Nghiên cứu Thần thánh và bươm bướm từ góc nhìn phê bình sinh thái không chỉ dừng lại ở việc nhận thức về tác phẩm này, mà còn góp phần nhìn nhận, đánh giá diện mạo của tiểu thuyết nhất l
Trang 1ĐẶNG LÂM TÚ
TIỂU THUYẾT THẦN THÁNH VÀ BƯƠM BƯỚM
CỦA ĐỖ MINH TUẤN
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
N N T ẠC NGỮ N
NG AN - 2017
Trang 2ĐẶNG LÂM TÚ
TIỂU THUYẾT THẦN THÁNH VÀ BƯƠM BƯỚM
CỦA ĐỖ MINH TUẤN
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 CƠ Ở ĐỂ NGHIÊN CỨU THẦN THÁNH VÀ BƯƠM BƯỚM TỪ GÓC NHÌN CỦA PHÊ BÌNH SINH THÁI 6
1.1 Một số vấn đề về phê bình sinh thái 6
1.1.1 Khái niệm phê bình sinh thái 6
1.1.2 Phê bình sinh thái - một khuynh hướng mới của phê bình văn học 11
1.1.3 Những vấn đề của văn chương sinh thái ở Việt Nam đương đại 18
1.2 Đỗ Minh Tuấn - một hiện tượng thú vị trong đời sống nghệ thuật 26
1.2.1 Đỗ Minh Tuấn - một nghệ sĩ tài hoa 26
1.2.2 Đỗ Minh Tuấn - một ý thức công dân nhiệt thành 29
1.2.3 Đỗ Minh Tuấn - một tác giả tiểu thuyết đáng chú ý 31
1.3 Thần thánh và bươm bướm trong bối cảnh sinh thái Việt Nam đương đại 33
1.3.1 Hiện thực - sinh thái nông thôn Việt Nam đương đại 33
1.3.2 Những tác động của hiện thực - sinh thái đến tiểu thuyết Việt Nam đương đại 35
1.3.3 Tổng quan về tiếng nói sinh thái trong Thần thánh và bươm bướm 38
Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DIỄN NGÔN SINH THÁI TRONG THẦN THÁNH VÀ BƯƠM BƯỚM 40
2.1 Sinh thái tự nhiên trong tương quan đối thoại 40
2.1.1 Tự nhiên - nơi con người thể hiện quyền lực và lòng tham 40
2.1.2 Tự nhiên với tư cách là chủ thể quyền lực 44
2.1.3 Cuộc tranh chấp bất tận giữa con người với tự nhiên 48
Trang 42.2 Sinh thái nhân văn trong tương quan giao tranh 51
2.2.1 Sự đổ vỡ những quan hệ truyền thống 52
2.2.2 Sự đa tạp, chồng lấn của các xu thế văn hóa 56
2.2.3 Sự đối xử bất công với phụ nữ và trẻ em 60
2.3 Truy tìm căn nguyên của nguy cơ sinh thái 65
2.3.1 Ý niệm mơ hồ về phát triển kinh tế, về văn minh 66
2.3.2 Coi trọng lợi ích vật chất, đề cao tinh thần thực dụng 72
2.3.3 Tâm lí phụ thuộc nước ngoài, bất tín với những giá trị truyền thống 76
Chương 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HÌNH THỨC DIỄN NGÔN SINH THÁI TRONG THẦN THÁNH VÀ BƯƠM BƯỚM 81
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 81
3.1.1 Nhân vật thực dụng, đầy tham vọng chiếm đoạt tự nhiên 81
3.1.2 Nhân vật hoài tiếc không gian thôn dã 87
3.2 Sự dung hợp bút pháp 92
3.2.1 Bút pháp hiện thực huyền ảo 92
3.2.2 Bút pháp cường điệu, khuếch đại 95
3.2.3 Bút pháp lãng mạn, trữ tình 99
3.3 Sự phối trộn giọng điệu 102
3.3.1 Giọng trào lộng, giễu nhại 103
3.3.2 Giọng lo lắng, bất an 106
3.3.3 Giọng chiêm nghiệm, triết lí 110
KẾT LU N 115
TÀI LI U THAM KHẢO 118
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Phê bình sinh thái đang nổi lên như một diễn ngôn phê bình liên ngành mang tinh thần của đời sống xã hội đương đại Sự xuất hiện của lí luận phê bình sinh thái và ảnh hưởng của nó đến hoạt động sáng tạo cũng như nghiên cứu, phê bình văn học xuất phát từ hai nguy cơ lớn của xã hội toàn cầu hoá, thứ nhất là sự xuống cấp của sinh thái tự nhiên, thứ hai là sự khủng hoảng của sinh thái tinh thần nhân văn Phê bình sinh thái xuất hiện ở các nước Âu - Mĩ từ những năm cuối của thập kỉ bảy mươi thế kỉ XX và thực sự trở thành một phong trào mạnh mẽ vào đầu thập niên chín mươi của thế kỉ XX Song, vì nhiều nguyên do khác nhau, phê bình sinh thái du nhập vào Việt Nam với một tốc độ khá chậm chạp và được đón nhận với một tâm thế khá dè dặt Đến nay, lí thuyết phê bình sinh thái được chuyển dịch vào Việt Nam còn ít ỏi, chưa hệ thống, hoạt động ứng dụng còn phân lẻ, mới chú trọng đến một vài giai đoạn, một vài hiện tượng văn học cụ thể Lựa chọn đề tài này, chúng tôi cố gắng đi từ một tác phẩm cụ thể để có cái nhìn sâu hơn về phê bình sinh thái, qua đó hi vọng góp phần minh định và xác lập vị thế của phê bình sinh thái trong hệ thống lí thuyết phê bình hiện nay
1.2 Được ấn hành năm 2009 bởi nhà xuất bản Văn học, Thần thánh và bươm
bướm đã gây ngay được tiếng vang, đón nhận ngay sự quan tâm nồng nhiệt của bạn
đọc cũng như của giới nghiên cứu, phê bình Đến nay, dường như sức nóng của tác
phẩm có phần nào đó đã bão hoà, điều đó bắt nguồn từ việc tiểu thuyết này đã được
soi chiếu dưới nhiều góc độ Tuy nhiên, giá trị của một tác phẩm văn chương đích thực không bao giờ gói gọn vào một thời gian hạn định hay đóng đinh bởi một vài
công cụ giải mã Bằng góc nhìn phê bình sinh thái, chúng tôi nhận thấy Thần thánh
và bươm bướm còn là tiếng nói có trọng lượng nhất định với những vấn đề của cuộc
sống hôm nay
1.3 Không thể phủ nhận rằng tiểu thuyết đang là thể loại đầu tàu trong việc cất lên tiếng nói về hiện thực, về thân phận con người, về những vấn đề cấp bách
Trang 6trong văn học Việt Nam đương đại Nghiên cứu Thần thánh và bươm bướm từ góc
nhìn phê bình sinh thái không chỉ dừng lại ở việc nhận thức về tác phẩm này, mà còn góp phần nhìn nhận, đánh giá diện mạo của tiểu thuyết nhất là những tiểu thuyết thể hiện sự nhạy bén trong việc phản ánh, chuyên chở các vấn đề nổi cộm của cuộc sống - một cách nhìn để thấy sự vận động của tiểu thuyết đương đại nước nhà sau thời kì Đổi mới
2 Lịch sử vấn đề
Thần thánh và bươm bướm là một tiểu thuyết mang tinh thần của tiểu thuyết
hiện đại Vấn đề được chuyển tải trong cuốn tiểu thuyết này đa dạng, phong phú trong đó nổi bật nhất là vấn đề nông thôn và người nông dân Việt Nam khi bước vào giai đoạn tiếp xúc với phương Tây để tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Với giá trị tự thân của mình, đến nay tác phẩm đã được nghiên cứu, bàn luận dưới nhiều góc độ khác nhau
Ngày 25/11/2011, tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam đã diễn ra buổi toạ đàm
về tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm, dưới sự chủ trì của nhà thơ Hữu Thỉnh
cùng sự tham gia của các nhà văn Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Khắc Trường, các nhà phê bình Phong Lê, Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lưu Khánh Thơ và nhiều độc giả mến mộ khác Hầu hết ý kiến trao đổi tại buổi toạ đàm đều đánh giá cao cả về mặt nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm, tuy nhiên, đó mới chỉ là những ý kiến ban đầu mang tính khai phá về tác phẩm [43]
Năm 2012, Phan Huy Dũng công bố bài “Món nộm văn hoá Việt hiện nay
dưới con mắt Đỗ Minh Tuấn (Đọc tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm)” trên Tạp
chí Văn hoá Nghệ An ngày 21 tháng 9 Bằng các thao tác khoa học, người viết đã lí
giải sự “tiếp cận riêng - cách tiếp cận văn hoá đối với hiện thực Điều tác giả bài viết quan tâm hơn hết là cắt nghĩa sự xô bồ, đổ vỡ của hiện thực đời sống hiện nay
từ những lý do văn hoá (nền tảng văn hoá, hằng số văn hoá, khát vọng văn hoá, mặc cảm văn hoá…)”, một “hiện thực văn hoá đặc điểm không khác gì một nồi lẩu, một món nộm, có đủ đồ, đủ mùi, đủ vị pha tạp, hỗn độn, mà trong đó trần tục trộn lẫn với thanh cao, quỷ sứ chung đụng với thiên thần, vị kỷ cọ xát với vị tha, vị lợi tranh
Trang 7chấp với vị tình…” Đây là một bài viết tiếp cận Thần thánh và bươm bướm với
những kiến giải độc đáo và cũng là gợi dẫn nhiều điều cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn [19]
Lê Thị Hồng với luận văn thạc sĩ Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Thần thánh
và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn (2012) đã đi sâu tìm hiểu thế giới nghệ thuật của
tác phẩm này qua việc xử lí chất liệu hiện thực và việc xây dựng con người độc đáo, riêng biệt trong dòng chung của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 [44] Tuy không đề cập đến vấn đề sinh thái trong tác phẩm, nhưng luận điểm về cách xử lí hiện thực, xây dựng con người của luận văn cũng là những ý kiến để chúng tôi nhận thức sâu hơn vấn đề mình đang nghiên cứu
Năm 2013, Phan Thị Ngọc Hà với luận văn thạc sĩ Nông thôn thời kì đổi mới
trong tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn đã khám phá khá
sâu sắc những vấn đề của đời sống nông thôn Việt Nam trước những biến động của giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường và sự thao túng của đồng tiền được mô
tả trong tác phẩm Tác giả luận văn cũng làm rõ hình tượng người nông dân nhếch nhác, méo mó, cả tin trước khát vọng đổi đời mù quáng [28] Luận văn đã gợi dẫn cho chúng tôi những suy nghĩ về sinh thái xã hội nông thôn, sinh thái văn hoá thời
mở cửa để có thêm căn cứ phát triển đề tài của mình
Ngoài những công trình nêu trên, tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm còn
được sử dụng làm cứ liệu trong một số bài báo, bài nghiên cứu khác viết về nông thôn Việt Nam, nhất là nông thôn Việt Nam trong giai đoạn mới, giai đoạn đã có những nứt vỡ về văn hóa, về cách ứng xử với tự nhiên, với con người… Tuy nhiên, những bài báo này chưa đưa ra những phân tích, đánh giá một cách hoặc toàn diện, hoặc sâu sắc vấn đề sinh thái trong tác phẩm
Như vậy, từ khi ra đời đến nay tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm đã đón
nhận sự quan tâm khám phá của nhiều độc giả, nhiều nhà nghiên cứu và đã được nhìn nhận, khám phá dưới nhiều góc độ khác nhau Những giá trị cơ bản của diễn
ngôn tiểu thuyết này gần như đã được giải mã Điểm lại lịch sử nghiên cứu Thần
thánh và bươm bướm, chúng tôi nhận thấy việc đọc tác phẩm dưới góc nhìn phê
Trang 8bình sinh thái vẫn còn những khoảng trống nhất định Tuy vậy, không ít trong số các ý kiến ấy sẽ là gợi ý quý báu cho chúng tôi trong quá trình giải quyết đề tài
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu khảo sát
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm
của Đỗ Minh Tuấn từ góc nhìn phê bình sinh thái
3.2 Phạm vi tƣ liệu khảo sát
Căn cứ vào đối tượng đã xác định, phạm vi tư liệu khảo sát chính của chúng
tôi là tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm (2009) của Đỗ Minh Tuấn, Nhà xuất
bản Văn học, Hà Nội
Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát thêm:
- Bộ ba truyện ngắn: Kiến và người (1990), Mối và người (1992), Nhện và
người (2012) (được in lại trong phần phụ lục cuốn sách: Rừng khô, suối cạn, biển
độc… và văn chương của Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội,
Hà Nội) và tiểu thuyết Trăm năm còn lại (1996), Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí
Minh của Trần Duy Phiên
- Tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu (2002) của Nguyễn Khắc Phê, Nhà
xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh
- Tiểu thuyết Gia phả của đất (2013) của Hoàng Minh Tường, Nhà xuất bản
Phụ nữ, Hà Nội
- Làng quê đang biến mất (Bình luận xã hội) (2014) của Tạ Duy Anh, Nhà
xuất bản Văn học, Hà Nội
- Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
- Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
- Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
Và sáng tác của một số tác giả khác
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Chỉ ra được những cơ sở lý luận để nghiên cứu Thần thánh và bươm
bướm từ góc nhìn phê bình sinh thái
Trang 94.2 Khảo sát và phân tích những nội dung cơ bản của diễn ngôn sinh thái
trong Thần thánh và bươm bướm
4.3 Khảo sát và phân tích những đặc điểm cơ bản của hình thức diễn ngôn
sinh thái trong Thần thánh và bươm bướm
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
6 Đóng góp của luận văn
- Ứng dụng một lí thuyết còn khá mới mẻ để tiếp cận một tác phẩm văn học một cách hệ thống
- Chỉ rõ những vấn đề của diễn ngôn sinh thái trong Thần thánh và bươm
bướm, bổ sung những nhận thức về giá trị của tác phẩm này
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở để nghiên cứu Thần thánh và bươm bướm từ góc nhìn của
phê bình sinh thái
Chương 2: Những nội dung cơ bản của diễn ngôn sinh thái trong Thần thánh
và bươm bướm
Chương 3: Những đặc điểm cơ bản của hình thức diễn ngôn sinh thái trong
Thần thánh và bươm bướm
Trang 10Chương 1
CƠ Ở ĐỂ NGHIÊN CỨU THẦN THÁNH VÀ BƯƠM BƯỚM
TỪ GÓC NHÌN CỦA PHÊ BÌNH SINH THÁI
1.1 Một số vấn đề về phê bình sinh thái
1.1.1 Khái niệm phê bình sinh thái
Có nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng cùng với Phê bình sinh thái (Ecocricism) đó là: Nghiên cứu văn học và môi trường (Studies of literature and environment), Sinh thái học văn học (Literary ecology), Thi pháp sinh thái (Ecopoetics), Phê bình văn học môi trường (Environmrntal literary criticism), Phê bình xanh (Green studies) hay Phê bình văn hóa xanh (Green cultural studies)… Giới nghiên cứu đã có nhiều tranh luận về tên gọi của thuật ngữ Phê bình sinh thái, đặc biệt là hai thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất: Phê bình sinh thái (Ecocricism) và Nghiên cứu văn học và môi trường (Studies of literature and environment) Theo Giáo
sư văn học và môi trường Cheryll Glotfelty, phần lớn các học giả thích dùng thuật ngữ Phê bình sinh thái (Ecocricism) “vì nó ngắn gọn và dễ dàng tạo thành dạng thức khác là ecocritical (tính chất phê bình sinh thái) và ecocritie (nhà phê bình sinh thái) Hơn nữa,
họ thích tiền tố “eco-”(sinh thái) hơn tiền tố “enviro-”(môi trường) bởi vì theo nghĩa rộng, tiền tố “enviro-”(môi trường) mang quan điểm con người là trung tâm và có tính nhị nguyên, ngụ ý rằng, con người chúng ta là trung tâm, tất cả mọi thứ xung quanh chúng ta là môi trường Ngược lại, tiền tố “eco-”(sinh thái) ám chỉ vạn vật cộng đồng phụ thuộc lẫn nhau, tạo thành một hệ thống và những yếu tố trong hệ thống đó luôn có
sự hòa hợp, gắn bó chặt chẽ với nhau” [89]
Vậy thế nào là Phê bình sinh thái?
Các học giả trên thế giới đã đưa ra khá nhiều khái niệm về phê bình sinh thái Tuy nhiên, để tránh đi lạc vào trận đồ lí thuyết không cần thiết, chúng tôi tập trung vào quan điểm của ba học giả: Jame S Hans, Cheryll Glotfelty và Vương Nặc
1.1.1.1 Phê bình sinh thái theo quan điểm của Jame S Hans
Năm 1990, trong công trình (Những) giá trị của văn học (The Value(s) of Literature), Jame S Hans đưa ra định nghĩa: “Phê bình sinh thái là nghiên cứu văn
Trang 11học (và các ngành nghệ thuật khác) từ bối cảnh xã hội và địa cầu Văn học không phải là một lĩnh vực tồn tại riêng và cách biệt với thế giới bên ngoài Vì vậy, nếu chúng ta nghiên cứu văn học giới hạn trong bản thân nó thì sẽ làm cản trở mối liên
hệ rất quan trọng của văn học với các hệ thống khác, mà chính những mối liên hệ
đó đã kết hợp sự biểu đạt quan niệm giá trị của chúng ta” [89]
Định nghĩa này thể hiện rõ sự khác biệt của phê bình sinh thái và các trào lưu phê bình mới khác so với phê bình của chủ nghĩa hiện đại chỉ chú ý đến văn bản và hình thức Nó xác định rõ diện khảo sát của phê bình sinh thái không giới hạn ở lĩnh vực xã hội và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên mà còn mở rộng ra mối quan hệ giữa sinh thái trên trái đất này với con người, nhấn mạnh sự biểu hiện và cắt nghĩa quan niệm giá trị của phê bình sinh thái Ngoài ra, định nghĩa này không tách biệt sinh thái
và xã hội, nó nói rõ nhận thức của Jame S Hans về tác dụng có tính chất quyết định của văn hóa xã hội đối với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
Tuy nhiên, định nghĩa này có khiếm khuyết ở hai phương diện Một là nó chưa xác định rõ tư tưởng và tiêu chí nghiên cứu văn học trong phê bình sinh thái, chưa chỉ ra được quan niệm giá trị cần biểu đạt của phê bình sinh thái - là quan niệm giá trị của chủ nghĩa sinh thái hay là quan niệm giá trị của chủ nghĩa môi trường Hai là nó chưa đề cập đến quan niệm mỹ học và tiêu chí mỹ học của phê bình sinh thái Như thế thì chưa chỉ ra được đặc trưng bản chất của phê bình sinh thái cũng như sự khác nhau căn bản giữa phê bình sinh thái với phê bình truyền thống Khuynh hướng cơ bản của Hans là muốn làm suy yếu con người trước giá trị môi trường nhưng có vẻ như luận chứng của quan niệm giá trị này thiếu thuyết phục hoặc không muốn vạch ranh giới rõ ràng cho chủ nghĩa sinh thái
1.1.1.2 Phê bình sinh thái theo quan điểm của Cheryll Glotfelty
Năm 1996, trong lời giới thiệu cho Tuyển tập phê bình sinh thái: các mốc quan
trọng trong Sinh thái văn học (The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary
Ecology), giáo sư Cheryll Glotfelty - nhà phê bình sinh thái người Mỹ đưa ra định nghĩa về phê bình sinh thái như sau: “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên” [89] Bà còn giải thích thêm: “Toàn bộ
Trang 12phê bình sinh thái có chung một tiền đề cơ bản, đó chính là văn hóa nhân loại được gắn kết với thế giới vật chất và có ảnh hưởng qua lại với thế giới đó Phê bình sinh thái lấy mối quan hệ qua lại giữa tự nhiên và văn hóa, đặc biệt là văn hóa sáng tạo về ngôn ngữ
và văn học làm chủ đề Với tư cách là một quan điểm phê bình, phê bình sinh thái đứng một chân ở văn học, một chân ở trái đất; với tư cách là một diễn ngôn lý thuyết, nó làm hài hòa mối quan hệ giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại” [89]
Định nghĩa của Cheryll Glotfelty thể hiện rất rõ sứ mệnh quan trọng nhất của phê bình sinh thái là thông qua văn học để thẩm định lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán văn hóa, truy tìm nguồn gốc văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái Đây là yêu cầu chính của chủ nghĩa sinh thái Đây cũng chính là điểm nổi bật nhất của định nghĩa đơn giản này Định nghĩa này còn chỉ rõ rằng: phê bình sinh thái cần đứng một chân ở văn học, tức là đứng ở văn bản văn học, đứng ở đặc điểm nội tại của văn học là tính thẩm mĩ và tính nghệ thuật; một chân đứng ở trái đất, nghĩa là đặt ở toàn bộ hệ thống sinh thái, đứng ở góc độ của toàn bộ hệ thống sinh thái để suy nghĩ vấn đề Cheryll Glotfelty còn bổ sung: “phê bình sinh thái mang đến một phương pháp nghiên cứu văn học lấy trái đất làm trung tâm” (earth-centered) [89] Điều đó cho thấy khuynh hướng chủ yếu của bà là chủ nghĩa sinh thái Đồng thời định nghĩa của bà có tính gợi mở, nghĩa là phê bình sinh thái cần bao hàm hai phương diện, đó là tư tưởng chủ nghĩa sinh thái và thẩm mĩ sinh thái Ngoài ra, định nghĩa này còn chỉ rõ mục đích của lí luận phê bình sinh thái là làm hài hòa mối quan hệ giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại Hàm ý của nó là: điểm tựa tư tưởng của phê bình sinh thái vừa có thể là chủ nghĩa môi trường với sự nỗ lực cải thiện chất lượng môi trường, thúc đẩy mối quan hệ hài hòa giữa con người với môi trường, vừa có thể là chủ nghĩa sinh thái với nỗ lực tạo nên văn minh sinh thái
để từ đó khôi phục lại sự cân bằng của hệ thống sinh thái Đây là định nghĩa có tính hòa hợp về tư tưởng cao nên được đa số học giả thừa nhận
Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn có mâu thuẫn nội tại Nó cố gắng dung chứa
cả phê bình môi trường, dung chứa tất cả những nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học và môi trường Vì vậy mà Cheryll Glotfelty không ngần ngại dùng từ “môi
Trang 13trường” mà không dùng từ “sinh thái”, không ngần ngại lưu giữ vết tích của chủ nghĩa nhân loại trung tâm và quan điểm nhị nguyên luận lại không dám vứt bỏ quan niệm trái đất trung tâm-chỉnh thể là trên hết Bởi vì Cheryll Glotfelty biết rõ và chỉ
ra tư tưởng chủ nghĩa nhân loại trung tâm bao hàm trong từ “môi trường” Xem ra, tác giả của định nghĩa có nhiều trăn trở, chính sự trăn trở đó là cái giá phải trả cho tính mâu thuẫn, tính không rõ ràng về mặt tư tưởng của thuật ngữ, đó là thoát khỏi hàm nghĩa của “sinh thái”, không có đặc trưng tư tưởng của phê bình sinh thái rõ ràng Ngoài ra, định nghĩa này cũng không xác định rõ hàm nghĩa cụ thể của “đứng một chân ở văn học”, không giới thuyết rõ đặc trưng thẩm mỹ của phê bình sinh thái là gì Cho dù định nghĩa của Cheryll Glotfelty nói rõ hơn về vấn đề quan tâm của phê bình sinh thái, nhưng từ chỉnh thể mà nói, định nghĩa này vẫn khiến nhiều học giả có cảm giác nó vẫn còn mơ hồ về phương pháp phê bình và quá rộng về tầm
nhìn văn hóa Bởi vì xuất xứ của nó là lời giới thiệu cho cuốn sách Tuyển tập phê
bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học văn học Lời giới thiệu này
không thuần túy học thuật, mang tính “diễn thuyết”, dù gây được sự chú ý rộng rãi đối với giới học thuật
1.1.1.3 Phê bình sinh thái theo quan điểm của Vương Nặc
Từ việc phân tích những định nghĩa của các học giả Âu Mỹ, Vương Nặc cho rằng Phê bình sinh thái cần có một định nghĩa mới, định nghĩa mới này cần đáp ứng
bà điểm sau: một là, dứt khoát rõ ràng, không được thoát khỏi hàm ý sinh thái; hai
là, cần tuân thủ tính chính xác của học thuật và tính chặt chẽ lôgic; ba là, cần bổ sung những khiếm khuyết về nguyên tắc thẩm mĩ sinh thái của các học giả Âu Mỹ Căn cứ những thảo luận về đặc trưng tư tưởng và nguyên tắc mĩ học của phê bình sinh thái, rút kinh nghiệm từ những ưu và khuyết điểm trong định nghĩa của những người đi trước, cố gắng thực hiện ba yêu cầu trên của một khái niệm thuật ngữ, học giả Vương Nặc đưa ra định nghĩa như sau: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái Nó phơi bày nguồn gốc văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái được phản ánh trong tác phẩm văn học, đồng thời khám phá thẩm mĩ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác
Trang 14phẩm” [89] Vương Nặc tự phân tích định nghĩa của mình như sau: Định nghĩa này bao gồm bốn nội dung Một là, xác định đặc trưng tư tưởng của phê bình sinh thái, nêu rõ phê bình sinh thái lấy chủ nghĩa sinh thái làm tư tưởng chỉ đạo cơ bản Hai
là, xác định mục đích, nhiệm vụ: chỉ ra mục đích, nhiệm vụ chủ yếu của phê bình sinh thái là phơi bày nguồn gốc văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái, khám phá thẩm mỹ sinh thái và các biểu hiện nghệ thuật của sinh thái trong tác phẩm Ba là, giới hạn phạm vi nghiên cứu: giới hạn trong phạm vi của mối quan hệ giữa văn học
và tự nhiên, phê bình sinh thái không thể tách khỏi tự nhiên để nghiên cứu mối quan
hệ đơn thuần giữa con người và con người, con người và xã hội hay thế giới nội tâm của con người Bốn là, giới hạn đối tượng của phê bình là tác phẩm văn học, lấy tác phẩm làm đầu mối triển khai
Điểm khác biệt trong định nghĩa của Vương Nặc so với các học giả Phương Tây là chú ý đến đặc trưng thẩm mĩ của phê bình sinh thái qua đề xuất “khám phá thẩm mĩ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” Điều đó cho thấy nhà phê bình sinh thái này đã nhìn văn học đúng với bản chất của nó - bản chất nghệ thuật Tuy nhiên, định nghĩa của Vương Nặc vẫn còn có chỗ thiếu chặt chẽ Yêu cầu phê bình sinh thái “phơi bày nguồn gốc văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái được phản ánh trong tác phẩm văn học” là một nhiệm vụ quan trọng Nhưng nhiệm vụ này đã có thể được bao hàm trong việc “nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên”, không cần phải tách biệt rõ ra như thể Bởi vì, cũng giống như mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, “mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên” có nội dung bao gồm rất nhiều phương diện và chiều kích, có xuôi ngược, có tốt xấu Nếu là quan hệ xấu thì chắc chắn sẽ tiềm ẩn hoặc biểu hiện nguy cơ sinh thái Đối với những tác phẩm có nội dung này, phê bình sinh thái không thể không nhận ra Thực ra, đối tượng nghiên của phê bình sinh thái không chỉ dừng lại ở những tác phẩm văn học sinh thái, những tác phẩm miêu tả tự nhiên, mà là toàn bộ tác phẩm văn học Đông Tây kim cổ kể cả những tác phẩm mà khi nhìn bề mặt chúng ta không nhận thấy vấn đề sinh thái Vì vậy, nếu đòi hỏi phê bình sinh thái phải “phơi bày nguồn gốc văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái” thì đã khuôn hẹp đối tượng khảo sát của loại hình phê bình này, bỏ qua những thành tựu lớn không chứa “nguy cơ sinh thái”
Trang 15của thơ sơn thủy chữ Hán các nước Đông Á, thơ haiku Nhật Bản, văn học đồng quê phương Tây, thơ ca về tự nhiên của R.Tagore Đây là điểm thể hiện mâu thuẫn trong định nghĩa của Vương Nặc: nội hàm càng rộng thì ngoại diên càng hẹp
Là một người có nhiều nghiên cứu sâu sắc về phê bình sinh thái, Nguyễn Thị Tịnh Thy trên cơ sở tổng hợp các định nghĩa của những học giả sinh thái Âu Mĩ, phân tích định nghĩa của Vương Nặc, đã đề xuất định nghĩa Phê bình sinh thái như sau: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học
và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái thông qua việc khám phá thẩm mĩ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” [89]
Trong khi triển khai luận văn này, chúng tôi tán thành định nghĩa của Nguyễn Thị Tịnh Thy và sử dụng nó như một thuật ngữ cơ sở cho quá trình nghiên cứu Thứ nhất, đây là một định nghĩa ngắn gọn, bổ sung cho những thiếu sót của những định nghĩa đã được phân tích trước đó; thứ hai, định nghĩa này đã chỉ ra: nền tảng tư tưởng, mục đích, nhiệm vụ, giới hạn phạm vi nghiên cứu và giới hạn đối tượng khảo sát của phê bình sinh thái
1.1.2 Phê bình sinh thái - một khuynh hướng mới của phê bình văn học
Phê bình văn học có một lịch sử phát triển lâu dài Qua quá trình phát triển của mình, trung tâm nghiên cứu của phê bình văn học có sự chuyển đổi theo các giai đoạn khác nhau, từ tác giả sang văn bản, người đọc, văn hóa Thế nhưng, tư tưởng nhân loại trung tâm luận dường như không có sự thay đổi qua các loại hình phê bình khác nhau đã diễn ra Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng “phản ứng chậm” của văn chương trước những nguy cơ, đặc biệt là nguy cơ sinh thái mà con người hiện đại phải đối mặt
1.1.2.1 Phê bình sinh thái là phản ứng của văn học trước tình trạng khủng hoảng môi trường
Khi con người nhận thức được rằng chính những hành động của mình đã trực tiếp làm tổn hại đến môi trường tự nhiên, biến tự nhiên vốn được coi là cội nguồn cưu mang sự sống của con người nay trở thành nguy cơ làm tổn hại đến con người
Trang 16thì ý thức về vai trò của tự nhiên đối với con người cũng cần phải có sự thay đổi
“Phê bình sinh thái ra đời với mục đích thông qua văn học để thẩm định lại toàn bộ văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán tư tưởng, chính sách, mô hình xã hội… đã ảnh hưởng như thế nào đến thái độ với tự nhiên, khiến cho môi trường lâm vào tình trạng suy thoái như hiện nay” [61]
Cheryll Glotfelty trong bài giới thiệu “Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường” của Tuyển tập Phê bình sinh thái, các mốc quan trọng
trong sinh thái học đã tỏ ra sốt ruột vì văn học dường như vẫn thờ ơ với những mối
bận tâm về môi trường trong khi hành tinh của chúng ta đang lâm nguy: “Bạn sẽ nhanh chóng nhận ra rằng chủng tộc, giai cấp và giới tính trở thành những vấn đề nóng bỏng vào những năm cuối thế kỷ XX Thế nhưng, bạn cũng sẽ không bao giờ biết được rằng sự sống của Trái đất - cái nền tảng đang làm nhiệm vụ chống đỡ tất
cả những hệ thống ấy - là cái đang nằm sâu bên dưới tất cả những giao tranh căng thẳng đó Thật vậy, có thể bạn sẽ không bao giờ biết được rằng, dù thế nào, trên tất
cả những điều ấy, là chúng ta chỉ có duy nhất một Trái đất mà thôi” [60] Nhận thức
về “một Trái đất đang lâm nguy” thực sự trở thành một nhận thức cốt lõi thúc đẩy
sự ra đời của phê bình sinh thái, con người giờ đây không thể đứng ngoài cuộc trước hiện trạng môi trường đang xuống cấp trầm trọng Và hệ quả của sự phản ứng
đó đòi hỏi con người phải nhận thức lại vai trò của tự nhiên, xem xét lại mối quan
hệ giữa tự nhiên với con người Nhiệm vụ trọng tâm của phê bình sinh thái là thông qua văn học thể hiện thái độ của mình về văn hóa ứng xử của con người đối với tự nhiên, hay nói cách khác, phê bình sinh thái truy tìm nguyên nhân dẫn đến hành động coi thường, bóc lột, tàn phá tự nhiên của con người để qua đó đưa ra những giải pháp nhằm góp phần hạn chế những hành động đó của con người lên tự nhiên Nhiệm vụ đó được Donald Worster chỉ ra: “Nguy cơ sinh thái mang tính toàn cầu
mà ngày nay chúng ta phải đối mặt có nguồn gốc không phải ở bản thân hệ thống sinh thái mà ở hệ thống văn hóa của chúng ta Muốn vượt qua nguy cơ này, tất yếu phải ra sức lí giải minh bạch ảnh hưởng của văn hóa của chúng ta đối với tự nhiên Nhà sử học, nhà phê bình văn học, nhà nhân loại học, nhà triết học nghiên cứu quan
Trang 17hệ giữa văn hóa và sinh thái, tuy không thể trực tiếp thúc đẩy cách mạng văn hóa, nhưng lại có thể giúp chúng ta lí giải, mà sự lí giải này chính là tiền đề của cách mạng văn hóa” [60]
Thế kỷ XXI là thế kỷ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con người phải đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái nhất, nhưng cũng dự báo đây sẽ là thế kỷ sẽ nảy nở
và phát triển các trào lưu sinh thái Tư tưởng hạt nhân của phê bình sinh thái là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái (ecological holism), là “coi lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái là giá trị cao nhất; lấy sự có ích hay không có ích đối với việc bảo vệ, duy trì hoàn chỉnh, hài hòa, ổn định, cân bằng hệ thống sinh thái làm thước đo, tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá sự phát triển xã hội, sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như phương thức sống của nhân loại” [35] Phê bình sinh thái xuất hiện và cảnh tỉnh con người về sự khai thác quá mức khiến cho trái đất ngày một kiệt quệ Hầu hết tác phẩm phê bình sinh thái đều xoay quanh động cơ:
“đó là nỗi day dứt rằng chúng ta đã đi tới thời đại môi trường cạn kiệt, một thời đại
mà hậu quả hành động của con người đang tàn phá hành tinh Chúng ta đã tới thời đại đó Hoặc là chúng ta phải thay đổi chính mình hoặc sẽ phải đối mặt với thảm họa toàn cầu Con người đang tàn phá vẻ đẹp tự nhiên và đẩy vô vàn sinh vật đến bên bờ tuyệt chủng trong cuộc chạy đua điên rồ của chúng ta tới ngày tận thế” [60] Con người đang chạy theo đến mê mải cái gọi là công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà chưa lường hết hậu quả, những phản ứng tiêu cực của cuộc sống hiện đại Sự khủng hoảng môi trường tự nhiên, biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí, nước, hiện tượng rừng khô, suối cạn, biển độc… đòi hỏi phê bình sinh thái phải nhập cuộc một cách quyết liệt hơn, cần “thảo luận công khai về các vấn đề môi trường, ví dụ như việc đánh mất sự đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu” [83]
Khi ý thức về tự nhiên thay đổi, con người phải thấy rằng tự nhiên vận hành theo những quy luật riêng của nó, và con người trong sự hữu hạn của mình không thể chống chọi được “một thực tế là, mặc dù hơn bao giờ hết, bề mặt trái đất gần đây đang càng ngày càng bị biến đổi nhanh chóng hơn bởi công nghệ kĩ thuật; thì điều ấy cũng không có nghĩa là những thực thể tự nhiên đã không còn tồn tại Tất cả
Trang 18những gì con người làm ra, bao gồm cả việc làm biến đổi phần nhiều là do vô ý thức (hay nói đúng hơn là sự tàn phá) hệ sinh thái trên trái đất cũng vẫn phải phụ thuộc vào những quá trình vật lí tự nhiên hiện tồn trước đó Những quá trình ấy vượt hẳn lên trên giới hạn nhận thức cũng như giới hạn quyền lực của con người Tất cả loài người, trong khi đó, lại chỉ đơn thuần tồn tại trong một trạng thái lẫn lộn, hỗn độn (mặc dù thường là một cách vô hình) với cuộc sống vô hạn của thế giới phi nhân” [29] Trong tư tưởng của phê bình sinh thái, tự nhiên có tiếng nói độc lập được thể hiện như “một chủ thể quyền lực”, nhắc nhở con người về “một thứ địa vị thật sự thông qua mỗi trận động đất, mỗi lần núi lửa phun trào, những ngôi sao chổi vụt qua, cũng như việc không ai có thể dự đoán được một cách chính xác sự thay đổi bất thường của thời tiết” [60]
Như vậy, phê bình sinh thái ra đời và đang khẳng định được ý nghĩa tích cực của mình trong hệ thống lí thuyết phê bình văn học hiện đại như một phản ứng của văn học trước tình trạng khủng hoảng môi trường nghiêm trọng như hôm nay Tư tưởng cốt lõi của phê bình sinh thái là phê phán tư tưởng lấy con người làm trung tâm của các khuynh hướng phê bình văn học trước đây, thay vào đó là tư tưởng sinh thái trung tâm Cho nên, phê bình sinh thái ngoài việc phê phán những hành động tàn phá, hủy hoại môi trường của con người làm cho môi trường ngày càng diễn biến theo chiều hướng xấu đi, mà thông qua đó, phê bình sinh thái còn truy tìm nguồn gốc văn hóa dẫn đến hành động đó của con người
1.1.2.2 Phê bình sinh thái thay đổi truyền thống phê bình
Đây là nhận định của nhiều nhà phê bình sinh thái nổi tiếng thế giới như: P.Barry, C Glotfelty Thực ra, phê bình mối quan hệ giữa tự nhiên và con người không phải là vấn đề mới mẻ của phê bình văn học phương Tây cũng như phương Đông Tuy nhiên, truyền thống phê bình dường như quá chú tâm vào con người - khai thác tính cách, tâm lí, tình cảm, hành động, nội tâm… của con người để thông qua đó đưa ra những lí giải về thế giới con người Do đó, truyền thống phê bình cũng không nhận thức một cách đầy đủ vai trò, vị trí của tự nhiên trong tương quan với con người
Trang 19Phê bình sinh thái đã thay đổi một cách cơ bản cách nhìn nhận, tiếp cận đối tượng phê bình Nếu các phong trào nghiên cứu văn học từ trước đến nay đều lấy
“con người làm trung tâm” thì phê bình sinh thái lại lấy “trái đất làm trung tâm” Phê bình sinh thái mang sứ mệnh nhìn nhận lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán văn hóa, chỉ ra căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái Các nhà phê bình sinh thái ý thức được rằng, văn học nhân loại cần phải có trách nhiệm với nguy cơ sinh thái, bởi văn học cũng là một trong những nguyên nhân văn hóa sâu xa tạo nên nguy cơ đó Nhà văn, nhà phê bình phải thông qua cải tạo văn học, cải tạo tự nhiên để hạn chế mắc lỗi với tự nhiên và thậm chí chuộc lỗi với tự nhiên Như vậy sứ mệnh của phê bình sinh thái là nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, khoa học, phương thức sống và phương thức sản xuất, mô hình phát triển của xã hội ảnh hưởng như thế nào đến hiện tượng xấu đi của môi trường tự nhiên đã dẫn đến nguy
cơ sinh thái như thế nào Từ đây có thể thấy, phê bình sinh thái là một khuynh hướng nghiên cứu mang đậm tinh thần phê phán văn hóa Phê bình sinh thái muốn hướng đến cải cách văn hóa tư tưởng, thúc đẩy cách mạng phương thức sống, phương thức sản xuất, mô hình phát triển, xây dựng văn minh sinh thái
Phê bình sinh thái không chỉ lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm tư tưởng triết học nền tảng mà còn lấy thẩm mĩ sinh thái làm nguyên tắc chỉ đạo Lý Khánh Bản cho rằng: “Trên cơ sở sinh thái chỉnh thể luận, chủ trương của mỹ học sinh thái
là thống nhất hài hòa giữa con người và tự nhiên, con người và xã hội, con người và bản thân chứ không phải con người chiếm hữu, chinh phục và cải tạo tự nhiên, không chủ trương quan điểm lao động sáng tạo ra cái đẹp” [35] Thẩm mĩ sinh thái
là thẩm mỹ mang tính tự nhiên, nó không phải là sự trừu tượng hóa trên cơ sở kinh nghiệm thẩm mỹ cụ thể, cũng không phải là thông qua đối tượng cụ thể thể hiện tư tưởng tình cảm, nhân cách của chủ thể thẩm mỹ Trong thẩm mỹ sinh thái không tồn tại quan hệ chủ thể - khách thể, con người cảm nhận tự nhiên, thiết lập quan hệ chủ thể tương giao với đối tượng thẩm mỹ Mặc dù trong lịch sử mỹ học, cái đẹp tự nhiên vẫn được bàn đến, nhưng phần lớn các nhà tư tưởng đều coi cái đẹp nghệ thuật, cái đẹp trong cuộc sống đẹp hơn cái đẹp tự nhiên Nếu có thừa nhận, coi trọng
Trang 20cái đẹp tự nhiên thì thường cho nó là sự ngoại hóa của sức mạnh hoặc thế giới tinh thần của con người Hegel từng cho rằng chỉ có cái đẹp nghệ thuật mới là cái đẹp chân chính Trong truyền thống, trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa nhân loại trung tâm, đối tượng thẩm mỹ tự nhiên chỉ được coi là phương tiện, biện pháp, kí hiệu, vật đối ứng, công cụ biểu hiện, ám thị, tượng trưng cho thế giới nội tâm, đặc trưng nhân cách của con người Các nhà phê bình sinh thái lại chủ trương không thể dùng con mắt công cụ, công lợi để đối đãi đối tượng thẩm mỹ tự nhiên Bài trừ thẩm mỹ công cụ hóa cũng trở thành ranh giới phân chia thẩm mỹ sinh thái và thẩm mỹ phi sinh thái Bên cạnh đó, thẩm mỹ sinh thái đề cao tính chỉnh thể, không chỉ quan tâm đến đối tượng thẩm mĩ đơn nhất, mà còn đặt nó vào trong hệ thống tự nhiên, từ đó khảo sát ảnh hưởng của nó đối với chỉnh thể sinh thái Tiêu chuẩn đánh giá cái đẹp của thẩm mĩ sinh thái cũng khác so với truyền thống Đối với thẩm mĩ sinh thái, cái
gì có lợi cho sự ổn định hòa hòa của hệ thống sinh thái mới là Đẹp; phá hoại chỉnh thể, phá hoại chỉnh thể sinh thái sẽ bị coi là Xấu Trong mĩ học truyền thống, con người sẽ trở thành tiêu chuẩn, thành thước đo, còn đến phê bình sinh thái, thước đo lại là chỉnh thể sinh thái Ngoài ra, thẩm mĩ sinh thái còn đề cao nguyên tắc dung nhập Thẩm mĩ sinh thái yêu cầu tinh thần và thể xác thấu nhập vào tự nhiên, có lúc, thậm chí còn phải quên đi bản ngã, hòa với tự nhiên làm một Muốn thực sự dung nhập vào tự nhiên, đặc biệt là muốn trong sự dung nhập đó cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của tự nhiên thì trước hết phải quên đi bản ngã của mình Quên đi bản ngã để cảm nhận tự nhiên chính là một phương thức của thẩm mĩ sinh thái Con người không thể phát hiện ra hết cái kỳ diệu của tự nhiên chính vì quá tự cao tự đại, coi tự nhiên chỉ là công cụ nhằm đối tượng hóa bản ngã, chỉ có cảm thụ một cách vô tư, không mục đích mới có thể cảm nhận được càng nhiều cái đẹp, cái kì thú của tự nhiên
Để hình thành một lí thuyết phê bình văn học, một điều không kém phần quan trọng chính là xác định được đối tượng, phạm vi nghiên cứu đặc thù “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên” (Cheryll Glotfelty) Đối tượng của phê bình sinh thái không phải chỉ là văn học sinh thái, không phải chỉ là những tác phẩm miêu tả phong cảnh tự nhiên Có
Trang 21miêu tả phong cảnh tự nhiên hay không không phải là điều kiện tất yếu để triển khai phê bình sinh thái Chỉ cần có căn nguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, chỉ cần có ảnh hưởng đến quan hệ giữa con người và tự nhiên, thậm chí tác phẩm văn học cho dù hoàn toàn không đả động gì đến cảnh vật tự nhiên, mà chỉ bàn đến chính sách phá hoại sinh thái, bàn đến một phương thức sống của xã hội tiêu dùng, một sự kiện ô nhiễm môi trường… đều có thể trở thành đối tượng quan tâm của phê bình sinh thái Cho nên, dùng góc nhìn sinh thái, có thể khảo sát văn học học đông tây kim cổ, đặc biệt là những tác phẩm kinh điển có ảnh hưởng lớn đến văn minh nhân loại cũng như biến động xã hội, có thể tiến hành đọc lại các tác phẩm trong quá khứ tìm ra ý nghĩa sinh thái tiềm ẩn trong đó, tất nhiên cũng bao hàm việc chỉ ra những hạn chế của
nó trong tương quan với chỉnh thể sinh thái Như vậy, sẽ góp phần bổ sung cho những thiếu khuyết trong lịch sử nghiên cứu văn học nhân loại
Phê bình sinh thái đã phát triển nhanh chóng và trở thành chuyên ngành nổi bật của nghiên cứu văn học ngày nay, đồng thời, trở thành một hiện tượng phê bình văn học mang tính toàn cầu Đối tượng, phương pháp cũng như trọng tâm nghiên cứu phê bình sinh thái không bất di bất dịch mà ngày càng mở rộng và phức tạp Tuy vậy, sứ mệnh của nó là bất biến: góp phần thay đổi thái độ của nhân loại đối với tự nhiên
Là một khuynh hướng mới của phê bình văn học, phê bình sinh thái chưa thể một bước trở thành khuynh hướng phê bình hoàn hảo Nhiều học giả đã chỉ ra những hạn chế của phê bình sinh thái ở cả phương diện lý luận, phương pháp cũng như thực tiễn nghiên cứu
Lý luận của phê bình sinh thái đang ở giai đoạn phát triển và tìm tòi Phê bình sinh thái chống lại các hiện tượng lí luận phê bình lấy con người làm trung tâm của văn học hiện đại, đồng thời xây dựng lí luận dựa trên sự phá vỡ kết cấu lý luận truyền thống và lấy khuôn mẫu lý luận trong quan hệ hữu cơ với thực tiễn làm mục tiêu Vì vậy, phê bình sinh thái bị cho là yếu về tính lý luận hoặc tránh né lý luận
Cơ sở triết học của phê bình sinh thái là lấy chủ nghĩa sinh thái trung tâm làm điểm tựa lý luận, nhưng nhìn từ góc độ xây dựng lý luận, gốc rễ của phê bình
Trang 22sinh thái tương đối yếu ớt bởi vì một số quan niệm tự nhiên khi phê phán chủ nghĩa nhân loại trung tâm còn rơi vào phiến diện
Phê bình sinh thái vốn là một diễn ngôn lý luận có cảm quan hiện thực, cảm quan thời đại mạnh mẽ Tuy nhiên, sau khi xác định đối tượng phê bình thì nó lại không trực tiếp đối diện với diễn ngôn của đối tượng mà chuyên sang chú ý đến việc làm rõ cái gọi là “ý thức sinh thái”, hoặc sa vào phân tích lí luận của chủ nghĩa nhân loại trung tâm, chủ nghĩa sinh thái trung tâm hay chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái khiến cho diễn ngôn lí luận của phê bình sinh thái bị suy yếu Mặt khác, rất nhiều thuật ngữ, lí luận và tư tưởng của phê bình sinh thái có nguồn gốc từ những ngành khoa học khác như sinh thái học, văn nghệ học sinh thái, mỹ học sinh thái, triết học sinh thái Vì thế, nhiều học giả thậm chí cho rằng phê bình sinh thái không thể trở thành một thứ lí luận văn học nghệ thuật mà chỉ là một phương pháp phê bình, một góc độ tư tưởng Ngoài ra, còn nhiều điểm chưa thống nhất về lí luận đang chia đàn
rẽ nghé giới phê bình Tóm lại, nhìn trên tổng thể, phê bình sinh thái đang đối mặt với nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn cần giải quyết Để “không thể là công việc ngẫu hứng của các nhà phê bình” [89] phê bình sinh thái cần xây dựng phạm trù lí luận; xây dựng phương pháp phê bình vững chắc, hoàn chỉnh; chọn lọc đối tượng nghiên cứu, điều chỉnh nội dung nghiên cứu để có thể tiến xa hơn trong sứ mệnh phê bình xanh
1.1.3 Những vấn đề của văn chương sinh thái ở Việt Nam đương đại
Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng ở Việt Nam chưa có cái được gọi là văn chương sinh thái, có chăng đó mới chỉ là những hiện tượng riêng biệt mang cảm quan sinh thái.Trong cuộc đấu tranh vì một môi trường sống hòa hợp với con người, văn học đã làm được gì? Phải chăng văn học vẫn còn bàng quan với chuyện sống còn này? Hình như văn học cho đây là một đề tài tầm thường hay ít ra chưa phải là
ưu tiên số một so với những vấn đề cao siêu đáng để quan tâm hơn nhiều? (Huỳnh Như Phương) Tuy nhiên, nguy cơ sinh thái là nguy cơ mang tính toàn cầu, không một quốc gia, vùng lãnh thổ nào được quyền im lặng trước nguy cơ này Khảo sát quá trình vận động của văn chương Việt đương đại, chúng tôi nhận thấy văn học sinh thái đã xuất hiện và dần trở thành một dòng chảy lớn
Trang 231.1.3.1 Khuynh hướng văn xuôi sinh thái Việt Nam sau 1975
Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là đề tài “xa xưa” của văn học thế giới cũng như của văn học Việt Nam Tuy nhiên, văn học sinh thái như một khuynh hướng mang tinh thần phản tư, hệ quả của phản ứng tất yếu khi môi trường ngày càng xấu đi do sự tác động của công cuộc “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” thì mới chỉ thực sự bắt đầu
Theo Lawrence Buell, một tác phẩm được cho là viết theo định hướng môi trường sẽ mang những nội dung chính như sau:
1 Môi trường phi nhân không còn chỉ được nhìn đơn thuần như là một thứ công
cụ làm khung nền cho sự xuất hiện của con người, ngược lại, sự hiện diện của nó cho thấy lịch sử nhân loại bao giờ cũng có mối liên hệ chặt chẽ với lịch sử tự nhiên
2 Mức độ quan tâm của con người đối với môi trường là một phần thuộc giá trị đạo đức của mỗi văn bản (…)
3 Theo một nghĩa nào đó, môi trường được nhìn như một quá trình, chứ không phải là một hằng số bất biến, hay ít nhất, được cho là một thông điệp ẩn giấu đằng sau tác phẩm ( ) [89]
Như vậy tác phẩm sinh thái được nhận diện ở các dấu hiệu:
Thứ nhất, là khi tác phẩm từ bỏ cái nhìn mang tính ẩn dụ về tự nhiên để viết với ý thức sinh thái Văn học sinh thái chống lại sự nhân hóa tự nhiên Khác với các truyện truyền thống về thế giới tự nhiên, chỉ có một nhân vật xuyên suốt câu chuyện, chỉ có một tiếng nói cất lên sau hình tượng đó, tiếng nói mà con người phú cho Ngược lại, trong các truyện sinh thái, bên cạnh thế giới con người là thế giới muông thú với những tình cảm, tính cách, cá tính… rất riêng Tự nhiên có sinh mệnh độc lập có địa vị bên ngoài mọi quan niệm của con người
Thứ hai, “văn học sinh thái lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm cơ sở lí tưởng, lấy lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái là giá trị cao nhất để khảo sát và biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và truy tìm nguy cơ sinh thái” [89] Thực chất, mối quan hệ giữa con người và sinh thái là mối quan hệ cộng sinh,
do vậy tác phẩm viết về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên phải có quan
Trang 24điểm sinh thái Lấy tư tưởng “sinh thái là trung tâm” không phải là tư tưởng hạ thấp con người, mà thực ra lợi ích của sinh thái suy cho cùng chính là lợi ích bền vững của nhân loại Vấn đề biến đổi khí hậu, nguy cơ sinh thái là vấn đề toàn cầu chứ không phải là vấn đề riêng lẻ của một quốc gia dân tộc
Thứ ba, cân bằng tự nhiên cũng đảm bảo cho cân bằng xã hội Đó là lí do vì sao văn học sinh thái tích hợp với các vấn đề xã hội: giới tính (sinh thái nữ quyền), chủng tộc, giai cấp, xã hội (sinh thái hậu thực dân, sinh thái xã hội, sinh thái chủ nghĩa Mác…)
Từ những cơ sở đó, quan sát văn xuôi Việt Nam từ sau 1975, chúng tôi nhận thấy ngay từ thập niêm 80, 90 của thế kỉ XX đã có những tác phẩm mang tư tưởng sinh thái Nguyễn Minh Châu có thể coi là “người mở đường tinh anh và tài năng nhất cho văn xuôi sau 1975 (Nguyên Ngọc) và ông cũng là người có ý thức rất sớm
về các vấn đề sinh thái Bằng nhạy cảm của người cầm bút, trong Một lần đối chứng
(1982), tác giả muốn nhìn đời sống qua con mắt chính loài vật, như bản chất tự nhiên hoang dã, bên ngoài mọi tình cảm cao thượng, trong sáng của con người Tiếp
theo, trong Sống mãi với cây xanh (1983), tác giả đề cập từ rất sớm “niềm tin pha
lẫn lo âu” về tương lai đô thị hóa Những ý tưởng của Nguyễn Minh Châu sẽ được một số nhà văn sau này tiếp tục triển khai
Sau sự “mở đường” của Nguyễn Minh Châu, Trần Duy Phiên viết Kiến và
người (1990), sau đó là Mối và người (1992) “Đây là hai tác phẩm đầu tiên đả phá
vào cái duy ý chí, ỷ vào sức mạnh của khoa học để tàn phá tự nhiên Qua hai tác phẩm, nhà văn đã lấy hệ thống sinh thái làm giá trị cao nhất để biểu hiện mối quan
hệ giữa con người và tự nhiên và truy tìm nguồn gốc xã hội của nguy cơ sinh thái” [89] Những tác phẩm này đã bắt đầu phá vỡ quan niệm “nhân loại trung tâm”, bố
(của cháu) trong Kiến và người, cậu Bảy trong Mối và người là những người luôn tự
tin với trí tuệ và sức mạnh của con người Họ dùng chúng để trấn áp và bóc lột tự nhiên, bắt tự nhiên phải phục tùng cho lợi ích vật chất của mình Tuy nhiên, cuối cùng họ đều lao đao, kinh hãi, đến thất bại trước những con côn trùng nhỏ bé Qua những tác phẩm này, Trần Duy Phiên không chỉ phơi bày thảm trạng của con người
Trang 25trước tự nhiên mà còn lên án các hành vi tước đoạt tự nhiên, phá vỡ cân bằng sinh thái và cảnh báo nhân loại về nguy cơ sinh thái Triết lí sinh thái được gợi ý từ những câu chuyện của Trần Duy Phiên là con người phải đối xử công bằng với tự nhiên, mọi đối đãi bất công với tự nhiên luôn buộc con người phải trả giá đắt
Một tác giả khác, người tạo nên “khúc ngoặt” (lời của Lã Nguyên) cho văn xuôi Việt Nam sau 1975 - Nguyễn Huy Thiệp đã đưa ra những triết lí sinh thái thực sự có chiều sâu Nếu thời kì đầu, nhà văn tập trung vào các chủ đề trực diện của việc tự nhiên
trả thù (Sói trả thù, Con thú lớn nhất…), về sau, ông “nghe được đòi hỏi sâu kín mà ngày càng bức xúc”, những bất ổn của nông thôn trước sự xâm lấn của đô thị (Thương
nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn…) Trong truyện của ông xuất hiện nhiều
nhân vật phản ứng với “văn minh”: Bạc Kì Sinh (Chuyện tình kể trong đêm mưa)
không thích việc người Kinh lên Tây Bắc “khai hóa văn minh”, “thắp lên ánh sáng văn
hóa”; thầy giáo Triệu (Những bài học nông thôn) than thở về việc “chúng ta đè gí nông
thôn bởi thượng tầng kiến trúc với toàn bộ giấy tờ và toàn bộ khái niệm về văn minh”;
Doanh (Những người muôn năm cũ) phỉ báng “kết quả của việc tiếp thu văn minh đô
thị… Học vấn và tiện nghi sẽ làm móng vuốt của nó sắc nhọn ra”… Từ đó, Nguyễn Huy Thiệp “cố gắng tìm câu trả lời” làm thế nào để sống yên ổn và hạnh phúc Câu trả lời của nhà văn gần với ý vị của Thiền và đậm triết lí Lão - Trang: “Hãy để tự nhiên
điều chỉnh” (Sống dễ lắm) Do vậy, tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp ngợi ca những
con người mà số phận của họ gắn với nông thôn như thầy giáo Triệu, bỏ gốc gác thành phố, về làm thầy giáo làng với niềm tự hào “Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn”, là Năng, là Nhâm, Minh, Mị… Nhưng Nguyễn Huy Thiệp không hề ảo tưởng, trang văn của ông trĩu nặng bất an và lo âu Điều đó thể hiện ở cách kết thúc truyện
thường là cái chết (Những bài học nông thôn, Thương nhớ đồng quê…), đời tha phương (Những người muôn năm cũ, Chuyện tình kể trong đêm mưa, Con gái thủy
thần…) nỗi đớn đau (Chăn trâu cắt cỏ) và niềm cô độc (Sống dễ lắm)… Nguyễn Huy
Thiệp tạo ra một dòng “văn học tự vấn” (chữ dùng của nhà văn Nguyên Ngọc), trong
đó có những truy vấn da diết về thái độ, trách nhiệm của con người đối với thiên nhiên
- những câu hỏi mà có lẽ bất cứ nhà văn nào ưu tư với cuộc đời này đều mong muốn đi tìm câu giải đáp …
Trang 26Khi ý thức sinh thái hiển hiện rõ nét hơn trong văn xuôi Việt Nam cũng chính là lúc xuất hiện những tác phẩm đáng ghi nhận viết trực diện về những vấn đề
của văn học và môi trường như Kẻ ám sát cánh đồng của Nguyễn Quang Thiều,
Trăm năm còn lại của Trần Duy Phiên, Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh
Tuấn, Gia phả của đất của Hoàng Minh Tường, Bãi vàng, đá quý, trầm hương, Đồ
tể, Thiên đường ảo vọng của Nguyễn Trí…
Trong văn xuôi sau 1975, Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn thể hiện ám ảnh sinh thái một cách đậm nét và đặc sắc nhất Là nhà văn của miền sông nước nên những hiện tượng như hạn hán, nước mặn xâm nhập, đất bạc màu, chua phèn… trở thành những đề tài day dứt trong trang văn của chị Sự mất cân bằng sinh thái, nguy cơ sinh thái đang đe dọa ngày càng nghiêm trọng đến vùng miệt vườn sông nước, những trang văn của Nguyễn Ngọc Tư với tư tưởng sinh thái sâu sắc đã gióng lên những hồi chuông gay gắt cho con người trước những nguy cơ này
Như vậy, từ sau 1975, đặc biệt là từ sau 1986, trong quá trình vận động chung của văn học đổi mới, khuynh hướng văn học sinh thái đã dần được hình thành và khẳng định được tiếng nói “cập thời” của mình Mặc dù chưa có những tác phẩm văn chương sinh thái mang tầm tư tưởng lớn, chưa có nhà văn chuyên sâu về vấn đề sinh thái, nhưng với những động hướng như đã đề cập cùng với tính khả ứng của dòng văn học môi trường chắc chắn văn học sinh thái Việt Nam sẽ còn có nhiều thành tựu hơn nữa
1.1.3.2 Phê bình sinh thái Việt Nam
Cũng giống như lĩnh vực sáng tác, phê bình sinh thái trong văn học vẫn chưa được giới nghiên cứu nước ta chú ý nhiều mặc dù đây là một khuynh hướng phê bình được đánh giá là đang phát triển năng động trên thế giới hiện nay Phê bình sinh thái là một lí thuyết liên ngành, kết hợp giữa văn học và các ngành khoa học khác, giữa phân tích văn chương và rút ra những cảnh báo về môi trường “Nó có thể không đưa ra được những giải pháp trực tiếp cho những vấn đề môi trường nghiêm trọng hiện nay nhưng bằng cách phân tích các diễn ngôn về thiên nhiên và môi trường, nó có thể tác động đến tâm thức con người, điều chỉnh nhận thức, khắc
Trang 27phục những ngộ nhận về môi trường, để từ đó, có những hành động đúng đắn hơn, hướng đến sự phát triển bền vững Đồng thời, xa hơn và quan trọng hơn cả, phê bình sinh thái hình thành một chủ nghĩa nhân văn mới, ở đó con người biết nghe tiếng nói của thiên nhiên để đối thoại với nó” [89]
Theo Đỗ Văn Hiểu, ở Việt Nam, “giới nghiên cứu văn học khá cởi mở trong việc tiếp thu, giới thiệu các lí thuyết văn học phương Tây đương đại, nhưng lại rất thận trọng với phê bình sinh thái… có lẽ, một phần rất lớn bắt nguồn từ chính sự mới mẻ một cách đặc thù của khuynh hướng nghiên cứu này” [35] Phê bình sinh thái được giới thiệu lần đầu tiên vào tháng 3 năm 2011 Trong khuôn khổ Hội thảo quốc tế với chủ đề “Tiếp cận văn học châu Á từ lí thuyết phương Tây hiện đại: Vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội”, giáo sư Karen Thornber của Đại học Havard đã có buổi thuyết trình về phê bình sinh thái (Ecocriticism) tại Viện Văn học Karen Thornber giới thiệu một cách tổng quan về bản chất, ý nghĩa, và tiến trình của nghiên cứu văn chương môi trường và sau đó phân tích những điểm cơ bản mà phê bình sinh thái quan tâm
Tiếp sau sự giới thiệu của Karen Thornber, giới khoa học và khoa bảng trong nước bắt đầu chú ý đến khuynh hướng phê bình này Các công trình dịch thuật và nghiên cứu lần lượt xuất hiện Về dịch thuật, Đổ Văn Hiểu mở đầu với “Phê bình sinh thái - cội nguồn và sự phát triển” (2012) [36], tiếp theo là “Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học” (2013) của Trần Ngọc Hiếu [39], “Phê bình sinh thái” (2014) của Đặng Thị Thái Hà [29], “Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường” (2014) của Trần Thị Ánh Nguyệt [60], “Văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái” (2015) của Đỗ Văn Hiểu [37] Các tài liệu này tổng quan về văn học sinh thái và phê bình sinh thái từ nguyên nhân hình thành, cội nguồn tư tưởng, lịch sử phát triển cho đến đặc điểm loại hình Đây là những tài liệu nhập môn cần thiết cho những ai cần tìm hiểu về văn học sinh thái và phê bình sinh thái
Về nghiên cứu lí luận, Đỗ Văn Hiểu cũng là người đi tiên phong với bài viết
“Phê bình sinh thái - khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân” [35] Tác giả đã nêu và phân tích các điểm cách tân của khuynh hướng phê bình này về
Trang 28các phương diện: tư tưởng nòng cốt, sứ mệnh phê bình, nguyên tắc mĩ học, đối tượng nghiên cứu nhấn mạnh sự chuyển đổi từ tư tưởng “nhân loại trung tâm luận” sang tư tưởng “sinh thái trung tâm luận” Nguyễn Thị Tịnh Thy trong bài “Phê bình sinh thái - nhìn từ lí thuyết giải cấu trúc” [86] đã nhìn thấy cảm quan hậu hiện đại biểu hiện ở đặc điểm giải cấu trúc qua những đặc trưng lệch tâm, tản quyền, cái chết của chủ thể, lật đổ và tái thiết, tính đối thoại… Trong tham luận “Nghiên cứu phê bình sinh thái hiện đại và di sản văn hóa: Nhìn từ cách Sinh thái học tìm về Tam
giáo (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo)” (Hội thảo khoa học Phát triển văn học Việt
Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, Viện Văn học, tháng 5 năm 2014),
qua những thu thập từ ba công trình trong serie sách của Trung tâm nghiên cứu Tôn giáo Thế giới thuộc Đại học Harvard, Trần Hải Yến sau khi lí giải nguyên nhân tìm
về tam giáo, những điều tìm thấy ở tam giáo của sinh thái học, đã đưa ra gợi ý có thể khảo sát văn học trung đại Việt nam từ quan điểm của phê bình sinh thái học, Trong bài báo “Cần tìm hiểu sự chuyển hướng của Phê bình sinh thái” [53], Phương Lựu lưu ý đến “Phê bình sinh thái mác xít” như một sự chuyển hướng của phê bình sinh thái Tháng 9 năm 2016, Đỗ Văn Hiểu tiếp tục trình bày “Tính “khả dụng” của phê bình sinh thái”, nhằm xác lập cơ sở lí luận của khuynh hướng nghiên cứu này, đồng thời thử tìm ra hướng thao tác nghiên cứu để có thể vận dụng vào văn học trong nước [38]
Trong đối thoại mang tính phản biện về tiếp nhận và ứng dụng lý thuyết, Nguyễn Văn Dân có một bài viết rất đáng lưu ý: “Các lý thuyết nghiên cứu văn học
và tính khả dụng” [18] Tác giả đã viện dẫn ý kiến của Michael P Cohen trong bài
“Nỗi buồn màu xanh: Phê bình về phê bình sinh thái” (Blues in Green: Ecocriticism Under Critique) để cảnh báo phê bình sinh thái hoàn toàn không thể là công việc ngẫu hứng của các nhà phê bình” “Phê bình sinh thái cần phải chất vấn sát sao hơn nữa bản chất của văn bản tự sự về môi trường chứ không chỉ đơn thuần là ca tụng văn bản đó như nó thường làm” Dù còn khá lẻ loi trong tâm thái tiếp nhận chung của giới học thuật trong nước, nhưng đây là một tiếng nói, một cách nhìn mang ít nhiều ý nghĩa, và cần thiết, của tinh thần khoa học Nó giúp chúng ta tránh được
Trang 29những phiến diện, cực đoan, áp đặt theo kiểu đẽo chân cho vừa giày khi tiếp nhận lí thuyết mới
Về ứng dụng phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học, Nguyễn Đăng Điệp đã có “những vén mở bước đầu” về ứng dụng phê bình sinh thái khi phân tích biểu tượng vườn trong thơ Mới với tiểu luận “Thơ Mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa” [22] Nguyễn Thị Tịnh Thy trong tham luận “Sáng tác và phê bình sinh
thái - tiềm năng cần khai thác của văn học Việt Nam” tại Hội thảo khoa học Phát
triển văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, Viện Văn học,
tháng 5 năm 2014 [87] cho rằng người sáng tác và nhà phê bình Việt Nam cần phải khắc phục tình trạng “phản ứng chậm” với trào lưu sinh thái học văn học Các nghiên cứu tiếp theo của Nguyễn Thị Tịnh Thy như: “Tư tưởng sinh thái trong
truyện ngắn của Trần Duy Phiên” [88], “Trăm năm còn lại của Trần Duy Phiên - nhìn từ lí thuyết phê bình sinh thái” [89], “Đối thoại trong tiểu thuyết Totem sói của
Khương Nhung” [89] đều tập trung phân tích các biểu hiện của tinh thần sinh thái trong tư tưởng, nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm cụ thể Vũ Minh Đức
nghiên cứu Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ lí thuyết phê bình sinh thái [26] Trong luận văn thạc sĩ Cái tự nhiên từ điểm nhìn phê bình sinh
thái (Qua tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc
Tư), Đặng Thị Thái Hà vận dụng khái niệm “mơ hồ sinh thái”(ecoambguity) để
“bóc trần những sự thực ẩn giấu” đằng sau những diễn ngôn mơ hồ về việc “tạo dựng cái tự nhiên phi nhân” [29] Vấn đề sinh thái đô thị cũng được chú ý: Đặng Thị Thái Hà với “Vấn đề sinh thái - đô thị trong văn xuôi Việt Nam thời Đổi mới” [30], Thanh Hà với “Sinh thái - đô thị trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu” [31], Dương Thu Hằng quan tâm đến “Biến đổi môi trường sống - Nhân tố thúc đẩy không gian văn hóa mới trong thơ Tú Xương” [33], Nguyễn Thùy Trang tìm hiểu
“Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn sinh thái” [97], Đào Thủy Nguyên khám phá “Cảm quan sinh thái trong văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại” [59], Phạm Ngọc Lan phân tích “Cánh đồng bất tận từ góc nhìn nữ quyền luận sinh thái”
[48]… Cho đến nay, luận án tiến sĩ Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam
Trang 30sau 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái của Trần Thị Ánh Nguyệt [61] là công trình
bề thế nhất về phê bình sinh thái Công trình đã tổng thuật các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về phê bình sinh thái, chứng minh có một khuynh hướng văn xuôi sinh thái sau 1975, đặc biệt là sau 1986 ở Việt Nam, chỉ ra những đặc điểm của văn xuôi sinh thái như là một xu hướng văn học có tầm quan trọng xã hội, thẩm mĩ và chứa đựng những nhân tố cách tân nghệ thuật; khảo sát hai bình diện của khuynh hướng văn xuôi sinh thái và đạo đức sinh thái Ngoài ra, một số công trình như nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Liên (“Phóng sự Việt Nam trong môi trường sinh thái văn hóa thời kì đổi mới”), Lê Trà My (“Tản văn Việt Nam thế kỉ XX (từ cái nhìn thể loại)” đã nghiên cứu các thể loại trên cơ sở sinh thái văn hóa (culture ecology), Trần Đình Sử (“Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học hiện nay”)… theo hướng nghiên cứu rộng của phê bình sinh thái, vận dụng tư tưởng sinh thái học để tìm hiểu trạng thái sinh thái tinh thần, sinh thái văn hóa Đặt trong tương quan với các đề tài phê bình, nghiên cứu đã được công bố, có thể thấy số lượng các công trình về sinh thái học văn học như vậy là quá ít ỏi Tuy số lượng các công trình nghiên cứu mang tinh thần phê bình sinh thái còn ít nhưng những biểu hiện sinh thái tồn tại ngập tràn trong văn học Đó là tiềm năng đang chờ đợi và cũng
là “mảnh đất màu mỡ” để phê bình sinh thái phát triển thêm nữa
1.2 Đỗ Minh Tuấn- một hiện tƣợng thú vị trong đời sống nghệ thuật
Tiêu chí để định dạng cho chữ “thú vị” ở đây của chúng tôi khi nhận định về
Đỗ Minh Tuấn là sự đa dạng của lĩnh vực tham gia sáng tạo, thành quả sáng tạo được đánh giá bằng các giải thưởng Cái “thú vị” nhưng cũng là cái đặc sắc của Đỗ Minh Tuấn chính ở chỗ ông có thể làm thơ và đạt giải thưởng về thơ, có thể viết tiểu thuyết và đạt giải thưởng về tiểu thuyết, có thể đạo diễn phim và đạt giải thưởng về phim
1.2.1 Đỗ Minh Tuấn - một nghệ sĩ tài hoa
Đỗ Minh Tuấn sáng tạo trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau và ở lĩnh vực nào cũng để lại dấu ấn nhất định Từng tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Văn và Đại học Sân khấu điện ảnh nên Đỗ Minh Tuấn có điểm xuất phát là một người được
Trang 31đào tạo cơ bản, tuy nhiên chất tài hoa, nghệ sĩ của một người không phải đào tạo mà
có Quan sát dựa trên những sản phẩm sáng tạo của ông, chúng tôi nhận thấy Đỗ Minh Tuấn là một nghệ sĩ thực tài Số lượng tác phẩm của ông không đồ sộ nhưng ở lĩnh vực nào cũng thể hiện một lượng kiến văn riêng biệt, độc đáo
Về thơ ca, dù chỉ mới xuất bản 4 tập thơ nhưng cũng đủ chứng liệu để bạn đọc gọi ông là nhà thơ, thậm chí là một nhà thơ có phong cách Phần lớn thơ của Đỗ Minh Tuấn đến nay đều được công bố giai đoạn trước năm 1994 - giai đoạn đầu của quá trình đổi mới thơ ca Việt Nam hiện đại Đọc thơ Đỗ Minh Tuấn, chúng tôi nhận thấy ông đã thổi vào đó ý thức cách tân rất rõ Về hình thức, ông đã nới lỏng và kéo dài câu thơ hướng đến kiểu thơ văn xuôi phổ biến và thịnh hành của giai đoạn sau
Về nội dung, thơ Đỗ Minh Tuấn chiếm số lượng nhiều nhất vẫn là thơ tình Thơ tình của Đỗ Minh Tuấn mới mẻ, mang hơi thở và nhịp đập của trái tim và thời đại ông
Về nghiên cứu lý luận, phê bình văn học ông có Nghệ thuật trữ tình của
Nguyễn Du trong Truyện Kiều (NXB Văn hóa, 1995), Ngày văn học lên ngôi (NXB
Văn học, 1996) Dù sản phẩm phê bình của ông không nhiều, nhưng phong cách phê bình, cách nhìn nhận và lí giải các hiện tượng văn học của ông khá độc đáo, đặc sắc Nhiều trang phê bình của Đỗ Minh Tuấn đã được giới nghiên cứu cũng như bạn đọc trích dẫn nhằm minh định cho các luận điểm của mình, đặc biệt là ý kiến khi đánh giá về tri thức, về thơ ca Cũng có thể coi ông là người khởi xướng 5 cuộc tranh luận văn học và văn hóa trên báo chí trong và ngoài nước Những hoạt động cần có của một nền tri thức dân chủ
Về phim truyền hình, đến nay Đỗ Minh Tuấn đã công bố gần 20 tác phẩm,
trong đó có những phim gây được tiếng vang như: Thằng Cuội (1989), Đi bầu
thành hoàng (1993), Công ty co giãn mênh mông (1999), Bí mật Eva (2010)… Thật
không quá khi cho rằng Đỗ Minh Tuấn là một trong không nhiều đạo diễn hàng đầu của điện ảnh chính thống Việt Nam đương đại Sản phẩm phim truyền hình của ông bao phủ trên nhiều đề tài khác nhau, tuy nhiên đề tài người nông dân và cuộc sống nông thôn vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất Ở mảng đề tài này, Đỗ Minh Tuấn không chỉ đem đến cho người xem một cái nhìn sắc sảo, tài hoa của một người nghệ sĩ về các vấn đề cũ cũng như mới của nông thôn, người nông dân Việt Nam mà còn cho thấy
Trang 32một tình yêu, sự lo lắng của một người con với quê hương, bản quán của mình Ngay trong lĩnh vực đạo diễn phim, đạo diễn tài hoa này cũng không chịu bó mình trước một thể loại nào, ngoài những bộ phim truyền hình đã đi vào trí nhớ của khán giả nhiều thế hệ, chúng ta còn bắt gặp một Đỗ Minh Tuấn tài hoa với các phim nhựa
như: Ngọn đèn trong mơ (1987), Dịch cười (1988), Người đàn bà nghịch cát (1990), Hoa của trời (1995), Vua bãi rác (2001), Kí ức Điện Biên (2004)… Bộ phim Vua bãi rác (2001) là một sản phẩm nghệ thuật đầy tính ẩn dụ về số phận con
người trong cuộc sống mới “Ðạo diễn Ðỗ Minh Tuấn đã thổi vào Vua bãi rác một sức sống mới bằng lối kể chuyện vừa chân thực - tượng trưng, vừa thi vị - hài hước, một thế giới tưởng chừng như vô cùng tạp nham bỗng thăng hoa, trở thành một cuộc triển lãm nghệ thuật lung linh trong đầu “vua bãi rác” (Mai Khanh) Đây cũng
là bộ phim được đại diện cho điện ảnh Việt Nam tham gia đề cử cho hạng mục phim nước ngoài xuất sắc nhất tại liên hoan phim nổi tiếng Oscar Nếu ở thể loại phim truyền hình và điện ảnh, người xem thấy một Đỗ Minh Tuấn sắc sảo, tài hoa khi bộc lộ quan điểm của mình về các vấn đề của con người, của xã hội qua các giai đoạn thì ở thể loại sân khấu dường như ông thành công nhất ở cái nhìn hài hước
Những tác phẩm như: Đời cười 3 (2001), Internet về làng (2007), Cuội buôn quan (2009), Loa phường thời chứng khoán (2009)… lại đem đến cho người xem một Đỗ
Minh Tuấn tài hoa, độc đáo ở chất trào phúng, giễu nhại Những vấn đề nổi cộm của làng quê, của người nông dân Việt Nam được phóng chụp theo cái nhìn không trộn lẫn của đạo diễn, nghệ sĩ Đỗ Minh Tuấn
Sức sáng tạo, năng lượng dồi dào của một người nghệ sĩ thực tài cộng với thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc của Đỗ Minh Tuấn gây cho người tiếp xúc với ông một sự kính nể Hiện còn khó để nhìn thấy những cái gọi là giới hạn cho quá trình sáng tạo của tác giả này Chưa dừng lại với những gì đã đạt được, Đỗ Minh Tuấn còn thử sức mình ở thể loại tiểu thuyết Đến nay, dù chỉ mới xuất bản
tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm nhưng chừng đó cũng đã ghi dấu ấn của ông
trong diễn trình vận động và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 Theo ghi nhận của chúng tôi, cuốn tiểu thuyết này ít nhất đã trở thành đối tượng nghiên cứu của 3 luận văn thạc sĩ, đối tượng khảo sát của 1 luận án tiến sĩ và trở thành dẫn liệu cho nhiều ý kiến khác nhau khi bàn về tiểu thuyết Việt Nam từ sau Đổi mới Điều
Trang 33đó chứng minh cho sức sống độc đáo, chất nghệ thuật đích thực của nó giữa muôn vàn tiểu thuyết ra đời lâu nay Thậm chí, nếu xét riêng về mảng đề tài nông thôn
trong tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay thì Thần thánh và bươm bướm
xứng đáng là một tác phẩm hàng đầu Cách cắt nghĩa về các vấn đề nông thôn của
Đỗ Minh Tuấn trong tác phẩm thể hiện một cái nhìn sắc sảo, góc cạnh và riêng biệt
Nó xứng đáng được đưa ra như những chứng cứ khi muốn biện giải về một vấn đề
gì đó của nông thôn Việt Nam Giá trị đó không phải tự nhiên được người khác gán cho, đắp cho mà phải xuất phát từ thực tế của tác phẩm Điều đó một lần nữa thể hiện tài năng, tài hoa của tác giả…
Không chỉ vậy, nhắc đến Đỗ Minh Tuấn người ta còn biết đến ông là một họa sĩ, một nhạc sĩ Đến nay ông đã có 3 triển lãm hội họa cá nhân ở Hà Nội (1993), Paris (1994) và Singapore (2008), có ca khúc đạt giải nhì trong cuộc thi sáng tác ca khúc về Thủ đô năm 1976…
Với sức sáng tạo dồi dào đó, đến nay Đỗ Minh Tuấn đã đạt được nhiều giải thưởng quan trọng: Giải nhì cuộc thi cuộc thi sáng tác ca khúc về Thủ đô năm 1976;
Giải thơ hay Văn nghệ quân đội năm 1977, Văn nghệ năm 1978; Giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1988 - 1989; Giải Ba cuộc thi Tiểu thuyết lần thứ 3 của Hội nhà văn Việt Nam; Giải đạo diễn xuất sắc nhất tại liên hoan Cánh diều vàng năm
2004; 18 giải thưởng điện ảnh trong và ngoài nước… Những thành quả đó là minh chứng cụ thể khẳng định tài năng nghệ thuật của Đỗ Minh Tuấn
1.2.2 Đỗ Minh Tuấn - một ý thức công dân nhiệt thành
Dù sản phẩm sáng tạo là tác phẩm điện ảnh, hội họa, thơ, nghiên cứu phê
bình hay tiểu thuyết… người đọc, người xem đều thấy ở Đỗ Minh Tuấn một ý thức công dân nhiệt thành Với ông, sáng tạo nghệ thuật không chỉ là nơi để người nghệ
sĩ đóng dấu cho thực tài của mình mà còn là nơi để một công dân góp tiếng nói của mình đối với các vấn đề nóng bỏng của xã hội
Về lĩnh vực sân khấu điện ảnh, từ năm 2001 đến nay ông đã cho ra mắt hàng
chục vở hài kịch sâu sắc, gai góc như: Sống nhờ Telephon, Con một, Mượn răng,
Chữa ngọng, Sống chết theo Mốt, Củ khoai vĩ đại, Internet về làng, Cuội buôn quan, Lễ nhận huân chương, Loa phường thời chứng khoán… Các phim nhựa như:
Trang 34Ngọn đèn trong mơ, Dịch cười, Người đàn bà nghịch cát, Hoa của trời…Các phim
truyền hình: Thằng Cuội, Tôn Ngộ Không đến Việt Nam, Đi bầu Thành hoàng, Tết
sớm, Đón khách, Dạy chồng, Sứ giả làng, Công ty co giãn mênh mông Đặc biệt bộ
phim Vua bãi rác là đỉnh cao trong sự nghiệp điện ảnh của ông được đề cử đại diện
Việt Nam tham dự giải Oscar Các tác phẩm của ông đặt ra những vấn đề sâu sắc vừa tràn đầy cảm xúc nhân văn vừa có sức mạnh phê phán mang hơi thở nóng hổi của đời sống hôm nay, vừa có chiều sâu triết lý với những ẩn dụ có tính nhân loại
Đỗ Minh Tuấn đã tận dụng tốt lợi thế của kênh hình và tính phổ biến rộng rãi của thể loại để chuyển tải đến người xem, đến đối tượng thụ hưởng sản phẩm nghệ thuật
của ông một cái nhìn chân thực hơn về các vấn đề của chính họ
Ở lĩnh vực thơ ca, Đỗ Minh Tuấn cũng dành nhiều tâm huyết và khát vọng sáng tạo Ông thành danh từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX với những bài thơ
day dứt, trí tuệ, nhiều tìm tòi Ông từng đạt giải thơ hay Văn nghệ Quân đội năm
1977, báo Văn nghệ năm 1978, giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1988-1989 với bài thơ Mẹ tôi người hay lo Năm 1992, ông cho ra liền 4 tập thơ: Những cánh hoa
tiên tri, Tỉnh giấc, Con chim giấy, Thơ tình Trong tập Tiểu luận - phê bình Ngày văn học lên ngôi ông cũng dành nhiều bài như: “Tiếp cận giá trị thơ ca”, “Trung
tâm và giới hạn của cảm xúc trong sáng tạo thơ ca”, “Thơ ca trong niềm say mê côn trùng và thú vật”… để lí giải, minh định về chức năng, ý nghĩa của thơ ca Qua những sản phẩm của ông, người đọc dễ dàng nhận ra những suy nghĩ nghiêm túc về thơ, để “thơ là nhịp cầu liên chủ thể công thông giữa con người với nhau và với đất trời giữa hư và thực, giữa khoảnh khắc và vĩnh hằng, giữa nhớ và quên…”
Trong các lời tranh luận chính thống trên các diễn đàn nghệ thuật, hay những chia sẻ và bình luận trên mạng xã hội, chúng ta cũng nhận thấy một Đỗ Minh Tuấn quyết liệt, sự quyết liệt đôi khi đẩy lên tới mức gay gắt Nhưng đằng sau những lời thẳng thắn đôi lúc “khó nghe” đó là sự nhiệt thành của ông đối cới các vấn đề nổi cộm của văn giới, của đất nước Một tinh thần cần có và đáng được chia sẻ của người trí thức trong không khí mở hôm nay
Như nằm trong phổ hệ quan tâm của nhà văn, Thần thánh và bươm bướm ra
đời cũng “muốn có tiếng nói văn học về đời sống và con người hôm nay” Dự đồ
Trang 35sáng tác Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn đã thể hiện phần nào ý thức, tinh thần công dân nhiệt thành của ông Thần thánh và bươm bướm vì thế tự bản
thân nó không chỉ là một tiểu thuyết hoạt kê viết về đời sống người nông dân và bức tranh nông thôn trong thời điểm giao tranh để chuyển sang địa hạt “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” mà dung chứa nhiều vấn đề khác, trong đó đương nhiên là cả sự
lo âu về nguy cơ sinh thái
Thật khó khi dùng một danh từ nào đó để định danh cho Đỗ Minh Tuấn bởi dường như ở thể loại nghệ thuật nào ông cũng góp mặt, nhưng không phải là sự góp mặt cho đủ thành phần mà đó đều là sự dấn thân đầy chủ ý Toát lên trong toàn bộ sản phẩm sáng tạo nghệ thuật của ông đằng sau cái nhìn độc đáo, riêng biệt của một người nghệ sĩ luôn là sự nóng hổi của ý thức một người công dân Với ông sự quyết liệt, thẳng thắn để tranh biện cho thấu đáo ngọn ngành vấn đề dường như đã trở thành bản chất
1.2.3 Đỗ Minh Tuấn - một tác giả tiểu thuyết đáng chú ý
Cho đến nay, ở thể loại tiểu thuyết Đỗ Minh Tuấn mới trình làng duy nhất
Thần thánh và bươm bướm Như vậy có thể là quá ít Phải chăng với Đỗ Minh Tuấn
tiểu thuyết chỉ là một lĩnh vực “tay ngang”, Thần thánh và bươm bướm là tất cả
những gì tinh túy nhất mà ông đã có, là đỉnh cao mà chính bản thân nhà văn này cũng không thể vượt qua? Điều đó phải chờ thời gian trả lời, nhưng có một điều
chắc chắn, với Thần thánh và bươm bướm Đỗ Minh Tuấn đã ghi đậm dấu ấn của
mình lên diễn trình phát triển của thể loại này trong sự vận động chung của văn xuôi Việt Nam đương đại
Thần thánh và bươm bướm là tác phẩm tham dự cuộc thi Tiểu thuyết lần thứ
ba do Hội Nhà văn tổ chức Dù chi đạt giải C của cuộc thi nhưng so với 9 giải C còn
lại theo chúng tôi Thần thánh và bươm bướm cho đến nay là tác phẩm có sức đi dài nhất Thần thánh và bươm bướm trở thành đối tượng nghiên cứu của 3 luận văn thạc
sĩ, đối tượng khảo sát của 1 luận án tiến sĩ và dẫn liệu cho nhiều ý kiến khác đã chứng minh cho “sức bền” và giá trị đích thực của nó
Dù Đỗ Minh Tuấn có thể không phải là một người có sở trường về tiểu
thuyết nhưng tiếp xúc với Thần thánh và bươm bướm, người đọc dễ dàng nhận ra
Trang 36được sự “cao tay” của ông Một nông thôn Việt Nam khi bước sang giai đoạn giao lưu mở cửa với nước ngoài để phát triển cũng là lúc bộc lộ nhiều vấn đề nhất Và đương nhiên, với sự nhạy bén của văn học các nhà văn sẽ không bỏ qua những vấn
đề đó Vậy tại sao trong lúc có rất nhiều tác phẩm viết về nông thôn giai đoạn này
Thần thánh và bươm bướm vẫn có được chỗ đứng riêng của mình? Theo chúng tôi
điều tiên quyết phải kể đến chính là cách xử lí hiện thực của Đỗ Minh Tuấn Hiện thực nông thôn bộn bề, đa tạp đó được xử khéo léo dưới lăng kính là một phông nền văn hóa Sự tiếp cận này đẩy vấn đề tác giả muốn nói là vấn đề mang tính bề sâu, là vấn đề cốt lõi Chính điều này đã tạo nên một cách nhìn riêng so với cách tiếp cận
đề tài nông thôn của những tác phẩm trước đó cũng như những tác phẩm cùng thời
Không tài tình khó mà đạt đến điều đó Hơn nữa, Thần thánh và bươm bướm là một
tiểu thuyết mang tinh thần hiện đại khá đậm nét, mặc dù bối cảnh chính của tác phẩm là khung cảnh nông thôn cụ thể nhưng nội dung diễn ngôn mà tác phẩm tạo ra lại mang tính đa diễn ngôn Đó là diễn ngôn hiện thực nông thôn giai đoạn giao thời, diễn ngôn văn hóa nông dân, diễn ngôn sinh thái… Thiết nghĩ, vấn đề mà Đỗ
Minh Tuấn đặt ra trong Thần thánh và bươm bướm vẫn luôn là một kênh tham khảo
trong bối cảnh quy hoạch nông thôn mới ở Việt Nam…
Xét trên tổng thể, về mặt nghệ thuật tiểu thuyết, Thần thánh và bươm bướm
không phải là tác phẩm có nhiều cách tân gây sốt Ở đây, tác giả vẫn lựa chọn cho mình một nghệ thuật tự sự đơn giản, dễ hiểu, xây dựng một kết cấu kể chuyện tuyến tính không màu mè, không làm chữ Phải chăng về phương diện tiểu thuyết Đỗ Minh Tuấn chỉ có thế? Theo chúng tôi, tác giả lựa chọn nghệ thuật kể chuyện như vậy cũng
mang một dụng ý rõ ràng Đối tượng người đọc của Thần thánh và bươm bướm đầu
tiên phải là những người nông dân, việc hướng đến khả năng phổ cập đòi hỏi Đỗ Minh Tuấn phải lựa chọn cho mình một lối kể chuyện dung dị, dễ hiểu, nếu không vấn đề mà nhà văn muốn chuyển tải rất khó để đến được với đối tượng chủ yếu
Trong một thời đại mà nhà văn chạy đua với thời gian để giới thiệu một cách
ồ ạt các sản phẩm sáng tạo của mình thì với tiểu thuyết Đỗ Minh Tuấn lại lặng lẽ và khiêm nhường với những gì mình đã có Dù số lượng tiểu thuyết mà ông giới thiệu
Trang 37đến nay mới duy chỉ có Thần thánh và bươm bướm nhưng với tài năng và sức sáng
tạo như Đỗ Minh Tuấn, chúng ta có thể hi vọng tương lai sẽ còn được đón nhận nhiều cuốn tiểu thuyết khác của ông với chất lượng dày dặn hơn nữa Nhưng cũng chỉ từng đó thôi cũng đã tạo nên tên tuổi Đỗ Minh Tuấn với thể loại tiểu thuyết, ông trở thành một tác giả tiểu thuyết đáng chú ý của văn xuôi Việt Nam hiện đại
1.3 Thần thánh và bươm bướm trong bối cảnh sinh thái Việt Nam đương đại
1.3.1 Hiện thực - sinh thái nông thôn Việt Nam đương đại
Việt Nam là một đất nước nông nghiệp Từ xưa đến nay vấn đề nông thôn và người nông dân luôn trở thành một mảng đề tài chính của văn học Cách tiếp cận hiện thực nông thôn để nêu bật lên các chủ đề qua mỗi giai đoạn văn học khác nhau cũng khác nhau Văn xuôi viết về nông thôn thời kì 1932-1945 trong tiểu thuyết của các tác giả Tự lực văn đoàn tiêu biểu (Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo) có thể chia làm hai mảng Một mảng là những “bức tranh quê”, nơi thay đổi không khí và hứa hẹn cảm giác mới của những chàng trai cô gái thị thành đã chán chường sự ăn chơi, hoặc mệt mỏi trên con đường săn đuổi hạnh phúc và giải phóng cá nhân Nhân vật trong các tác phẩm của mảng này phần lớn được chọn từ những gia đình thuộc tầng lớp trên ở nông thôn Mảng thứ hai các tác giả trực tiếp miêu tả cảnh “bùn lầy nước đọng” với hệ thống nhân vật là những người nông dân nhếch nhác, nghèo khổ, tăm tối Những tác phẩm xuất sắc viết về nông thôn thời kì này gắn liền với tên tuổi của những nhà văn hiện thực như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao… Đó
là nông thôn của sưu cao thuế nặng, vô lý và bất công; những thủ đoạn bóc lột tàn
nhẫn, trắng trợn (Tắt đèn, Bước đường cùng) Đó là nông thôn của những hủ tục
nhiêu khê và sự căng thẳng, ngột ngạt do mâu thuẫn và chèn ép của các phe cánh
tranh nhau địa vị ăn trên ngồi trốc (Việc làng) Và đó cũng là nông thôn của những
con người cùng khổ bị dồn đẩy tới chân tường… Văn xuôi viết về nông thôn thời kì
từ 1945 đến 1954 dường như không có một ranh giới riêng biệt so với văn xuôi nói chung, nó hòa quyện trở thành cái gọi là văn học kháng chiến, phục vụ đắc lực cho cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc Từ giai đoạn 1954 đến đầu những năm
60 nông thôn Việt Nam có hai vấn đề nổi bật là cải cách ruộng đất và phong trào
Trang 38hợp tác hóa nông nghiệp Hai vấn đề này được ánh xạ vào văn học với một số tác
phẩm như Bếp lửa đỏ (Nguyễn Văn Bổng), Nông dân với địa chủ (Nguyễn Công Hoan), Truyện anh Lục (Nguyễn Huy Tưởng), Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm (Đào Vũ), Mùa lạc (Nguyễn Khải)… Văn xuôi viết về nông thôn trong chiến tranh chống
Mỹ (1964-1975) ít nhiều mang âm điệu sử thi anh hùng với Bảo biển, Đất mặn (Chu Văn), Cửa sông (Nguyễn Minh Châu), Chủ tịch huyện (Nguyễn Khải), Vùng
quê yên tĩnh (Nguyễn Kiên)…Văn xuôi viết về nông thôn từ 1975 đến 1985 diễn ra
trong bối cảnh xã hội bộn bề, gay cấn: những tổn thất trong chiến tranh đang bắt đầu “tỏa” sức nặng, nền kinh tế tự cấp tự túc không đủ nuôi sống xã hội, cơ chế quản lí quan liêu bao cấp bất lực, ngày càng bộc lộ nhiều yếu kém và thiếu sót cần phải bổ sung, thay đổi Hiện thực thay đổi đòi hỏi văn học cũng phải thay đổi, tăng cường phản ánh những nhịp đập mới của nông thôn Việt Nam Người đọc tìm thấy những tác phẩm đi tìm nguyên nhân của những yếu kém, xuống cấp xã hội như:
Mưa mùa hạ (Ma Văn Kháng), Gặp gỡ cuối năm (Nguyễn Khải), Giấy trắng (Triệu
Xuân)… Hay là những tác phẩm tranh đấu với những trì trệ, yếu kém mà xã hội
đang đối mặt như: Nhìn dưới mặt trời (Nguyễn Kiên), Bí thư cấp huyện (Đào Vũ),
Cù lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn)…
Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI (1986) về đổi mới đất nước đã thổi một luồng gió mới vào các lĩnh vực hoạt động và đời sống xã hội Cơ chế thị trường có
sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thay cho cơ chế quản lý hành chính tập trung bao cấp đã diễn ra trong phạm vi cả nước Sự đổi mới ở nông thôn nằm trong sự đổi mới chung của đất nước, tạo điều kiện cho văn xuôi viết về nông thôn phát triển theo hướng dân chủ hóa và hiện đại hóa Một nông thôn Việt Nam vốn bộn bề, đa tạp được manh nha ở giai đoạn trước nay càng trở nên bộn bề,
đa tạp hơn Trong sự bộn bề đó nổi lên chủ đề phát triển nông thôn, đưa nông thôn tiến lên công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa Và cũng từ đây, nông thôn Việt đối diện với một hiện thực mới, chúng tôi gọi đó là hiện thực- sinh thái Hiện thực này là sản phẩm được hình thành trong một bối cảnh mới, nó cũng chính là mặt trái của quá trình phát triển kinh tế Để phát triển kinh tế người nông dân sẵn sàng phá
Trang 39vỡ môi trường sinh thái mà mình đã tồn tại từ bao đời, họ chấp nhận bán đất, bán ruộng, bán vườn, phá đình, dở chùa, chặt cây… Khi hệ thống sinh thái nông thôn bị tàn phá nhằm phục vụ mục đích phát triển kinh tế thì hậu quả nhãn tiền mà nó mang lại là ruộng mất, vườn khô, sông cạn, cây cối khan hiếm… Cho nên, đời sống người nông dân chưa biết khá giả hơn bao nhiêu nhưng nông thôn thì đối mặt với hạn hán gia tăng, lũ lụt hoành hành, côn trùng cây cỏ bị tiệt diệt… người nông dân “trắng tay” trên chính mảnh đất thổ cư bao đời của mình “Làng quê biến mất” kéo theo tội phạm gia tăng, tình trạng người nông dân bỏ làng, bỏ quê lên thành phố kiếm sống trở nên phổ biến dẫn đến hiện tượng mất cân bằng dân số, nghề nghiệp giữa nông thôn và thành thị Hiện thực đó là những nguy cơ lớn mà nông thôn phải đối mặt và tìm cách khắc phục Hay nói cách khác, hiện thực- sinh thái nông thôn Việt Nam sau giai đoạn Đổi mới đặt ra cho những người trong cuộc một bài toán khó mà quá trình đi tìm lời giải không phải một sớm một chiều Căn nguyên của tình trạng này bắt nguồn từ chính suy nghĩ và hành động của con người với chính môi trường sống của họ Cho nên, để “sửa sai” mỗi một người cần phải truy tìm căn nguyên dẫn đến hành động đó từ đó thay đổi nhận thức và hành động của mình đối với thế giới tự nhiên Khi người nông dân ý thức được tầm quan trọng của môi trường tự nhiên đối với sự sống của cả cộng đồng thì lúc đó hệ thống sinh thái nông thôn mới có cơ hội được bảo vệ
1.3.2 Những tác động của hiện thực - sinh thái đến tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có lợi thế trong việc bao chứa các vấn đề của đời sống Tiểu thuyết viết về nông thôn Việt Nam từ sau năm 1986 đến nay đã phản ánh tương đối đầy đủ, sâu sắc các vấn đề của nông thôn và người nông dân
Đó là các vấn đề nổi cộm như: cải cách ruộng đất, thay đổi cơ chế quản lí nông nghiệp, sự tranh chấp giữa các gia đình, dòng họ, không gian nông thôn đang bị biến mất, bi kịch mới của người nông dân… Nhìn lại những tác phẩm viết về nông thôn giai đoạn này, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều từng nói: “Nông thôn chính là nơi thử thách khó khăn nhất, nơi giá trị văn hóa phải đương đầu với những dục vọng
Trang 40của đời sống thị dân Nhưng viết về đề tài nông thôn không đồng nghĩa với thương xót nông dân”, “để cứu nông thôn trước hết phải cứu lấy tâm hồn của những người nông dân, cứu lấy văn hóa của vùng đất ấy”
Có thể nói, đứng trước vấn đề môi trường sống ở nông thôn đang bị “biến dạng”, người nông dân phải đối diện với những nguy cơ sinh thái mà ngay bản thân
họ đôi khi vẫn còn mơ hồ và thờ ơ Văn học nói chung, thể loại tiểu thuyết nói riêng không thể không lên tiếng Hay nói cách khác, hiện thực sinh thái đã có những tác động tích cực đến diện đề tài quan tâm của tiểu thuyết viết về nông thôn giai đoạn này Đã có nhiều nhà văn ý thức sâu sắc hơn về vấn đề môi trường, về tiếng nói độc lập, “sức mạnh” của thế giới tự nhiên trong tương quan với con người Đã có nhiều tác phẩm mà chủ đề chính là sự trăn trở, lo âu trước hiện trạng tự nhiên đang bị con người tàn phá, trục lợi không nương tay, thông qua đó trực tiếp phê phán hành vi của con người đối với tự nhiên Như vậy, chính sự thay đổi của hiện thực cuộc sống đòi hỏi tiểu thuyết phải thay đổi khía cạnh đề tài quan tâm
Nguyễn Minh Châu là nhà văn nhạy cảm với vấn đề sinh thái Năm 1977,
ông xuất bản Miền cháy, một trong những cuốn tiểu thuyết khai phá, đặt nền móng
cho dòng văn học sinh thái trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam đương đại Ý thức sinh thái của tác phẩm thể hiện ở hàm ý tố cáo tội ác phá hoại thiên nhiên của chiến tranh Từ góc nhìn phê bình sinh thái, chúng ta có thể thấy chính chiến tranh với sự tàn khốc của nó đã hủy hoại môi trường sống của con người, phá vỡ chỉnh thể thiên nhiên tươi đẹp, để thiên nhiên giờ đây chỉ là những khoảng trống trơ trọi, cằn cỗi Cần chú ý thêm, những suy tư về sinh thái còn được Nguyễn Minh Châu gửi gắm
một cách da diết trong truyện ngắn Sống mãi với cây xanh (1983) Tiếp nối những
“dấu mốc sinh thái” được thể hiện trong văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 bởi Nguyễn Minh Châu, các nhà văn khác đã tiếp tục đi sâu vấn đề này Họ bắt đầu nhận thấy rằng không chỉ kẻ thù phá hoại mà chính chúng ta cũng góp phần hủy hoại sinh thái, hủy hoại ngôi nhà của chính mình Năm 1996, Hoàng Minh Tường xuất bản tiểu
thuyết Thủy hỏa đạo tặc (NXB Văn học), năm 2000 ông tiếp tục xuất bản Đồng sau
bão (NXB Văn học) Hai cuốn tiểu thuyết này đến năm 2013 được Hoàng Minh
Tường in chung lại và lấy tên là Gia phả của đất (NXB Phụ nữ) Đây là cuốn tiểu