật mới trong tiểu thuyết đương đại tính cách đa dạng hơn trước, bản thể tâm linh
và tính dục được miêu tả đầy đặn không còn rụt rè hoặc khô cứng Con người được nhìn nhận trong mối quan hệ với môi trường nhỏ xung quanh và hoàn cảnh riêng của nó, cái được nhà văn nhấn mạnh là tính cách, số phận cá nhân
Tác phẩm Ăn mày dĩ vãng là một tiểu thuyết về đề tài chiến tranh
nhưng nó phô bày hết mọi mặt của cuộc sống từ cuộc chiến đẫm máu đến tình yêu đầy lãng mạn thời chiến khốc liệt rồi đến ngay cả những nghịch lí, mặt trái của cuộc sống sau chiến tranh Tất cả số phận của mỗi con người đều được đi sâu miêu tả, thể hiện Sau khi chiến tranh kết thúc, thời cuộc thay đổi, con người cũng thay đổi Mỗi người lính về từ mặt trận dù nguyên ven hay mất di một phần của cơ thể thì họ cũng là những nhân chứng sống xác thực cho một cuộc chiến mang tính lịch sử Với Chu Lai tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh là những mảnh ghép của cuộc chiến đầy đau thương nhưng cũng đầy cao đẹp Những con người trong cuộc chiến bước ra ngoài đời thực không tránh khỏi những ng ngàng, thiếu sự thích nghi và do đó gặp nhiều bi kịch Trong cuộc chiến đấu, họ không màng đến tính mạng của mình, tất cả chỉ vì độc lập của dân tộc Ấy vậy mà họ lại có thể trở thành những kẻ đục nước thả câu trong thời bình
Có thể coi Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu là bước đột phá của tiểu
thuyết Đổi mới Nó có ý nghĩa như là một sự mở đầu mới Tiểu thuyết của Lê Lựu thấm đượm nhiệt hứng nhận thức lại thực tại về sau trở thành một khuynh hướng quan trọng của văn học đương đại, được viết theo tinh thần của
“cái bi kịch” Giang Minh Sài là một nhân vật bi kịch, bi kịch của sự ngộ nhận, đánh mất bản ngã Bi kịch của kẻ nô lệ sống theo sự dẫn dắt của người khác Thời xa vắng là một tiểu thuyết tiêu biểu trong đời viết văn của nhà văn
Lê Lựu Tác phẩm ôm chứa một dung lượng lớn chặng đường lịch sử 30 năm
Trang 15oai hùng của dân tộc, từ buổi lập nước đến lúc giải phóng toàn bộ đất nước, lịch sử được khái quát bằng tiểu thuyết thông qua số phận của anh nông dân Giang Minh Sài: học giỏi, là niềm hy vọng, tự hào của cả gia đình và dòng họ Nhưng cũng chính niềm tự hào đó đã đặt lên vai cậu bé Sài một thứ áp lực vô hình, lúc nào cũng phải học phải làm theo những điều mà mọi người xung quanh cho là "tốt nhất" Lấy vợ cũng phải do cha mẹ chọn, ngủ với vợ cũng vì
để tránh cái án kỷ luật làm ô nhục danh tiếng gia đình Là một người lính với vẻ ngoài thô mộc, khô khan nhưng thục chất bên trong con người Sài lại
là một người đang vùng vẫy với niềm khao khát được yêu, được sống với cảm xúc thực sự của mình Hơn nữa tác phẩm còn có nhiều tầng nhiều lớp với
nhưng trăn trở rất đáng suy ngẫm của tác giả Thời xa vắng là câu chuyện về
bi kịch của Giang Minh Sài Động cơ đi chiến đấu của Sài không chỉ là khát vọng lập chiến công, giành độc lập, tự do cho đất nước (như người anh hùng trước 1975) mà còn là chạy trốn bi kịch của mình, chạy trốn người vợ mà anh
không thể đội trời chung (đây gần như là nguyên nhân chính) Rõ ràng, cách
nhìn nhận, đánh giá nhân vật của Lê Lựu đã khác Ở nhân vật Giang Minh Sài, trong cái chung đã có cái riêng Tuy nhiên, cái riêng luôn bị lấn át, luôn
bị cái chung vô hình đè bẹp Do đó, cả cuộc đời Sài sống trong bi kịch: luôn sống hộ người khác Nhìn thẳng vào những sai lầm, ấu trĩ, những định kiến
hẹp hòi đã trói buộc con người, Thời xa vắng là một tiếng nói mạnh mẽ, bộc
trực và đáng quý về khát vọng hạnh phúc cá nhân
Nỗi buồn chiến tranh viết về cuộc đời một chiến binh với những hồi
khứ đứt đoạn hay liên tục, là ánh hồi quang chiếu xuống những đoạn đời Là khúc thương ca, tâm ca, tình ca thơ mộng, tuyệt diệu và tuyệt vọng, hãi hùng
và bi thảm; quyến luyện thực tại và ảo giác, cuộc sống và cõi chết, quá khứ và
vị lai Trong những tiểu thuyết viết về cuộc chiến 20 năm, phát xuất từ những nhân chứng phía Nam hay phía Bắc, đây là tác phẩm xâu sa, đớn đau, tàn
Trang 16khốc, bi quan và cũng lạc quan hơn cả Truyện viết về đời Kiên, người bộ đội thuộc cánh quân trinh sát, trong mười năm chiến tranh và mười năm hòa bình Kiên xuất thân từ một gia đình trí thức tiểu tư sản miền Bắc Cha là họa sĩ, một họa sĩ phạm "tội đồ", bị chối bỏ, người ta phê phán tranh ông thể hiện
những chân dung ma quỷ Người họa sĩ đó, lạc loài giữa xã hội người, đành hội nhập vào xã hội không người, xã hội yêu ma "siêu thực" của những nhân
vật bi thảm trong tranh, đắm chìm trong thế giới ảo giác và sau cùng, đã tiêu hủy toàn bộ sáng tác trước khi từ giã cõi đời, để được cùng những đứa con tinh thần của mình bước sang cõi khác
Từ tiểu thuyết của Dương Hướng, những Nguyễn Vạn, những Nghĩa…
đã bước lên màn ảnh với đủ cơ cực, đắng cay của số phận người lính bước ra cuộc chiến Họ cô độc trên chính mảnh đất, với chính những con người họ đã
từng đổ máu để bảo vệ Vì những hủ tục, những lề thói đã tồn tại cả trăm năm
ấy, Nguyễn Vạn không dám sống thật với mình Ý thức mãnh liệt nhất trong anh là… “giữ gìn hình ảnh” Anh không thể vượt qua dư luận để… yêu, để được sống như một người bình thường với mưu cầu bình thường nhất về hạnh phúc Nguyễn Vạn sống trong sự kìm nén bất hạnh Anh không dám đến với chị Nhân dù bản năng thôi thúc Chị Nhân cũng không thể đến với Nguyễn Vạn, chị không thể đến với bất kỳ ai, lý do chỉ vì… chị là vợ liệt sỹ Chồng
hy sinh khi chị Nhân còn quá trẻ Chị ở vậy thờ chồng, nuôi con Chỉ một lần nghĩ về Nguyễn Vạn, chị Nhân đã day dứt không thôi, chị sẽ sống ra sao nếu xóm làng biết chuyện? Đã có thời như thế, những lề thói cổ hủ nghiệt ngã giết chết những mưu cầu hạnh phúc giản đơn nhất của con người Song song với cuộc đời của Nguyễn Vạn là tình yêu bất hạnh của Nghĩa và Hạnh Cuộc chiến đã cướp đi những người đàn ông khỏe mạnh, cường tráng của làng quê Chỉ để lại sau lũy tre những người đàn bà mòn mỏi vì chờ đợi Chỉ để lại trên bến nước mỗi chiều những người phụ nữ, già có, trẻ có, ngồi bên nhau lặng
Trang 17thinh… Cuộc chiến đã cướp Nghĩa ra khỏi tay Hạnh Cuộc chiến để lại những cuộc tình duyên cay đắng cho những thiếu nữ xinh đẹp như Cúc, như Thắm… Một đứa con thụ thai vội vã Một lễ cưới vá víu với người đàn ông bị tâm thần Hay, một anh chàng thợ ảnh hèn hạ, sở khanh, bỗng trở nên đắt giá ở làng quê… Những số phận ấy đã góp thêm sự thê lương, buồn thảm cho bức
tranh ở Bến không chồng thời hậu chiến
Khám phá đời sống muôn màu, muôn vẻ trong cái hàng ngày, trong quan hệ thế sự - đời tư, tiểu thuyết thời kì Đổi mới đã tạo nên sức thuyết phục với độc giả Những biến cố, sự kiện không còn là trung tâm chú ý mà chỉ là đường viền cho số phận nhân vật Những câu chuyện hàng ngày, những cảnh ngộ bình thường, những quan hệ nhân sinh phức tạp, rối rắm, những khát khao tự nhiên và bản năng nhất của con người… đều được soi chiếu trên trang viết Từ đó, nhà văn tìm đến, chắt chiu từng vẻ đẹp tâm hồn con người, hướng con người tới cái đẹp, cái thiện Viết về cái hàng ngày, về con người như nó
đã và đang tồn tại, tiểu thuyết đã trở thành những mảng hiện thực sinh động, giàu sức sống dù là viết về việc đan xen giữa chiến tranh và thời bình Hướng
về các vấn đề thế sự - đời tư, tiểu thuyết thể hiện sự phong phú, đa dạng trong các phạm trù thẩm mĩ (cái cao cả/ thấp hèn, cái hài/ cái bi, cái xấu/ cái đẹp, cái thiện/ cái ác ) sự đa dạng trong mô típ, chủ đề (mô típ chủ đề thiện/ ác, chủ đề sám hối, tự thú, mô típ cô đơn
Đáp ứng yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật của vấn đề, nhiều nhà văn đã nhìn lại hiện thực đã qua và phơi bày nhiều mặt trái còn bị khuất lấp, lên án những con người lỗi thời nhưng luôn lấy hình thức để che đậy và cản trở sự phát triển của cái mới Chiến tranh là đề tài không mới nhưng cũng được nhìn nhận lại một cách thỏa đáng Bởi lẽ nó có sự tác động vô cùng lớn đối với tính cách và số phận con người Những bi kịch những nỗi buồn triền miên với bao
nỗi éo le, bi kịch lại hiện diện (Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh) Hay sự
Trang 18khủng hoảng của xã hội khi mà những giá trị thay đổi, lối sống được đem ra
để mổ xẻ Những bức tranh hiện thực được phơi bày với gam màu tối sáng trộn lẫn nhau với bao điều xót xa và những bức bối, nhức nhối mà tác giả gửi gắm vào tác phẩm Tất cả những điều đó như muốn thức tỉnh người đọc nói riêng và con người nói chung để có thể vượt qua một giai đoạn khó khăn đầy biến động và phức tạp
Tiếp tục hướng tiếp cận cuộc sống, xã hội trên bình diện thế sự, đời tư
đã được mở ra ở nhiều nhà văn khi đã thể hiện thành công mọi góc khuất, khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự đan xen, chồng chéo nhau để tạo nên một cuộc sống đời thường nhưng đầy phức tạp và biến động
1.1.2 Gia tăng tính triết luận
Văn học viết về đề tài chiến tranh từ sau Đổi mới đặc biệt là tiểu thuyết thì những vấn đề về triết lí cuộc đời, quy luật cuộc sống được gia tăng mới mức độ và tần suất ngày càng nhiều Điều đó đòi hỏi sự suy ngẫm và trải nghiệm của chính nhà văn và độc giả Bởi thế đề tài chiến tranh chưa bao giờ
là cũ, nó vẫn là đề tài chiến tranh nhưng với cách nhìn nhận và đánh giá dưới góc nhìn khác
Trước thực tại còn ngổn ngang bề bộn, trước hiện thực cuộc sống còn nhiều phức tạp, đa đoan, khi con người ý thức sâu sắc về bản thân và nhà văn
ý thức về cá tính sáng tạo thì chiêm nghiệm, triết lý là nhu cầu không thể thiếu của tiểu thuyết giai đoạn này Cảm hứng triết luận chính là chiều sâu của
văn học “Cảm hứng triết luận là cái nhìn mang tính triết lý, thể hiện bằng nhiệt tình tranh biện, bàn luận của nhà văn về những vấn đề nhân sinh, xã hội nhằm hướng tới các quy luật phổ quát” [64]
Cảm hứng triết luận trở nên đậm đặc trong tiểu thuyết sau 1975 bởi sự vận động của lịch sử, văn học; bởi nhu cầu đổi mới và không khí dân chủ của văn học Sau 1975, nhiều tác phẩm được viết theo kiểu luận đề với các nhân
Trang 19vật tư tưởng, để truyền tải một thông điệp nào đó Có thể là những trăn trở của nhà văn về cuộc đời Đó là mối quan hệ giữa con người với con người, giữa
cá nhân và xã hội, mối quan hệ trong chính bản thân con người: mâu thuẫn giữa lý tưởng và hiện tại, giữa danh và thực,… hay triết luận về nghệ thuật như mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, lý tưởng và nghệ thuật, nhà văn
và cuộc sống… Nhà văn dùng ngôn ngữ, hình tượng để gửi gắm triết luận của mình Những triết luận ấy làm nên chiều sâu của tác phẩm văn học, làm nên chất văn chương nghệ thuật của văn học đích thực, làm cho người đọc tự soi ngắm mình trong các nhân vật văn học
Nhà văn chính luận, triết luận bằng hình tượng nhân vật Trong văn xuôi thời kỳ hậu chiến, nhân vật thường là những con người suy tư, hay triết
lý Nhân vật của Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Minh Châu,
Ma Văn Kháng, đều là những con người nặng ưu tư, thích khái quát triết
lý, biện luận Kiểu nhân vật trí thức, nghệ sĩ xuất hiện khá nhiều trong văn xuôi 1975-1985
Tính chính luận đã trở thành một nét phong cách nghệ thuật của nhà
văn Nguyễn Khải “Nguyễn Khải không có ý định làm người đọc đắm chìm trong cảm xúc, mê muội đi về tình cảm mà chú ý đánh thức trí tuệ của họ”
[50, 89] Với cách viết hiện thực tỉnh táo, tác phẩm Nguyễn Khải hấp dẫn người đọc bởi sức thuyết phục của lý lẽ Tác phẩm của Nguyễn Khải phản ánh những cuộc xung đột gay gắt, nảy lửa giữa tôn giáo và đội lốt tôn giáo, giữa các kiểu tư duy khác nhau của các thế hệ, giữa các cá nhân trong quan hệ gia đình, giữa con người và xã hội Nếu trước 1975, chất chính luận ấy gắn liền với những vấn đề chính trị thời sự, với lối hô hào có phần khẩu hiệu, phải
có “Tầm nhìn xa”, “Hãy đi xa hơn nữa”… thì sau 1975, chất chính luận ấy
đã chuyển thành cảm hứng triết luận gắn với các vấn đề thế sự, nhuần nhuyễn
hơn, đằm thắm và sâu sắc hơn Gặp gỡ cuối năm là triết luận về “mối tương
Trang 20quan giữa sức mạnh của tất yếu và sự lựa chọn” [50, 333], hành động thừa
nhận của nhân vật thủ cựu - bà Hoàng là sự khẳng định, bênh vực mạnh mẽ
cuộc đời mới; Thời gian của người là triết luận “về thời gian, con người và lịch sử” [52, 354], về cách sống Trong tiểu thuyết Nguyễn Khải xuất hiện
kiểu người kể chuyện “triết gia”, dẫu ở vai nào cũng là những người thích nói
lý, thích đối thoại Giọng kể của kiểu người kể chuyện này có khuynh hướng tranh biện là tự tranh biện hoặc tổ chức tranh biện, đúc kết vấn đề theo quan điểm cá nhân
Như vậy khuynh hướng triết luận, giọng điệu triết lý cũng trở thành một đặc điểm nổi bật, một giọng chủ với nhiều sắc thái, cung bậc trong tiểu thuyết của các nhà văn sau này
1.1.3 Áp dụng thước đo nhân bản để đánh giá con người và sự kiện
Điều nổi bật trước tiên trong các tác phẩm theo khuynh hướng mới là sự
đổi thay đáng kể về cách nhìn thế giới và con người Hiện thực có nhiều thay
đổi đa dạng và cũng phức tạp hơn, con mắt nhìn của nhà văn cũng không giữ nguyên nếp cũ, thay bằng lối cảm nhận biện chứng mới về sự đổi thay của những trật tự, sự đảo lộn các thang bảng giá trị đời sống, cả sự khủng hoảng niềm tin và tình trạng bất an của con người trước những thay đổi lớn của thời
đại Một nhân vật trong tác phẩm của một tác giả trẻ đã thổ lộ: “Vài trăm năm sau, khi con cháu chúng ta nhìn lại cái thời đại này ch ng biết chúng nó s cười hay khóc hay cả hai” (Phan An - Qu n quanh trong tổ) Các tác giả với tư
cách chủ thể sáng tạo, thấu triệt một cách nhìn thế giới đầy tính khám phá, thế giới không phải nhất thể về bản chất và hiện tượng, luôn phát triển theo chiều thuận, mà thế giới chứa nhiều nghịch lý, nhiều mâu thuẫn, xung đột, trong đó
con người không là một hiện hữu “lập trình s n” Con người đương đại nhận
thức thế giới cũng không phải bằng cách sao chụp đơn giản và đồng nhất Mỗi người có thể chiêm nghiệm thế giới ở nhiều cấp độ khác nhau, có thể bị chi
Trang 21phối cùng lúc bởi nhiều hệ quy chiếu khác nhau Với từng hệ quy chiếu con người có một bản thể riêng Hay nói một cách khác con người đương đại “đa nhân cách” vì bản thể chỉ xác định trong từng hoàn cảnh liên quan
n chứa một quan niệm triết - mỹ như vậy, chúng ta có thể tìm ra nhiều
dẫn chứng về các m u nhân vật tương quan ở các tiểu thuyết của Nguyễn Huy
Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Ngọc Tư, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Quang Thân, Trần Thuỳ Mai, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Sương Nguyệt Minh Cuộc sống luôn chứa đựng những mầm mống của sự phân hoá, các tác giả không loại trừ những nhân vật tội lỗi, tha hoá, những “cái ác”, bên cạnh, những nhân vật chính diện tích cực thời kỳ này cũng không phải vắng bóng nhưng ít thành công như thời kỳ trước, đa phần thành công là những nhân vật tuy sống trong một bối cảnh khắc nghiệt, cam
go, những số phận có thể là nạn nhân nhưng không đánh mất bản ngã Một
nhân vật trong tiểu thuyết Trăng vỡ (Đức Ban) đã thốt lên: Bom đạn thằng M
nó khủng khiếp nó làm cho con người thương tật đui qu , thấy r ràng Đằng này người ta làm cho anh bị thương nhưng không thấy người ta đâu Những
vết thương tinh thần không thấy rõ đối phương, con người trăn trở vật vã để vượt qua, trước hết để vượt qua mình Con người không thuần nhất, đầy tâm
trạng trong cuộc vận động mưu sinh để sống chứ không chỉ tồn tại, hoàn cảnh sống khắc nghiệt, cạm bẫy rình rập, đời sống của họ - một đồ thị hình sin cách
quãng, vấp ngã, chao đảo, phân ly, nhưng ánh sáng thiên lương vẫn không hề
bị dập tắt, dẫu “trầy trật” trên mỗi bước đi, luôn “tự vấn” hướng về chân lý và điều thiện Về phía ngược sáng, xuất hiện các nhân vật phản diện trong quá khứ, những kẻ ở thế giới đối lập, được thể hiện trong một cảm quan đầy tính nhân văn: là kẻ địch, kẻ xấu nhưng xấu trong cái bản thể “người” chứ không hoàn toàn thuộc thế giới “vô nhân tính”, với cộng đồng không đứt hẳn có thể hoàn lương trong một hoàn cảnh sống mới
Trang 22Chỉ có cái nhìn nhân bản mới giúp chúng ta thấu hiểu và đánh giá một cách khách quan về nhân vật và sự kiện trong tác phẩm, bởi lẽ ở mỗi con người đều có mặt tốt và mặt xấu, những điều xảy ra xung quanh ta chưa chắc
đã trùng khớp với những gì ta thấy Bởi vậy cuộc sống muôn màu, muôn vẻ
và chỉ có cái nhìn tỉnh táo mang tính nhân văn sâu sắc mới có thể cảm thông
và chia sẻ được điều đó Chú ý đến đời tư, đào sâu vào thế giới tâm hồn con người với những vấn đề đạo đức nhân cách, tiểu thuyết thời kì đổi mới đã thể hiện thiên chức của văn học: hướng con người tới chân, thiện, mĩ Cảm hứng đạo đức đôi khi còn bộc lộ khá rõ, việc miêu tả tính cách, nội tâm nhân vật, con người chưa được khai thác ở những chiều sâu thể hiện con người đạo đức
là một sáng tạo nghệ thuật đáng ghi nhận trong văn học
Khuynh hướng thế sự - đời tư xuất hiện chủ yếu trong văn học từ đầu thập kỉ tám mươi, khi các vấn đề của đời sống hàng ngày và vấn đề đạo đức, nhân cách con người trở thành đối tượng khám phá chính của văn học Nhu cầu nhận thức mới xuất hiện, mọi vấn đề trong quá khứ, những bất cập của hiện tại đều được nhìn nhận bằng cảm hứng nghiên cứu, phân tích Con người được soi ngắm bằng thước đo nhân bản trong quá trình vươn tới và hoàn thiện nhân cách
1.2 Đề cập vấn đề bản năng sống của con người - một nỗ lực thế tục hóa đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết sau Đổi mới
1.2.1 Một số giới thuyết
Thông thường người ta vẫn cho rằng bản năng là mặt xấu, thuần “động vật”, phần “con” trong con người vì thế nó ít được đề cập tới, thậm chí khi đưa vào sáng tác văn học còn bị phê phán
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: bản năng con người là khả năng vốn có
do bẩm sinh, chứ không phải do kinh nghiệm, luyện tập Như vậy bản năng là yếu tố thuộc mặt tự nhiên của con người Nó tồn tại bên trong con người nên
Trang 23văn học phủ nhận nó là trái với tự nhiên Đã một thời gian dài, văn học Việt Nam dồn hết bút lực tô đậm vẻ thánh thiện cho con người mà quên đi rằng trong mỗi người luôn tồn tại hai mặt song song: vô thức thuộc về bản năng và
ý thức thuộc về xã hội
Nếu trước đây đời sống bản năng chưa được nhìn nhận, xem xét và phản ánh thấu đáo thì cuối thể kỷ XX cùng với sự khẳng định chỗ đứng của Phân tâm học, Thuyết trực giác, và phong trào triết học Hiện sinh ở phương Tây thì vấn đề bản năng, vô thức của con người được nhìn nhận như một chủ
đề nghiêm túc Người ta cho rằng đời sống bản năng, vô thức của con người
là có thật, không những thế mà còn chi phối mạnh mẽ đến nhiều hành động, suy nghĩ, khát vọng, ước mơ của con người Bởi vậy, văn học đương đại đã bắt đầu chú ý và đi vào khai thác đời sống bản năng, vô thức, qua đó mà khám phá đời sống tâm linh, đời sống tinh thần của con người
Theo Phân tâm học, từ tuổi thiếu niên đến tuổi trưởng thành, dục năng được thể hiện qua tính dục khác giới Khi hai cơ thể khác giới có sự tiếp xúc
về mặt thân xác, có thể tạo ra những khoái cảm nhất định Đó chính là cái bản năng tính dục của con người
Như vậy con người bản năng trở thành thứ ngôn ngữ, một chìa khoá giúp nhiều tác giả đi sâu vào ngõ ngách, vào khu rừng bí hiểm nhất của con người - thế giới tâm linh và vô thức Một thế giới vô cùng quan trọng trong đời sống con người Đôi khi chúng ta ngại nói đến nó vì nó mà con người không thánh thiện, vì nó mà mất vẻ uy nghi, đường hoàng Nhưng không có
nó chưa phải là một con người thực sự
1.2.2 Sự vượt qua những rào cản, cấm kỵ
Trước năm 1975, hiện thực chiến tranh mang đến cho văn học một diện mạo riêng, với vai trò và sứ mạng riêng Trong dòng chảy của văn học cách mạng, con người quên đi chính mình để tìm đến những cái lớn lao, cao đẹp
Trang 24Những khát khao thầm kín bị đè nén bởi lẽ giây phút giành giật giữa sự sống
và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc thì họ phải vứt bỏ tất cả để đến với một cái gì thật cách mạng Ngay cả tình yêu đôi lứa cũng gắn liền với tình yêu nước thiêng liêng Thời chiến người ta ngại nói về mình Họ muốn hóa thân vào những điều lớn lao, vĩ đại, muốn làm tất cả, thậm chí là hiến dân mình cho đất nước Tình yêu có thể bắt nguồn từ niềm tin, lí tưởng, từ lẽ sống, có khi chỉ là tin tưởng nhau, ngư ng mộ nhau Như vậy tình yêu thời chiến phải gắn liền với lí tưởng Con người bản năng hầu như vắng bóng Họ chưa bao giờ sống cho mình, nghĩ cho mình mà là cho cái chung của đất nước Và như
vậy sống là cho đã trở thành một nguyên tắc sống của thời chiến Lẽ dĩ nhiên
văn học giai đoạn lúc bấy giờ cũng tránh và không bao giờ nói đến như cầu cá nhân hay bản năng sinh tồn trong chiến tranh
Minh chứng cho điều đó là tác phẩm Hòn Đất của Anh Đức Chuyện
xảy ra vào đầu năm 1961 tại Hòn Đất Đội du kích xã ở nơi đây đã rút lui vào hang Hòn trong một trận chống càn quyết liệt Đội có tất cả 17 người với vũ khí thô sơ Mặc dù đối phương đông gắp nhiều lần, được trang bị đầy đủ, vũ khí hiện đại và dùng nhiều giải pháp, như: bỏ thuốc độc vào nước suối, chặn mọi đường tiếp tế, dùng thuốc nổ phá hang, hun khói vào hang nhưng đội
du kích kiên trì chống trả nhiều lần và kiên cường sống chết ở nơi đó Trong cuộc chiến đấu gay go, chênh lệch này, trong đội du kích nổi bật có Hai Thép
- người chỉ huy - sáng suốt, giàu nghị lực Ngạn, một chiến sĩ dũng cảm, thông minh Ba Rèn, người nông dân chất phác, trung kiên Quyên, cô du kích trẻ đẹp người, đẹp nết Vượt trội hơn cả là chị Sứ, một nữ du kích có nhiều đức tính cao quý, như: đằm thắm, bất khuất, ngoan ngoãn Cuối cùng, chi Sứ
hy sinh vì sự sống của đồng đội và vì lý tưởng mà chị nguyện suốt đời đeo đuổi Là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của nền văn học chống Mỹ, ở vùng giải
phóng miền Nam, tác phẩm Hòn Đất đã phản ảnh kịp thời hiện thực cách
Trang 25mạng miền Nam trong giai đoạn chiến tranh đặc biệt Tác giả vừa nêu được những phẩm chất tiêu biểu của người chiến sĩ giải phóng miền Nam, vừa mô
tả được tính cách của con người Nam Bộ: nghĩa khí, bộc trực, nhân ái Ngoài
ra, tác giả cũng rất chú trọng mô tả chiều sâu nội tâm của nhân vật: tâm trạng
bi kịch của bà Cà Sợi, sự thức tỉnh của hạ sĩ Cơ, nỗi quặn đau cùng lòng tự hào của má Sáu, sự hoang mang của thiếu tá Sằng sau khi đã trổ hết mưu kế… Đặc biệt, tác giả đã dành nhiều công sức, tình cảm để đi sâu, làm rõ vẻ đẹp tâm hồn của chị Sứ: thương mẹ, yêu chồng con, luôn lo lắng đến đồng chí, đồng bào ngay cả khi cận kề cái chết
Con người bản năng phải ẩn nấp sau một cuộc chiến tranh vĩ đại, những khao khát bản năng không có lí do để tồn tại trong giai đoạn văn học trước
1975 thì đến sau 1975 mọi cảm xúc, mọi ẩn ức như được giải tỏa và tuôn trào một cách tự nhiên Đặc biệt từ sau 1986, yếu tố tự nhiên và bản thể con người được các nhà văn tìm tòi, đào sâu và khắc họa rõ nét như một nhu cầu tất yếu của quy luật cuộc sống, quy luật văn học Bởi lẽ đôi lúc con người phải đè nén, cố giấu mình nhưng đến một lúc nào đó thì bản năng con người trỗi dậy
có thể vứt bỏ tất cả để hành động theo bản năng Con người xã hội, con người được nhà văn tập trung phản ánh thì bên cạnh đó tình yêu và tình dục lại trở thành đề tài không thể không nhắc đến khi nói về bàn năng con người Như vậy những rào cản, những điều cấm kị trong giai đoạn văn học trước đã được phá v hay nói đúng hơn là sự vượt qua một cách nhanh chóng tạo một tiền
đề mới trong sáng tạo văn học Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai hay Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là những quyển tiểu thuyết về đề tài chiến tranh
nhưng cũng mang đến một làn gió mới khi khám phá những con người trong chiến tranh với những bản năng sống với những khát khao vô cùng đời thường Những con người được khai thác đến tận cùng những nỗi đau, những mất mát và cả những tha hóa
Trang 26Khi con người biết quan tâm đến mình nghĩa là bản năng con người vẫn đang tồn tại và tất nhiên sự tồn tại của con người bản năng trong văn học càng không thể thiếu Nó dường như trở thành đề tài và khát vọng sống Người đọc
có thể tìm thấy ở đó những khát khao chính đáng, những giá trị cao đẹp nhưng cũng có thể là những tha hóa của đời sống với nỗi niềm đồng cảm, trân trọng và cũng có thể là phê phán Con người quả là ngày càng phức tạp, đa dạng, đa chiều
1.2.3 Những thành công và hạn chế
Như ta đã từng chứng kiến, chiến tranh ở bất kỳ dân tộc nào khi đi qua,
nó hiển nhiên trở thành kho tư liệu và ký ức tâm hồn của dân tộc ấy Vì vậy,
nó có sức sống vĩnh cửu trong nhân dân bằng việc các nhà văn tái hiện nó trong tác phẩm với cái nhìn của người trong cuộc, bằng mệnh lệnh của trái tim và sự thôi thúc viết lên sự thật tối đa của ngòi bút Sự thật chiến tranh và con người trong chiến tranh lại có dịp được đánh thức mọi tiềm lực bằng cái nhìn khách quan, nhân bản với độ lùi cần và đủ của nhà văn trong thời bình Văn học về chiến tranh sau chiến tranh ở Việt Nam nhanh chóng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và con người bằng một quan niệm thống nhất nhưng đa dạång, có bổ sung những mặt còn bỏ ngỏ mà một thời binh lửa, chúng chưa được thể hiện, vì cần phải như thế
Điểm lại quá trình phát triển của tiểu thuyết ta sẽ dễ dàng thấy được những thành công nhất định trong tiểu thuyết viết về chiến tranh từ sau 1975 đến thời kì Đổi mới Sau 1975, tiểu thuyết với sức mạnh của nó đã trở thành thể loại lớn trong đời sống văn học Vẫn nối tiếp mạch cảm hứng sử thi, tiểu thuyết viết về chiến tranh chiếm một mảng khá lớn Tuy nhiên, ở những phác thảo đầu tiên ấy đã sớm có những dấu hiệu đổi mới thể loại Với ý thức khắc phục cái nhìn lý tưởng hóa về con người, với sự quan tâm diễn biến tâm lý cá nhân, tiểu thuyết chiến tranh của Nguyễn Minh Châu, Khuất Quang Thụy,
Trang 27Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Trí Huân… đã dần đưa tiểu thuyết về với đặc trưng thể loại của nó: cái nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư Viết về chiến tranh
từ nhiều điểm nhìn (người trong cuộc, người ngoài cuộc…) các tác giả đã có
sự suy ngẫm, nhận xét, lý giải nhiều chiều về quá khứ Điều quan trọng là nhìn chiến tranh từ góc độ đời tư, tiểu thuyết viết về đề tài này đã lấy con người làm tâm điểm, mọi sự kiện, biến cố đều xoay quanh tâm điểm là số phận con người Tuy nhiên, ở những tiểu thuyết đầu tiên này, chất sử thi vẫn khá rõ, do đó, đa số tiểu thuyết đều nặng tính tư liệu, sự kiện, nhiều tác phẩm giống như những ghi chép, nặng về phương diện cái được phản ánh, chất lượng tiểu thuyết chưa cao
Nửa đầu những năm tám mươi, tiểu thuyết gia tăng chất thế sự, đời tư ở tinh thần phân tích hiện thực Đặt con người trong các mối quan hệ đời thường, nghiêng về cảm hứng phê phán và tinh thần đối thoại… là những dấu hiệu đầu tiên của ý thức đổi mới thể loại Những đổi mới này của tiểu thuyết
đã đưa thể loại gần hơn với hiện thực cuộc sống phức tạp Vẫn là khả năng phản ánh nhiều cuộc đời, nhiều tính cách, song các cuộc đời, tính cách ấy được khai thác ở bình diện con người cá nhân chứ không phải con người cộng
đồng Thời xa vắng của Lê Lựu với “sự khái quát nghệ thuật về một thời quá khứ thông qua số phận đời tư” (Bích Thu), với “câu hỏi nhân văn căng
th ng: tại sao con người đánh mất mình?” (Nguyễn Thị Bình) đã mở đầu cho
thời điểm nở rộ của tiểu thuyết sau 1986 Có thể nói, so với tiểu thuyết
1945-1975, tiểu thuyết thời kỳ mới đã có bước phát triển mới: nhìn con người sâu hơn, toàn diện hơn
Từ những nhận thức đúng đắn và đa diện ấy, văn xuôi hiện đại Việt Nam thời kì Đổi mới, đặc biệt là ở địa hạt tiểu thuyết đã xuất hiện những thành tựu rực r , xuất sắc khai thác đề tài chiến tranh thời kì hậu chiến bằng cái nhìn góc cạnh hơn Vẫn coi trọng mục đích phản ánh cuộc kháng chiến vĩ
Trang 28đại, khẳng định chính nghĩa, khẳng định phẩm giá dân tộc, nhưng sau thời kì Đổi mới, nhà văn nhấn mạnh hơn vào yêu cầu “chân thực” Không bằng lòng với cái hiện thực được lí tưởng hóa một chiều, họ xác định “không chỉ nói đến thắng lợi mà còn cần nói đến tổn thất, hi sinh, không chỉ nói đến niềm vui mà
còn nói đến nỗi đau khổ do quân thù gây nên” (Nguyễn Đình Tiên, Viết về chiến tranh sau chiến tranh) Đó là các tiểu thuyết như Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Thời xa vắng của Lê Lựu, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, và đặc biệt là tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Các tác phẩm đã góp
phần soi chiếu lại hiện thực quá khứ, hiện thực chiến tranh với tất cả các mặt phong phú và đa chiều của nó Hiện thực chiến tranh và số phận của nhân vật được ngòi bút tác giả trình bày một cách chân thực và gân guốc nhất
Theo cách nói của Lại Nguyên Ân: “Chỉ bằng việc thường xuyên nhắc nhớ, ôn tập, phân tích nguồn cơn, tính đếm thiệt hại… mới là phương cách tốt nhất, chẳng những làm nguôi chấn thương mà còn đề phòng khả năng lập lại những tai họa tương tự cho cộng đồng [4] Đó cũng được coi là một trong những thành công của tiểu thuyết
Nói đến cả một giai đoạn dài tiểu thuyết chiến tranh vẫn là một món ăn tinh thần không thể thiếu trong sự phát triển của văn học Đội ngũ sáng tác không ngừng mở rộng phạm vi phản ánh, thay đổi kết cấu, quan niệm nghệ thuật tuy nhiên không phải là không có những hạn chế nhất định của nó Có thể thấy đứng trước sự phát triển của văn học, của xã hội đặc biệt là một cuộc sống nhộn nhịp, hiện đại thì đề tài về chiến tranh có còn thu hút được độc giả hay không Những sáng tác ấy có phải là hoài niệm quá khứ khôn nguôi hay không Một sự thật rất dễ nhìn thấy dù ở lĩnh vực nào cũng vậy, đi đôi với sự phát triển thành công rực r thì cũng là lúc nó có nguy cơ thoái trào nhất, văn học cũng không ngoại lệ Tuy nhiên để vượt qua những điều đó đòi hỏi sự sáng tạo nghệ thuật của người cẩm bút để thể loại và đề tài ấy vẫn nằm trong
Trang 29dòng phát triển của văn học và mang hơi thở mới cho độc giả là cũ mà không
cũ Và Miền hoang của Sương Nguyệt Minh là cuốn tiểu thuyết về chiến tranh
trong số đó vẫn thành công
Nhà văn cựu chiến binh Nguyễn Văn Thọ bày tỏ nhiệt tình đánh giá cao
sự khốc liệt, dữ dội và nỗi ám ảnh về cuộc chiến mà tác phẩm Miền hoang đã
lột tả thành công, đủ để người đọc cảm nhận được những trang tiểu thuyết này gần như được viết bằng máu của đồng đội và của chính tác giả Từ một góc nhìn khác, nhà nghiên cứu Mai Anh Tuấn, muốn nhân trường hợp này, bàn rộng ra về văn học chiến tranh, cho rằng những trải nghiệm trực tiếp của nhà văn là đáng quí, nhưng cũng cần ra khỏi ràng buộc của trải nghiệm chiến tranh để có được cái nhìn rộng và thực hơn về một cuộc chiến Và, đó sẽ là cách tiếp cận của thế hệ những nhà văn trưởng thành sau các cuộc chiến
1.3 Miền hoang - sự tiếp nối những thể nghiệm tích cực của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh sau Đổi mới
1.3.1 Sương Nguyệt Minh, từ trải nghiệm đời lính tình nguyện đến sáng tạo nghệ thuật
Nhà văn Sương Nguyệt Minh tên thật là Nguyễn Ngọc Sơn, quê ở Yên
Mỹ, Yên Mô, Ninh Bình Ông là nhà văn quân đội, đến với văn chương khá
muộn màng, năm 1992, lần đầu tiên có truyện ngắn đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội Trước khi đến với văn đàn, ông từng làm nhiều nghề sinh
nhai: từ buôn thuốc lá, trứng vịt, pháo; làm nghề khoan giếng, cho đến cắt dán phong bì Truyện ngắn đầu tay đăng báo chẳng êm xuôi, ban đầu như nhà văn
kể, bị không ít báo từ chối, đến khi được in, thì dính vào kiện tụng do câu chuyện kể bị gán giống với sự thật đang diễn ra của hai dòng họ tại quê hương nhà văn Dù trải qua những cảm xúc lo lắng ngoài ý muốn, nhưng điều đó không làm suy giảm đam mê viết Có lẽ, đã sa vào văn chương, thì tình sâu khó dứt, thế nên, sau 24 năm, nhà văn Sương Nguyệt Minh đã in 7 tập truyện
Trang 30ngắn và 2 bút ký - tạp văn Sau khi tập truyện ngắn Dị hương nhận được Giải
thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010, Sương Nguyệt Minh cho ra đời tiểu
thuyết đầu tay Miền hoang, như điểm mốc đánh dấu sự dấn thân không ngừng
nghỉ của nhà văn trên con đường đã xác định
Sương Nguyệt Minh hiện nay được đánh giá là một trong những nhà văn quân đội tiêu biểu Ông xuất hiện trên văn đàn vào khoảng những năm đầu thập niên chín mươi của thế kỉ XX, cho tới nay với sự đam mê và lao động nghệ thuật nghiêm túc, nhà văn đã cho ra đời nhiều tập truyện ngắn, rất nhiều bài bút ký, tùy bút định hình được một phong cách riêng vừa ổn định lại không ngừng đổi mới Với vốn sống phong phú của một người lính đã từng đi nhiều, đọc nhiều, trăn trở nhiều, cộng thêm một tấm lòng nhân hậu luôn hướng về cuộc đời và con người với cái nhìn trìu mến và lo lắng, các sáng tác của Sương Nguyệt Minh cho người đọc thấy được nhiều điều trong cuộc sống: những được mất, vui buồn trong chiến tranh hay khi đã hòa bình; những mặt sáng tối của đời sống nông thôn, thành thị; những góc khuất trong đời sống riêng tư con người Đọc văn của Sương Nguyệt Minh, người đọc được bước vào một thế giới nghệ thuật riêng, phong phú, đa chiều với một phong cách văn chương giản dị nhưng luôn không ngừng tìm tòi, đổi mới Có thể thấy các tác phẩm của Sương Nguyệt Minh vừa có cái trầm tĩnh, đôn hậu của một người lính cầm bút vừa có cái sắc sảo của một nhà văn tinh nhạy khi sống trong xã hội thời kinh tế thị trường đầy biến động
Sương Nguyệt Minh kể: “Sau 5 năm đi bộ đội và từ chiến trường trở về quê, một người mẹ có con cùng làng, cùng ngày nhập ngũ, cùng một đơn vị
đã ôm lấy tôi nức nở: “Lúc đi thì có anh có em, lúc về sao anh không rủ em về?” Người anh họ ra chiến trường cùng tôi, tối hôm trước còn ngủ với đồng đội trong hầm dã chiến ở bãi phù sa trồng bí ngô bên sông Tonlesap, sáng hôm sau không thấy Anh em bổ đi tìm, thấy anh nằm cách trận địa cao xạ
Trang 31khoảng 200m, bị đóng một cọc vào miệng, và bốn cọc vào bàn chân, bàn tay Mỗi dịp kỷ niệm ngày nhập ngũ, đồng đội gặp lại nhau, những câu chuyện như thế cùng với lớp lớp ký ức của bạn bè thức dậy Đồng đội tôi cứ thúc giục, và trách tôi không viết về những năm tháng đau đớn ấy Còn một điều nữa, tôi có cảm giác cuộc chiến này dường như đang bị lãng quên trong những mối lo toan cơm áo gạo tiền của cuộc sống đương đại gấp gáp Đành rằng chiến tranh đã qua, chúng ta phải sống với ngày hôm nay và tương lai, nhưng máu xương của bao người ra trận thì không thể lãng quên ”
Cảm hứng để viết cuốn tiểu thuyết “định mệnh” này, có lẽ bắt nguồn từ những ám ảnh ký ức của nhà văn, khi từng là “người lính lạc rừng lang thang đói khát, mặt quắt như ngón tay chéo ở những cánh rừng Campuchia” như chính tác giả chia sẻ Những mảnh vụn còn sót lại trong trí nhớ lúc hiển hiện, lúc mờ nhạt qua từng trang viết tạo nên một thế giới nội tâm đầy ẩn ức Trải nghiệm lạ thường trong dòng chảy cảm giác và cảm xúc được kể lại bằng chất văn mềm mại bình dị, pha cả trong sáng ngây thơ Bởi từng là người lính lạc đường ngơ ngẩn trong rừng xanh núi thẳm, đối mặt với đói khát đau đớn khôn
cùng về thể xác, nên tiểu thuyết Miền hoang của nhà văn Sương Nguyệt Minh
bộc lộ sự chân thực tưởng chừng có thể sờ thấy được Cũng chính vì thế, nhiều tình tiết miêu tả trong truyện, làm người đọc không khỏi gai người
Nhà văn Sương Nguyệt Minh cho biết ông đã ôm ấp ý tưởng về cuốn tiểu thuyết này từ những ngày còn ở chiến trường; và ông đã chuẩn bị viết
phần thứ hai của Miền hoang, gắng đi đến những tầng ký ức và suy nghĩ sâu
hơn, chân thật hơn nữa về chiến tranh, về tình đồng chí, đồng đội…
Sau khi hoàn thành, Sương Nguyệt Minh đưa tiểu thuyết đầu tay của mình dự Giải thưởng Tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2014 Ở
Miền hoang, tác giả nói về cuộc sống chiến tranh của những người lính về cả
hai phía địch - ta Tác giả đã có nhiều tìm tòi trong nghệ thuật biểu hiện tâm
Trang 32lý nhân vật, với con mắt tinh tế, khi soi sáng số phận và tính cách đối kháng của những nhân vật đầy phức tạp Họ sống trong một hoàn cảnh trớ trêu, phải dựa vào nhau, khi bị lạc trong một miền rừng núi, hoang vu Mỗi người là một câu chuyện, với những số phận đưa đẩy họ vào cuộc chiến Nhà văn Sương Nguyệt Minh qua tác phẩm muốn truyền đạt ý tưởng, khi niềm tin và khát vọng được sống trong hòa bình, yên lành, văn minh sẽ trở thành nguồn sức mạnh giúp con người vươn tới một tương lai tươi sáng
Quả không ngờ Nguyễn Ngọc Sơn đã trở về với chính mình Những con chữ cuồn cuộn tuôn chảy Ngay những đêm đầu tiên cầm bút, mọi chuyện trùng điệp trở về, với những hình ảnh làng quê, hay ký ức của một thời cầm súng chiến đấu ở mặt trận Tây Nam và chiến trường Campuchia Nóng bỏng
và quyết liệt Đó là những đêm thức trắng không còn biết mệt mỏi Cuộc dấn thân mới bắt đầu từ đây Anh từng là lính trận ở biên giới Tây Nam và tham gia quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia, điều đó giúp văn chương Sương Nguyệt Minh luôn tràn đầy cảm hứng trận mạc, số phận người lính
1.3.2 Miền hoang và sự mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực chiến tranh
Tiểu thuyết Miền hoang kể về chuyến lang thang vô định trong một
vùng rừng núi miền Tây bắc Campuchia, trong mùa khô khắc nghiệt hàng tháng không mưa, của một nhóm lữ hành kỳ quặc gồm bốn nhân vật: Lục Thum, viên chỉ huy du kích quân Pol Pot áo đen; thằng Rô, một tay du kích
áo đen bặm trợn, Saly, nữ y tá trong quân Pol Pot, và Tùng, một chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam bị tàn quân Pol Pot bắt trong trận phục kích Trận phục kích đó của quân Pol Pot biến thành cuộc đọ súng ác liệt với bộ đội Quân tình nguyện, mà cuối cùng chỉ còn bốn người này sống sót Mất bản đồ và la bàn, nhóm người này lạc lối cắt rừng, lâu đến mức mất cả ý niệm về thời gian Nhưng tiểu thuyết giữ tính thời gian đó cho người đọc bằng các thủ pháp tư
Trang 33liệu, những đoạn trích báo chí đương thời, những đoạn nhân vật Tùng đọc thơ của Văn Lê, Phạm Sỹ Sáu, v.v - những nhà thơ nổi bật trong vùng văn chương về thời kỳ chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và giải phóng Campuchia khỏi vạ diệt chủng Pol Pot
Câu chuyện phiêu lưu bất đắc dĩ của bốn con người, hai phía thù nghịch, mà dần dà phải ràng buộc vào nhau để sinh tồn trong khi vẫn mưu toan, vẫn thương xót v.v quả là hấp dẫn đáng xem, với nhiều kịch tính bất ngờ hợp lý Đồng thời, thủ pháp tiểu thuyết tư liệu gợi lên nhiều ý tưởng cái nhìn về chiến tranh, tuy nhiều chỗ thành ra thiếu điểm nhấn, đã tạo được cái nền tương phản mạnh mẽ và ý nghĩa cho chuyện phiêu lưu Có những đoạn tư liệu được đưa vào truyện kể rất ấn tượng, nhiều ý nghĩa, chẳng hạn các trường đoạn về các tàn phá man rợ của mìn sát thương trong cuộc chiến ở “K.”, qua các chương số 60,61,62 Tiểu thuyết này cũng chọn được một cái kết ấn tượng: hình ảnh những người bị lạc khi tìm ra đến cõi người sống thì thấy mình thật sự đã lạc thời
Theo nhà thơ Phạm Sỹ Sáu, tiểu thuyết đầu tay này của Sương Nguyệt Minh thuộc vào số khá hiếm hoi những tác phẩm tự sự kể về cuộc chiến đấu của Quân tình nguyện Việt Nam giúp người Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot Tác phẩm này hé lộ một cách nhìn cuộc chiến đó bằng ấn tượng chân thực của một người trong cuộc
Mượn hình ảnh người lính, trong bối cảnh chiến tranh, ở một khung thời gian xác định, nhưng xét đến cùng, vẫn là “vỏ ngoài” cho cuộc chiến sinh tồn luôn giáp ranh giữa lằn ranh sống chết của con người Trong vô thức bản năng, từ đám Pol Pot trong đó có nữ y tá “bất đắc dĩ” câm do từng
bị đồng bọn của mình hiếp dâm tập thể, cho đến người lính tên Tùng, vật lộn, quần thảo, khổ nhục đắm chìm trong bể ngục hầm sâu cửa tử… không thể thấy nổi ánh sáng đằng sau hầm tối sâu hun hút mà tất thảy bị sa vào
Trang 34Loanh quanh, lẩn quẩn, quằn quại, hành hạ chính nhau để cố tìm một lối ra Bao thây người bỏ lại, bao đau đớn nặng mang, để đến những trang cuối cùng của tiểu thuyết, nhân vật chính rốt cuộc cũng “mò ra được cái „bến‟ mà không bị đầm lầy nuốt chửng” [47, 629], thoát được ma trận rừng xanh, số phận bày đặt ra, đi xa khỏi đám tàn phế tâm hồn từng đeo bám suốt chặng đường, để tìm được “một đường nhựa đi Siêm Riệp, Biển Hồ” [47, 630] Tưởng đến với cõi sống đằng sau sự chết, Tùng lại sa vào một cơn mê mới - anh lạc lõng ngay giữa đời thường
Nhà văn Bùi Việt Thắng đã phát biểu: “Văn học viết về chiến tranh
thời nào cũng dựa vào cảm hứng nhân văn, nhân đạo - vì con người, vì sự sống là điều đáng quý nhất Không có mất mát nào lớn bằng cái chết Hạnh phúc của con người là được sống, dẫu cho cuộc đời đôi khi cũng lắm “xì xèo” [66] Tuy nhiên văn học viết về chiến tranh trước năm 1975 nghiêng về miêu
tả sự hi sinh, sự xả thân vì nghĩa lớn của con người tham gia chiến tranh, còn văn học sau 1975 nghiêng viết về bảo vệ các giá trị sống, con người dẫu trong chiến tranh cũng cần biết cách sống hơn là biết cách chết Bởi vì “sự sống
chẳng bao giờ chán nản” Miền hoang (Nxb Trẻ, 2014) của Sương Nguyệt
Minh cho thấy nhà văn viết nhiều về cách bảo vệ sự sống của người lính ở chiến trường Sống để chiến đấu, chiến thắng và trở về chứ không phải chết
để chấm hết
Quả thật Miền hoang tiếp tục những trang viết về chiến tranh, với một
vùng hiện thực ít được đề cập trong văn học Thật vậy, bốn nhân vật truyện kể
là Tùng, Lục Thum, Rô và Sa Ly Tùng là lính tình nguyện Việt Nam chiến đấu ở chiến trường “K” Rô là tên “lính áo đen” trong đám tàn binh của quân của Pol Pot Sa Ly là nữ y tá phục vụ trong đơn vị của Rô Lục Thum là “Ông lớn”, viên chỉ huy của Rô và Sa Ly Dựa vào chuỗi sự kiện ấy, ai cũng có thể
đọc ra, Miền hoang là tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh với tất cả sự tàn
Trang 35khốc của nó Cũng từ chuỗi sự kiện này, độc giả nhận ra trung tâm của tác phẩm Bị “lạc” hiểu theo nghĩa rộng, “lạc đường”, “lạc hướng”, “lạc loài”, rồi
bị bỏ “rơi”, bỏ “quên” là điều mà tiểu thuyết nói về thân phận bi hài của con người hiện đại Như vậy đề tài chiến tranh khốc liệt ở chiến trường rất đáng được quan tâm nhưng đằng sau chiến tranh đó là gì, một cuộc chiến sống còn của con người khi lạc khỏi cuộc chiến đó Hay bản năng của con người trong bất cứ những điều kiện khắc nghiệt nào của cuộc sống, của thiên nhiên Tất cả đều tạo nên những trang viết đầy xúc động và ám ảnh đến chúng ta
1.3.3 Những nỗ lực “vượt gộp” ở đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Miền hoang
Miền hoang là cuốn tiểu thuyết miêu tả cuộc sống khổ cực nhưng lại có
tình yêu đầy lãng mạn của 4 nhân vật trong cuộc chiến tranh khốc liệt giữa
Việt Nam và tàn quân Pol Pot Câu chuyện trong Miền hoang xoay quanh 4
nhân vật chính là: Cô y tá câm, Lục Thum - trung đoàn trưởng bị thương dập nát một cẳng chân, tên lính áo đen trong nhóm tàn quân Pol Pot và anh lính quân tình nguyện Việt Nam Ngoài ra, cuối tiểu thuyết còn xuất hiện thêm một gã người rừng - dã nhân mắt một mí mất nửa bàn chân bị bỏ rơi trong rừng cũng làm cho câu chuyện càng thêm bí ẩn, phiêu lưu, quái đản và hấp dẫn Mất bản đồ quân sự, la bàn cộng với tình cảnh đói khát trong rừng nhiệt đới mùa khô, và thú dữ như con hổ thọt chân, bầy sói răng trắng ởn, đàn kền kền rình rập đã đẩy bốn con người ở hai phía cuộc chiến buộc phải nương tựa vào nhau để tồn tại Ta và địch đều phải sống Cả hai bên đều ủ mưu, tính kế
để chờ cơ hội thanh toán nhau, để ra khỏi nơi rừng rú Tất cả họ đều là những
kẻ lạc rừng buộc phải đấu tranh để không bị hoang dã hóa
Miền hoang đầy ắp chủ nghĩa nhân đạo Nhà văn Sương Nguyệt Minh
không chỉ kể tả các câu chuyện chiến tranh khốc liệt dữ dội, và sinh tồn nơi rừng rú hoang dã mà người lính Việt Nam còn mang trên vai nghĩa vụ hành
Trang 36động cứu cả dân tộc Khmer sắp bị diệt chủng dưới bàn tay của bè lũ phản động Pol Pot - Ieng Sary
Hồi hộp và lo lắng, người đọc luôn đoán định số phận cô y tá câm người Khmer xinh đẹp kết cục ra sao khi đằng đ ng trong rừng hoang với ba người đàn ông đói khát, hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt đẩy đến đường cùng
ở nơi hoang dã trần trụi - nơi chỉ còn luật rừng thống trị Cô y tá câm hiện sinh của phái yếu, không còn khả năng tự vệ luôn mang thiện cảm, tình thương với anh lính quân tình nguyện Việt Nam, nhưng trinh tiết con gái lại
bị bọn tàn quân Pol Pot man rợ chiếm đoạt
Với Miền hoang, tác giả muốn đưa ra thông điệp về bài ca sức sống
mãnh liệt của con người, về niềm tin yêu con người và khát vọng sống trong an lành, hòa bình Đây là cuốn tiểu thuyết chiến tranh chân thật, đích thực, ám ảnh
và lôi cuốn khiến người đọc chìm đắm trong mỗi phân đoạn nhỏ của truyện
Điều trên không hề ngoại lệ với tác giả Sương Nguyệt Minh, người vừa lên bút từ tác giả truyện ngắn thành tác giả tiểu thuyết Và để bắt tay vào xây lâu đài tiểu thuyết, tác giả cũng đã ngồi xuống tính toán rất nhiều cho công trình của mình Nghệ thuật, đặc biệt là văn học luôn bắt đầu từ yếu tố chân, sau mới đến thiện và mĩ Tác giả đã có nhiều năm chiến đấu bảo vệ biên giới Tây nam và là người lính quân tình nguyện tại chiến trường Campuchia Chưa hết, trước khi bắt tay vào viết, Sương Nguyệt Minh đã tra cứu rất nhiều nguồn
tư liệu, và ở đầu mỗi chương tác giả thường trích một phần tư liệu sử, như thể muốn xác định cuốn tiểu thuyết của mình là một công trình nghiêm túc đan xen giữa lịch sử và văn học Và dương như tác phẩm cũng mang đậm dấu ấn
“văn - sử - triết bất phân”
Và hơn nữa khả năng vượt gộp của Sương Nguyệt Minh đã mở rộng được một nội dung sâu sắc và đầy tính nhân văn Đó là khám phá nỗi sợ hãi bịt bùng của thiên nhiên với cây cối rập rạp như ma trận giơ nanh nhe vuốt
Trang 37khắp nơi Khám phá bản năng sinh tử với những nỗi sợ bịt bùng nào thiếu ăn, thiếu nước, thiếu yêu thương thừa bạo lực Khám phá quyền lực thường trực nhanh như điểm hỏa lúc nào cũng s n sàng nhả đạn Khám phá khát khao giới tính với cả dãy đàn ông cuồng khát sống bên một cô y tá xinh đẹp bị câm chẳng có khả năng che chở bản thân mình Khám phá ánh sáng khi lần bước
từ rừng cây rậm rạp bóng tối rình mò về thế giới văn minh Khám phá ý nghĩa của cuộc chiến Khám phá các giá trị nhân bản của con người
Đồng thời, từ tấn bi kịch của những nhân vật đã đi qua chiến trận, các nhà văn viết về chiến tranh sau chiến tranh của Sương Nguyệt Minh đã xoáy sâu vào người đọc nỗi day dứt về thân phận con người trong chiến tranh Lớn hơn thế, đó là bức thông điệp đối với toàn nhân loại: chiến tranh chính là kẻ thù gây nên những mất mát, đau thương và để lại những vết sẹo trên tâm hồn không bao giờ có thể hàn gắn lại được đối với bất kì ai đã từng đi qua nó; nhớ
về chiến tranh, nhớ về những năm tháng gian khổ không bao giờ quên ấy cũng chính là đặt ra cho mình một mục tiêu, một hướng sống tốt đẹp hơn, ý nghĩa hơn để xứng đáng với nền hòa bình mà ta đang được chung sống
Mặt khác, Miền hoang cũng không phải chỉ là “miền hoang” của chiến
trường Campuchia mà là của bất cứ nơi đâu trên trái đất này, hễ ở đâu còn có
sự hoang hóa về thiên nhiên, về con người, đẩy sự sống đến tận cùng của bản năng, trần trụi và tồi tệ thì đó sẽ là miền hoang
Trang 38Chương 2 QUAN HỆ HAI CHIỀU GIỮA CHIẾN TRANH VÀ BẢN NĂNG SỐNG
CỦA CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT MIỀN HOANG
2.1 Sức hủy diệt sự sống của chiến tranh
Nói đến chiến tranh là nói đến sức hủy diệt vô cùng vô tận sự sống của con người của muôn vật Thử hỏi vì sao nó lại khốc liệt và vô tình đến vậy mà chiến tranh vẫn cứ diễn ra Trong chiến tranh đã đau thương và đầy
ác liệt nhưng sau chiến tranh cũng chẳng tươi sáng hơn Đó là cả một nỗi
ám ảnh kinh hoàng đối với người tham gia cuộc chiến, sống sót sau cuộc chiến để nhìn nhận lại, xem lại kết quả của nó là gì Hay tất cả chỉ là một bức tranh với đủ cung bậc của cảm xúc Nhắc đến nạn diệt chủng, ai trong mỗi chúng ta cũng cảm thấy ghê sợ dù là đọc từ tác phẩm hay đã trực tiếp trải qua cũng phải thốt lên rằng; “dã man” và với nhiều cảm xúc lẫn lộn Qua đó lộ rõ dần bản chất của cuộc chiến tranh mà bọn Pol Pot tiến hành
để đánh phá Việt Nam và bần cùng hóa nhân dân Campuchia theo một ý đồ đen tối
2.1.1 Bức tranh đau thương của nạn diệt chủng
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Diệt chủng được định nghĩa là
"sự phá hủy có chủ ý và có hệ thống, toàn bộ hoặc một phần, của một dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, hay quốc gia", mặc dù những gì tạo đủ của một "phần" để hội đủ điều kiện như nạn diệt chủng đã là chủ đề nhiều cuộc tranh luận của các học giả pháp lý Trong khi một định nghĩa chính xác thay đổi giữa các học giả diệt chủng, một định nghĩa pháp lý được quy định trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Ngăn ngừa và Trừng phạt Tội ác Diệt chủng (CPPCG)
1948 Điều 2 của quy ước này định nghĩa diệt chủng là "trong các hành vi sau đây đã cam kết với ý định tiêu diệt, toàn bộ hoặc một phần, một quốc gia, chỉ
Trang 39về nhân chủng, nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, chẳng hạn như: giết chết thành viên của nhóm, gây ra cơ thể nghiêm trọng hoặc tâm thần gây tổn hại cho các thành viên của nhóm; cố ý gây thương trên nhóm các điều kiện của cuộc sống, tính toán để mang lại phá hủy vật lý của nó trong toàn bộ hoặc một phần, áp đặt các biện pháp nhằm ngăn chặn sinh trong nhóm, [và] buộc chuyển giao trẻ em từ nhóm này sang nhóm khác"
Một bức tranh với nhiều mảnh ghép mà ở đó mỗi mảnh ghép lại là một nỗi đau riêng mà chính người dân Campuchia cũng như lính tình nguyện Việt Nam phải gánh chịu Mỗi trang viết của Sương Nguyệt Minh luôn khiến người đọc phải ám ảnh và đau đớn vì nạn diệt chủng ở đất bạn được thể hiện
rõ ngay trong chính những hồi ức của nhân vật, qua những đoạn miêu tả với mong muốn bày tỏ tội ác của bọn Pol Pot là tiêu diệt một nền văn hóa, văn minh của Campuchia và cũng như của thế giới
Bức tranh ấy hiện lên rất rõ qua kí ức của Tùng khi nhớ về cuộc thảm sát của Pol Pot: “Người dân kể lại rằng: Hàng trăm kiểu giết người Việt man
rợ không ghê tay: Hai thằng lính áo đen mỗi đứa cầm một chân đứa trẻ con lên ba xé Tung đứa bé chưa đầy năm lên trời rồi đố nhau chống súng CKC hứng mũi lê tuốt trần đúng hậu môn đứa bé” Hay “Rất nghiệt ngã Để bảo vệ tính mạng cho cả cộng đồng khốn khổ không một tất sắt trong tay, con nhà ai thì phải có cách cho nó im tiếng Im bặt sao được khi bọn trẻ non tươi chưa đủ trí khôn, chưa biết nghe lời Nguy cơ bị tận diệt” [47, 35-36]
Sau ngày 17-4-1975 giải phóng Phnom Pênh, bọn Pol Pot mới lộ diện
là một kẻ biến bạn thành thù một cách trơ trẽn công khai Chúng gọi người Việt Nam là Doul với ý miệt thị Và kết quả là mấy triệu người Khmer chết bởi bom đạn, bởi chày vồ, lư i xẻng, bàn cuốc, bàn mai, dao quắm, dây thừng treo cổ, chết vì đói khát, lao lực, kiệt quệ trong các công xã cộng sản nửa dơi nửa chuột
Trang 40Chiến tranh có quy luật của nó nhưng trong cuộc chiến này thì không biết đến bao giờ mới chấm dứt “Súng vẫn nổ Xác người cứ dầy thêm Các cuộc vây ráp trong rừng day dẳng Những trận phục kích trên khắp các con đường mòn xe bò kéo, đường lớn ô tô chạy và đường tầu hỏa cứ triền miên Máu vẫn đổ ” [47,7]
Miền hoang nói về việc lạc rừng của 4 nhân vật nhưng cũng qua đó vẽ
nên bức tranh toàn diện về một nạn diệt chủng mà khi nhắc đến ai cũng khiếp sợ Mỗi trang viết của Sương Nguyệt Minh như phơi bày tội ác của bọn Pol Pot qua nhưng dòng chú thích mỗi phần và qua âm thanh của radio hay qua lời kể, qua kí ức của mỗi nhân vật Tác phẩm vừa cung cấp thông tin lịch sử để nhấn mạnh tội ác của chúng diễn ra và phải mất rất nhiều thời gian để chấm dứt một cuộc chiến đầy man rợ mang tên diệt chủng “Sau ngày Khmer đỏ vào chiếm Phnom Pênh từ chính quyền Lon Nol, thủ lĩnh Pol Pot mới có điều kiện xây dựng chủ nghĩa cộng sản Khmer huyễn tưởng bằng mồ hôi, nước mắt, máu xương đồng bào mình Tất cả nhân dân bị tống khỏi các thành phố, thị xã bằng các xe tải, xe bò kéo và đi bộ đến những công xã sẽ được xây dựng trong các khu rừng hoang, rừng sâu Giết nhầm hơn bỏ sót, những phần tử không ăn cánh, đối lập và thành phần trí thức bị thanh trừ với quy mô toàn quốc” [47,234]
“Cánh đồng chết lại hiện ra trước mắt tui Công trình thủy lợi Công xã trong rừng Ăng - ka Và những năm tháng ở tập thể, ăn tập thể, ngủ tập thể, cưới vợ, lấy chồng tập thể thực nghiệm xây dựng một xã hội cộng sản Khmer huyễn tưởng như những thây ma đội mồ đứng lên” [47,521] “Biết bao người đã trở thành vong hồn từ cuộc chiến này” Hoặc tình cảnh “lò bát quái” Dang reck thời kỳ này với nhiều kiểu đánh nhau nên cảnh lạc rừng cũng nhiều vô số, trong đó có người Việt lạc, người Miên lạc, lại có cả cố vấn Trung Quốc cũng lạc là tên Dã nhân Hoàn cảnh đó tạo nên hiện thực phong