Ông là một trong những người xây đắp nền móng cho phong trào sáng tác văn học trong ngành công an và đã được nhà thơ Xuân Thiều kính mộ gọi là Nhà văn tiêu biểu nhất của ngành công an n
Trang 1
NGUYỄN THỊ MỸ HẰNG
TỪ NGỮ VÀ CÂU VĂN TRONG TRUYỆN NGẮN LÊ TRI KỶ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2017
Trang 2NGUYỄN THỊ MỸ HẰNG
TỪ NGỮ VÀ CÂU VĂN TRONG TRUYỆN NGẮN LÊ TRI KỶ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60 22 02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN HOÀI NGUYÊN
NGHỆ AN - 2017
Trang 3Luận văn này được hoàn thành, ngoài sự cố gắng của bản thân phải kể
đến sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo, Tiến sĩ Nguyễn Hoài Nguyên, sự
động viên, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong tổ Ngôn ngữ, khoa Sư phạm Ngữ Văn cũng như các bạn học viên lớp Cao học 23, chuyên ngành
Ngôn ngữ Việt Nam và gia đình
Nhân dịp này, em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, bạn bè
và người thân, đặc biệt là thầy giáo, TS Nguyễn Hoài Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Do thời gian hạn hẹp, trình độ nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn quan tâm vấn đề này để luận văn được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 7 năm 2017
Tác giả
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận văn 3
6 Cấu trúc của luận văn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Những nghiên cứu về truyện ngắn Lê Tri Kỷ góc độ văn chương 4
1.1.2 Những nghiên cứu về ngôn ngữ truyện ngắn Lê Tri Kỷ góc độ ngôn ngữ 7
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài 8
1.2.1 Truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn 8
1.2.2 Vài nét về tác giả và tác phẩm 14
1.3 Tiểu kết chương 1 27
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN LÊ TRI KỶ 28
2.1 Từ trong ngôn ngữ và từ trong tác phẩm văn chương 28
2.1.1 Từ trong ngôn ngữ 28
2.1.2 Từ trong tác phẩm văn chương 29
2.2 Các lớp từ đặc sắc trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ 30
2.2.1 Lớp từ hội thoại 30
2.2.2 Lớp từ địa phương 38
2.2.3 Lớp từ Hán - Việt 45
2.2.4 Lớp từ nghề nghiệp 51
2.3 Tiểu kết chương 2 57
Trang 53.1.1 Khái niệm câu, phân loại câu 58
3.1.2 Câu trong văn bản nghệ thuật 60
3.2 Câu văn trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ xét về mặt cấu tạo 61
3.2.1 Câu đơn 61
3.2.2 Câu ghép 73
3.3 Câu văn truyện ngắn Lê Tri Kỷ xét theo mục đích giao tiếp 83
3.3.1 Số liệu thống kê 83
3.3.2 Câu trần thuật (câu kể) 85
3.3.3 Câu nghi vấn (câu hỏi) 92
3.3.4 Câu cầu khiến (câu mệnh lệnh) 98
3.3.5 Câu cảm thán (câu cảm) 100
3.4 Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 6Bảng 2.1 Lớp từ hội thoại trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ 31
Bảng 2.2 Lớp từ địa phương trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ 39
Bảng 2.3 Lớp từ Hán - Việt trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ 46
Bảng 2.4 Lớp từ nghề nghiệp trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ 52
Bảng 3.1 Câu đơn trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ 62
Bảng 3.2 Câu ghép trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ 74
Bảng 3.3 Đối chiếu câu đơn và câu ghép trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ 82
Bảng 3.4 Các loại câu trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ xét theo mục đích giao tiếp 84
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Truyện ngắn là một thể loại văn học có nhiều thành tựu và thu hút
sự chú ý của các nhà phê bình, nghiên cứu và độc giả Khi nói đến đội ngũ viết truyện ngắn hiện đại, sẽ là thiếu sót nếu không “điểm danh” các gương mặt quen thuộc như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, và các thế hệ tiếp nối như Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà Trong số những tên tuổi đó, chúng ta
không thể không nhắc đến tác giả Lê Tri Kỷ - một cây bút bước vào đời văn
khá muộn màng, khi đã ngoài 35 tuổi nhưng có nhiều đóng góp đáng kể đối
với truyện ngắn đương đại nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung
1.2 Lê Tri Kỉ là một tác giả khá đặc biệt Ông là một trong những người xây đắp nền móng cho phong trào sáng tác văn học trong ngành công
an và đã được nhà thơ Xuân Thiều kính mộ gọi là Nhà văn tiêu biểu nhất của
ngành công an nhân dân [87] Có thể nói, tác giả Lê Tri Kỷ đã dành trọn đời
văn của mình để viết về mảng đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc
sống Ông đã thể hiện tài năng văn chương qua nhiều thể loại như tiểu thuyết,
truyện ngắn, truyện ký, kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh,… song truyện ngắn là thể loại mang lại thành công rực rỡ cho ông Những trang viết của ông tinh tế và thấu đáo, lí giải sâu sắc nhiều vấn đề mang tính xã hội Bởi thế, ông không chỉ nhận được tình cảm yêu mến của các cán bộ, chiến sĩ cảnh sát mà còn chiếm được sự kính trọng, ngưỡng mộ của những người cầm bút trong lực lượng công an và đặc biệt là tạo được dấu ấn riêng trong lòng độc giả
1.3 Từ trước tới nay, việc nghiên cứu, tìm hiểu về thân thế và sự
nghiệp sáng tác của Lê Tri Kỷ chưa nhiều Qua khảo sát tư liệu, chúng tôi nhận thấy truyện ngắn Lê Tri Kỷ còn nhiều điều mới mẻ chưa được các công
Trang 8trình đi trước nghiên cứu một cách thỏa đáng Vì thế, chúng tôi muốn đi sâu vào tìm hiểu truyện ngắn Lê Tri Kỷ một cách hệ thống hơn, đầy đủ hơn về mặt nghệ thuật sử dụng từ ngữ và câu văn - một vấn đề mà bất kì tác giả nào khi đặt bút viết truyện ngắn đều phải lưu tâm
Từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài Từ ngữ và câu
trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ để thực hiện luận văn này
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích, làm rõ nghệ thuật sử dụng từ ngữ và câu trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ; qua đó, góp phần làm nổi bật phong cách ngôn ngữ truyện ngắn của nhà văn và ngôn ngữ truyện ngắn Việt Nam đương đại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu và xác lập cơ sở lí thuyết để tìm hiểu về truyện ngắn và từ ngữ, câu trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ
Thứ hai, khảo sát, phân tích, chỉ ra những nét đặc sắc trong việc sử dụng các lớp từ ngữ tiêu biểu, đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ
Thứ ba, khẳng định những đóng góp của Lê Tri Kỷ đối với mảng đề tài
văn học Vì an ninh Tổ Quốc và bình yên cuộc sống nói riêng và văn học
đương đại Việt Nam nói chung
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu về từ ngữ và câu trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, khảo sát 19 truyện ngắn trong Tuyển
tập truyện ngắn Lê Tri Kỷ (499 trang), Nhà xuất bản Hội nhà văn, Thành phố
Hồ Chí Minh, 2015
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi sử dụng và phối hợp nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có các phương pháp chính: Phương phá thống kê, phân loại; Phương pháp so sánh đối chiếu; các thủ pháp phân tích, miêu tả và tổng hợp
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về từ ngữ và câu trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ, qua đó, làm sáng tỏ những đóng góp của tác giả Lê Tri Kỷ trong việc làm mới truyện ngắn Việt Nam đương đại, đặc biệt là các truyện ngắn viết về người chiến sĩ công an Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu cuộc đời
và sự nghiệp của nhà văn Lê Tri Kỷ cũng như mảng truyện ngắn viết về đề tài
Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn triển khai thành 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài Chương 2 Đặc điểm từ ngữ trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ
Chương 3 Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về truyện ngắn Lê Tri Kỷ góc độ văn chương
Là một tác giả được tôn vinh là nhà văn tiêu biểu nhất của lực lượng công an nhân dân, Lê Tri Kỷ đã để lại một khối lượng truyện ngắn đa dạng và hấp dẫn Chính môi trường hoạt động trong ngành công an mà suốt đời ông nặng lòng gắn bó đã là mảnh đất phì nhiêu, màu mỡ để Lê Tri Kỷ gieo trồng,
nuôi dưỡng những mầm xanh văn học Ông thỏa sức thử nghiệm ngòi bút ở
nhiều thể loại khác nhau và đều gặt hái được những thành công với những giải thưởng cao quý Mặc dù ông không còn nữa, nhưng nhiều cuộc hội thảo
đã được tổ chức; nhiều nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình quan tâm bàn luận tác phẩm của ông
Cuốn Kỷ yếu Hội thảo về đề tài Vì An ninh Tổ quốc và Bình yên cuộc
sống (1993 và 1997) đã tập hợp được khá nhiều ý kiến đánh giá về truyện
ngắn của Lê Tri Kỷ Nhà nghiên cứu Phong Lê nhận đinh: Những tập truyện
ngắn của Lê Tri Kỷ… không xa lạ với truyện ngắn nói chung Có nghĩa là không hướng tới cái căng thẳng, cái giật gân mà hướng tới cái thông thường, cái bình dị và do thế mà Lê Tri Kỷ lại được xem là người viết truyện tâm lí -
xã hội [46] Còn nhà phê bình Tôn Phương Lan khẳng định: Ngòi bút của ông
đã kết hợp được yếu tố tâm lý và nghiệp vụ, tình cảm cách mạng và thế thái nhân tình Nhân vật trong một số truyện đã được người Trưởng ty Công an
"giải tỏa" không phải bằng bao che, thỏa hiệp mà chính là bằng cách làm việc, bằng những nguyên tắc trên Với cách xử lý đó, Lê Tri Kỷ đã tránh được
Trang 11cho nhân vật của mình sự đơn giản, hời hợt… Ý thức về việc nâng cao tính văn học cho tác phẩm đã giúp cho ngòi bút Lê Tri Kỷ phát hiện vấn đề một cách sâu sắc, nhân bản hơn dưới những câu chuyện bình thường [46] Ở một
bài viết khác, Tôn Phương Lan khẳng định thêm: Nhà văn Lê Tri Kỷ xứng
đáng được trao giải thưởng cao quý [ ] Các sáng tác của Lê Tri Kỷ càng về sau càng vượt lên sự chi phối ngoài văn chương Chất nhân văn xuyên thấm trong nhiều truyện, nhiều trang viết của ông đã làm cho văn ông vượt ra khỏi
sự dễ dãi của kiểu kết thúc có hậu thường tình, gây được ít nhiều sự thú vị cho người đọc [46]
Năm 2001, Nhà xuất bản Công an nhân dân đã cho ra mắt cuốn Kỷ yếu Hội thảo nhân kỉ niệm 20 năm thành lập Nhà xuất bản Công an nhân dân Trong cuốn kỷ yếu này, nhà văn Lê Tri Kỷ cũng được nhắc đến với một niềm
trân trọng, ngợi ca Trong bài viết Mấy điều suy nghĩ về tác phẩm của nhà văn
Lê Tri Kỷ, tác giả Hoàng Như Mai khẳng định: Một là, là cán bộ công an ông
ý thức cần đưa người công an, công việc của người công an vào văn học để độc giả hiểu thêm, hiểu rõ, hiểu đúng, từ đó quan tâm giúp đỡ ngành công an; Hai là, ông yêu mến thiết tha công việc công an, “nghề công an” Vì yêu mến nên ông mới thấy được, thấu triệt được những cái tốt, cái hay, cái đẹp, đồng thời cũng băn khoăn, day dứt về cái bất cập, thiếu sót, sai, xấu của công an
[62, tr.63] Chính vì vậy, chúng ta dễ dàng nhận thấy đề tài an ninh xã hội trong các tác phẩm của Lê Tri Kỷ thu hút người đọc không phải vì thoả mãn trí tò mò mà vì bài học triết lý nhân sinh sâu sắc toát ra từ mỗi câu chuyện
Trong bài Một đời, cho một nghề, tác giả Phạm Ngọc Cảnh viết:
Quảng Trị có thêm một cốt cách, văn học cách mạng Việt Nam có một tài năng Đó là Lê Tri Kỷ Người dành một đời cho một nghề Gắn bó mọi tâm sức với lực lượng người cầm súng Người đã xong một đời cống hiến mà thấy mình chưa xong nợ đáp đền Đó là Lê Tri Kỷ Nhà văn Lê Tri Kỷ của công an
Trang 12nhân dân Việt Nam [8] Với bài viết này, Phạm Ngọc Cảnh cũng đã khái quát
được cuộc đời đầy thăng trầm của Lê Tri Kỷ, thật sự bị chinh phục bởi một
ngọn đèn cháy kiệt đến giọt dầu cuối cùng trên công việc [8]
Lê Tri Kỷ, một con người tài năng và nhân cách, đã để lại dấu ấn rất sâu đậm cho nhiều đồng nghiệp, bạn bè và các học trò cũng như độc giả của mình Là một đồng nghiệp, người bạn thân thiết của Lê Tri Kỷ, nhà thơ Xuân
Thiều đã có nhiều bài viết nhận xét, đánh giá rất sâu sắc về ông Trong bài Lê
Tri Kỷ - Nhà văn tiêu biểu nhất của ngành công an nhân dân, Xuân Thiều
khẳng định: Bây giờ thì ông đã là nhà văn quá cố Nhưng Hội Nhà văn Việt
Nam, Bộ Nội vụ và đông đảo bạn đọc đều coi ông là nhà văn tiêu biểu của ngành công an, người có công đầu khai phá và chăm chút xây dựng phong trào sáng tác và là ngòi bút tâm huyết về mảng đề tài vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống, mảng đề tài mà nhiều năm trước đây ít được quan tâm của giới văn học nếu không nói là bỏ quên [87]
Từng được Lê Tri Kỷ dìu dắt, tác giả Nguyễn Thị Thu Trang xem ông
là người anh lớn trong sự nghiệp cầm bút của mình Trong bài viết Nhớ về
một người anh, nhà văn Lê Tri Kỷ, Nguyễn Thị Thu Trang viết: Viết về Công
an, nhưng ông không viết về truyện hình sự nhằm hấp dẫn bằng sự ly kỳ gay cấn, mà nói về tình người, tình đời Truyện của ông vừa gợi được sự sáng suốt trong lý trí, vừa tạo được sự rung động đầy tính nhân văn thiết tha hướng thiện Lê Tri Kỷ đã có công đem đến cho bạn đọc một hình tượng người chiến sỹ công an chân thực Chiến sỹ công an trước hết cũng là con người, cũng đau đớn, buồn vui, hờn giận, yêu ghét như mọi người, khiến ta cảm thông và gần gũi [92]
Nhận xét truyện ngắn Lê Tri Kỷ, nhà văn Ma Văn Kháng nhận định:
Viết về đề tài an ninh, Lê Tri Kỷ có một cách riêng trong nhận diện nhân vật
và cuộc sống Sách của ông ở giữa sách của các nhà văn nhưng không trộn
Trang 13lẫn Chúng có một tiếng nói riêng, một tiếng nói thầm thì vừa đủ nghe, vừa đủ
để nhớ, để yêu quý ông Văn chương của ông là sự từng trải, là sự chiêm nghiệm, là tình yêu với đất nước và với cách mạng [44]
Còn Dương Duy Ngữ qua bài viết Ước mong của nhà văn Lê Tri Kỷ đã chia sẻ: Tôi thích những trang văn của ông Bởi viết về công an là viết về con
người, con người trong ngành công an Do vậy viết được như ông khó lắm [ ] Đọc truyện ông, thấy tấm lòng người viết, tấm lòng người công an thật nhân ái, cao cả [65]
Nguyễn Thị Thu Hằng, qua bài viết Hành trình sáng tác truyện ngắn Lê
Tri Kỷ thể hiện lòng kính trọng đối với nhà văn, tôn vinh Lê Tri Kỷ là một trong những người xây nền đắp móng cho phong trào sáng tác văn học trong ngành công an [33] Gần đây, tác giả Hồng Vân đã lí giải sự thành công của
Lê Tri Kỷ về thể loại truyện ngắn Theo Hồng Vân: Sự tiên phong dấn thân và
mạnh dạn tìm tòi hướng đi mới của ông trong mảng văn học đề tài về công an mãi là một dấu ấn lớn lao và đầy ý nghĩa [99]
1.1.2 Những nghiên cứu về ngôn ngữ truyện ngắn Lê Tri Kỷ góc độ ngôn ngữ
Với bài viết Nhà văn Lê Tri Kỷ - Một đời văn tài hoa và sâu sắc, tác giả Phan Quế cho là một cây bút có phong cách riêng và một con người nhân
hậu, trách nhiệm Văn ông cẩn trọng, chừng mực, đượm chất nho gia, có nét Tây học và đôi chút hóm hỉnh dân gian giàu chất quê kiểng xứ Quảng [73]
Để chứng minh cho lời nhận xét này, Phan Quế đã phân tích và chỉ ra những
nét đặc sắc của hai truyện ngắn Đêm Văn Miếu và Mụ Quới
Tác giả Nguyễn Hồng Lam, trong bài viết Mối thâm tình của một nhà
văn và một nhà tình báo nhận xét: đó toàn là những truyện viết về đề tài công an nhưng khai thác ngôn ngữ nội tâm, cảm xúc và thân phận con người [ ] Nhà văn Lê Tri Kỷ đã trở thành một bậc thầy ngôn ngữ trong việc "đọc"
Trang 14con người và phát hiện nhân vật [50]
Tác giả Thanh Hằng, qua bài viết Lê Tri Kỷ - nhà văn dấn thân trong
sự sáng tạo nhấn mạnh: Mỗi trang viết của ông đều rung ngân từ sâu thẳm trái tim của một nhà văn giàu trải nghiệm, luôn bao dung trong niềm chan chứa yêu thương Tất cả những điều đó đều thấm sâu trong mỗi con chữ đã được ông chắt lọc trên “cánh đồng” chữ nghĩa [31]
Với bài viết Nhà văn Lê Tri Kỷ: Một cuộc đời sôi động và đa sắc văn
chương, Phạm Thị Thái đã khẳng định: Trong môi trường đó, ông được tôi luyện, “lửa thử vàng” và đã trở thành một Lê Tri Kỷ vững vàng trong nghiệp
vụ, sắc nét trong từng câu văn và hoà quyện bởi trái tim ấm nóng của một nhà văn giàu lòng thương người và luôn trắc ẩn với cuộc đời [ ] Lê Tri Kỷ
đã tạo dựng cho mình một phong cách riêng độc đáo Phong cách ấy được thể hiện rõ nét nhất trong các tập truyện ngắn của ông [76]
Điểm qua những ý kiến, những nhận định trên, có thể thấy, truyện ngắn Lê Tri Kỷ đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu Nhưng do mục đích, tính chất của bài viết, các tác giả chỉ mới đưa ra những đánh giá về giá trị nội dung mà chưa có cái nhìn đầy đủ và có hệ thống về ngôn từ trong truyện ngắn của ông Các ý kiến sơ bộ của những người đi trước là những
gợi ý quan trọng giúp chúng tôi thực hiện đề tài Từ ngữ và câu trong truyện
ngắn Lê Tri Kỷ
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài
1.2.1 Truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn
1.2.1.1 Khái niệm truyện ngắn
Truyện ngắn cũng như các thể loại văn học khác là câu chuyện về cuộc đời, về con người Mỗi nhà văn, khi cầm bút đều muốn gửi gắm một vấn đề nhân sinh nào đó trong tác phẩm của mình Truyện ngắn đã từng gắn với những tên tuổi lừng danh trên thế giới như Heminway, A Tsêkhôp, Gôgôn,
Trang 15G Môpatxăng, Lỗ Tấn, Còn ở Việt Nam, những nhà văn như Phạm Duy Tốn, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam,… cũng đã góp phần đưa truyện ngắn lên một vị trí trang trọng trong nền văn học hiện đại Chính vì truyện ngắn có một sức hấp dẫn, thu hút kì lạ như vậy, cho nên đã được giới nghiên cứu, phê bình đặc biệt quan tâm
Thuật ngữ truyện ngắn có nguồn gốc từ tiếng Italia, Novella với nghĩa
gốc là một cái tin mới, một truyện mới Ý nghĩa của từ này không căn cứ vào tính chất ngắn, nghĩa là không căn cứ vào khối lượng hay dung lượng mà vào
nội dung câu chuyện được kể Trong Tiếng Anh, short là ngắn, short story là truyện ngắn Còn người Trung Quốc và Nhật Bản gọi truyện ngắn là đoản
thiên tiểu thuyết để phân biệt với loại tiểu thuyết chương hồi dài tập hay tiểu thuyết trường thiên
Ở Việt Nam, khái niệm truyện ngắn cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu phân tích, lí giải Theo các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi: Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại
truyện ngắn bao trùm hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ [28, tr.370-371] Đồng quan điểm với
nhóm tác giả trên, Lại Nguyên Ân đã định nghĩa rất cụ thể về truyện ngắn:
Một thể loại tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ [1, tr.1846-1847] Ở một góc nhìn chuyên
sâu hơn, các tác giả trong sách Lí luận văn học đã đưa ra một cái nhìn rất đầy
đủ về truyện ngắn: Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự, khuôn khổ ngắn
nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, truyện cười, hoặc gần với những bài kí ngắn Nhưng thực
Trang 16ra không phải, nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời Nội dung thể loại truyện ngắn có thể khác nhau: đời
tư, thế sự hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Có thể kể về cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện mà ở cái nhìn
tự sự đối với cuộc đời [60, tr.397]
Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về truyện ngắn nhưng về cơ bản chúng ta có thể rút ra được những nét đặc trưng của thể loại này Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường chỉ hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Nghĩa là, truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc họa những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế; chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì
đó sâu sắc về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá Yếu tố quan trọng bậc nhất trong truyện ngắn là những chi tiết cô đúc và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Chi tiết trong truyện ngắn đóng vai trò hết sức quan trọng Nó góp phần tạo cảnh trí, không khí, tình huống và khắc họa tính cách, hành động, tâm tư nhân vật
Trang 17Nếu tiểu thuyết là một hình thức tự sự cỡ lớn, miêu tả cuộc sống trong quá trình phát triển, với bộn bề những sự kiện, số phận nhân vật, xung đột, và chiều kích không gian, thời gian ở tầm vĩ mô,… thì truyện ngắn là một hình
thức tự sự cỡ nhỏ, chỉ thể hiện cái nhát cắt của dòng đời Nếu tiểu thuyết mở
ra với diện rộng thì truyện ngắn tập trung xoáy vào một điểm; có thể là một
khoảnh khắc trong cuộc đời một con người Dù có dung lượng nhỏ nhưng lại
có cách phát hiện nghệ thuật đời sống theo chiều sâu cho nên sức chứa của
truyện ngắn vẫn là rất lớn Vì thế, truyện ngắn vẫn là một thể loại có khả năng
to lớn trong việc đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống Tuy nó
là thể loại cỡ nhỏ nhưng lại là thể loại phát hiện nghệ thuật đời sống theo chiều sâu, là thể loại gần gũi với đời sống hàng ngày, súc tích, dễ đọc, dễ nhớ
Do đó, nó có tác dụng và ảnh hưởng kịp thời trong đời sống, đặc biệt, có sức thu hút sự sáng tạo của nhiều thế hệ cầm bút
1.2.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn
Theo M.Gorki, Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học và là một
trong những yếu tố quyết định sự thành công của một tác phẩm, nhất là với thể loại truyện ngắn Đây là phương tiện cơ bản để nhà văn bộc lộ chủ đề, tư tưởng của tác phẩm, bộc lộ tính cách nhân vật và thuyết phục người đọc đồng tình với mình về cách đánh giá đối với những hiện tượng và con người được miêu tả Nếu không có ngôn ngữ thì nhà văn không thể tái hiện bức tranh đời sống và truyền đạt thông điệp tư tưởng, thẩm mỹ đến người đọc Ngược lại,
về phía người đọc, sự tiếp nhận tác phẩm cũng chỉ được thực hiện qua sự tiếp nhận cấu trúc ngôn ngữ Hay nói cách khác, hình tượng nhân vật, bức tranh phong cảnh, cốt truyện, kết cấu, chủ đề, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật và thế giới con người, đều chỉ được nắm bắt nhờ những hình thức của nghệ thuật ngôn ngữ
Bên cạnh đặc điểm chung của văn xuôi tự sự, ngôn ngữ truyện ngắn có
Trang 18những nét đặc thù riêng của nó Những nét đặc thù này được tạo nên bởi tính chất riêng của thể loại truyện ngắn Như đã trình bày ở trên, yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, dung lượng vừa phải, câu văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm có chiều sâu, sức lan tỏa nhiều chiều
để người đọc tự khám phá Vì vậy, mỗi nhà văn khi cầm bút viết truyện ngắn, đối diện với trang sách, trang đời phải có tài năng lựa chọn ngôn ngữ, không được ôm đồm, dài dòng trong câu chữ, mà phải biến hoá, linh hoạt Nhà văn
Nguyễn Công Hoan đã từng nói: Truyện ngắn không phải là truyện, mà là
một vấn đề đƣợc xây dựng bằng chi tiết với bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu, dùng tiếng có cân nhắc Muốn truyện là truyện ngắn chỉ nên lấy một trong ngàn ấy ý làm ý chính, làm chủ đề cho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy thôi [40, tr.124] Khác với truyện
vừa và tiểu thuyết, ngôn ngữ truyện ngắn đòi hỏi sự cô đúc và độ kết tinh, sắc gọn Chính sự cô nén nhân vật, sự kiện, thời gian, không gian buộc truyện ngắn phải tìm đến hình thức ngôn ngữ phù hợp Người viết truyện ngắn phải biết gạt bỏ những chi tiết rườm rà, xoáy sâu vào những chi tiết đắt giá Vì thế,
M Gorky từng cho rằng, muốn viết văn hay phải bắt đầu từ truyện ngắn, bởi truyện ngắn luyện cho tác giả biết tiết kiệm từ ngữ, biết cách viết cô đọng Chính việc dồn nén chữ nghĩa cũng tạo ra vô số khoảng trống nên dù đã đọc xong mà truyện vẫn như chưa dừng lại Không chỉ chú trọng đến sự cô đúc, ngắn gọn, ngôn ngữ truyện ngắn cũng rất đa dạng về giọng điệu trong cách xưng hô, gọi tên, dùng từ Đó có thể là giọng điệu suồng sã, ngợi ca hay châm biếm, đả kích, Các sắc thái giọng điệu này góp phần làm cho truyện ngắn là một trong những hình thức nghệ thuật có khả năng gợi mở rất lớn, có sức ám ảnh, tạo ấn tượng mạnh mẽ đến người đọc
Một đặc trưng quan trọng về ngôn ngữ truyện ngắn mà chúng ta không thể không nói đến, đó là, ngôn ngữ truyện ngắn là ngôn ngữ của đời sống
Trang 19Không như ngôn ngữ thơ thường tạo cho người đọc những cảm xúc bay bổng bởi giàu nhịp điệu, tính nhạc cao, hàm súc, đa nghĩa, ngôn ngữ truyện ngắn thường rất chân thực, gần gũi và tự nhiên; bởi đó là những câu chuyện trong đời sống thường nhật, phản ánh bản chất cuộc sống của con người Tuy nhiên,
vì truyện ngắn là những lát cắt cuộc đời, cho nên, trong một số tác phẩm, ngoài thứ ngôn ngữ thô ráp trần trụi thì vẫn có những đoạn, những câu văn du dương, giàu chất thơ qua lời nhân vật người kể chuyện, lời đối thoại hoặc độc thoại của nhân vật, v.v
Ngoài ra, chúng ta thấy, việc vận dụng ngôn ngữ của mỗi nhà văn tùy thuộc vào sở trường của mỗi người Bên cạnh việc hướng tới ngôn ngữ chung,
có tính chất đại chúng, ngôn ngữ của mỗi nhà văn mang đặc trưng của từng vùng miền, gắn liền với tính cách, công việc của mỗi cá nhân Cũng từ đó mà
từ khẩu ngữ, từ địa phương, từ nghề nghiệp xuất hiện nhiều và được sử dụng rất độc đáo, đặc sắc trong các truyện ngắn Chính điều này làm cho truyện ngắn đến gần hơn với bạn đọc khắp mọi miền Tổ quốc
Nhà văn Tô Hoài rất tinh tế khi cho rằng: Câu văn cũng nhƣ tre gỗ để
làm nhà Càng đẽo, soi kĩ lƣỡng, tinh tế, lắp đƣợc đúng mộng mẹo, nhà càng chắc, đẹp [38, tr.184] Vì thế, khi viết truyện ngắn, mỗi nhà văn luôn có sự
lựa chọn và trau chuốt ngôn ngữ theo cách riêng của mình Một nhà văn đích thực luôn ý thức trong việc sử dụng và sáng tạo ngôn ngữ, vì ngôn ngữ là yếu
tố đầu tiên quy định cung cách ứng xử của nhà văn đó, là phương tiện để giúp nhà văn giao tiếp với bạn đọc Đối với văn chương, ngôn ngữ không chỉ là cái
vỏ của tư duy mà còn biểu hiện tài năng, cá tính và quan điểm nghệ thuật của các tác giả Vì vậy, đứng trước một thực tế sáng tác, mỗi nhà văn sẽ có những cách sử dụng vốn từ ngữ khác nhau Và truyện ngắn là mảnh đất màu mỡ cho các nhà văn thể nghiệm và tạo nên phong cách riêng cho mình Đúng như lời
nhà văn Nguyễn Tuân: Cũng cùng một vốn ngôn ngữ ấy, nhƣng sử dụng có
Trang 20tìm tòi sáng tạo thì văn sẽ có bề thế và kích thước Có vốn mà không biết sử dụng thì cũng chỉ là nhà giàu giữ của Dùng chữ như đánh cờ tướng, chữ nào
để chỗ nào phải đúng vị trí của nó Văn phải linh hoạt Văn không linh hoạt gọi là văn cứng đơ, thấp khớp [96, tr.58]
Tóm lại, không phải ngẫu nhiên mà truyện ngắn lên ngôi, trở thành mũi
nhọn của văn xuôi hiện nay Sự hàm súc, cô đọng, khai thác chiều sâu số phận
và nội tâm con người qua ngôn ngữ gợi mở mang tính đối thoại đã tạo cho truyện ngắn một chất lượng mới vượt ra ngoài cái khung chật hẹp của thể loại
1.2.2 Vài nét về tác giả và tác phẩm
1.2.2.1 Tác giả Lê Tri Kỷ
a Một cuộc đời luôn sống và chiến đấu vì bình yên cho Tổ quốc
Đại tá, nhà văn Lê Tri Kỷ, tên thật là Nguyễn Duy Hinh, sinh ngày 14.06.1924, mất ngày 08.05.1993, tại Hà Nội Ông sinh ra và lớn lên trên mảnh đất miền Trung quanh năm nắng lửa khô cằn - dải đất Lưỡng Kim, xã Triệu An, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị Cũng chính mảnh đất đầy gió Lào cát trắng này đã nuôi dưỡng ông lớn lên từng ngày, nâng đỡ ông trưởng thành cùng năm tháng để trở thành một người chiến sĩ công an quả cảm, một nhà văn mà trái tim trĩu nặng yêu thương con người, yêu thương cuộc đời Ngoài 20 tuổi, ông đã giữ nhiều trọng trách trong ngành công an ở tỉnh nhà
Do nhu cầu công tác tại Quảng Trị, Lê Tri Kỷ đã đảm nhận nhiều chức vụ khác nhau trong nhiều thời kỳ Ông từng công tác ở Uỷ ban xã và hoạt động thanh niên cứu quốc Năm 1946, ông làm Bí thư cứu quốc huyện Gio Linh Đến tháng 06 năm 1946, ông gia nhập vào ngành công an và công tác tại Công an tỉnh Quảng Trị Từ năm 1946 đến tháng 07 năm 1958, Lê Tri Kỷ thuyên chuyển nhiều vị trí công việc như: Trưởng Công an huyện Hải Lăng, Trưởng văn phòng Ty Công an tỉnh Quảng Trị Tháng 11 năm 1949, ông lên Việt Bắc làm phái viên kiểm tra của Nha công an Trung ương; sau đó, giữ
Trang 21chức vụ Phó Trưởng ty Công an tỉnh Bắc Giang Từ tháng 7 năm 1951, ông
về Bộ làm cán bộ nghiên cứu, trong đó, có thời gian vào công an Liên khu Bốn làm Phó văn phòng rồi lại trở về Bộ làm Phó phòng nội gián, hoạt động công tác chính trị, phụ trách tuyên truyền Tháng 8/ 1958 đến tháng 01/ 1981, ông chuyển sang làm Trưởng ban biên tập Tạp chí công an nhân dân, Trưởng phòng tuyên truyền; Trưởng phòng sáng tác - Cục công tác chính trị Bộ công
an (nay thuộc Tổng cục chính trị Bộ công an) Tháng 02 năm 1981, khi Nhà xuất bản Công an nhân dân được thành lập, Lê Tri Kỷ được lãnh đạo Bộ cử sang công tác và giữ chức vụ Phó Giám đốc rồi Quyền Giám đốc - Tổng biên tập Nhà xuất bản công an nhân dân thuộc Bộ công an cho đến khi nghỉ hưu
Là một cán bộ công an tận tụy với công việc, có quá trình hoạt động đầy gian lao, thử thách, Lê Tri Kỷ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huy chương Vì an ninh Tổ Quốc Mới đây, Lê Tri Kỷ được truy tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba Không chỉ đón nhận những danh hiệu cao quý, cuộc đời nhà văn Lê Tri Kỷ đã được điện ảnh công an dựng thành phim hết sức sinh động
b Niềm đam mê văn chương của người chiến sĩ công an
Là một người chiến sĩ công an đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng khác nhau song Lê Tri Kỷ lại có một niềm đam mê văn chương rất lớn Mặc
dù bước vào nghề văn khá muộn nhưng Lê Tri Kỷ để lại một sự nghiệp văn học khá đồ sộ Hơn 30 năm cầm bút, nhà văn Lê Tri Kỷ đã có một sự nghiệp đáng tự hào với nhiều tác phẩm văn học mang tầm vóc thời đại Tài năng và
sự am hiểu sâu sắc các vấn đề xã hội của ông được ghi nhận ở nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện kí, tiểu thuyết, kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh,
cùng các tác phẩm đã để lại ấn tượng sâu sắc với bạn đọc như Cây đa xanh (truyện, 1961), Một người không nổi tiếng (truyện ký, 1970), Biển động ngày
Trang 22hè (kịch bản sân khấu, 1976), Thung lũng không tên (kịch bản điện ảnh,
1971), Câu lạc bộ chính khách (tiểu thuyết, 2 tập,1986), Cuộc tình thế kỷ (tập truyện, 1992, tái bản 1994), Thủ phạm vụ án Ôn Như Hầu (ký sự, 1960), Phố
vắng (tập truyện ký,1965), Đất lạ (kịch bản điện ảnh, 1971), Những tiếng nói thầm (truyện ký, 1978), Sống chìm (tập truyện ngắn, 1984); Không thiện không ác (tập truyện,1988), Tội và tình (Kịch bản phim truyện), Không nơi ẩn nấp (Kịch bản phim truyện, 1971), v.v
Những sáng tác của Lê Tri Kỷ ghi nhận sự thành công của ông ở nhiều thể loại văn học khác nhau, trong đó, truyện ngắn là thể loại ông gặt hái được nhiều thành công hơn cả Năm 1994, nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập
Quân đội nhân dân, ngày Quốc phòng toàn dân, tập truyện ngắn Cuộc tình thế
kỷ của ông được tặng giải A của Hội đồng văn học về đề tài chiến tranh cách
mạng và lực lượng vũ trang, Hội nhà văn Năm 1995, nhân kỷ niệm 50 năm
ngày thành lập ngành công an, tập truyện ngắn Không thiện, không ác của ông
lại được Bộ nội vụ kết hợp với Hội nhà văn tặng giải A Vì thế, không có gì phải ngạc nhiên khi Lê Tri Kỷ chính là nhà văn công an đầu tiên trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và cũng là nhà văn công an đầu tiên được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật
c Là “người anh lớn” trong lực lượng cầm bút của ngành công an
Không chỉ là một người đam mê sáng tác, Lê Tri Kỷ còn là một người rất có trách nhiệm đối với công việc cầm bút của các nhà văn trẻ Ông cũng là người đầu tiên dẫn dắt các cây viết từ các đơn vị cơ sở đi những bước đi đầu tiên để vào nghề
Vì thế, có thể nói, trong lực lượng cầm bút của ngành công an, nhà văn Lê Tri Kỷ được xem như một người tiên phong, một người anh cả, người thầy của nhiều thế hệ, rất có công trong việc xây dựng, dìu dắt đội ngũ những người viết trẻ trong ngành công an Trong sự thành danh của nhiều
Trang 23nhà văn công an thế hệ sau này, những dấu ấn của ông để lại là không thể phủ nhận Với trách nhiệm và tình cảm của người đã đặt viên gạch nền móng cho văn học công an, ông đã nhen nhóm, ủng hộ và tạo dựng nên không khí sáng tác, thúc đẩy niềm say mê sáng tạo nghệ thuật cho mọi người, tạo cảm hứng để lực lượng sáng tác của công an từng bước phát triển
cả về số lượng và chất lượng
Đã có một số cây bút tên tuổi trưởng thành từ sự nâng đỡ, chỉ bảo tận tình của Lê Tri Kỷ như nhà văn Văn Phan, Ngôn Vĩnh, Nguyễn Thị Thu Trang, Phùng Thiên Tân, Nguyên Hùng, Tôn Ái Nhân, Như vậy, ngoài việc hoạt động văn nghệ và sáng tác của riêng mình, ông còn chăm lo việc xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ những người sáng tác trong lực lượng công an Nhiều thế hệ nhà văn đến và đi đều nhớ người anh cả tốt bụng, chân tình Lê
Tri Kỷ Đúng như lời chia sẻ của tác giả Toàn Nguyễn: Tôi lật giở hai trăm
trang sách, cuốn "Những kỷ niệm sâu sắc về Nhà xuất bản Công an nhân dân" nhân kỷ niệm 20 năm Nhà xuất bản này Quá nửa trong số ấy viết về Lê Tri Kỷ Những kỷ niệm không giống nhau Nhưng giống nhau ở sự biết ơn và lòng trân quý [64]
1.2.2.2 Đặc điểm truyện ngắn Lê Tri Kỷ
a Bức chân dung cao đẹp về người chiến sĩ công an
Nhà văn Lê Tri Kỷ là người đặt nền móng xây dựng nên Nhà xuất bản Công an nhân dân với tiền thân là Phòng Sáng tác văn nghệ, trực thuộc Bộ Công an Từ đây, những trang viết về đề tài an ninh trật tự bắt đầu lan tỏa trong đời sống, góp phần tạo dựng hình tượng đẹp về người chiến sỹ công an qua những câu chuyện mang đến niềm tin và thiện cảm của độc giả trước công việc của những chiến sĩ làm nhiệm vụ gìn giữ an ninh Có thể nói, suốt cuộc đời hoạt động của mình, Lê Tri Kỷ gắn bó tha thiết với ngành công an và trải qua những thăng trầm cùng cách mạng Ông đi nhiều, cảm nhận, chứng
Trang 24kiến biết bao vụ án, bao số phận cuộc đời con người Từ đó, Lê Tri Kỷ hiểu rõ ranh giới mong manh giữa cái thiện và cái ác, thấu hiểu được cuộc đời của người chiến sĩ thầm lặng, cảm thông cả với những gia đình nạn nhân hay chính với những tên tội phạm, Cũng chính từ đây cái duyên với ngành công
an đã mang đến cho Lê Tri Kỷ một cái duyên mới, cái duyên với văn học
nghệ thuật Có lẽ, ngành công an đã trở thành chiếc cầu, nối liền hai con
người Lê Tri Kỷ chiến sĩ và nghệ sĩ vào làm một Có thể nói, ông đến với văn học không phải là vô cớ, là ngẫu nhiên, là nổi hứng thích làm nghệ sĩ mà xuất phát từ chính công việc, ngành nghề của ông mang lại Vì thế, không khó hiểu
khi trong các sáng tác của ông, đặc biệt là trong các truyện ngắn Không thiện
không ác, Sức mạnh của cô đơn, hình ảnh người chiến sĩ xuất hiện rất
nhiều, trở thành nhân vật trung tâm
Theo nhà văn Văn Phan - người đã từng 14 năm làm Giám đốc Nhà xuất bản Công an, có hai dòng văn học công an song song tồn tại phát triển,
đó là dòng văn học tình báo, trinh thám, phản gián,… đại diện là các nhà văn Hữu Mai, Triệu Huấn, Ngôn Vĩnh, Đặng Thanh, và dòng văn học đi sâu vào nội tâm, thân phận con người trong lực lượng công an mà đại diện tiêu biểu
nhất là “cụ tiên chỉ” Lê Tri Kỷ Vì thế, khi nói đến văn học viết về đề tài Bảo
vệ an ninh quốc gia và bình yên cuộc sống, những người quan tâm sẽ nghĩ
trước tiên đến nhà văn Lê Tri Kỷ Nếu ở dòng văn học tình báo, trinh thám, phản gián, các tác giả thường khai thác chủ yếu mặt hành động, tinh thần chiến đấu mưu trí ngoan cường cũng như mọi biện pháp của các phía đối đầu, đấu tranh quyết liệt với nhau Các lợi thế như tính ly kỳ, hấp dẫn của những tác phẩm dạng này tuy được đông đảo người đọc đón nhận nhưng sự thông cảm, hiểu biết của người đọc về cuộc đấu tranh trên mặt trận bảo vệ an ninh trật tự của các chiến sĩ, đồng bào ta còn khoảng cách quá xa Còn với nhà văn
Lê Tri Kỷ thì khác Chúng ta sẽ không thấy những pha ly kỳ, những vụ án
Trang 25phức tạp gợi tò mò, những cuộc săn đuổi thủ phạm đầy gay gấn, lối viết truyện hình sự bình thường na ná theo kiểu thông tấn báo chí, mà nhà văn
Lê Tri Kỷ tỏ ra cao tay hơn, cũng trên nền truyện như thế, ông nói về tình đời, tình người Ít có nhà văn nào viết về ngành công an được như ông Truyện của ông vừa gợi được sự sáng suốt trong lý trí, vừa tạo nên sự rung động đầy tính nhân văn của những trái tim thiết tha hướng thiện Viết về ngành công an, một môi trường xem ra khô khan, xem ra rất cứng rắn, mà ông lại làm cho người đọc cảm nhận đầy đủ hơn, sâu sắc hơn Ông đã cho độc giả thấy người chiến sĩ công an còn có tấm lòng nhân hậu, ấm áp, còn có lòng yêu thương con người cực kỳ lớn lao mới có thể biến những công việc khô khan, những hành động cứng rắn thành thiện tâm được Có thể nói, Lê Tri Kỷ đã có công đem đến cho người đọc một hình tượng chiến sĩ công an hết sức chân thực và sinh động
Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua truyện ngắn Sức mạnh cô đơn
Sức mạnh cô đơn là một truyện ngắn hay, gần như tự truyện Truyện
xảy ra trong kháng chiến chống Pháp Anh trưởng ty công an hai mươi bảy tuổi ở một tỉnh miền núi, sống độc thân Trong đêm giao thừa, khi cán bộ nhân viên về quê ăn tết hầu hết, anh trưởng ty trẻ tuổi cảm thấy buồn và cô đơn Anh chợt nảy ra sáng kiến cho gọi một nữ phạm nhân vốn là nữ sinh trong thành Hà Nội, lên nói chuyện đón giao thừa Bị bắt cùng đám con gái buôn lậu, cô nữ sinh này khai là đi tìm anh trai là bác sĩ ở Vệ quốc quân, nhưng cô vẫn bị tình nghi là gián điệp bởi cô chẳng có giấy tờ tùy thân bên mình Điều gì xảy ra trong cuộc gặp mặt bất thường giữa hai con người cô đơn này Họ đều là trí thức, nam thanh nữ tú, nhưng ở hai phía đối địch, hai đầu nghi vấn Chàng trai muốn khỏa lấp nỗi cô đơn bằng một cuộc nói chuyện
có thể là lý thú Còn cô gái lại linh cảm tới điều đáng sợ và xấu nhất sẽ tới Vì thế, cô đã thủ sẵn con dao bầu trong áo để quyết không chịu nhục Họ gặp nhau thoạt đầu là một cuộc đối thoại khó khăn, nặng nề Sau đó, cô gái chấp
Trang 26nhận lời đề nghị của chàng trai là đi dạo trên phố huyện cách xa trại hàng chục kilômét bằng xe đạp Anh đèo cô vừa đi vừa nói chuyện Họ đi trong đêm giao thừa gió rét, trong bóng tối mênh mông Khi đạp xe đi, khi cùng đi
bộ, khi ngồi bên vệ đường nói chuyện Họ như hai kẻ lang thang, đi để hiểu là mình tồn tại Cho đến khi xe xuống dốc vấp phải vật cản, xe đổ nhào, mỗi người văng vào mỗi xó tối như bưng trong bùng nhùng cây cối rậm rịt, họ mới thầy cần có nhau biết nhường nào Và điều gì tất yếu phải xảy ra Chàng trưởng ty thoạt đầu chỉ linh cảm, về sau đi đến khẳng định cô gái hoàn toàn bị bắt oan và anh phải tự thú với mình là khó dứt bỏ hình ảnh cô gái này khỏi trái tim mình Còn cô gái cũng vỡ oà ra trong một nhận thức mới Thì ra, anh trưởng ty công an Việt Minh này cũng không phải là người độc ác, thâm hiểm muốn lợi dụng hoàn cảnh để cưỡng đoạt cô Mà anh là người có học, tinh tế,
đa cảm, sống đàng hoàng và tốt bụng Lê Tri Kỷ đã viết câu chuyện tình cảm của người chiến sĩ này hết sức tinh tế Bằng một giọng văn mềm mại, uyển
chuyển nhưng không kém phần sắc sảo Từ đó, có thể khẳng định: Lê Tri Kỷ
khai thác rất công phu phía con người, phía tình người ở những tình báo, điệp viên, cảnh sát, quan tòa [8]
Không chỉ nhìn các chiến sĩ công an ở khía cạnh rất con người, rất nhân bản với những tiếng thổn thức lòng của tình yêu mang lại, Lê Tri Kỷ còn xây dựng chân dung những người công an hết lòng vì công việc Nếu ai đó chưa hiểu, hẳn sẽ ngạc nhiên rằng, viết về người chiến sĩ công an mà Lê Tri Kỷ phải để khá nhiều tâm sức giải oan, giải nghi cho con người Dường như ông
có mối lo lắng đến quặn lòng rằng, khi có quyền lực trong tay, nếu không sáng suốt, tỉnh táo trong nghiệp vụ, nếu không có trái tim nồng hậu và độ lượng, người chiến sĩ công an dễ mắc sai lầm, mà sai lầm lớn nhất là gây oan trái cho con người Chúng ta dễ dàng nhận thấy nỗi lòng ấy của Lê Tri Kỷ
biểu hiện qua truyện ngắn Giấy chứng nhận cho quỷ dữ
Trang 27Giấy chứng nhận cho quỷ dữ là cuộc gặp mặt của Lê Huy, một sĩ quan
công an cao cấp, với Nguyễn Viết Lới, kẻ từng bị Tòa án Quân sự Bình Trị Thiên kết án tử hình Khi ra trại giam rà soát lại nhiều vấn đề, động lòng trắc
ẩn, Lê Huy đã bàn với công an khu xin giảm án cho hắn Và từ đó, Lới đã sống hai chục năm trong tù và học đến mức không còn sách trong thư viện của trại để học và ra tù trở thành thợ mộc tài hoa Người đàn ông ấy giờ đến tìm Lê Huy, để xin ông viết cho một bản giấy chứng nhận đã bị tù đày, để Chính phủ Pháp cho truy hoàn lương của những viên chức cũ Qua nhân vật
Lê Huy, chúng ta thấy Lê Tri Kỷ luôn thấu hiểu và yêu mến đồng đội mình, bởi ông cảm nhận và chia sẻ sâu sắc với những hy sinh thầm lặng của họ Điều ấy đã làm nên những rung cảm mãnh liệt, truyền cảm hứng cho ông trong những trang viết vừa tinh thông nghiệp vụ, vừa khai thác tâm lý sâu sắc
Sự khác biệt của ông với nhiều cây bút cùng thời ở mảng đề tài này chính là giữa những âm hưởng chiến thắng hào hùng vẫn thấy lấp lánh những giọt nước mắt của sự hy sinh thầm lặng vô bờ của người chiến sĩ công an Dĩ nhiên, phải là những cây bút vững tay nghề mới có thể xử lý tài tình, nhuần nhuyễn và hấp dẫn đến thế
Lê Tri Kỷ không phải là người viết văn đầu tiên của lực lượng công an Trước ông đã có những nhà văn viết về truyện phản gián, truyện trinh thám như Đặng Thanh, Phan Thanh Đàm, Lê Tuấn, Nguyễn Duy Xi, nhưng Lê Tri Kỷ lại là người đầu tiên viết về người công an ở những khía cạnh đời thường nhất Nếu ở truyện phản gián, câu chuyện vụ án, nhân vật chính thường là kẻ bất lương thì ở truyện ngắn của Lê Tri Kỷ, người chiến sỹ công
an là nhân vật chính Nhân vật ấy xoay trở trong từng tình huống có khi là nghiệt ngã của đời sống, đứng giữa lằn ranh mong manh thiện và ác, đớn hèn
và cao thượng, giữa tốt và xấu Để rồi, người công an buộc phải lựa chọn cách giải quyết tình huống đó một cách đắc địa Đúng như lời nhận xét của Dương
Trang 28Duy Ngữ: Rõ ràng ông viết về Công an, viết về mảnh đất và con người mà
ông đã dấn thân, sống chết, vui buồn cả mấy chục năm trời, cả cuộc đời nên văn ông thật đẹp, ông phân tích tâm trạng con người thật tinh tế, chính xác, thấu đáo và triệt để Ở thời điểm ấy, văn học ta chưa ai mô tả tâm trạng người chiến sĩ Công an trước việc họ phải hành xử hay hơn ông Không ở trong nghề không thể viết được như thế [65]
b Cái nhìn thấm đẫm tình người đối với những số phận đời thường
Đọc truyện ngắn Lê Tri Kỷ dễ dàng nhận thấy, ông không chỉ viết về những người chiến sĩ công an, không chỉ viết về những vị anh hùng trong công cuộc bảo vệ Tổ Quốc, mà còn viết về những con người đời thường trong cuộc sống Đó có thể là những người phụ nữ, đặc biệt là những tội phạm, những con người mang cái án chung thân, tử hình bên mình
Lê Tri Kỷ từng tâm sự: Nói văn học công an, văn học lực lượng vũ
trang, văn học ngành than, ngành thép, hay văn học nông thôn… là phân ra thế thôi Chứ đều viết về con người cả [65] Chính cách suy nghĩ đầy nhân văn
này mà Lê Tri Kỷ đã khai thác được các mảng sáng trong những con người
từng được xem là tội đồ đáng bị lên án Các truyện Khoảnh khắc làm người,
Mụ Qưới, là những truyện ngắn thể hiện rõ quan điểm này của tác giả
Khoảnh khắc làm người là câu chuyện hình sự cô đọng mà đọc xong
độc giả sẽ sửng sốt trước sự khám phá chút thiện tâm cuối cùng của một tâm hồn đầy tội lỗi Có thể nói, với bút pháp lão luyện nhuần nhị, bậc thầy, văn của ông đã khai thác tâm lý tội phạm quá sâu sắc, có tính chất mở đường cho một dòng văn học hấp dẫn và nhân văn về đề tài mới mẻ An ninh trật tự
Không chỉ triệt để đi vào phân tích chiều sâu tâm lí của những kẻ tử tù,
Lê Tri Kỷ còn đề cao những vẻ đẹp rất đỗi bình dị của con người Đêm Văn
Miếu là một truyện ngắn giản dị nhưng đã làm rõ được tư tưởng mà nhà văn
Lê Tri Kỷ muốn chuyển tải Nhân vật chính là một người phụ trách buồng
Trang 29phòng ở một khách sạn Hà Nội và vị khách người nước ngoài có tên là Phidias Là một vị khách du lịch đến Việt Nam, Phidias luôn đa nghi và tỏ ra xem thường nhân viên khách sạn Nhưng chính sự hiếu khách, lịch lãm trong ứng xử, liêm khiết, chăm chỉ trong công việc của anh nhân viên đã được vị khách thưởng rất hậu hĩnh; tuy nhiên, người phụ trách phòng vẫn từ chối không nhận Vị khách chợt nhận ra ông đã phạm nhiều điều vụng về trong cách đối xử với anh hầu buồng Từ đó, ông đã thay đổi suy nghĩ, có cái nhìn
khác về anh: Dù sao thì anh vẫn tỏ ra là một người hầu buồng có tư cách và
đáng tin cậy Phải bắt đầu mến và cởi mở với anh hơn [48, tr.166] Đọc
truyện ngắn Đêm Văn Miếu của nhà văn Lê Tri Kỷ ta thấy tin yêu hơn, tự hào
hơn trước phẩm chất tốt đẹp Qua câu chuyện này, Lê Tri Kỷ không chỉ ca ngợi anh phụ trách phòng mà cao cả hơn là ngợi ca vẻ đẹp đời thường của con người Việt Nam qua cái nhìn của du khách nước ngoài
Hay ở truyện ngắn Mụ Quới, Lê Tri Kỷ đã khiến cho độc giả bâng
khuâng mãi về những điều cao đẹp vừa tìm ra trong tâm hồn tưởng đã bỏ đi
của mụ Quới Câu chuyện xoay quanh một vụ án mất gà Đọc xong chuyện về
một con người dưới đáy, bần cùng khổ cực như thế chúng ta chợt nhận ra tấm lòng nhân hậu, đầy vị tha của nhà văn Lê Tri Kỷ Ông đã phát hiện ra đằng sau người đàn bà hay ăn cắp vặt ấy, chua ngoa đanh đá ấy là một người phụ
nữ giàu lòng tự trọng, không chấp nhận nghe người ta nói xấu nền độc lập nước nhà, và đó còn là một người phụ nữ đói nghèo rất mực thương con
Đọc truyện ngắn Lê Tri Kỷ, độc giả nhận ra sự nghiêm túc và sâu sắc của nhà văn Truyện nào ông cũng đặt ra vấn đề về nhân sinh và đạo lý con người
Có những cốt truyện giản dị như Bí mật cho những cuộc đời hoặc Trên đèo Bông
Lau Truyện chỉ là cái cớ để chuyển tải những ý tưởng đậm đà chất nhân văn, để
làm lan toả những ý niệm về cuộc đời, về con người trong cuộc sống đời thường Đọc truyện ông, không ai tìm thấy dấu vết sự buông thả, sự dễ dãi trong từng
Trang 30câu, từng chữ - một đặc điểm của các cây bút lão thành được đào tạo chặt chẽ ngay từ thời còn học phổ thông Đúng như sự đánh giá của nhà thơ Xuân Thiều:
Ông không chạy theo những nút thắt đầy tính kịch ở sự kiện mà lăn lội vào những bi kịch, thân phận để giúp con người biết hoàn thiện mình [8] Chính vì lẽ
đó, đọc truyện ngắn Lê Tri Kỷ không thể trộn lẫn ông với ai, bởi mảng đề tài riêng biệt và sự thao thức của tác giả trước những phận người
c Mảnh đất và con người Quảng Trị
Sinh ra và lớn lên ở miền đất Quảng Trị, nhưng Lê Tri Kỷ chủ yếu sống và làm việc ở Hà Nội Chính vì vậy, kí ức về quê hương, về những người bà, người bác, người cô, người em của ông đã trở thành một nguồn cảm hứng lớn để ông viết nên thành những truyện ngắn Qua những câu chuyện đời thường, dân dã, quen thuộc ấy, ta như bắt gặp bóng dáng của một người chiến sĩ công an cởi bỏ bộ quân phục để về với gia đình, về với nơi chôn nhau cắt rốn của mình
Trong số 19 truyện ngắn mà chúng tôi chọn làm tư liệu khảo sát, chúng
tôi đặc biệt chú ý đến truyện Những tiếng nói thầm, với 13 câu chuyện nhỏ:
Nhớ về làng cũ, Hai mươi lăm năm, Hiền Lương, Nắm đất ven quê, Đông Hà hai mặt, Chim tìm tổ, Mộ mẹ, Bãi bồi và cậu tôi, Nền nhà, O tôi, Chuyện chị tôi, Nghĩa cũ, Dì tôi Về mặt hình thức cũng như nội dung, Những tiếng nói thầm giống như một cuốn tự truyện của Lê Tri Kỷ dành cho những người thân
yêu ruột thịt của mình.Với kết cấu truyện lồng trong truyện, Lê Tri Kỷ đã kể lại 13 câu chuyện nhỏ lồng trong câu chuyện lớn ấy Mỗi câu chuyện nhỏ gắn liền với những nhân vật, những hình ảnh cụ thể trong đại gia đình ông ở quê
nhà Đầu tiên, phải kể đến là câu chuyện Nhớ về làng cũ Câu chuyện này
xuất hiện hình ảnh người dì của Lê Tri kỷ Với ông, dì là người mà suốt đời
ông không bao giờ quên, ông bồi hồi nhớ lại: Mỗi lần đi chợ Cầu mua được ít
khoai Thượng Tổng, là dì tôi không quên thổi một nồi nhỏ, gọi lũ trẻ quanh
Trang 31nhà sang cho ăn, và đợi đến khi chúng tôi nghẹn bột ngắc ngứu tận cổ mới đưa gáo nước lã mát rượi cho uống, vừa răn đe chúng tôi bằng những tiếng chửi hết sức nặng nề mà chúng tôi không bao giờ hiểu theo nghĩa đen Lớn lên tôi mới hiểu được rằng nghĩa của một ngôn từ chính là ở lòng người Dì tôi có cái sức mạnh mà cuộc đời viết văn của tôi chưa bao giờ có được [48,
tr.76] Bên cạnh hình ảnh người dì được nhắc đến đầu tiên, hình ảnh người mẹ
Lê Tri Kỷ luôn khắc sâu trong trái tim Trong lần về thăm quê, ông đã thăm
mộ mẹ và bồi hồi xúc động, ông tự hứa với lòng mình: Con sẽ đắp lại mộ, sẽ
dựng bia Con sẽ trồng lên mộ mẹ những khóm hoa, điều mà những ngôi mộ Quảng trị xưa nay không có Con cầu chúc cho mẹ từ đây, được yên giấc ngàn thu Bây giờ con mới hiểu ra lời cầu chúc giản dị ấy không ngờ lại khó thành hiện thực đến thế [48, tr.114]
Ngoài ra, trong câu chuyện, Lê Tri Kỷ còn nhắc đến cậu, bà bác, bà thím
và đặc biệt là o Toản (em gái bố Lê Tri Kỷ) trong truyện O tôi Trong mắt Lê Tri Kỷ, o Toản là một người phụ nữ từ khuôn mặt cởi mở, dáng điệu lúc nào
cũng nhanh nhảu, đến tiếng cười giòn tan, cười đầu xóm, cuối xóm nghe được,
nhưng cũng là người phụ nữ rất mạnh mẽ, là một trường hợp hiếm hoi trong
những cuộc đời xưa nay chưa có đau khổ nào quật nổi Đó là người o nghe tin
cháu về đã sang nhà mụ Hội mượn áo quần đẹp về diện cho cháu nó không biết mình khổ Đó cũng là người o phải chịu mang tiếng là sinh con chửa hoang, trong khi, đích thực đó là con của liệt sĩ Và người o ấy đã ra đi trong một đêm vác nơm dọc theo bờ sông thạch Hãn để kiếm thừa nồi cua bể đãi cháu ở xa về thăm, trong lúc bổ củi luộc cua, lưỡi dao của o vấp phải quả bom phá mảnh vụn hình cầu của Mỹ Không ngờ đó cũng là lần cuối cùng Lê Tri Kỷ gặp lại người
o của mình Không chỉ kể về cuộc đời bất hạnh của O Toản, Lê Tri Kỷ còn kể
về người chị họ tên Mong trong câu chuyện Chuyện chị tôi Chị Mong là một
hạt đẹp trong chuỗi kỉ niệm long lanh thời niên thiếu của Lê Tri Kỷ Không chỉ
Trang 32hồi tưởng lại những người thân yêu của mình, trong các câu chuyện nhỏ như
Hai mươi lăm năm, Hiền Lương, Nắm đất ven quê, Đông Hà hai mặt, Lê Tri
Kỷ đã viết về mảnh đất Quảng Trị quê ông với những niềm thương nỗi nhớ và
cả những thay đổi nơi đây Một mặt, ông miêu tả sự nhộn nhịp, rộn ràng, náo nhiệt ở quê ông, mặt khác, ông cũng không hề né tránh, che dấu một thị xã Đông Hà hai mặt với những con người buôn bán hàng giả, lừa lọc để thu về những đồng tiền bất chính mà chính ông là nạn nhân trong vụ mua chiếc máy ghi âm hiệu National RQ.209 của bố con “ông chủ hàng thật thà” Bằng một giọng văn chân thật, Lê Tri Kỷ đã kể lại hiện thực của một Đông Hà trong
chiến tranh và ông không khỏi xót xa khi tận mắt chứng kiến một Đông Hà đã
bị nhổ bật khỏi những dây mơ rễ má cũ, để nhào nặn thành một cái gì lạ hẳn: một căn cứ quân sự [48, tr.97] Và càng ngao ngán tôi càng thương nhớ Đông
Hà nhỏ bé cũ của tôi, dù thô sơ, lạc hậu nhưng vẫn sống cuộc sống thật như đứa con nhà nghèo, gầy yếu vẫn lớn lên từ sữa mẹ [48, tr.99] Với Lê Tri Kỷ, đất và người Quảng Trị còn phải vất vả nhiều mới xóa hết dấu vết của hai mươi năm đứng mũi chịu sào [48, tr.162] Có thể nói, mảnh đất Quảng Trị
không chỉ day dứt trong những trang viết của ông mà còn là nỗi trăn trở thường trực, thẳm sâu trong suy nghĩ, tâm hồn ông Kể cả lúc nằm trên giường bệnh,
ông vẫn gắng gượng và luôn nhắc đến món nợ chưa đáp đền của mình, đó
chính là mảnh đất quê nhà, là thôn Lưỡng Kim, là xã Triệu An, là huyện Triệu
Phong, Quảng Trị Lê Tri Kỷ đã từng nghẹn ngào nói với Phạm Ngọc Cảnh Ra
đi từ tuổi hai mươi, tôi chưa có chi góp về [8]
Như vậy, truyện ngắn Lê Tri Kỷ dù viết về kiểu nhân vật nào, chiến sĩ công an, tội phạm hay những con người chân lấm tay bùn, những người gắn
bó với ông ở miền quê Quảng Trị, thì đều đặt ra những vấn đề về đạo đức, lương tâm, về triết lý nhân sinh, đặc biệt là lòng trung thực, sự công bằng và cách sống bao dung, độ lượng Nếu nhân vật chiến sĩ công an của ông là
Trang 33những con người có lý trí sáng suốt, có tấm lòng nhân hậu, cũng như mọi người, biết buồn, vui, yêu, ghét, với đủ các cung bậc tình cảm, các chiều kích của con người thì nhân vật tội phạm cũng được ông xây dựng khá mới mẻ Tác giả đã bỏ qua những pha ly kỳ, gay cấn, căng thẳng của kiểu truyện mang tính hành động, không chú tâm vào khai thác cái lạ lẫm, bất thường, thậm chí kỳ quái
mà Lê Tri Kỷ quan tâm đến thế giới bên trong của con người; ông tập trung bút lực miêu tả cái phần ẩn chìm trong các tâm lý nhân vật Còn với những nhân vật, những con người Quảng Trị quê hương, Lê Tri Kỷ đưa vào trong truyện hết sức
tự nhiên, dân dã như là một lời thủ thỉ, tâm tình Đó là những con người bằng xương bằng thịt, gần gũi với cuộc đời ông mà dù năm tháng có chia xa, ông vẫn quay quắt với nỗi nhớ thường trực bên mình Tất cả các nhân vật ấy đã góp phần làm nên đặc trưng riêng của truyện ngắn Lê Tri Kỷ
1.3 Tiểu kết chương 1
Ở chương 1, chúng tôi đã trình bày hai nội dung cơ bản: Tổng qun tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài Có thể khẳng dịnhddax có nhiều công trình nghiên cứu về văn chương của Lê Tri Kỷ nhưng những nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật của ông là chưa nhiều Ngôn ngữ văn xuôi nói chung, ngôn ngữ truyện ngắn nói riêng của ông có nhiều nét đặc sắc, cần có những công trinh nghiên cứu một cách quy mô và có hệ thống Về những vấn đề lý thuyết làm cơ cở nghiên cứu của đề tài gồm khái niệm truyện ngắn, đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn, đặc điểm truyện ngắn của nhà văn Lê Tri Kỷ Có thể nói đặc trưng cơ bản của truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn
là sự cô đúc, ngắn gọn và truyện ngắn luôn gắn liền với đời sống con người Luận văn đã tìm hiểu và giới thiệu khái quát cuộc đời và niềm đam mê văn chương của nhà văn Lê Tri Kỷ, khẳng định tài năng và nhân cách cao đẹp của
ông Nhà văn Lê Tri Kỷ là nhà văn lớn trong mảng văn học viết về đề tài Vì
an ninh Tổ quốc
Trang 34Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN LÊ TRI KỶ
2.1 Từ trong ngôn ngữ và từ trong tác phẩm văn chương
2.1.1 Từ trong ngôn ngữ
Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, là đơn vị nhỏ nhất, có cấu tạo ổn định, mang nghĩa hoàn chỉnh, được dùng để tổ chức câu Xung quanh khái niệm từ, có rất nhiều ý kiến của các nhà ngôn ngữ học; có thể kể ra một số
định nghĩa tiêu biểu sau đây Tác giả Nguyễn Kim Thản cho rằng: Từ là đơn
vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách ra khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa từ vựng hoặc ngữ pháp và chức năng ngữ pháp [82, tr.61] Tác giả Nguyễn Văn
Tu khẳng định: Từ là đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ Nó là một đơn vị hoàn
chỉnh tức các bộ phận thành tố của nó kết hợp thành một khối thống nhất chặt chẽ không rời rạc [93, tr.17] Còn tác giả Nguyễn Thiện Giáp: Từ tiếng Việt
là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa, dùng để cấu tạo câu, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết rời [23, tr.134] Còn tác giả Đỗ Hữu Châu:
Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những ý nghĩa ngữ pháp nhất định, nằm trong kiểu cấu tạo nhất định Tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để cấu tạo câu
[10, tr.139] Có thể kể thêm, tác giả Đỗ thị Kim Liên: Từ là một đơn vị của
ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo câu [57, tr.18]
Từ các quan niệm, định nghĩa trên, chúng ta thấy các nhà ngữ học đều có
sự thống nhất về các khía cạnh âm thanh, ý nghĩa, cấu tạo và chức năng của từ Theo đó, chúng ta có thể nhận thấy rất rõ đặc điểm cơ bản của từ: 1/ Có hình thức ngữ âm và ý nghĩa nhỏ nhất 2/ Được cấu tạo theo một phương thức ngữ
Trang 35pháp nhất định 3/ Là đơn vị nhỏ nhất trực tiếp để tạo câu Ở mỗi cá nhân, từ được tích lũy dần và tồn tại trong tiềm năng ngôn ngữ, trở thành vốn từ vựng riêng của từng người Trong kho từ vựng riêng đó, từ tồn tại ở trạng thái tĩnh, chỉ khi tham gia hoạt động giao tiếp cụ thể, từ mới có cuộc sống riêng, bộc lộ hết thuộc tính và đặc điểm chức năng Trong thực tế sử dụng, từ có sự chuyển hóa, biến đổi đa dạng, đem đến những ý nghĩa mới ngoài nghĩa gốc ban đầu
2.1.2 Từ trong tác phẩm văn chương
Từ trong tác phẩm nghệ thuật là từ toàn dân đã được nghệ thuật hoá, chọn lọc, gọt giũa, trau chuốt và đặc biệt từ ấy phải đem lại cho người đọc những cảm xúc thẩm mĩ Vì thế, từ là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của tác phẩm nghệ thuật Không có từ thì không thể có tác phẩm văn học Do đó, từ trong tác phẩm văn học sẽ khác rất nhiều so với từ ở ngoài cuộc sống đời thường
Trong nghệ thuật, không có hình tượng nghệ thuật chung chung mà chỉ
có các hình tượng nghệ thuật gắn liền với một chất liệu cụ thể: hình tượng hội họa, hình tượng âm nhạc, hình tượng sân khấu, hình tượng văn học,… Tính chất, đặc trưng của một loại hình nghệ thuật gắn liền với đặc điểm và khả năng nghệ thuật của chất liệu được dùng làm cơ sở cho nghệ thuật đó Chính
vì vậy, sẽ không hiểu được đặc trưng của văn bản nghệ thuật nếu bỏ qua đặc
điểm thể hiện nghệ thuật của ngôn từ Đúng như các tác giả Lí luận văn
học quan niệm: Nhà điêu khắc tư duy bằng khối mảng, đường nét; nhà nhạc
sĩ tư duy bằng giai giai điệu và âm sắc của các nhạc cụ Cũng như thế nhà văn không thể tư duy nghệ thuật ngoài các khả năng ngôn từ [60, tr.279]
Như đã biết, bất kì một tác phẩm văn học nào, dù đó là thơ, truyện ngắn hay tiểu thuyết, thì từ đều là chất liệu để nhà văn xây dựng các hình tượng trong tác phẩm của mình Xuyên qua lớp từ, ta bắt gặp các chi tiết tạo hình, các tình tiết sự kiện và từ đó hiện lên các sự vật, phong cảnh, con
Trang 36người, các mối quan hệ xã hội sinh động Để có được từ nghệ thuật, bản thân chủ thể sáng tác phải vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo nhằm làm cho từ ngữ mang tính thẩm mỹ, có giá trị biểu đạt cao Có thể nói, trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, nhà văn đã làm cho từ của mình bộc lộ những khả năng tiềm tàng Vì thế, từ chính là phương tiện để cụ thể hoá và vật chất hoá cho chủ đề và tư tưởng tác phẩm, tính cách nhân vật và cốt truyện
Tóm lại, trong quá trình sáng tác, người nghệ sĩ đã dùng chất liệu từ
để tạo ra các tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương Để làm được điều đó, các tác giả đã học hỏi, sáng tạo và lĩnh hội những cái hay, cái đẹp từ ngôn từ thực trong cuộc sống Vì thế, có thể nói, từ ngữ có vai trò quan trọng trong văn bản nghệ thuật, là yếu tố để tạo nên hình hài, sự sống cho hình tựơng tác phẩm Đọc bất cứ văn bản nghệ thuật nào, chúng ta cũng bắt gặp một lớp ngôn từ đặc sắc để làm nên diện mạo riêng cho tác phẩm Đặc điểm của lớp
từ này là trực tiếp chịu sự quy định của quy luật ngôn ngữ như: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, phong cách học đồng thời lại chịu sự chi phối của quy luật thơ văn, thể loại Hay nói cách khác, từ trong tác phẩm văn chương thường mang đậm dấu ấn của người viết; qua lớp từ ngữ nhà văn sử dụng, ta có thể hiểu rõ hơn cá tính, phong cách và quan niệm của mỗi nhà văn
Tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ trong tác phẩm nghệ thuật giúp chúng ta
có cái nhìn sát thực hơn về tài năng và sự sáng tạo của các nhà văn Tùy thuộc vào mục đích sáng tạo và nội dung của tác phẩm, tác giả sẽ có sự lựa chọn các lớp từ riêng cho mình Các lớp từ này bị chi phối bởi quan niệm sống, tư tưởng, thẩm mĩ và vốn ngôn ngữ riêng của mỗi tác giả
2.2 Các lớp từ đặc sắc trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ
2.2.1 Lớp từ hội thoại
2.2.1.1 Số liệu thống kê
Từ hội thoại (còn gọi từ khẩu ngữ) là ngôn ngữ nói thông thường, dùng trong cuộc sống hàng ngày, có đặc điểm phong cách đối lập với phong cách
Trang 37viết Theo Đinh Trọng Lac: Từ hội thoại là những từ được dùng đặc biệt
trong lời nói miệng trong sinh hoạt hàng ngày, nhất là trong đối thoại [52,
tr.22] Dựa vào định nghĩa này, chúng ta thấy từ hội thoại được dùng trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, trong các hoạt động nói năng, giao tiếp của con người trong xã hội Đó là các từ ngữ dùng trong lời nói hàng ngày mà người nói, người nghe tiếp xúc trực tiếp với nhau, có sự luân phiên nhau giữa vai nói và vai nghe Do đặc điểm của ngôn ngữ là trực tiếp, tức thời nên lớp từ ngữ dùng trong khẩu ngữ cũng mang những đặc điểm riêng, ít được chọn lọc, gọt giũa, chúng được sự hỗ trợ của các yếu tố ngữ điệu, giọng điệu vá các yếu
tố như nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ
Qua thống kê truyện ngắn của nhà văn Lê Tri Kỷ, chúng tôi nhận thấy các truyện ngắn đều sử dụng từ khẩu ngữ Tuy nhiên, tần số xuất hiện từ khẩu ngữ trong các tác phẩm không giống nhau Kết quả khảo sát của chúng tôi được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 2.1 Lớp từ hội thoại trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ
TT Các truyện ngắn Tổng Số lượng Tần số Tỷ lệ (%)
1 Phố vắng 2970 2 2 0.06
2 Anh lính chữa cháy 1791 7 8 0.44
3 Một người không nổi tiếng 4635 12 12 0.25
4 Giờ cao điểm 2052 14 14 0.68
9 Không thiện không ác 2613 18 18 0.69
10 Sức mạnh của cô đơn 6426 10 10 0.16
11 Làng bên sông 5958 8 8 0.14
Trang 3812 Hãy làm ngơ cho thủ phạm 6412 11 11 0.17
13 Cái chết màu tro 5103 35 38 0.74
14 Cuộc tình thế kỷ 9261 12 12 0.13
15 Giấy chứng nhận cho quỷ dữ 6615 6 6 0.09
16 Bí mật cho những cuộc đời 3024 20 20 0.66
17 Khoảnh khắc là người 3402 5 5 0.14
18 Thằng Mẫn tóc nâu 3213 9 9 0.28
19 Trên đèo Bông Lau 2268 4 4 0.17
2.2.1.2 Cách sử dụng từ hội thoại trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ
Trong hoạt động nói năng cũng như trong tác phẩm nghệ thuật, lớp từ hội thoại được sử dụng khá đa dạng, linh hoạt và chủ yếu xuất hiện ở các đoạn hội thoại Tùy vào mục đích sáng tạo, lớp từ hội thoại sẽ được các tác giả sử dụng bằng các từ địa phương, tiếng lóng, thành ngữ, quán ngữ hay các tình thái từ,…; tất cả đều không ngoài mục đích xây dựng và làm rõ bức chân dung cũng như tính cách của các nhân vật Lớp từ ngữ này ngày càng được sử dụng nhiều trong các truyện ngắn hiện đại, do văn học ngày càng gắn với cuộc sống muôn màu muôn vẻ, với mọi trạng thái tình cảm, mọi cung bậc của tâm hồn con người
Như đã biết, truyện ngắn Lê Tri Kỷ chủ yếu viết về công an, về những câu chuyện trong ngành an ninh, tình báo Tuy nhiên, vì muốn mang lại cho người đọc một nội dung gần gũi với đời thường, với mong muốn xóa bỏ
khoảng cách lễ nghi, quân phục trong các truyện ngắn của mình, Lê Tri Kỷ đã làm mới các tác phẩm viết về đề tài Vì an ninh Tổ quốc bằng cách tạo nên lớp
từ hội thoại suồng sã, thân mật Nhờ đó, độc giả tiếp nhận truyện ngắn của ông với một tâm thế nhẹ nhàng, tự nhiên chứ không quá lạ lẫm với các nhân vật mà ông xây dựng
Trang 39Đọc 19 truyện ngắn của Lê Tri Kỷ, chúng tôi nhận thấy ông có nhiều cách trong việc đưa lớp từ hội thoại vào tác phẩm của mình Có thể là lồng ngôn ngữ đời thường ấy vào một đoạn hội thoại, một đoạn độc thoại hay một lời trần thuật của người kể chuyện Cũng có thể, ông mượn các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt để tạo nên lớp từ khẩu ngữ đặc trưng Ngoài ra, ông còn sử dụng các từ ngữ trần trụi, thông tục trong lời ăn tiếng nói hàng ngày Dù ông
sử dụng theo cách nào thì chúng cũng đều được thể hiện rất tự nhiên, không
bị bó buộc, gượng ép
Trước hết, chúng ta thấy lớp từ hội thoại trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ
được sử dụng khá nhiều trong các đoạn hội thoại Trong truyện ngắn Không
thiện không ác, nhân vật tôi (làm công an tỉnh) đã cuộc đối thoại rất tự nhiên,
đời thường với nhân vật Trường (Uỷ viên Ban chấp hành thanh niên cứu quốc huyện Gio Linh):
- Cậu làm công an, thế người ta có dạy cậu cách tán gái không?
- Ơ hay, cậu này! - Tôi tự ái quát lên
Trường bấm tay tôi ra hiệu:
- Khỉ! Nói nhỏ thôi, người ta hỏi thiệt mà!
- Cậu cần gì nào?
- Phải điều cho được con Lý ra đây nằm chung với chúng mình cho nó chừa cái đỏng đảnh tiểu tư sản ấy đi!
- Tán thành! Cậu làm coi!
- Mình ấy à? Với ngữ ấy, dân tồ như mình không ăn thua Phải là cán
bộ tỉnh kia! Hơn thế, phải cái nghề chi phách lác tí, như nghề công an ấy, mới mong làm cho nó chịu phép! [IX, 217]
Không chỉ sử dụng trong các đoạn hội thoại, trong quá trình các nhân vật độc thoại, Lê Tri Kỷ cũng đưa vào những từ khẩu ngữ rất đặc sắc để làm nổi bật tâm trạng cũng như mưu mẹo của nhân vật Chẳng hạn như tâm trạng
Trang 40của nhân vật Tư Hoàng khi cố tình gài bẫy để tên cuồng dâm Đỗ Thế phải
xuất đầu lộ diện: Tư Hoàng đã mừng thầm, nhưng vẫn kiên trì Mới bấy nhiêu
thì chưa đủ sức buộc tội một người khôn ranh như thế được [16, tr.444]
Ngoài ra, từ hội thoại còn được sử dụng rất nhiều trong lời trần thuật
của nhân vật người kể chuyện Chẳng hạn, trong truyện Phố vắng, Lê Tri Kỷ
đã kể lại câu chuyện nhân vật Nam chứng kiến cảnh người vợ tiễn chồng trước cổng trại giam do anh chồng đánh vợ, bị xử đi tù chín tháng Là một kẻ thô lỗ, cho nên anh chồng cư xử, nói năng với vợ rất cộc cằn và luôn tỏ ra khó chịu Với câu chuyện này, Lê Tri Kỷ đã rất thành công khi xây dựng lớp từ khẩu ngữ qua con mắt, cái nhìn khách quan của người chứng kiến và kể lại Qua đoạn văn sau, chúng ta sẽ thấy được sự tài tình của Lê Tri Kỷ khi sử dụng từ hội thoại:
Tên phạm đi qua trước mặt Nam, da bạc thếch, hai hàm răng bịt vàng,
mu bàn tay chạm hình tố nữ Chiếc áo sơ-mi ni-lông kẻ ô sặc sỡ, tay cài bằng khuy mạ vàng, để lồ lộ thân hình gày còm, nhếch nhác Một con người hư hỏng không còn cách nào cứu chữa, Nam nghĩ như vậy Thế mà số phận của hắn lại dính liền với cuộc đời của người đàn bà tội nghiệp kia! Chị theo sau lưng anh công an vũ trang, tiễn chồng đến cổng trại, nét mặt lộ vẻ buồn thương lẫn lộn
Bỗng người chồng quay lại quắc mắt nhìn chị, hất hàm mắng:
- Chưa về đi còn đứng trơ mắt ếch ra đấy à?
Thật là mất dạy! Nam giận sôi lên Không ngờ trước hoàn cảnh này
trong tình cảm vợ chồng, hắn lại có thể đối xử với vợ một cách tàn nhẫn như thế! Bị một sự sỉ nhục ngoài sức chịu đựng, chị đàn bà bật lên tiếng khóc tấm tức… [I, tr.19]
Hay, trong truyện ngắn Một người không nổi tiếng, Lê Tri Kỷ cũng đã
đưa vào những từ ngữ hết sức quen thuộc mà chúng ta vẫn thường bắt gặp đâu
đó trong cuộc sống: