1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính luận đề trong một số tiểu thuyết lịch sử việt nam tiêu biểu từ năm 2000 đến nay

135 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính Luận Đề Trong Một Số Tiểu Thuyết Lịch Sử Việt Nam Tiêu Biểu Từ Năm 2000 Đến Nay
Tác giả Trần Thị Khánh Vân
Người hướng dẫn PGS.TS Phan Huy Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (0)
  • 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu (0)
  • 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát (0)
  • 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (10)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (10)
  • 6. Đóng góp của luận văn (11)
  • 7. Cấu trúc của luận văn (11)
  • Chương 1. GIA TĂNG TÍNH LUẬN ĐỀ - MỘT XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦ TIỂ TH YẾT ỊCH Ử VIỆT N M TỪ NĂM 2000 ĐẾN N Y (12)
    • 1.1. Khái niệm tính luận đề trong sáng tác văn học (12)
      • 1.1.1. Khái niệm tính luận đề trong sáng tác văn học (0)
      • 1.1.2. Tính luận đề trong thể loại tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết lịch sử nói riêng (13)
    • 1.2. Nhận diện các xu hướng phát triển chính của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong hơn 15 năm đầu của thế kỷ XXI (14)
      • 1.2.1. Xu hướng minh họa và tái hiện lịch sử (14)
      • 1.2.2. Xu hướng cắt nghĩa lịch sử bằng nguyên nhân văn hóa (21)
      • 1.2.3. Xu hướng giải tỏa nghi án lịch sử (30)
    • 1.3. Xu hướng gia tăng tính luận đề trong tiểu thuyết lịch sử - nguyên nhân và ý nghĩa (33)
      • 1.3.1. Đặc điểm chung của tiểu thuyết lịch sử giàu tính luận đề (33)
      • 1.3.2. Nguyên nhân, ý nghĩa của hiện tượng gia tăng tính luận đề (38)
      • 1.3.3. Những khiên cưỡng khó tránh (42)
    • 1.4. Tính luận đề trong mối quan hệ với các tính chất khác của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ năm 2000 đến nay (45)
  • Chương 2. NHỮNG ẬN ĐỀ NỔI BẬT TRONG CÁC TIỂ TH YẾT ỊCH Ử VIỆT N M TIÊ BIỂ TỪ NĂM 2000 ĐẾN N Y (56)
    • 2.1. Luận đề về vai trò và số phận của những nhà cách tân trong lịch sử (0)
      • 2.1.1. Nguyên cớ thúc đẩy các nhà văn thể hiện luận đề này (56)
      • 2.1.2. Các nhà cách tân và những bài học nhân thức (58)
      • 2.1.3. Tầm vóc của những quan điểm - tư tưởng đã được thể hiện (63)
    • 2.2. Luận đề về mối quan hệ giữa người trí thức và quyền lực thống trị (66)
      • 2.2.1. Tính thời sự của luận đề về mối quan hệ giữa người trí thức và quyền lực thống trị (66)
      • 2.2.2. Tương quan đầy nghịch lý giữa các trí thức - nghệ sĩ với vương quyền (71)
      • 2.2.3. Những khía cạnh độc sáng trong việc phát triển luận đề này ở một số tiểu thuyết lịch sử (73)
    • 2.3. Luận đề về sức sống của ý thức cá nhân, cá tính trong guồng quay của lịch sử (0)
      • 2.3.1. Vấn đề nhận thức lại về quyền sống con người cá nhân trong văn học Việt Nam hiện nay (77)
      • 2.3.2. Khẳng định ý thức cá nhân, cá tính trong các nhân vật lịch sử - một phương thức phục nguyên tính sinh động của các quá trình lịch sử (79)
      • 2.3.3. Việc xử lý mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng của các nhân vật lịch sử theo góc nhìn của nhà tiểu thuyết (82)
    • 2.4. Luận đề về những thách thức văn hóa, tôn giáo trong tiến trình lịch sử (0)
      • 2.4.3. Những “giải pháp” văn hóa được đề xuất và ý nghĩa của chúng (94)
  • Chương 3. NGHỆ TH ẬT THỂ HIỆN ẬN ĐỀ TRONG CÁC TIỂ (98)
    • 3.1. Tạo dựng các loại hình xung đột khác nhau nhằm làm sáng tỏ luận đề (98)
      • 3.1.1. Xung đột giữa các thế lực nắm quyền (98)
      • 3.1.2. Xung đột giữa lợi ích cá nhân và sứ mệnh quốc gia (101)
      • 3.1.3. Xung đột giữa tình thế ngặt nghèo trước mắt với sự hưng vượng lâu dài của đất nước (104)
    • 3.2. Xóa bỏ khoảng cách sử thi trong việc tiểu thuyết hóa nhân vật lịch sử (106)
      • 3.2.1. Sự khác biệt giữa nhân vật lịch sử được xây dựng theo nguyên tắc sử thi với nhân vật được xây dựng theo nguyên tắc tiểu thuyết (106)
      • 3.2.3. Những biểu hiện sinh động của việc tiểu thuyết hóa nhấn vật lịch sử (109)
      • 3.2.3. Tiểu thuyết hóa nhân vật lịch sử - một điều kiện thiết yếu để thể hiện các luận đề hiện đại (115)
    • 3.3. Phối trộn các bình diện không - thời gian nhằm tạo sự kết nối xưa - nay (118)
      • 3.3.1. Những kỹ thuật phối trộn không - thời gian trong các tiểu thuyết lịch sử (118)
      • 3.3.2. Phối trộn các bình diện không - thời gian để hiện tại hóa các vấn đề lịch sử (121)
      • 3.3.3. Đưa các vấn đề đương đại vào khung thời gian lịch sử để thẩm định tính vĩnh hằng của nó (124)

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra của công trình Các phương pháp chủ yếu:

- Phương pháp hệ thống - cấu trúc

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp so sánh- đối chiếu

Đóng góp của luận văn

Luận văn này là nghiên cứu đầu tiên về tính luận đề trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ năm 2000 đến nay, nhằm cung cấp thêm cơ sở cho việc đánh giá đúng đắn xu hướng tìm tòi của thể loại tiểu thuyết lịch sử trong văn học Việt Nam hiện đại.

Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham hảo, nội dung chính của luận văn được triển khai qua 3 chương:

Chương 1: Gia tăng tính luận đề - một xu hướng phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ năm 2000 đến nay

Chương 2: Những luận đề nổi bật trong các tiểu thuyết lịch sử Việt

Nam tiêu biểu từ năm 2000 đến nay

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện luận đề trong các tiểu thuyết lịch sử

Việt Nam tiêu biểu từ năm 2000 đến nay

GIA TĂNG TÍNH LUẬN ĐỀ - MỘT XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦ TIỂ TH YẾT ỊCH Ử VIỆT N M TỪ NĂM 2000 ĐẾN N Y

Khái niệm tính luận đề trong sáng tác văn học

1.1.1.Tính luận đề trong sáng tác văn học

Tính luận đề trong sáng tác văn học được hiểu là mệnh đề hoặc thuyết được coi là đúng và được bảo vệ bằng luận cứ Điều này cho thấy rằng các tác phẩm văn học thường thể hiện những quan điểm, ý tưởng mà tác giả muốn truyền đạt, đồng thời dựa vào các lập luận để củng cố cho những quan điểm đó.

Tính luận đề là một yếu tố quan trọng trong mọi tác phẩm văn học có giá trị, thể hiện ý tưởng và quan niệm của tác giả về

Tính luận đề trong sáng tác văn học, theo nghĩa hẹp, là sản phẩm được xây dựng một cách logic và có ý thức, dựa trên quan điểm chặt chẽ Tác giả không giấu diếm ý định của mình mà mong muốn làm rõ ràng thông điệp của tác phẩm Họ tìm cách thể hiện vấn đề một cách cụ thể, không mập mờ hay bất định Khi sáng tác một tác phẩm có tính luận đề, nhà văn thể hiện niềm tin vào khả năng tác động xã hội mạnh mẽ của văn học.

Tính luận đề là yếu tố quan trọng có thể xuất hiện trong mọi tác phẩm văn học, bao gồm thơ trữ tình, truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch Người đọc có khả năng cảm nhận được tính luận đề này qua nhiều thể loại văn học khác nhau, không giới hạn theo thời kỳ.

Tính luận đề trong các tác phẩm văn học, dù thể hiện theo nhiều màu sắc khác nhau, vẫn mang một tinh thần chung là phản ánh quan điểm, nhận định và đánh giá của tác giả về các vấn đề của cuộc sống Những thông điệp này thường chứa đựng ý nghĩa sâu sắc về nhân sinh.

1.1.2 Tính luận đề trong thể loại tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết lịch sử nói riêng

Theo giáo sư văn học Mỹ Rubin Suleiman, khái niệm “tiểu thuyết luận đề” xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX tại Pháp Goldenstein trong tác phẩm "Để đ c tiểu thuyết" (1983) cũng công nhận sự tồn tại của “tiểu thuyết luận đề” Tại Việt Nam, trước năm 1945, một số nhà phê bình đã đề cập đến “truyện luận đề” hay “tiểu thuyết luận đề” Trong tác phẩm "Nhà văn hiện đại", Vũ Ngọc Phan đã ghi nhận mười hai loại hình tiểu thuyết, bao gồm tiểu thuyết luận đề Ông định nghĩa tiểu thuyết luận đề là “một hình thức văn chương mau lẹ hơn, kém phần chải chuốt nhưng xác thực hơn và không có sở vọng trí thức hay đạo đức”.

Nhà văn Nhất Linh, một trong những tác giả thành công trong giai đoạn 1930 - 1945, đã định nghĩa rằng viết tiểu thuyết luận đề là việc sáng tác nhằm nêu ra một lý thuyết, cổ vũ và tuyên truyền những giá trị tốt đẹp mà tác giả tin tưởng, đồng thời chỉ trích những điều mà họ cho là xấu xa.

Từ những năm 30 của thế kỷ XX, tiểu thuyết Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu với các thể loại như tiểu thuyết lãng mạn, hiện thực và lịch sử Mỗi thể loại phản ánh xã hội theo cách riêng, với những biểu hiện khác nhau trong từng luận đề Các tác phẩm nổi bật của Hoàng Ngọc Phách, Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan và Nhất Linh thể hiện sâu sắc quan điểm của các nhà văn về sự hư hỏng, thối nát và bất công của xã hội đương thời, đồng thời khẳng định vai trò của con người cá nhân và chống lại lễ giáo phong kiến, đề cao tự do cá nhân Đây chính là tính luận đề trong sáng tác văn học.

Tiểu thuyết lịch sử, từ thời trung đại đến hiện đại, đã phát triển mạnh mẽ và thu hút đông đảo bạn đọc Trong những năm đầu thế kỷ XXI, thể loại này đạt được nhiều thành tựu xuất sắc với sự nổi bật của các tác giả như Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Thế Quang, Uông Triều, Võ Thị Hảo Những tác phẩm tiêu biểu như "Đội gạo lên chùa," "Hội thề," "Thông reo ngàn Hống," "Hồ Quý Ly," và "Mẫu Thượng Ngàn" đã góp phần khẳng định vị thế của tiểu thuyết lịch sử trong lòng độc giả.

Các nhà văn thể hiện quan điểm và thái độ về quá khứ cũng như cuộc sống hiện tại qua từng trang viết, tạo nên những luận đề sâu sắc gửi đến độc giả Những luận đề này đã góp phần hình thành màu sắc độc đáo cho tiểu thuyết lịch sử từ năm 2000 đến nay.

Nhận diện các xu hướng phát triển chính của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong hơn 15 năm đầu của thế kỷ XXI

1.2.1 Xu hướng minh họa và tái hiện lịch sử

Cuộc sống là dòng chảy không ngừng, trong khi văn học giữ gìn ký ức và phản ánh bức tranh cuộc sống một cách chân thực Các nhà văn thường quay về với lịch sử để khám phá các nhân vật và sự kiện, từ đó nhận thức rõ hơn về bản chất cuộc sống Văn học sử dụng nhân vật như phương tiện để thể hiện cái nhìn của thời đại và khám phá sự đa dạng, phức tạp của cuộc sống Việc tái hiện quá khứ trong văn chương cũng giúp con người tự nhận thức, hiểu rõ hơn về chính mình Tiểu thuyết lịch sử, với chủ đề về các sự kiện và nhân vật lịch sử, vẫn là một dòng chảy phong phú trong nền văn học dân tộc.

Nhà văn thường sử dụng những câu chuyện xưa để phản ánh đời sống hiện tại, tiếp thu bài học từ quá khứ và thể hiện sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua Tuy nhiên, việc này không đồng nghĩa với việc hiện đại hóa nhân vật lịch sử hay làm mất đi tính chân thật của lịch sử Để làm được điều này, nhà văn cần phải là một nghệ sĩ đồng thời là một nhà nghiên cứu, sở hữu vốn sống phong phú và hiểu biết sâu rộng, cùng với quan điểm lịch sử đúng đắn và tiến bộ.

Mỗi nhà văn khi viết tiểu thuyết lịch sử đều có cách tiếp cận riêng về đề tài này Một số nhà văn coi việc tái hiện chính xác các sự kiện và không khí lịch sử là yêu cầu cơ bản, thể hiện lịch sử qua lăng kính văn chương Họ thường viết với thái độ kính cẩn và ngợi ca, biến những sự kiện, nhân vật, và câu chuyện lịch sử khô khan trở nên sinh động và hấp dẫn Nhà văn Thái Vũ nhấn mạnh rằng: “Tôi không viết tiểu thuyết mà tôi viết lịch sử Mà đã viết lịch sử thì phải trung thực, tôn trọng sự thật không bịa.” Ông khẳng định sự cần thiết phải trung thực trong việc miêu tả các sự kiện và nhân vật lịch sử.

Tiểu thuyết lịch sử đã tái hiện sống động lịch sử dân tộc, mang đến cho độc giả cái nhìn sâu sắc về quá khứ Qua các tác phẩm như "Bão táp triều Trần" và "Tám triều vua Lý", người đọc không chỉ tiếp thu kiến thức lịch sử mà còn cảm nhận được tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc Các tác giả khéo léo kết hợp giữa hư cấu và sự thật lịch sử, như Nguyễn Lương Bích đã nhấn mạnh, để giáo dục tư tưởng quần chúng thông qua nghệ thuật văn học Trong "Thông reo ngàn Hống", nhà văn Nguyễn Thế Quang đã tái hiện nhân vật lịch sử Nguyễn Công Trứ với nhiều khía cạnh đa dạng, từ tài năng văn chương đến lòng trung quân ái quốc Tác phẩm không chỉ làm nổi bật nhân vật mà còn khắc họa bức tranh sinh động về thời đại Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, giúp độc giả sống và trải nghiệm cùng lịch sử Như Giáo sư Trần Đình Sử đã chỉ ra, tiểu thuyết lịch sử không chỉ kể lại sự kiện mà còn tái hiện cuộc sống con người, từ tâm hồn đến trang phục, tạo nên một trải nghiệm phong phú cho người đọc.

Xây dựng tiểu thuyết Nguyễn Du, dường như tác giả Nguyễn Thế

Nguyễn Thế Quang đã xây dựng một tác phẩm văn học phong phú dựa trên tư liệu lịch sử và văn học đa dạng, tương tự như trong tiểu thuyết "Thông reo ngàn Hống" Tác giả trung thành với nguyên tắc "bám vào hiện thực" nhưng lựa chọn những thời điểm và hoàn cảnh đặc biệt để làm nổi bật tính cách nhân vật và ý đồ sáng tác Tác phẩm đặt ra vấn đề quan hệ giữa người cầm quyền và trí thức, một vấn đề quan trọng trong mọi chế độ Các nhân vật lịch sử như vua Gia Long, vua Minh Mạng, Ngô Thì Nhậm, Đặng Trần Thường, Hồ Xuân Hương, và đặc biệt là Nguyễn Du, được khắc họa chân thực và sinh động qua các sự kiện lịch sử Ngoài việc tái hiện các sự kiện có thật, Nguyễn Thế Quang còn sáng tạo thêm những chi tiết hư cấu như mối tình giữa Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, cũng như cuộc đối thoại giữa vua Gia Long và Nguyễn.

Nguyễn Du đã phá vỡ long mạch của dòng họ, dẫn đến việc không ai trong gia đình tiếp tục làm quan sau này Những vấn đề lịch sử này vừa mang tính thực tế, vừa có yếu tố hư cấu.

Nguyễn Thế Quang đã khéo léo tái hiện và minh họa lịch sử dân tộc, khiến người đọc khó phân biệt giữa thực tế và hư cấu trong tác phẩm của ông.

Cuốn tiểu thuyết "Mẫu Thượng Ngàn" tái hiện sâu sắc văn hóa và phong tục Việt Nam qua cuộc sống của người dân ở vùng quê bán sơn địa Bắc Bộ vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX Trong bối cảnh thực dân Pháp xâm lược, khi đạo Phật suy tàn và đạo Khổng bị gạt bỏ, người dân đã trở về với đạo Mẫu, một tôn giáo có nguồn gốc lâu đời, thể hiện sự tìm kiếm niềm tin và bản sắc văn hóa trong thời kỳ khó khăn.

Mẫu Thượng Ngàn cũng là cuốn tiểu thuýêt lịch sử xã hội về Hà Nội cuối thế kỷ

Vào thế kỷ XIX, liên quan đến cuộc tấn công của người Pháp vào thành Hà Nội lần thứ hai và sự xây dựng Nhà Thờ Lớn, Mẫu Thượng Ngàn còn phản ánh câu chuyện tình yêu của những người phụ nữ Việt trong bối cảnh làng cổ Tình yêu của họ vừa bao dung vừa mãnh liệt, thể hiện nỗi đắng cay và chất phồn thực, hòa quyện giữa bi kịch và hài hước, mang đậm mộng mơ và cao thượng.

Một số nhà văn có quan niệm rằng lịch sử là chất liệu và phương tiện để sáng tác tiểu thuyết Họ sử dụng những "sự thật lịch sử" như sự kiện, nhân vật, phong tục tập quán và trò chơi, nhưng không thể yêu cầu "hoàn nguyên lịch sử", điều mà ngay cả sử học cũng không thực hiện được.

A Duyma vẫn đúng “Sự thật lịch sử” mà mọi người đã biết theo sách sử đóng vai trò là những kí hiệu đánh dấu cái thời mà nhà tiểu thuyết miêu tả, nó là cái đinh để nhà văn treo câu chuyện của mình lên Các nhà văn đã lấy đề tài lịch sử làm nguồn cảm hứng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Qua những câu chuyện lịch sử ấy, nhà văn muốn gửi gắm những bức thông điệp về cuộc sống và con người trong hiện tại Các nhà văn như Võ Thị Hảo, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân… là những nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử theo quan niệm này Các tiểu thuyết lịch sử của họ thoát khỏi sự minh họa lịch sử đơn thuần, luôn chứa đựng những suy ngẫm riêng, tư tưởng riêng Nguyễn Quang Thân, nhà văn đạt giải A trong cuộc thi viết tiểu thuyết giai đoạn 2006

Vào năm 2010, Hội Nhà văn đã nhấn mạnh rằng tiểu thuyết lịch sử cần làm nổi bật những điều bị lãng quên trong quá khứ, giúp chúng trở nên sống động trong bối cảnh hiện đại, thay vì chỉ để độc giả sống trong ký ức Quan niệm này đã trở thành nguyên tắc dẫn dắt trong việc sáng tác cuốn tiểu thuyết lịch sử "Hội thề" của nhà văn Nguyễn.

Xuân Khánh chia sẻ quan điểm với Nguyễn Quang Thân về việc sử dụng lịch sử để phản ánh các vấn đề hiện tại, nhưng có cái nhìn cởi mở hơn về tiểu thuyết lịch sử Ông phân loại tiểu thuyết lịch sử thành hai loại: loại thứ nhất viết về những nhân vật nổi tiếng, trong đó người viết không được phép bịa đặt mà chỉ được hư cấu tâm lý hoặc thêm nhân vật hư cấu để làm sáng tỏ nhân vật có thật; loại thứ hai là nhà văn tạo dựng không khí xưa nhưng sử dụng nhân vật hư cấu hoàn toàn.

Có một vài nhân vật nhưng chỉ làm bối cảnh cho nhân vật hư cấu Và lịch sử chỉ là cái đinh treo” [33

Hồ Quý Ly là một trong những tiểu thuyết lịch sử hấp dẫn nhất, tập trung vào giai đoạn cuối của triều đại nhà Trần và nhân vật gây tranh cãi trong lịch sử Việt Nam - Hồ Quý Ly Cuốn tiểu thuyết không chỉ khắc họa chân dung của ông mà còn phản ánh những biến động lịch sử của thời kỳ này.

Hồ Quý Ly được nhà văn Nguyễn Xuân Khánh khắc họa dưới một góc nhìn mới, thể hiện hình ảnh của một vị anh hùng đa mưu túc trí với tầm nhìn lớn lao cho đất nước Thành công của tác phẩm này không chỉ nâng cao vị thế của tiểu thuyết lịch sử mà còn cho thấy sự giao thoa giữa lịch sử và cảm xúc thẩm mỹ của con người.

Xu hướng gia tăng tính luận đề trong tiểu thuyết lịch sử - nguyên nhân và ý nghĩa

1.3.1 Đặc điểm chung của tiểu thuyết lịch sử giàu tính luận đề

Tiểu thuyết là một hình thức nghệ thuật hư cấu và tưởng tượng, đồng thời cũng là một cuộc phiêu lưu trong việc khám phá đời sống con người trong bối cảnh xã hội rộng lớn Theo quan niệm hiện đại, tiểu thuyết được xem như một cuộc đối thoại giữa tác giả và độc giả, thể hiện tính tự do và sự linh hoạt Tác giả thường sử dụng giọng điệu rõ ràng để truyền tải quan điểm của mình, cho phép nhân vật bày tỏ ý kiến một cách thẳng thắn Điều này cho thấy tiểu thuyết không chỉ đơn thuần là kể chuyện mà còn là một công cụ để tác giả thể hiện quan điểm và đấu tranh cho những giá trị mà họ tin tưởng, thông qua việc xây dựng cốt truyện và hình tượng nhân vật một cách có chủ đích.

Thời gian gần đây, tiểu thuyết lịch sử tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ với nhiều tác phẩm nổi bật từ các tác giả như Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân, và Võ Thị Hảo Những nhà văn này đã sử dụng lịch sử làm nguồn cảm hứng, mỗi người có cách cảm nhận và phản ánh riêng về các câu chuyện lịch sử Đặc điểm chung của nhiều tiểu thuyết lịch sử là sự chứa đựng tính luận đề, với những tư tưởng sâu sắc về vấn đề xã hội được truyền tải qua từng trang văn Tác phẩm "Hồ Quý Ly" của Nguyễn Xuân Khánh nêu bật vấn đề đổi mới và bảo thủ trong bối cảnh xã hội cuối đời Trần, cho thấy sự cần thiết phải cải cách để phục hưng đất nước, mặc dù con đường này gặp phải nhiều chống đối Cuối cùng, tác phẩm khẳng định rằng đổi mới là điều tất yếu của lịch sử, dù bắt đầu luôn đầy khó khăn Trong khi đó, "Mẫu Thượng Ngàn" lại bàn về cội nguồn bản sắc văn hóa Việt và cách giữ gìn, phát huy giá trị dân tộc trong bối cảnh xung đột văn hóa phương Tây.

Trong tác phẩm "Giàn thiêu," Võ Thị Hảo khắc họa khát vọng tự do và nỗi trăn trở của con người trong việc tìm kiếm bản thể Tác phẩm cũng phản ánh bi kịch của lòng hận thù và sức mạnh bất diệt của tự nhiên, những vấn đề tồn tại từ xưa đến nay trong cuộc sống con người.

Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ năm 2000 đến nay không chỉ truyền tải những tư tưởng sâu sắc về cuộc sống mà còn thể hiện rõ các quan hệ xã hội nhân sinh Các tác phẩm thường bộc lộ lập trường của nhà văn, qua đó phủ nhận hoặc đề cao những vấn đề cụ thể Những quan điểm này phản ánh cách nhìn nhận và đánh giá của mỗi tác giả về các vấn đề lịch sử và thực tại hiện nay.

Trong bài viết "Thông reo ngàn Hống" của Nguyễn Thế Quang, tác giả thể hiện cái nhìn đa diện về Nguyễn Công Trứ, một nhân vật lịch sử có nhiều đóng góp quan trọng Ông không chỉ là một quan chức tài năng mà còn là một nhà thơ xuất sắc, có tâm huyết với đất nước và văn hóa Nguyễn Công Trứ được miêu tả là người có cốt cách thanh cao, trung quân ái quốc, dù trải qua nhiều thăng trầm Bên cạnh đó, ông cũng là một người đa tình, trân trọng vợ cả và những người phụ nữ xung quanh Tuy nhiên, tác phẩm không chỉ tập trung vào khía cạnh tình cảm mà còn khai thác sâu vào nỗi đau và tâm trạng của kẻ sĩ trước thời cuộc Trong khi đó, tác phẩm "Hội thề" của Nguyễn Quang Thân khắc họa khởi nghĩa Lam Sơn, nhưng chỉ chọn một thời điểm quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Minh, khi quân Lam Sơn chuẩn bị kết thúc cuộc chiến với chiến thắng gần kề.

Vấn đề chiến thắng trong bối cảnh lịch sử được thể hiện qua hai khả năng: một là tiêu diệt hoàn toàn quân xâm lược, hai là buộc chúng phải đầu hàng mà không cần đổ máu, dẫn đến sự phân hóa trong triều đình Lam Sơn giữa hai phe: nhóm Thăng Long do Nguyễn Trãi lãnh đạo và các tướng lĩnh Lam Sơn trung thành với Lê Lợi Sự mâu thuẫn này giữa "quân ta" đã được Nguyễn Quang Thân khai thác để giải thích lịch sử theo cách riêng của mình Đối với Hồ Quý Ly, Nguyễn Xuân Khánh chỉ tập trung vào giai đoạn cuối triều Trần, không đề cập đến việc cướp ngôi hay bị giặc Minh bắt, thể hiện sự kính trọng đối với ông và đồng thời phản ánh sự khủng hoảng của nhà Trần, đòi hỏi một cuộc cách tân cấp thiết.

Hồ Quý Ly xuất hiện trong bối cảnh lịch sử có tính thời sự, thể hiện tiếng nói bênh vực của tác giả dành cho nhân vật này Trong các tiểu thuyết lịch sử, việc lựa chọn sự kiện và nhân vật không chỉ phản ánh thực tế mà còn mang ý nghĩa sâu sắc, thể hiện sự chủ tâm của nhà văn Những lựa chọn này không chỉ nhằm mục đích kể lại lịch sử mà còn đặt ra các vấn đề xã hội quan trọng của thời đại hiện tại.

Hồ Quý Ly là một nhân vật gây tranh cãi trong lịch sử Việt Nam, với nhiều ý kiến trái chiều về vai trò và ảnh hưởng của ông Những đánh giá khác nhau về Hồ Quý Ly phản ánh sự phức tạp trong việc hiểu rõ về di sản lịch sử của ông.

Hồ Quý Ly là tác phẩm thể hiện rõ luận đề về ý nghĩa "thời thế" của nhân vật trong bối cảnh suy tàn của triều Trần, khi mà số phận của triều đại này không còn cho phép họ đảm đương trọng trách lịch sử Nguyễn Xuân Khánh khéo léo lồng ghép luận đề này qua các cuộc nghị bàn của nhân vật lịch sử, kể lại sự kiện để luận giải thế sự, chủ yếu thông qua ý nghĩ và tư tưởng của nhân vật thay vì mô tả cảnh vật hay ngoại hình Độc giả không dễ dàng hình dung ra diện mạo của nhân vật chính, mà chỉ cảm nhận được tư tưởng sâu sắc của họ Để phù hợp với chủ trương này, Nguyễn Xuân Khánh không tuân theo trình tự thời gian tuyến tính như Hoàng Quốc Hải, mà sử dụng thời gian đa chiều, đan xen hiện tại và quá khứ, giúp vấn đề được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau.

Nguyễn Quang Thân đã chọn những nhân vật "có vấn đề" của triều đại nhà Lê, đặc biệt là Nguyễn Trãi, để viết tác phẩm Hội thề Tác giả khai thác sự xung đột giữa quyền lực võ biền và trí thức, với Nguyễn Trãi là đại diện tiêu biểu Đây là chủ đề chính xuyên suốt tác phẩm, và sự trở đi trở lại của chủ đề này diễn ra trong bối cảnh thời gian đa chiều, tương tự như trong Hồ.

Nguyễn Quang Thân muốn tôn vinh tài năng và trí tuệ của Nguyễn Trãi, người đã góp phần quan trọng giúp dân tộc giành chiến thắng trong hòa bình, từ đó giảm thiểu những đau thương do chiến tranh mang lại.

Trong truyện luận đề, tính khách thể của hình tượng nghệ thuật thường bị xâm phạm khi tác giả can thiệp vào việc dẫn dắt câu chuyện Điều này dẫn đến việc gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên, khiến câu chuyện trở nên xuôi chiều, rõ ràng và đơn giản hóa đời sống Hệ quả là sự gò ép và khiên cưỡng trong khắc họa nhân vật, làm giảm tính phức tạp của thực tế.

Tính chất luận đề trong văn chương là hiện tượng phổ biến, được nhiều nhà văn khai thác, thường liên quan đến triết học, chính trị hoặc xã hội Luận đề xuất phát từ cuộc sống và được thể hiện qua tác phẩm, chiều sâu của câu chuyện, nhân vật và hoàn cảnh, tạo sức hấp dẫn cho người đọc, từ đó nâng cao giá trị tác phẩm Qua việc khám phá một số tiểu thuyết lịch sử giàu tính luận đề của Việt Nam từ năm 2000 đến nay, chúng ta nhận thấy những đặc điểm chung của thể loại văn học này, góp phần tạo nên bản sắc và dấu ấn riêng biệt của nó.

1.3.2 Nguyên nhân, ý nghĩa của hiện tượng gia tăng tính luận đề trong tiểu thuyết lịch sử

Văn học Việt Nam hiện nay đang nổi bật với sự ra đời của nhiều tiểu thuyết lịch sử ấn tượng, cùng với sự xuất hiện của nhiều tác giả và tác phẩm nổi tiếng Đặc biệt, một trong những tác phẩm tiêu biểu đã giành giải thưởng tại cuộc thi tiểu thuyết lần thứ nhất 1998-2000 do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức.

Nguyễn Xuân Khánh đã nhận Giải thưởng Lý năm 2000 và Giải thưởng “Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội” lần thứ nhất vào năm 2008 từ Quỹ Bùi Xuân Phái Tác phẩm "Bão táp triều Trần" của Hoàng Quốc Hải cũng được vinh danh, cùng với Giải thưởng hạng A tại cuộc thi tiểu thuyết lần thứ ba từ năm 2006 đến 2009 dành cho tác phẩm "Hội thề" của Nguyễn Quang Thân.

Tính luận đề trong mối quan hệ với các tính chất khác của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ năm 2000 đến nay

1.4.1 Mối quan hệ giữa tính luận đề với tính minh họa

Tính luận đề là một đặc điểm nổi bật trong nhiều tác phẩm văn chương, đặc biệt được thể hiện rõ nét trong tiểu thuyết lịch sử từ những năm qua.

Từ năm 2000 đến nay, mối quan hệ chặt chẽ giữa tính luận đề và các đặc điểm khác của tiểu thuyết lịch sử ngày càng rõ ràng Một trong những mối quan hệ quan trọng nhất là sự tương tác giữa tính luận đề và tính minh họa trong tác phẩm.

Tiểu thuyết lịch sử có tính luận đề thể hiện quan niệm nhất quán về các vấn đề lịch sử và cuộc sống con người Theo Nam Dao, các nhà tiểu thuyết sử dụng lịch sử như một phương tiện để kết nối quá khứ với hiện tại, tạo ra cuộc đối thoại giữa hai thời điểm Mỗi trang tiểu thuyết là sự thể hiện tư tưởng và chính kiến của tác giả về các vấn đề của hôm qua và hôm nay Nhà văn có quyền bày tỏ sự nhận thức của mình, nghi ngờ các tín điều và đề xuất những chuẩn mực mới trong việc tiếp cận thực tại Do đó, tiểu thuyết lịch sử không chỉ đặt ra câu hỏi về quá khứ mà còn về chính thực tại hiện nay, như trong các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh.

Võ Thị Hảo, Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao, và nhiều nhà văn khác thể hiện mong muốn hiểu sâu sắc về lịch sử, kết nối quá khứ với hiện tại để suy ngẫm về tương lai Mỗi tác giả có cách riêng để khám phá lịch sử trong tác phẩm của mình, từ việc minh họa và tái hiện lịch sử đến việc giải thích nguyên nhân văn hóa và giải tỏa nghi án lịch sử Điều quan trọng là nhà văn phải nắm bắt tinh thần của lịch sử, không chỉ sao chép sự kiện mà còn gửi gắm thông điệp về quá khứ, hiện tại và tương lai Trong tiểu thuyết "Hồ Quý Ly", độc giả sẽ thấy những vấn đề lịch sử được minh họa rõ nét qua các nhân vật và sự kiện, từ Hồ Quý Ly đến các vua nhà Trần và những nhân vật lịch sử quan trọng khác Qua đó, Nguyễn Xuân Khánh không chỉ tái hiện lịch sử mà còn bộc lộ quan điểm về con người và xã hội, tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa tính luận đề và tính minh họa trong tác phẩm.

Quý Ly là tác phẩm của Nguyễn Xuân, không chỉ tái hiện những sự kiện lịch sử quan trọng mà còn thể hiện cái nhìn sâu sắc từ nhiều góc độ khác nhau, thông qua lăng kính chủ quan và cảm xúc nghệ thuật của tác giả Trong các tác phẩm như Đội gạo lên chùa và Mẫu Thượng Ngàn, nhà văn khéo léo kết hợp giữa lịch sử và cảm xúc, mang đến cho người đọc những trải nghiệm độc đáo và sâu sắc.

Nguyễn Xuân Khánh khám phá và minh họa lịch sử theo cách độc đáo, cho phép người đọc cảm nhận được tinh thần và cốt lõi của lịch sử, đồng thời truyền tải những thông điệp sâu sắc trong từng tác phẩm Hai tiểu thuyết của ông tập trung vào văn hóa và phong tục, được hình thành từ các hệ tư tưởng tôn giáo lớn như đạo Mẫu trong "Mẫu Thượng Ngàn" và đạo Phật trong "Đội gạo lên chùa" Sự kết hợp giữa lịch sử và văn hóa - phong tục chính là đặc điểm nổi bật trong các tác phẩm của Nguyễn Xuân Khánh.

Tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Thế Quang mang đến cái nhìn mới mẻ về lịch sử, với quan niệm rằng tiểu thuyết lịch sử là sự khám phá và đối thoại với hiện thực Mặc dù chủ yếu là hư cấu, nhưng các tác phẩm của ông bám sát hiện thực, tạo nên sức thuyết phục nhờ tính chân thật Trong các tiểu thuyết như "Nguyễn Du" và "Thông reo ngàn Hống", tác giả sử dụng tư liệu phong phú về lịch sử và văn học, khắc họa cuộc đời phức tạp của hai danh nhân Ông trung thành với nguyên tắc "bám vào hiện thực" nhưng chọn những thời điểm và hoàn cảnh nổi bật để thể hiện tính cách nhân vật và ý đồ tác giả Qua hai tác phẩm này, Nguyễn Thế Quang đặt ra vấn đề quan hệ giữa người cầm quyền và trí thức, một vấn đề quan trọng trong mọi chế độ.

Nguyễn Du quen thuộc với mọi người Việt Nam mà vẫn “mới” trong tiểu thuyết của Nguyễn Thế Quang

Qua các tiểu thuyết lịch sử, mỗi nhà văn thể hiện quan điểm và cách nhìn riêng về lịch sử, minh họa và thổi hồn vào nhân vật và sự kiện Độc giả có thể cảm nhận rõ ràng sự hiện diện của lịch sử trong từng câu chuyện, cùng với những quan điểm và đánh giá của tác giả về cuộc đời Mối quan hệ giữa tính luận đề và tính minh họa trong các tác phẩm này là rất chặt chẽ, tạo nên sự sâu sắc cho nội dung lịch sử được truyền tải.

1.4.2 Mối quan hệ giữa tính luận đề với tính “chân thực lịch sử”

Trong quá trình khám phá tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ năm 2000 đến nay, ta nhận thấy các tác phẩm này đều chứa đựng yếu tố “chân thực lịch sử” Lịch sử, được coi là những gì đã qua và không thể thay đổi, được các nhà tiểu thuyết tái hiện theo cách riêng của họ Tuy nhiên, các tác giả không chỉ đơn thuần viết về lịch sử mà còn mượn nó để truyền tải thông điệp, thể hiện thái độ đối với quá khứ, hiện tại và tương lai của con người Do đó, trong tiểu thuyết lịch sử, giữa tính luận đề và tính nghệ thuật luôn có sự giao thoa và tương tác.

“Chân thực lịch sử” và tính luận đề có mối quan hệ chặt chẽ, vì chính tính chân thực này giúp tác giả truyền tải được những luận đề sâu sắc Tính luận đề được thể hiện rõ nét trong từng câu chuyện lịch sử, tạo nên sự liên kết mạnh mẽ giữa các yếu tố này.

Tác phẩm "Hồ Quý Ly" của Nguyễn Xuân Khánh giới thiệu gần năm mươi nhân vật có thật trong lịch sử Việt Nam, từ nhân vật trung tâm Hồ Quý Ly đến các vua cuối triều Trần như Trần Nghệ Tông, Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông, Trần Thiếu Đế, cùng những bà hoàng như Đôn Từ hoàng phi, Minh Từ hoàng phi, công chúa Huy Ninh và hoàng hậu Thánh Ngẫu Các nhân vật này được khắc họa chính xác theo vị trí và quan hệ thân tộc trong lịch sử Ngoài ra, tác phẩm còn đề cập đến những tướng lĩnh tài ba thời Trần như Trần Khát Chân, Trần Nguyên Hàng, Trần Nguyên Uyên và Đặng Tất, những người đã có công trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và bảo vệ biên cương, cũng như hình ảnh của nhà sư Phạm.

Nhân vật lịch sử như Nguyễn Nhữ Cái, tướng cướp phất cờ khởi nghĩa, hay vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga đã tạo nên diện mạo chính sự vào cuối đời Trần Họ không chỉ là những nhân vật có thật mà còn gắn liền với thời gian, địa điểm và dấu tích lịch sử Bên cạnh tính chân thực lịch sử, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cũng đã khéo léo thêm vào yếu tố tưởng tượng và hư cấu, tạo nên một bức tranh sống động về thời kỳ này.

Hồ Quý Ly là một nhân vật lịch sử phức tạp, được tác giả Nguyễn Xuân Khánh khắc họa một cách công bằng và toàn diện trong tiểu thuyết Thay vì chỉ tập trung vào những hành động gây tranh cãi của ông, tác giả đã đặt Hồ Quý Ly vào bối cảnh mối quan hệ với các nhân vật khác, từ đó giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về tính cách đa chiều của ông Hồ Quý Ly không chỉ là kẻ cướp ngôi, mà còn là một nhân vật nhân ái, thủ đoạn và sâu sắc, thể hiện sự kết hợp tinh tế giữa sự thật lịch sử và hư cấu tưởng tượng.

Trong tác phẩm "Thông reo ngàn Hống," Nguyễn Thế Quang khắc họa hình ảnh Nguyễn Công Trứ - một nhân vật lịch sử vĩ đại với nhiều đóng góp cho đất nước và dân tộc Ông không chỉ là một quan chức tài năng, mà còn là một nhà thơ xuất sắc, người đã gìn giữ văn hóa và âm nhạc của dân tộc Tày Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, tác giả cũng đi sâu vào nỗi đau và sự giằng xé của Nguyễn Công Trứ trước những biến động của thời cuộc và ngoại xâm Qua đó, nhà văn muốn khám phá mối quan hệ giữa quyền lực và trí thức, nhằm đối thoại với thực tại và hướng tới sự tiến bộ trong xã hội.

Trong tiểu thuyết "Đội gạo lên chùa," Nguyễn Xuân Khánh khắc họa rõ nét cuộc sống và cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Tác phẩm thể hiện tính "chân thực lịch sử" qua số phận của hàng chục nhân vật tại làng quê quanh chùa Sọ, phản ánh những biến động xã hội từ thời kỳ kháng chiến cho đến sau ngày thống nhất đất nước Qua đó, độc giả có thể nhận thấy nhiều chính sách lịch sử như cải cách, sửa sai, hợp tác hóa và tòng quân vào Nam Hơn nữa, tác phẩm còn tập trung vào văn hóa và phong tục, đặc biệt là ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tâm linh và văn hóa Việt Nam, với thông điệp "Cư trần lạc đạo thả tùy duyên."

NHỮNG ẬN ĐỀ NỔI BẬT TRONG CÁC TIỂ TH YẾT ỊCH Ử VIỆT N M TIÊ BIỂ TỪ NĂM 2000 ĐẾN N Y

NGHỆ TH ẬT THỂ HIỆN ẬN ĐỀ TRONG CÁC TIỂ

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w