1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình nguyễn bính

91 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như đã nói ở trên, ngôn ngữ có vai trò “là phương tiện thứ nhất của văn học”, nên chắc chắn việc khảo sát kĩ lưỡng hệ thống các từ ngữ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính sẽ góp phầ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐINH QUỐC LỢI

ĐẶC ĐIỂM TỪ CHỈ TÂM TRẠNG TRONG THƠ TÌNH NGUYỄN BÍNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐINH QUỐC LỢI

ĐẶC ĐIỂM TỪ CHỈ TÂM TRẠNG TRONG THƠ TÌNH NGUYỄN BÍNH

Trang 3

Luận văn này được hoàn thành, ngoài sự cố gắng của bản thân phải kể

đến sự hướng dẫn tận tình của cô giáo, Tiến sĩ Trịnh Thị Mai, sự động viên,

giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ, khoa Sư phạm Ngữ Văn

cũng như các bạn học viên lớp Cao học 23, chuyên ngành Ngôn ngữ học và

gia đình

Nhân dịp này, em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, bạn bè

và người thân, đặc biệt là cô giáo, TS Trịnh Thị Mai đã tạo điều kiện giúp đỡ

em hoàn thành luận văn này

Do thời gian hạn hẹp, trình độ nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn quan tâm vấn đề này để luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 7 năm 2017

Tác giả

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Đóng góp của luận văn 3

6 Cấu trúc của luận văn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

1.2 Cơ sở khoa học của đề tài 8

1.2.1 Thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ 8

1.2.2 Khái niệm tâm trạng và từ chỉ tâm trạng trong tiếng Việt 10

1.2.3.Tác giả nguyễn Bính và thơ Nguyễn Bính 13

1.3 Tiểu kết chương 1 13

CHƯƠNG 2 21

ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA TỪ CHỈ TÂM TRẠNG TRONG THƠ TÌNH NGUYỄN BÍNH 21

2.1 Đặc điểm từ loại của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính 21

2.1.1 Kết quả thống kê 21

2.1.2 Một số nhận xét chung về từ loại biểu thị tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính 31

2.2 Hoạt động ngữ pháp của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính 34

2.2.1 Hoạt động ngữ pháp của từ chỉ tâm trạng là động từ trong thơ tình Nguyễn Bính

2.2.2 Hoạt động ngữ pháp của từ chỉ tâm trạng là tính từ trong thơ tình Nguyễn Bính 34

2.2.3 Hoạt động ngữ pháp của từ chỉ tâm trạng là danh từ trong thơ tình Nguyễn Bính 48

2.3 Tiểu kết chương 2 53

CHƯƠNG 3 55

ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ CHỈ TÂM TRẠNG TRONG THƠ TÌNH NGUYỄN BÍNH 55

3.1 Về khái niệm ngữ nghĩa 55

3.2 Ngữ nghĩa của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính 56

3.2.1 Từ chỉ tâm trạng nhớ thương 56

3.2.2 Từ chỉ tâm trạng buồn đau cô đơn 61

3.2.3 Từ chỉ tâm trạng khát khao yêu thương 69

3.2.4 Từ chỉ tâm trạng vui sướng náo nức 77

3.2.5 Từ chỉ tâm trạng luyến tiếc 78

3.3 Tiểu kết chương 3 82

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Từ ngữ luôn là yếu tố thứ nhất của thơ ca Mỗi nhà thơ đều có cách

sử dụng từ ngữ riêng để tạo nên dấu ấn phong cách của mình Nói đến thơ là nói đến cảm xúc, thơ là tình cảm, là tâm trạng của người viết, do đó trong thơ không thể thiếu một phương diện hữu hiệu thể hiện đó là từ chỉ tâm trạng Đặc biệt là đối với các nhà thơ viết về đề tài tình yêu với nhiều cung bậc cảm xúc thì phương tiện này lại càng quan trọng, nó trở thành đặc trưng nổi bật của thơ tình

1.2 Nguyễn Bính là một nhà thơ nổi tiếng, có vị trí đặc biệt trong đời

sống văn hóa của người Việt Ông có một phong cách thơ được nhiều thế hệ đương thời mến mộ, đặc biệt có nhiều bài tuy sáng tác trong phong trào Thơ mới nhưng đậm chất trữ tình dân gian cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện.Thơ Nguyễn Bính dung dị, đằm thắm, đậm sắc hồn dân gian dân tộc từ nội dung đến hình thức biểu hiện Với những giai điệu ngọt ngào đằm thắm của ca dao trữ tình, tiếng thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê ẩn náu

ở trong lòng ta

Di sản thơ Nguyễn Bính nói chung, thơ tình Nguyễn Bính nói riêng đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu cả về mặt nội dung và nghệ thuật Tuy vậy, cho đến nay, trên phương diện ngôn ngữ, đặc biệt là từ chỉ tâm trạng trong thơ tình của Nguyễn Bính vẫn chưa nhận được sự quan tâm thích đáng Như đã nói ở trên, ngôn ngữ có vai trò “là phương tiện thứ nhất của văn học”, nên chắc chắn việc khảo sát kĩ lưỡng hệ thống các từ ngữ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính sẽ góp phần xác định những điểm độc đáo đặc sắc về hình thức thể hiện tâm trạng cảm xúc của nhà thơ

1.3 Là một trong những nhà thơ lớn của phong trào Thơ Mới (1932 -

1945) nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung, nên thơ của Nguyễn Bính được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông Trong chương trình ngữ văn ở Cao đẳng, Đại học, Nguyễn Bính luôn có vị trí một tác giả lớn Đề tài

Trang 6

“Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính” mà chúng tôi nghiên cứu sẽ góp một phần nhỏ vào việc dạy học tác giả, tác phẩm Nguyễn Bính trong nhà trường hiện nay

Từ các lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính” làm đối tượng nghiên cứu

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính Đặc điểm của từ chỉ tâm trạng được chúng tôi nghiên

cứu ở cả hai phương diện đặc điểm ngữ pháp và đặc điểm ngữ nghĩa

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu “Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính ”,

chúng tôi dựa vào hai văn bản thơ:

- Nguyễn Bính, Thơ Nguyễn Bính - Tuyển tập, Nxb Văn

học, 1986

- Vũ Thanh Việt, Thơ tình Nguyễn Bính, Nxb Văn hóa

thông tin, 2000

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thống kê, phân loại các từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

- Phân tích đặc điểm của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính ở

cả hai mặt là đặc điểm về ngữ pháp và đặc điểm ngữ nghĩa

- Rút ra những đặc trưng ngôn ngữ của Nguyễn Bính qua lớp từ chỉ tâm trạng Qua đó đối chiếu so sánh với một số nhà thơ cùng thời để thấy được sự khác nhau giữa Nguyễn Bính và họ

4 Phương pháp nghiên cứu

Để luận văn đạt được những nhiệm vụ đã nêu, trong quá trình thực hiện luận văn chúng tôi đã vận dụng những phương pháp sau:

Trang 7

- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê và phân loại các từ chỉ tâm trạng và tần số xuất hiện của từng từ trong thơ Nguyễn Bính trong nguồn tư liệu đã xác định

- Phương pháp đối chiếu – so sánh: So sánh, đối chiếu các từ chỉ tâm trạng trong thơ Nguyễn Bính với một số nhà thơ cùng thời

- Phương pháp phân tích – miêu tả và tổng hợp

5 Đóng góp của luận văn

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu “Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính” với tư cách là một đối tượng độc lập, có hệ thống Kết

quả nghiên cứu trước hết góp thêm cứ liệu để làm rõ hơn tài năng cũng như phong cách của một nhà thơ tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam hiện đại Trên cơ sở đó, luận văn có thể góp một phần nhỏ giúp giáo viên giảng dạy văn học có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu phong cách của ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở khoa học của đề tài Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ

KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong nhiều thập kỉ qua, thơ Nguyễn Bính đã trở thành đối tượng thu hút

sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình yêu thích thơ ông và đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn nhỏ viết về cuộc đời và tác phẩm Nguyễn Bính với qui mô và hướng tiếp cận, nghiên cứu khác nhau

Trước Cách mạng tháng tám thẩm định hay nhất, gợi đúng cái “Chân quê” của hồn thơ Nguyễn Bính phải kể đến bài giới thiệu về Nguyễn Bính của Hoài Thanh trong “Thi nhân Viêt Nam” Hoài Thanh là người đầu tiên nhận

ra vẻ đẹp kín đáo đậm đà của hồn thơ Nguyễn Bính đồng thời đã cắt nghĩa về

sự quan tâm chưa thích đáng của giới nghiên cứu đối với thơ ông “cái đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm được một số đông công chúng mộc mạc khó lọt vào con mắt các nhà thông thái thời nay Tình cờ đọc thơ Nguyễn Bính họ sẽ bảo “thơ như thế này có gì?” Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi một điều mà người ta không thể hiểu bằng một lí trí, một điều đáng quí vô ngần “hồn xưa đất nước” Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng chúng ta

Cùng với Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Nhà văn Việt Nam hiện đại” cũng chỉ ra thứ tình quê xác thực được toát lên từ những câu thơ mang dáng vẻ “thực thà”, “hai lần hai là bốn của Nguyễn Bính” Vũ Ngọc Phan đã đánh giá cao thơ Nguyễn Bính, đặc biệt là mảng thơ viết về làng quê Hai nhà nghiên cứu đã có cái nhìn tinh tế, nhạy cảm trong việc nhận diện một hồn thơ độc đáo, một lối đi riêng của Nguyễn Bính Những ý kiến trên có

ý nghĩa định hướng, tin cậy cho công việc nghiên cứu thơ Nguyễn Bính sau này

Trong kháng chiến chống Pháp, những vần thơ xưa của ông vẫn được trân trọng, năm 1951 nhà xuất bản Hương Sơn cho tái bản liên tiếp hai tập

Trang 9

thơ Hương cố nhân và Mây tần Trong thời gian này do hoàn cảnh chiến tranh

nên việc nghiên cứu thơ Nguyễn Bính có nhiều hạn chế

Ở miền Nam việc nghiên cứu thơ Nguyễn Bính được chú ý hơn Thơ Nguyễn Bính được tái bản trong giáo trình của Đại học Văn khoa Sài Gòn được đánh giá thẩm định trong một số chuyên luận về thơ tiền chiến Đáng chú ý hơn cả là “Việt Nam thi nhân tiền chiến” ( Quyển thượng) - Sài Gòn (1968) của soạn giả Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng Đặc biệt trong tập san văn học số 60 có nhiều bài viết về Nguyễn Bính và thơ ông: Nguyễn Bính - Thi sĩ suốt đời mang bệnh tương tư (Vũ Bằng), Nguyễn Bính - Nhà thơ kháng chiến tại miền Nam (Thái Bạch), Nguyễn Bính một ngôi sao sáng trên thi đàn dân tộc (Nguyễn Phan) Tuy số lượng bài viết trong thời gian này khá nhiều song thành tựu chưa đáng kể

Thơ Nguyễn Bính được nghiên cứu rầm rộ đặc biệt sau năm 1985, khi người ta có cái nhìn thận trọng đúng đắn và sáng suốt hơn với văn học quá khứ trong đó có phong trào Thơ Mới Cũng như một số nhà Thơ Mới khác như Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên Hàng loạt tập thơ và tuyển chọn thơ Nguyễn Bính được xuất bản: Thơ Nguyễn Bính (Nxb văn học, 1986), Tuyển tập Nguyễn Bính (Nxb văn học, 1986), Thơ Nguyễn Bính chọn lọc (Nxb văn học, 1992), Thơ tình Nguyễn Bính (Nxb Đồng Nai, 1996)

Thơ Nguyễn Bính cũng được nhắc đến nhiều trong các bài giới thiệu hoặc trong các chuyên luận về văn chương: Ngôn ngữ thơ (Nguyễn Phan Cảnh, 2001), Giáo trình văn học Việt Nam 1930 - 1945 (Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung, Hà Minh Đức), Thơ với lời bình (Vũ Quần Phương, 1992), Nhìn lại cuộc cách mạng trong thơ ca (Hà Minh Đức, 1993)

Năm 1992, nhà xuất bản Hội nhà văn cho ra mắt “Nguyễn Bính - thi sĩ của thương yêu” do Hoài Việt sưu tầm và biên soạn Năm 1996 nhà xuất bản văn học ấn hành cuốn sách “Nguyễn Bính - thi sĩ của đồng quê” Năm 1994 nhà xuất bản văn học Hà Nội ra mắt bạn đọc cuốn “Nguyễn Bính thơ và đời”

do Hoàng Xuân sưu tầm và biên soạn Gần đây nhất là cuốn “Ba đỉnh cao thơ

Trang 10

Mới: Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử” của tác giả Chu Văn Sơn,

“Nguyễn Bính hành trình sáng tạo thi ca” của Đoàn Đức Phương (2006) Những công trình này đã thu hút sự chú ý của nhiều người yêu thơ Đó là chưa kể hàng loạt bài viết của các nhà văn hoặc nhà nghiên cứu phê bình khác như Tô Hoài, Lại Nguyên Ân, Đoàn Hương, Đỗ Lai Thúy, Đức Phương, Phương Lan Thơ Nguyễn Bính đã trở thành đề tài quen thuộc của nhiều khóa luận, luận văn, luận án trong cả nước

Nhìn chung trong các thời kì khác nhau, thơ Nguyễn Bính có những thăng trầm, nhưng việc cảm thụ đánh giá thơ Nguyễn Bính ít có những khác biệt hoặc những mâu thuẫn gay gắt Về cơ bản, những đánh giá nhận xét của giới phê bình về Nguyễn Bính khá thống nhất Dù ở giai đoạn nào Nguyễn Bính cũng được xem là nhà thơ của “Chân quê”, “Tình quê”, “Hồn quê” Trong thời gian dài, thơ Nguyễn Bính đã được nghiên cứu xem xét ở nhiều góc độ từ nội dung đến nghệ thuật, từ tư tưởng đến phong cách, từ giọng điệu đến kết cấu

Riêng về thơ tình, người đầu tiên đề cập đến thơ tình Nguyễn Bính đó là nhà phê bình Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” Nhạy cảm, tinh tế, Hoài Thanh đã phát hiện ra vẻ đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính Đó là chất “chân quê” là “hồn xưa đất nước”, một phẩm chất “quí giá vô ngần” mà chúng ta không hiểu được bằng lí trí

Trong lời giới thiệu tập “Chân quê” Mã Giang Lân cũng có băn khoăn giữa tính chất “Chân quê” với Thơ Mới trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính:

“trong thơ Nguyễn Bính bên cạnh những câu thuần thục như ca dao ta thấy xen vào những câu quá mới nên thơ ông giống ca dao mà cũng khác ca dao” Hoài Việt (trong “Nguyễn Bính thi sĩ của thương yêu”) đã có nhận xét công bằng hơn “Có người trách anh từ khi “đi tỉnh về” thì để cho “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” chúng tôi không nghĩ thế, có “đi tỉnh” trong thơ anh mới có được cách ngắt nhịp, đặt câu kể cả việc cấu tứ, lập ý góp cho thơ

Trang 11

anh vừa dân tộc vừa hiện đại, toàn bộ thơ anh hợp thành “một tổ khúc đồng nội” không lẫn với ai, không lẫn vào đâu được”

Có thể thấy các nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính đều gặp nhau ở điểm: Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính vừa truyền thống vừa hiện đại nhưng nghiêng về truyền thống, gần gũi với ca dao hơn là sự cách tân, đây cũng là chỗ đặc sắc hơn người của Nguyễn Bính Còn Phương Lan và Vũ Quần Phương đều khẳng định đóng góp riêng, đặc sắc của thơ tình Nguyễn Bính trên thi đàn Thơ Mới “khi Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên và phần lớn các nhà thơ đương thời chịu ảnh hưởng của phương Tây và chính điều đó mang lại cho phong trào Thơ Mới những đặc sắc thì Nguyễn Bính mang đến cho phong tào Thơ Mới một phong cách mộc mạc, chân quê, một lời ví von đậm đà màu sắc ca dao”

Đỗ Đình Thọ trong “đôi lời cuốn sách” đã cảm nhận được vẻ đẹp ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính “Ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Bính mộc mạc mà duyên dáng, chân chất mà điêu luyện, đôi lúc xuất thần tạo nên một tứ lạ cuốn hút người đọc đến bất ngờ”

Mỗi tác giả đều có những tìm tòi phát hiện những cái riêng của ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính Trong chuyên luận “Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê”

Hà Minh Đức cho rằng: “Nguyễn Bính thích những ngôn ngữ nhiều màu sắc trong thơ Nếu Hàn Mạc Tử nói nhiều đến hương vị trong đời, trong thơ thì Nguyễn Bính lại chuộng màu sắc”

Trong bài “thi pháp dân gian trong thơ Nguyễn Bính, Nguyễn Quốc Túy cho rằng: “Ngôn ngữ Thơ Mới dân gian Nguyễn Bính trước hết là ngôn ngữ của ca dao, của thơ ca dân gian nói chung và rộng hơn nữa là ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày của quảng đại quần chúng nhân dân được nhà nghệ sĩ dân gian Nguyễn Bính chọn lọc, mài giũa và tinh luyện”

Nhìn chung những bài viết của các tác giả trên có những phát hiện, nhận định mới mẻ về các khía cạnh ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính Tuy nhiên các nhà nghiên cứu chỉ đề cập ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính như là những dẫn

Trang 12

chứng để minh họa cho những phát hiện về những vấn đề lớn như thế giới nghệ thuật thơ, phong cách thơ, thể loại thơ, bản sắc thơ Nguyễn Bính

Điểm qua các công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính, chúng tôi thấy đến nay chưa có công trình nào tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính với tư cách là một đối tượng độc lập Vì

vậy, chúng tôi chọn đề tài “Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính”

1.2 Cơ sở khoa học của đề tài

1.2.1 Thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ

1.2.1.1 Khái niệm chung nhất về “thơ ca”

Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức lôgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm

mỹ cho người đọc, người nghe Thơ là một thể loại văn học nảy sinh từ rất sớm trong đời sống con người, thuộc phương thức biểu hiện trữ tình thơ gắn liền với sự rung động, với cảm xúc tươi mới, trực tiếp của cái tôi trữ tình trước mọi biểu hiện đa dạng, phức tạp của cuộc đời Có thể nói, bản chất của thơ ca rất đa dạng, phong phú, thơ tác động đến người đọc vừa bằng nhận thức cuộc sống, vừa bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa tác động trực tiếp với nhiều cảm xúc, suy nghĩ vừa gián tiếp qua liên tưởng và tưởng tượng phong phú, vừa theo những mạch cảm nghĩ, vừa bằng sự rung động của ngôn ngữ giàu nhạc điệu Chính vì những phẩm chất khác nhau đó của thơ mà đã

có nhiều quan niệm, nhiều cách lý giải khác nhau…

1.2.1.2 Những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ

Nếu như “giai điệu”, “âm thanh” là ngôn ngữ của âm nhạc; “màu sắc”,

“đường nét” là ngôn ngữ của hội họa; “mảng, khối” là ngôn ngữ của kiến trúc, thì “ngôn từ” là chất liệu của tác phẩm văn học Hình tượng văn học là hình tượng ngôn ngữ

Trang 13

- Về ngữ âm Đặc điểm nổi bật về ngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi là đặc trưng tính nhạc Trong thơ, việc tổ chức các phương tiện ngữ âm rất được chú ý Thơ trữ tình phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng

cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy Nếu như trong văn xuôi, các đặc tính thanh học của ngôn ngữ (như cao độ, cường độ, trường độ ) không được tổ chức thì trong thơ, trái lại, những đặc tính ấy lại được tổ chức một cách chặt chẽ, có dụng ý, nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không nói hết Bởi thế, đặc trưng tính nhạc được coi là đặc trưng chủ yếu mang tính loại biệt rõ nét của ngôn ngữ thơ ca

- Về ngữ nghĩa Nếu ngôn ngữ văn xuôi tự sự là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường, nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái, mọi chiều kích, thậm chí cả sự xô bồ, phồn tạp đến cực độ để tái hiện bộ mặt cuộc sống, tâm lý con người trong sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó thì ở địa hạt thơ lại mang nặng tính "đặc tuyển" Là thể loại có một dung lượng ngôn ngữ hạn chế nhất trong các loại tác phẩm văn học, nhưng thơ lại có tham vọng chiếm lĩnh thế giới Nói như

Ôgiêrốp: "Bài thơ là một lượng thông tin lớn nhất trong một diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất" Chính sự hạn định số tiếng trong câu thơ, bài thơ buộc người

nghệ sỹ phải "thôi xao", nghĩa là phải phát huy sự tư duy ngôn ngữ để lựa chọn từ ngữ cho tác phẩm Bởi thế, Maiacôpxki gọi lao động nghệ thuật ngôn

từ của nhà thơ là "trả chữ với với giá cắt cổ"

- Về ngữ pháp

Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức lôgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm

mỹ cho người đọc, người nghe Một câu thơ là một hình thức câu cô đọng,

Trang 14

truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý nghĩa cho người đọc, và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp Một câu thơ có thể đứng nguyên một mình Một bài thơ là tổ hợp của các câu thơ Tính cô đọng trong số lượng từ, tính tượng hình

và dư âm thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật khác

1.2.2 Khái niệm tâm trạng và từ chỉ tâm trạng trong tiếng Việt

1.2.2.1 Khái niệm tâm trạng

Hiện tượng tâm lý của con người vô cùng phức tạp, nó ngày càng được quan tâm nghiên cứu Từ những tư tưởng đầu tiên sơ khai về hiện tượng tâm

lý, các ngành khoa học về tâm lý đã ra đời, hình thành, phát triển và ngày càng chiếm giữ vị trí quan trọng

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về “tâm lý” con người, các nhà chủ nghĩa duy tâm cho rằng: “Hiện tượng tâm lý là bản chất siêu hình đặc biệt của sinh vật và được gọi là linh hồn” [13;15] Còn các nhà chủ nghĩa duy vật lại cho rằng: “Tâm lý là biểu hiện của vật chất, là sản phẩm dưới dạng đặc biệt của vật chất, có tổ chức cao là bộ não của con người” [19;16]

Các khuynh hướng đã có sự đấu tranh quyết liệt và hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi Nhưng chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất: Tâm lý là

sự phản ánh chủ quan thế giới khách quan, có cơ sở tự nhiên là hoạt động thần kinh và hoạt động nội tiết, được nảy sinh bằng hoạt động sống của từng người, và gắn bó với các quan hệ xã hội lịch sử Hay nói cách khác tâm lý bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền

và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người Đó là sự phản ánh sự vật hiện tượng của thế giới khách quan, não làm chức năng phản ánh đó Sự phản ánh này có tính chất chủ thể và mang bản chất xã hội - lịch sử Khi nói đến tâm lý người ta đề cập đến một số đặc điểm cơ bản, như: Tâm lý là hiện tượng tinh thần, là đời sống nội tâm của con người Thực tế chúng ta không thể cân đong, đo, đếm trực tiếp tâm lý mà chỉ có thể đoán định thông qua

Trang 15

những gì cá nhân biểu hiện ra bên ngoài; Tâm lý là một hiện tượng tinh thần gần gũi, thân thuộc với con người mà chính là những gì con người suy nghĩ, hành động, cảm nhận hàng ngày; Tâm lý con người phong phú, đa dạng và đầy tính tiềm tàng bởi tâm lý mỗi người một khác, và hơn nữa tâm lý không phải là bất biến mà luôn biến đổi theo thời gian Mặc dù gần gũi thân thuộc nhưng con người còn rất nhiều điều chưa hiểu về chính tâm lý của mình; Tâm

lý người có tính chất chủ thể nên tâm lý không ai giống ai Do mỗi người có cấu trúc hệ thần kinh và cơ thể khác nhau, tuổi tác khác nhau, giới tính khác nhau, nghề nghiệp khác nhau, địa vị xã hội khác nhau, điều kiện sống khác nhau ; Tâm lý người là kết quả của quá trình xã hội hoá Con người chúng ta luôn sống trong xã hội, do đó chịu sự tác động của xã hội đó và sẽ có chung những đặc điểm của xã hội mà mình sống trong đó; ở mỗi giai đoạn lịch sử của xã hội, xã hội đó có những đặc thù riêng, đặc điểm tâm lý xã hội riêng Hiện tượng tâm lý là những hiện tượng phức tạp, nằm ngay trong thực thể diễn biến theo các cung bậc tình cảm và ý thức khác nhau khi chủ thể cảm nhận, tự giác, nhận thức hoặc bị tác động bởi đối tượng nào đó Phân loại theo thời gian tồn tại và quá trình diễn biến, các nhà nghiên cứu chia hiện tượng tâm lý ra làm ba loại: Quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý (hay còn gọi là tâm trạng) và thuộc tính tâm lý Các quá trình tâm lý: là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có bắt đầu, diễn biến và kết thúc Ví dụ: Các quá trình nhận thức như cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng; các quá trình giao tiếp Các trạng thái tâm lý là các hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài và đóng vai trò làm nền cho các quá trình tâm lý

và các thuộc tính tâm lý biểu hiện ra một cách nhất định Với các trạng thái tâm lý chúng ta thường chỉ biết đến khi nó đã xuất hiện ở bản thân, tuy nhiên thường không biết được thời điểm bắt đầu và kết thúc của chúng Ví dụ: Trạng thái tập trung, chú ý, lơ đãng, mệt mỏi, vui, buồn, phấn khởi, chán nản Các thuộc tính tâm lý: là những hiện tượng tâm lý đã trở nên ổn định, bền vững ở mỗi người tạo nên nét riêng về mặt nội dung của người đó Thuộc

Trang 16

tính tâm lý diễn ra trong thời gian dài và kéo dài rất lâu có khi gắn bó với cả cuộc đời một người Ví dụ: Tính khí, tính cách, năng lực, quan điểm, niềm tin, lý tưởng, thế giới quan Các quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý và thuộc tính tâm lý không hề tách rời nhau mà luôn ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau

Như vậy, tâm trạng chính là một hiện tượng tâm lý Theo cuốn “Từ điển tiếng việt” do Hoàng Phê (chủ biên) (2006), Tâm trạng là trạng thái tâm lý, tình cảm[20;897] Ví dụ: Tâm trạng buồn đau, tâm trạng vui vẻ, phấn chấn,

tâm trạng hồi hộp, lo âu, tâm trạng hoài nghi, chán nản,…

1.2.2.2 Các từ biểu thị tâm trạng trong tiếng Việt

Những từ tiếng Việt biểu thị trạng thái tâm lý – tình cảm của con người được gọi là từ chỉ tâm trạng

Tác giả Nguyễn Ngọc Trâm trong “Đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của nhóm từ biểu thị tâm lý – tình cảm trong tiếng việt” đã thống kê sơ bộ được

hơn 300 từ vựng chỉ tâm trạng Từ chỉ tâm trạng thuộc lớp từ cơ bản, trong

tiếng Việt xuất hiện với tần số cao

Các từ biểu thị tâm trạng trong tiếng Việt được tạo thành một nhóm từ đặc biệt mà hầu hết các nhà ngữ pháp tiếng Việt đều đề cập đến như Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Đỗ Thị Kim Liên, Lê Biên Khi phân định từ loại tiếng Việt, đa số nhóm từ biểu thị tâm trạng được các tác giả

xếp vào động từ, một số tác giả xếp vào loại tính từ

Xếp các từ chỉ tâm trạng như yêu, ghét, thích… vào từ loại động từ là các

tác giả Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban, Đỗ Thị Kim Liên, Lê Biên,… Tác giả Nguyễn Tài Cẩn khi phân tích trung tâm của động ngữ (cụm động từ) đã

dựa vào khả năng kết hợp thành tố phụ “xong”: “Động từ chỉ sự việc có khả năng kết thúc” như ăn, đọc; Đối lập với những “động từ không có khả năng kết thúc” như: biết, hiểu, ghét; Sau đó dựa vào sự kết hợp với phó từ chỉ mức

độ như: hơi, rất, quá, lắm,… Để phân biệt những “động từ không có khả năng giảm mức độ”, như: yêu, ghét, lo sợ, giận với những“động từ không có khả năng tăng mức độ” như: đánh, ngồi” [10,225] Tác giả Đỗ Thị Kim Liên

Trang 17

khi phân loại động từ đã chia thành 6 nhóm, trong đó nhóm động từ chỉ trạng

thái tâm lý thuộc nhóm thứ 6 Đó là các từ như: Lo lắng, bồn chồn, thoi thóp,… Diệp Quang Ban xếp vào loại động từ chỉ trạng thái, Lê Biên xếp vào

loại động từ cảm nghĩ, nói năng

Bên cạnh đó, từ chỉ tâm trạng lại được tác giả Đinh Văn Đức xếp vào

tính từ Tác giả cho rằng: “Tính từ còn bao gồm những đặc trưng được hình thành theo những chủ quan của con người trong quan hệ với đối tượng – những quan hệ của trạng thái tình cảm (vui, buồn, thương, yêu…)” [21,150] Nhưng theo tác giả “Những tính từ thiên về trạng thái nên có sắc thái “động” (vui, buồn, thương, yêu, nhớ, mong) Cho nên đấy là những từ mà từ một

phương diện khác còn có thể coi là động từ chỉ cảm xúc” [21,160]

Ta thấy một bộ phận lớn từ chỉ tâm trạng tiếng Việt vừa giống tính từ và

giống động từ, như: Nhớ, mong, thích, yêu, ghét, hồi hộp, lo âu… Chúng có

những đặc điểm ngữ pháp của động từ và có những đặc điểm ngữ pháp của tính từ Số này nhìn chung được xếp vào động từ Ngoài bộ phận đa số đó thì

có một số từ chỉ tâm trạng thuộc về tính từ như: say đắm, tha thiết, âm thầm Những từ này đứng sau động từ bổ nghĩa cho động từ, ví dụ: yêu say đắm, nhớ tha thiết Ngoài ra trong hoạt động ngữ pháp, các từ chỉ tâm trạng có thể kết hợp với các loại từ như nỗi, niềm, sự… tạo thành danh từ, ví dụ như: Niềm

đau, nỗi buồn, niềm vui, nỗi nhớ…

Từ những ý kiến của các tác giả đi trước và căn cứ vào hoạt động ngữ pháp của từ chỉ tâm trạng, chúng tôi cho rằng từ chỉ tâm trạng trong tiếng Việt

gồm 3 loại: Động từ, tính từ và danh từ

1.3 Tác giả nguyễn Bính và thơ Nguyễn Bính

1.3.1 Vài nét về nhà thơ Nguyễn Bính

Nguyễn Bính sinh ngày 13-2-1918, tức mồng ba Tết năm Mậu Ngọ với tên thật là Nguyễn Trọng Bính tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay

là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

Trang 18

Cha Nguyễn Bính tên là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, còn mẹ ông

là bà Bùi Thị Miện, con gái một gia đình khá giả Ông bà sinh được ba người con trai là Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường), Nguyễn Ngọc Thụ và Nguyễn Bính

Bà Miện bị rắn độc cắn rồi mất năm 1918, lúc đó bà mới 24 tuổi Để lại cho ông Bình ba đứa con thơ, khi đó Nguyễn Mạnh Phác mới sáu tuổi, Nguyễn Ngọc Thụ ba tuổi và Nguyễn Bính mới sinh được ba tháng Đúng như câu thơ ông viết:

Còn tôi sống sót là may

Mẹ hiền mất sớm trời đày làm thơ

Nguyễn Bính làm thơ từ thuở bé, năm 13 tuổi Nguyễn Bính được giải nhất trong cuộc thi hát trống quân đầu xuân ở hội làng với sáng tác:

Thi sĩ giang hồ, năm 1932, 1933 Nguyễn Bính có theo người bạn học ở thôn Vân lên Đồng Hỷ, Thái Nguyên dạy học, có lẽ những vần thơ như:

Cỏ đồi ai nhuộm mà xanh

Áo em ai nhuộm mà anh thấy chàm

Trang 19

Da trời ai nhuộm mà lam Tình ta ai nhuộm ai làm cho phai

được Nguyễn Bính viết trong thời gian này Cũng từ đây ông bắt đầu nổi tiếng trong sự nhgiệp sáng tác văn học Ông được giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi (1940) Năm 1943 Nguyễn Bính được giải nhất văn học Nam Xuyên ở Sài Gòn và truyện thơ Cây đàn Tì bà

Năm 1947 Nguyễn bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ Nhà thơ hăng hái tham gia mọi công tác và giữ được những trách nhiệm trọng yếu như phụ trách hội văn hóa cứu quốc tỉnh Rạch Giá, phó chủ nhiệm tỉnh bộ Việt Minh ở tỉnh Rạch Giá, sau làm ở ban văn nghệ thuộc phòng tuyên huấn quân khu tám Thời gian này Nguyễn Bính sáng tác khá kịp thời và đều đặn cổ động tinh thần yêu nước quyết chiến, quyết thắng giết giặc lập công Tháng

11 năm 1954 Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, ông công tác tại hội nhà văn Việt Nam Năm 1956 ông làm chủ bút tuần báo trăm hoa và đã cho đăng báo một

số bài viết

Năm 1958 Nguyễn Bính về cư trú tại Nam Định Ông đã góp phần vào sự trưởng thành của phong trào sáng tác văn nghệ của quê hương và thơ ông vẫn bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương cũng như của cả nước Mùa thu 1965 ông theo cơ quan văn hóa Nam Định sơ tán vào huyện Lí Nhân Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 30 Tết năm Ất Tỵ (20-01-1966) lúc đến thăm một người bạn ở xã Hòa Lý, huyện Lý nhân, Tỉnh Nam Định khi ông chưa kịp sang tuổi 49 Ông vừa hoàn thành và cho in bài thơ “Quê hương”, một bài thơ có những nét báo hiệu của một giai đoạn mới trong đời thơ ông

1.3.2 Thơ và thơ tình của Nguyễn Bính

a Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bính

Trong hơn 30 năm sáng tác với nhiều thể loại khác nhau ( Thơ, truyện thơ, kịch thơ, kịch bản chèo, lí luận sáng tác) Hoạt động văn nghệ của ông phong phú đa dạng song thành tựu xuất sắc nhất được độc giả ưa chuộng là thơ, bởi

Trang 20

thơ là mảng sáng tác kết tụ tài năng và tâm huyết của cuộc đời ông Riêng về thơ, có thể nói ông là cây bút sung sức nhất của phong trào Thơ mới Chỉ trong một thời gian ngắn ( 1940 - 1945 ) Nguyễn Bính đã cho ra đời các tập thơ có giá trị: Tâm hồn tôi (1940); Lỡ bước sang ngang (1940); Hương cố nhân (1941); Một nghìn cửa sổ (1941); Người con gái ở lầu hoa (1942); Mười hai bến nước (1942); Mây Tần (1942); Bóng giai nhân (kịch thơ - 1942); Truyện Tì bà ( Truyện thơ - 1944)

Sau cách mạng Nguyễn Bính lại cho ra mắt các tập thơ: Ông lão mài gươm (1947); Đồng tháp mười 1955); Trả ta về (1955); Gửi người vợ miền Nam (1955); Trông bóng cờ bay (1957); Tiếng trống đêm xuân (1958); Tình nghĩa đôi ta (1960); Đêm sao sáng (1962)

Nhìn chung cuộc đời Nguyễn Bính tuy ngắn ngủi nhưng sự nghiệp sáng tác của ông rất phong phú và đa dạng Mỗi chặng đường sáng tác của ông đều có

vẻ riêng song sức mạnh và tâm huyết sáng tác của nhà thơ có lẽ dồn vào giai đoạn trước cách mạng

Với lối viết giàu chất trữ tình dân gian Nguyễn Bính đã tạo được một gương mặt riêng trong nền văn học hiện đại Việt Nam Năm 2000 Nguyễn Bính được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

b Thơ tình của Nguyễn Bính

Thơ tình yêu là một mảng đề tài sáng tác không phải ngẫu nhiên mà là sản phẩm có ý thức lựa chọn của thi sĩ Sự ra đời của chủ nghĩa lãng mạn là sự bùng nổ của cái tôi cá nhân cùng với những khát khao được tự do về mặt tình cảm, lúc này đề tài tình yêu luôn là cảm hứng chính trong quá trình sáng tác của nhà thơ Nguyễn Bính

Trong phong trào Thơ mới (1932-1945), Nguyễn Bính là nhà thơ tình có phong cách riêng Ông tự xem mình là “thi sĩ của thương yêu” Đương thời

dư luận báo chí nhận xét đọc “hương cố nhân” ta thấy thi sĩ Nguyễn Bính là người đa cảm, mảnh hồn trong trẻo của tuổi thanh niên đã sớm theo luồng gió

ái ân mà nên câu tuyệt diệu

Trang 21

Con tằm đã lụy ba sinh

Mà em đã lụy của anh muôn đời

- Người con gái ở lầu hoa

- Mười hai bến nước

- Mây Tần

- Bóng giai nhân (kịch thơ)

- Trả ta về

- Gửi người vợ miền Nam

- Tình nghĩa đôi ta

Trong thơ tình Nguyễn Bính có một tâm hồn luôn khao khát yêu đương, nhớ nhung, chia sẻ Nhà văn trúc Đường - anh trai của Nguyễn Bính đã nhận xét “Bính như người khát nước mùa hè, yêu nhiều thất bại không ít, có lúc thất tình nhưng chỉ trong mơ thôi Vì người trong mộng, trong thơ, đến người ngoài đời là một khoảng cách khó khăn”

Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính không bình yên ổn định mà luôn ở trong trạng thái bất an Và chính cái bất an ấy làm cho câu thơ xao xuyến không ngừng rất thích hợp với tâm trạng người đang yêu

Lạ quá! làm sao tôi cứ buồn?

Làm sao tôi cứ khổ luôn luôn?

Làm sao tôi cứ tương tư mãi

Người đã cùng tôi phụ rất tròn

(Vâng)

Trang 22

Con người ấy, tình yêu ấy không dễ tạo được quả trong hạnh phúc, phải chăng tình yêu là mảnh đất hứa không bao giờ có thể đến được với nhà thơ, kẻ si tình mộ đạo khao khát đi tìm trong suốt cuộc đời Có thể vì thế các mối tình trong thơ Nguyễn Bính thường ở trạng thái dở dang, nhỡ nhàng, không có sự

trong các bài Dối lòng, Diệu vợi, Người con gái ở lầu hoa, Cô hái mơ, Hà Nội

ba mươi sáu phố phường song thực ra đó chỉ là tiếng lòng đồng vọng của

một tâm hồn đang khát khao yêu thương

Em ạ ! Ngày xưa vua nước Bướm Kén nhân tài mở Điệp lang khoa Vua không lấy trạng, vua thề thế Con bướm vàng truyền đậu thám hoa

Coi như chị đã ngang sông đắm đò

(Lỡ bước sang ngang)

Nguyễn Bính không nói rõ căn nguyên nhưng phần lớn nạn nhân đều là ở độ tuổi đang yêu và lập gia đình Sự bất bình đẳng trong quan hệ nam - nữ, thói đời tráo trở và bạc tình, những định kiến nặng nề trong chế độ cũ với người

Trang 23

phụ nữ đã cướp đi của họ quyền được yêu, được sống hạnh phúc Nguyễn Bính đã viết những câu thơ giàu cảm thương với cô hàng xóm bạc phận, với cảnh đời lỡ bước sang ngang, sự chờ đợi vô vọng của cô lái đò Những người con gái trong thơ Nguyễn Bính họ thật đáng yêu và có nhiều nét hiền lành duyên dáng của người phụ nữ truyền thống như cô gái quê bên khung cửi

“tuổi trẻ còn như cây lụa trắng” Họ đến với tình yêu nhưng đã sớm nhận ra nhưng chua chát xót xa của kẻ bạc tình

Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn

Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng

(Mƣa xuân)

Thơ tình Nguyễn Bính không đắm đuối ca ngợi tình yêu hưởng lạc như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng Nguyễn Bính có ý thức không để cho tình yêu làm tha hóa biến chất, không để những ham muốn trong tình yêu lứa đôi cuốn con người vào vòng trụy lạc

Tôi rờn rợn lắm giai nhân ạ Đành phụ nhau thôi kẻo đến ngày

Thơ tình Nguyễn Bính luôn khao khát một mái ấm gia đình đơn sơ, giản dị

Nhà gianh thì sẵn đấy

Vợ xấu có làm sao Quốc kêu ngoài bãi sậy Hoa súng nở đầy ao

(Hoa với rƣợu)

Trang 24

Có thể nói Nguyễn Bính là một trong những cây bút viết sung sức nhất Trong thời kì trước năm 1945, mảng thơ tình chiếm 7/10 tập thơ của ông Thơ tình Nguyễn Bính toát lên tình yêu thương mãnh liệt “Nguyễn Bính đã đi sâu vào thế giới tâm tình của những mảnh đời ngang trái, dở dang, phân cách, bẽ bàng với ngòi bút thi nhân, Nguyễn Bính tả chân thực được nỗi u buồn, trầm lặng, giải tỏa được những tiếng kêu bi thương của những tâm hồn mộc mạc” Chính điều đó đã làm cho tâm hồn Nguyễn Bính đi vào tâm hồn người đọc một cách nhẹ nhàng

Trang 25

dư luận, báo chí nhận xét: “ Đọc Hương cố nhân ta thấy thi sĩ là người đa

cảm, mảnh hồn trong trẻo của tuổi thanh niên đã sớm theo luồng gió ái ân mà nên câu tuyệt diệu”

Mỗi bài thơ, dù khác nhau đề tài hay nhân vật trữ tình ta đều thấy ở đó nhuốm màu tâm trạng nhà thơ Qua khảo sát 106 bài thơ tình của Nguyễn

Bính, chúng tôi thống kê được 288 từ chỉ tâm trạng với 1210 lần xuất hiện

Từ chỉ tâm trạng có đủ 3 từ loại: Động từ, tính từ, danh từ

2.1.1.1 Từ chỉ tâm trạng là động từ

Động từ là một trong hai từ loại cơ bản trong hệ thống từ loại tiếng Việt Động từ có số lượng khá lớn trong vốn từ vựng và có vai trò hoạt động ngữ pháp hết sức quan trọng trong việc tổ chức cấu tạo câu của tiếng Việt

Về đặc điểm ý nghĩa: Động từ biểu thị ý nghĩa hoạt động có quá trình hay những trạng thái nhất định của sự vật

Về đặc điểm ngữ pháp: Động từ làm thành tố trung tâm trong ngữ động

từ Khi làm trung tâm động từ có khả năng kết hợp với các thành tố phụ đứng trước hoặc đứng sau

Trong thơ tình Nguyễn Bính, các động từ chỉ tâm trạng xuất hiện nhiều,

gồm các từ: buồn, thương, đợi, chết, mơ, nhớ, yêu, vui, say, khóc,v.v

Động từ trong thơ Nguyễn Bính có 111 từ, xuất hiện 625 lượt, chiếm tỉ lệ 51,6 %

Trang 26

Kết quả thống kê các động từ chỉ trạng thái tâm lý và số lần xuất hiện chúng được thể hiện ở bảng sau 2.1

Bảng 2.1 Bảng thống kê các động từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

TT Từ chỉ tâm trạng Số lần

xuất hiện

TT Từ chỉ tâm trạng Số lần

xuất hiện

Trang 27

TT Từ chỉ tâm trạng Số lần

xuất hiện

TT Từ chỉ tâm trạng Số lần

xuất hiện

Trang 28

TT Từ chỉ tâm trạng Số lần

xuất hiện

TT Từ chỉ tâm trạng Số lần

xuất hiện

Tính từ tự thân: Là những tính từ chỉ có chức năng biểu thị phẩm chất,màu

sắc, kích thước, hình dáng, âm thanh, hương vị, mức độ, dung lượng…của sự vật hay hiện tượng,vídụ:

– Tính từ chỉ phẩm chất: tốt, xấu, sạch, bẩn, đúng, sai, hèn nhát

– Tính từ chỉ màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng, xám, đen, trắng, nâu

– Tính từ chỉ kích thước: cao, thấp, rộng, hẹp, dài, ngắn, to, nhỏ, bé, khổng

lồ, tí hon, mỏng, dầy

– Tính từ chỉ hình dáng: vuông, tròn, cong, thẳng, quanh co

Trang 29

– Tính từ chỉ âm thanh: ồn, ồn ào, trầm, bổng, vang

– Tính từ chỉ hương vị: thơm, thối, hôi, cay, nồng, ngọt, đắng, chua, tanh – Tính từ chỉ cách thức, mức độ: xa, gần, đủ, nhanh, chậm, lề mề

– Tính từ chỉ lượng/dung lượng: nặng, nhẹ, đầy, vơi, nông, sâu, vắng, đông

Việc phân loại tính từ như trên chỉ mang tính tương đối vì trong tiếng Việt tính từ có thể được sử dụng trong chức năng của trạng từ và khi ấy ý nghĩa của tính từ có thể thay đổi Ví dụ, so sánh:

Anh ấy cao 1m75/ Tôi đánh giá cao khả năng của anh ấy

Cái vali này rất nhẹ/ Chiếc thuyền lướt nhẹ trên sông

Tính từ không tự thân: Là những từ vốn không phải là tính từ mà là những từ

thuộc các nhóm từ loại khác (ví dụ: danh từ, động từ) nhưng được sử dụng như là tính từ Tính từ loại này chỉ có thể xác định được trên cơ sở quan hệ của chúng với các từ khác trong cụm từ hay câu Bình thường, nếu không có quan hệ với các từ khác, chúng không được coi là tính từ Như vậy, đây là loại tính từ lâm thời Tuy nhiên, khi được sử dụng làm tính từ, các danh từ hoặc động từ sẽ có ý nghĩa hơi khác với ý nghĩa vốn có của chúng, thường thì đó là

ý nghĩa khái quát hơn Chẳng hạn, khi nói “hành động ăn cướp” thì ăn

cướp thường có ý nghĩa “giống như ăn cướp” hay “có tính chất giống như ăn

cướp” chứ không phải là ăn cướp thật Vì vậy, việc nhận biết tính từ loại này

sẽ giúp ta hiểu đúng ý nghĩa của từ được sử dụng.Trong tiếng Việt có các loại tính từ không tự thân sau đây:

* Tính từ do danh từ chuyển loại Ví dụ: công nhân (trong: vải xanh công

nhân); nhà quê (trong: cách sống nhà quê); cửa quyền (trong: thái độ cửa quyền); sắt đá (trong: trái tim sắt đá); côn đồ (trong: hành động côn đồ)

* Tính từ do động từ chuyển loại Ví dụ: chạy làng (trong: thái độ chạy

làng); đả kích (trong: tranh đả kích); phản đối (trong: thư phản đối); buông thả (trong: lối sống buông thả)

Tính từ ghép trong tiếng Việt có thể được tạo ra bằng những cách sau đây:

– Ghép một tính từ với một tính từ, ví dụ: xinh đẹp, cao lớn, to béo, đắng cay,

Trang 30

ngay thẳng, mau chóng, khôn ngoan, ngu đần

– Ghép một tính từ với một danh từ, ví dụ: méo miệng, to gan, cứng đầu,

cứng cổ, ngắn ngày, vàng chanh

– Ghép một tính từ với một động từ, ví dụ: khó hiểu, dễ chịu, chậm hiểu, dễ

coi, khó nói

– Láy tính từ gốc, nghĩa là lặp lại toàn bộ hoặc một bộ phận của tính từ gốc để

tạo ra tính từ mới Ví dụ: đen đen, trăng trắng, đo đỏ, vàng vàng, nâu

nâu; sạch sẽ, may mắn, chậm chạp, nhanh nhẹn, đắt đỏ

Tóm lại, trong tiếng Việt, tính từ cũng là một loại từ cơ bản có vị trí quan

trọng sau danh từ và động từ

Về đặc điểm ý nghĩa: Tính từ là từ loại miêu tả đặc điểm hoặc chỉ tính

chất sự vật, hoạt động và trạng thái

Về đặc điểm ngữ pháp: Phần lớn tính từ tiếng Việt không tự thân có

nghĩa về mức độ, vì vậy nó thường kết hợp với phụ từ chỉ mức độ Ví dụ:

rất tốt, khá đẹp, yêu ghê…

Qua khảo sát 106 bài thơ, tính từ chỉ tâm trạng trong thơ Nguyễn Bính

có 127 từ, xuất hiện 383 lượt, chiếm tỉ lệ 31.6% Kết quả thống kê các tính từ

chỉ tâm trạng và số lần xuất hiện của tính từ được thể hiện ở bảng 2.2

Bảng 2.2 các tính từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

Trang 31

TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

Trang 32

TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

Trang 33

TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

Danh từ là loại từ cơ bản chiếm số lượng lớn trong kho từ vựng tiếng

Việt Danh từ được định nghĩa: “Là lớp từ có ý nghĩa phạm trù, sự vật biểu thị những đơn vị có thể nhận thức được trên cơ sở tồn tại của chúng dưới hình thức những hiện tượng trong tự nhiên và xã hội hoặc trong sự suy nghĩ của con người” [39, tr44]

Trong thơ tình Nguyễn Bính, qua khảo sát 106 bài thơ, danh từ chỉ tâm trạng có 50 từ, xuất hiện 202 lượt, chiếm tỉ lệ 16.8% Sự xuất hiện các danh từ

được biểu hiện như: (Áng) hương lòng, Ân tình, (Bài) thơ hận, (Cái) tình, Châu lệ, (Chén) sầu, ân tình, Dây tình, Tình duyên, (Đời) mưa gió, (Giấc) mê, (Giấc) mơ,( Giọt) buồn, Hồn, Nước mắt, Người yêu, Oán sầu

Có thể thấy, số lượng danh từ chỉ tâm trạng không nhiều như động từ, tính từ nhưng xuất hiện tương đối nhiều trong mỗi câu thơ, dòng thơ, bài thơ tình của Nguyễn Bính Chúng là những chất liệu có sẵn, không lạ lẫm nhưng qua cách

sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Bính, đã làm nên sự đa dạng, muôn vẻ cho thơ ông, thể hiện lối tư duy thơ độc đáo, một trái tim yêu thương luôn lỡ dở, lận đận

Trang 34

Kết quả thống kê và số lần xuất hiện của từng danh từ được thể hiện ở bảng sau 2.3

Bảng 2.3 Bảng thống kê các danh từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

Trang 35

TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

TT Từ chỉ tâm trạng

Số lần xuất hiện

Như vậy, tổng hợp lại ba loại từ chỉ tâm trạng được thể hiện ở bảng 2.4

Bảng 2.2 Bảng thống kê tổng hợp các từ loại chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính

lệ cao nhất Điều này cho thấy Nguyễn Bính thể hiện rất nhiều trạng thái tâm

lý trong thơ của mình Mỗi nhóm từ loại, từ chỉ tâm trạng biểu hiện rất đa

dạng, phản ánh đa dạng các tâm trạng cảm xúc khác nhau của chủ thể trữ tình

Ở mỗi nhóm từ loại, có một số từ lặp đi lặp lại và xuất hiện với tần số cao

Chẳng hạn, thuộc từ loại động từ có các từ xuất hiện nhiều như: Buồn (24

Trang 36

lần), Cười (13lần), Giăng mắc(5lần), Khóc(30lần), Nhớ (52 lần), Quên (12 lần), Thương (21 lần), Chết (8 lần), Chờ (6 lần), Dan díu (6 lần), Dối (4 lần), Đoái thương (4 lần), Đợi(7 lần), Lưu lạc (3 lần), Mỉm cười (3 lần), Mong (7 lần), Mong nhớ (3 lần), Mộng (4 lần), Mơ (10), Mơ ước(4 lần), Muốn (4 lần), Mừng(3 lần), Say(26 lần), Sầu (6 lần), Sợ (6 lần), Tàn(4 lần), Tiếc(3 lần), Tưởng(8 lần), Ước(6 lần), Van(6 lần), Vui(7 lần), Yêu(43 lần) Trong

mỗi nhóm từ loại, từ chỉ tâm trạng trong thơ Nguyễn Bính được chia thành

nhiều nhóm nhỏ dựa trên một từ gốc Chẳng hạn, động từ "nhớ" thường đi đôi với “ Thương” thành cặp “ Nhớ - thương”

Nỗi nhớ trong thơ tình Nguyễn Bính là sự thể hiện tình yêu của những mối tình xa cách, trắc trở có khi yêu là nhớ, nhớ là mong tạo thành cặp sóng

Ở một khí cạnh khác, thơ tình Nguyễn Bính nói về “tương tư” Động từ

“tương tư” tuy xuất hiện không nhiều trong thơ tình Nguyễn Bính nhưng nó là một đặc điểm trong thơ tình Nguyễn Bính

Ngoài các động từ chỉ trực tiếp các trạng thái của tình yêu như yêu, nhớ, thương, tương tư Chúng tôi còn thấy nhiều động từ khác trong thơ tình Nguyễn Bính chỉ các trạng thái của tình yêu như ghen, hôn, uống, muốn, bám, nghĩ, lấy, ôm, thề, say

Một từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính lại thể hiện ở nhiều cung bậc khác nhau Từ „tình” được dùng để chỉ những mối tình trắc trở (16

Trang 37

lần), mối tình đơn phương ( 10 lần), mối tình thủy chung ( 3 lần), tình trong ý nghĩa khác ( 8 lần)

Các từ chỉ tâm trạng trong thơ Nguyễn Bính còn có hiện tượng đa từ loại

- một đặc điểm của từ tiếng Việt Đa từ loại cũng là một hiện tượng chuyển loại nhưng là hiện tượng chuyển loại đặc biệt Trong thơ Nguyễn Bính có rất nhiều từ chỉ tâm trạng có hiện tượng chuyển loại này

Đó là hiện tượng động từ chỉ trạng thái chuyển sang danh từ chỉ trạng thái tính chất:

Mơ đi tôi cũng đi theo

Họa chăng gặp một vài chiều của nhau

(Mười hai bến nước)

Anh ơi! em nhớ em không nói

Nhớ cứ đầy lên cứ rối lên

( Nhớ)

Một vai gánh lấy giang san

Một vai nữa gánh muôn vàn nhớ thương

(Lỡ bước sang ngang)

Xuôi dòng nước chảy liên miên

Đưa thân thế chị tới miền đau thương Mười năm gối hận bên giường

Mười năm nước mắt bữa thường thay canh

(Lỡ bước sang ngang)

Đó là hiện tượng tính từ chỉ tính chất chuyển sang danh từ chỉ trạng thái tính chất:

Bình khang nấn ná chờ luân lạc

Một phía giang hồ mấy đắng cay

(Giời mưa ở Huế)

Trong thơ Nguyễn Bính, hiện tượng chuyển loại diễn ra nhiều nhằm diễn

tả tâm trạng với nhiều cung bậc khác nhau qua trái tim khao khát tình yêu

Trang 38

thủy chung, son sắt Đó cũng là một tâm hồn luôn có những buồn đau cô đơn, khát khao yêu thương nhưng cũng chứa đầy sự luyến tiếc dù cất tiếng gọi tìm tình yêu một cách chân thành có lúc náo nức, vui sướng, tâm hồn ấy vẫn mang một trái tim tuyệt vọng, sẵn sàng chịu đựng nỗi đau Nhiều bài thơ của ông đều mang những nỗi buồn rất não nùng Buồn vì tha hương, vì cô quạnh,

vì bị chia cắt Gốc tích của nỗi buồn đa phần là do tình yêu, vì cảnh đời đổi thay đen bạc

Do hiện tượng chuyển hóa từ loại cho nên kết quả thống kê của chúng tôi

sẽ có nhiều từ cùng có mặt trong các bảng từ loại khác như: Mơ, nhớ, nhớ thương, đau thương, sầu hận

2.2 Hoạt động ngữ pháp của từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn

Qua khảo sát, động từ chỉ trạng thái tâm lý trong thơ tình Nguyễn Bính

có mấy dạng kết hợp sau đây:

a Kết hợp với phó từ chỉ trạng thái hành động: chợt

“chợt”: Biểu thị một hành động, việc làm hay suy nghĩ, quyết định một

vấn đề nào đó nhanh, không chậm trễ

b Kết hợp với số từ: Một, hai, trăm nghìn

Một lầm hai lỡ keo sơn

Mong gì gắn lại phím đờn ngang cung

Trang 39

(Lỡ bước sang ngang)

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

(Tương tư)

Trăm sầu nghìn tủi mình tôi chịu

Ba bốn năm rồi năm sáu năm

(Hoa với rượu)

c Kết hợp với phó từ chỉ sự tiếp diễn: Vẫn, lại, còn, cũng,…

"Vẫn" biểu thị sự tiếp tục, tiếp diễn như trước, chứ không có gì thay đổi

vào thời điểm nói đến của một hành động, trạng thái, tính chất:

Tàu chạy lâu rồi bà vẫn đứng

Một mình đổ bóng xuống sân ga

(Những bóng người trên sân ga)

"Lại" biểu thị một hành động, trạng thái tình cảm tiếp tục sau một hành

động trạng thái tình cảm trước đó hoặc biểu thị một trạng thái tình cảm được lặp đi lặp lại nhằm mục đích nhấn mạnh:

Cô đơn buồn lại thêm buồn

Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?

(Người hàng xóm)

Rượu cất kì ngon men ủ khéo

Say người thiên hạ lại say nhau

(Hoa và rượu)

“Còn” Là phụ từ biểu thị sự tiếp tục, tiếp diễn của hành động, trạng thái cho

đến một lúc nào đó Động từ chỉ trạng thái tâm lí trong thơ Nguyễn Bính kết

hợp với phó từ “còn” xuất hiện nhiều trong thơ Nguyễn Bính

Ương ương dở dở quá đi thôi

Cô có còn thương đến chúng tôi

(Người mẹ)

Vừa mới hôm nào còn thẹn thẹn

Trang 40

Tay cầm sáp đỏ để lên môi

Chắc hẳn những đêm như đêm qua

Nàng còn say mộng ở chăn hoa

Nàng còn thao thức ôm cho chặt

Chiếc gối nhung mềm giữa giấc mê

(Viếng hồn trinh nữ)

“Cũng” Là phụ từ mang ý nghĩa khẳng định sự quyết tâm khi thực hiện

một điều gì đó:

Mưa chiều nắng sớm người ta bảo

Cả đến ông trời cũng đổi thay

(Giời mƣa ở Huế)

Trong số các từ vẫn, lại, còn, cũng, thì động từ chỉ tâm trạng trong thơ Nguyễn Bính kết hợp với phó từ chỉ sự tiếp diễn nhiều nhất với từ “vẫn” đã

thể hiện dòng cảm xúc của nhà thơ như những đợt sóng tình cứ liên tiếp trào dâng nhưng sự thật thì vẫn phũ phàng, đời vẫn đen bạc, nỗi buồn, niềm cô

đơn vẫn cứ kéo dài ra Bên cạnh đó, "vẫn" còn là sự khẳng định của nhân vật trữ tình: vẫn yêu, vẫn nhớ, vẫn chờ như một sự khẳng định tuyệt đối không

gì có thể thay đổi được

c Kết hợp với phó từ chỉ sự phủ định, khẳng định hay nghi vấn như: có, không, chưa, chẳng,

“Không” Biểu thị ý phủ định đối với điều được nêu ra sau đó (có thể là một hiện tượng hoặc trạng thái tâm lý tình cảm)

Cái gì như thể nhớ mong?

Nhớ nàng? Không, quyết là không nhớ nàng!

Nhớ con bướm trắng lạ lùng

Nhớ tơ vàng nữa, nhưng không nhớ nàng

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bảng thống kê các động từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính.  - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình nguyễn bính
Bảng 2.1. Bảng thống kê các động từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính. (Trang 26)
– Tính từ chỉ hình dáng: vuông, tròn, cong, thẳng, quanh co. - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình nguyễn bính
nh từ chỉ hình dáng: vuông, tròn, cong, thẳng, quanh co (Trang 28)
sắc, kích thước, hình dáng, âm thanh, hương vị, mức độ, dung lượng…của sự vật hay hiện tượng,vídụ:  - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình nguyễn bính
s ắc, kích thước, hình dáng, âm thanh, hương vị, mức độ, dung lượng…của sự vật hay hiện tượng,vídụ: (Trang 28)
Bảng 2.2 các tính từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình nguyễn bính
Bảng 2.2 các tính từ chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính (Trang 30)
32 Lẻ hình 2 96 Ngây ngất 2 - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình nguyễn bính
32 Lẻ hình 2 96 Ngây ngất 2 (Trang 32)
Kết quả thống kê và số lần xuất hiện của từng danh từ được thể hiệ nở bảng sau 2.3  - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình nguyễn bính
t quả thống kê và số lần xuất hiện của từng danh từ được thể hiệ nở bảng sau 2.3 (Trang 34)
Như vậy, tổng hợp lại ba loại từ chỉ tâm trạng được thể hiệ nở bảng 2.4. - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình nguyễn bính
h ư vậy, tổng hợp lại ba loại từ chỉ tâm trạng được thể hiệ nở bảng 2.4 (Trang 35)
Bảng 2.2. Bảng thống kê tổng hợp các từ loại chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính - Đặc điểm từ chỉ tâm trạng trong thơ tình nguyễn bính
Bảng 2.2. Bảng thống kê tổng hợp các từ loại chỉ tâm trạng trong thơ tình Nguyễn Bính (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w