1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Con người dưới đáy trong truyện ngắn nguyễn trí

120 30 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 3,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu truyện Nguyễn Trí rất cần thiết và bổ ích trong giai đoạn hiện nay, có thể giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về hiện thực cuộc sống, ý thức trách nhiệm của người cầm bút và sự đổi m

Trang 1

PHAN MINH PHƯỢNG

CON NGƯỜI DƯỚI ĐÁY

TRONG TRUYỆN NGUYỄN TRÍ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2017

Trang 2

PHAN MINH PHƯỢNG

CON NGƯỜI DƯỚI ĐÁY

TRONG TRUYỆN NGUYỄN TRÍ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS PHAN HUY DŨNG

NGHỆ AN - 2017

Trang 3

tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ Văn, Phòng đào tạo Sau Đại học – Trường Đại học Vinh đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm giúp đỡ động viên để tôi nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn này

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2017

TÁC GIẢ

Phan Minh Phƣợng

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 9

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 10

7 Cấu trúc luận văn 11

Chương 1 TRUYỆN NGUYỄN TRÍ TRONG XU HƯỚNG ĐỔI MỚI CÁCH TIẾP CẬN CON NGƯỜI CỦA VĂN XUÔI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 12

1.1 Con người trong văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay 12

1.1.1 Khái niệm con người trong văn học 12

1.1.2 Bối cảnh phát triển của văn học Việt Nam từ năm 2000 đến nay 13

1.1.3 Xu hướng đổi mới quan niệm về con người trong văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay 15

1.2 Những loại hình nhân vật tiêu biểu trong văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay 18

1.2.1 Nhân vật người lính thời chiến và thời hậu chiến 18

1.2.2 Nhân vật trí thức 21

1.2.3 Nhân vật thị dân, công chức, nhân vật lịch sử 24

1.3 Sự xuất hiện của Nguyễn Trí và một cách tiếp cận mới đối với con người 27

1.3.1 Nguyễn Trí, từ thợ đào vàng đến nhà văn 27

1.3.2 Nét lạ trong cách tiếp cận con người và hiện thực đời sống trong truyện Nguyễn Trí 30

Trang 5

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI DƯỚI ĐẤY

TRONG TRUYỆN NGUYỄN TRÍ 34

2.1 Con người bị hất ra ngoài lề xã hội 34

2.1.1 Nguyên cớ khiến con người bị bỏ rơi 34

2.1.2 Con người “tự do” trong môi trường hoang dã 38

2.1.3 Con người tự thiết lập trật tự xã hội dưới đáy 41

2.2 Con người đánh vật với trăm kiểu mưu sinh 46

2.2.1 Con người phải sống bằng mọi giá 46

2.2.2 Con người với những nghề kỳ lạ 49

2.2.3 Con người thích ứng, dẻo dai 53

2.3 Con người khát khao hướng thiện 57

2.3.1 Tình người trong cảnh khốn cùng 57

2.3.2 Con người với những hành động nghĩa hiệp giang hồ 60

2.3.3 Con người không đánh mất hy vọng 65

Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI DƯỚI ĐÁY TRONG TRUYỆN NGUYỄN TRÍ 70

3.1 Tô đậm tính đặc thù trong môi trường sống của con người dưới đáy 70

3.1.1 Tái hiện sống động những không gian dị biệt 70

3.1.2 Miêu tả sắc nét những hoạt động khác thường 75

3.1.3 Nhấn mạnh tính chất tăm tối của cảnh sống bên lề 79

3.2 Quan tâm khắc họa cá tính và nét độc đáo trong ngôn ngữ nhân vật 82

3.2.1 Nhắc gợi những tiểu sử oái oăm 82

3.2.2 Xoáy sâu vào các ứng xử không thể đoán định 87

3.2.3 “Ghi âm” những đối thoại mang tính kịch 91

3.3 Trần thuật bằng ngôn ngữ suồng sã 96

Trang 6

3.3.2 Tính “lập thể” của ngôn ngữ trần thuật 99

3.3.3 Lớp từ ngữ của con người dưới đáy 103

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Trí là cây bút được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt

Nam 2013 với tác phẩm Bãi vàng, Đá quý, Trầm hương Đã khá nhiều năm,

giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam chưa thuyết phục dư luận trong và ngoài giới Lần này giải thưởng chính thức được trao cho một người không phải là thành viên trong Hội lại được đón nhận nhiệt liệt Trước khi được vinh danh, Nguyễn Trí đã có nhiều truyện ngắn đăng tải trên báo Nguyễn Trí trở thành một hiện tượng của văn học Việt Nam đương đại, là tác giả ăn khách của một số nhà xuất bản và các tờ báo có uy tín Theo tiến trình vận động và phát triển của lịch sử xã hội, truyện Nguyễn Trí đã hướng tới hình tượng con người dưới đáy mà cuộc sống ngồn ngộn đang hiện hữu Đây là nguyên nhân chúng

tôi chọn Con người dưới đáy trong truyện Nguyễn Trí làm đề tài nghiên cứu

1.2 Trong số cây bút sáng tác những năm gần đây, Nguyễn Trí là cây bút mới bước vào văn đàn, tuy đã khá lớn tuổi nhưng ngay từ những trang viết đầu tay ông đã để lại một dấu ấn riêng Số lượng bài viết - nghiên cứu

về nhà văn Nguyễn Trí và sáng tác của ông chưa nhiều, trong khi đây là một hiện tượng cần được quan tâm nghiên cứu thật toàn diện và sâu sắc Với đề

tài Con người dưới đáy trong truyện Nguyễn Trí chúng tôi hi vọng sẽ đem

đến cho người đọc những phân tích lí giải khoa học về hiện tượng văn học độc đáo này

1.3 Nghiên cứu truyện Nguyễn Trí rất cần thiết và bổ ích trong giai đoạn hiện nay, có thể giúp chúng tôi hiểu sâu hơn về hiện thực cuộc sống, ý thức trách nhiệm của người cầm bút và sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng Thiết nghĩ, đây là đề tài có tính học thuật và thời sự

Trang 8

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Trí trở thành một hiện tượng của văn học trong nước, gây xôn xao dư luận từ năm 2013 đến nay Tuy bước đến văn đàn khi đã lớn tuổi nhưng Nguyễn Trí đã nhanh chóng tự xác lập được một vị trí đáng nể Chính

vì lẽ đó mà hầu hết tác phẩm của ông được giới phê bình văn học quan tâm tìm hiểu và khám phá

Trong quá trình tìm hiểu về đề tài, chúng tôi đã thu thập được khá nhiều bài viết ngắn dưới hình thức là các bài báo giới thiệu về Nguyễn Trí và tác phẩm của ông Về những bài nghiên cứu nhà văn Nguyễn Trí, chúng tôi tạm chia thành hai nhóm bài: nhóm giới thiệu khái quát về Nguyễn Trí và nhóm giới thiệu - đánh giá về một số tác phẩm, tập sách của ông Do đề tài này trực tiếp nói về con người dưới đáy trong truyện Nguyễn Trí nên dưới đây chúng tôi xin lược thuật lại nhóm bài viết thứ hai - đánh giá về một số tác phẩm, tập sách mà Nguyễn Trí đã cho ra mắt độc giả

Trong lời giới thiệu cho tập truyện Bãi vàng, Đá quý, Trầm hương, nhà

văn Hồ Anh Thái viết: “Cái tên tác giả Nguyễn Trí thì còn lạ lắm, nhưng một trang đầu đã chứng tỏ người viết có chữ và biết dùng chữ, có chuyện và biết

kể chuyện Văn có không khí và có màu sắc chất Nam bộ Văn cũng rất riêng

và có ý thức làm cho độc đáo Cái không lạ mà lạ của lời ăn tiếng nói thông thường Câu chuyện tưởng như khó éo le hơn, dẫn đến một kết cục bất thường Tác giả dụng công tìm một cách lí giải khác chút nữa thì cái bất thường ấy sẽ là một cách xử lý độc đáo thật sự” [46]

Cũng theo Hồ Anh Thái, tập truyện ngắn này khiến người đọc cảm giác

“Đời nảy sinh nhiều bi kịch mới lạ quá”, “Chỉ một vài từ Nguyễn Trí khắc họa được chân dung con người lẫn tính cách nhân vật Văn Nguyễn Trí viết tự nhiên với cảm quan hiện đại, giữa sự hỗn độn của bãi vàng, giữa cái khắc nghiệt của từng giây từng phút, giữa lằn ranh mong manh của sự sống và cái

Trang 9

chết, giữa thiện và ác, tự đáy sâu tâm hồn họ vẫn lấp lánh yêu thương Thông điệp tình yêu đầy nhân văn ở cuối những tác phẩm gieo vào lòng người đọc niềm tin vào cuộc sống” [46]

Hồ Anh Thái còn phát biểu: “Đọc truyện có cảm giác như đang nhìn vào một thế giới khác, Việt Nam đấy, nhưng song song tồn tại với thế giới những kẻ lắm tiền hay tầng lớp trí thức trung lưu đang sống, mà cụ thể là bản thân tôi Cảm thấy cuộc đời này có quá nhiều thứ mà mình không biết, nhiều chuyện éo le như một vở cải lương Phải đọc những truyện hiện thực thế này mới thấy rằng quẩn quanh trong cái tôi cá nhân với nỗi cô đơn mất phương hướng, trong tổ ấm được che chở bảo vệ thì bản thân mình nhỏ nhoi lắm, nông cạn lắm, như ếch ngồi đáy giếng, ngoài kia bầu trời rộng lớn bao

la, cuộc sống muôn màu đa dạng vô cùng [46] Toàn bộ tập truyện là hiện thực nghiệt ngã mà vẫn chứa đựng tình người, nhưng nhìn góc độ khác thì con người ta rất tàn nhẫn với thiên nhiên Nhiều đoạn khiến tôi lạnh cả người vì hành động phá rừng phá núi để làm giàu, đó là sự tận diệt thiên nhiên, khai thác đến cạn kiệt không thể phục hồi Và ngày nay, hậu quả đã hiện hữu rõ ràng ở tất cả mọi nơi trên dải đất hình chữ S Đổ lỗi cho biến đổi khí hậu toàn cầu, nhưng chính người Việt cũng đã và đang giết chết chính mình và thế hệ sau” [46]

Nguyễn Trí từng chia sẻ: “Truyện về vàng, đá quý, trầm hương thì tôi

cứ tự nhiên mà viết bởi tôi đã từng trải nghiệm nghề này lâu năm nên khi viết cũng giống khi ăn cơm, uống nước hàng ngày Tìm trầm tôi cũng đi vài năm, làm vàng thì 5-7 năm, rồi đôi ba năm đi làm đá quý Cuộc sống của tôi thì rừng là chủ đạo, thành ra viết về rừng tôi thấy dễ lắm”

Một độc giả khác trên trang BaodientudaitiengnoiVN nhận định: “16 câu chuyện trong Bãi vàng, đá quý, trầm hương có thể lôi người đọc ra khỏi

những vụn vặt thành thị, những ngôn từ thời thượng để rồi trao cho họ một

Trang 10

món lạ, đầy tính nguyên bản - điều khó đạt trong nghiệp văn hiện nay” Cát

Đằng trong bài báo Máu và nước mắt từ “Bãi vàng, đá quý, trầm hương”

nhận xét: “16 truyện ngắn, có phân nửa là những câu chuyện về nghề đào vàng, khai thác đá quý và trầm hương Đây cũng là phần hấp dẫn nhất thỏa trí

tò mò của người đọc về những nghề nguy hiểm và một thế giới khác với đời thường Dù biết trước rằng bối cảnh của tác phẩm là những nơi “rừng thiêng, nước độc”, nhân vật giang hồ tứ chiếng nhưng những trang viết của Nguyễn Trí vẫn làm người đọc rùng mình về sự trần trụi khốc liệt Đôi lúc, đọc truyện

mà cứ ngỡ đang đọc phóng sự điều tra của báo chí bởi nó quá chân thực, quá

cụ thể Trong chất phóng sự ấy vẫn có chất tiểu thuyết nên câu chuyện vừa đời thực, vừa hấp dẫn nhờ cách xây dựng nhân vật.” [12]

Tác giả bài báo còn khẳng định thêm: “không chỉ viết những gì mình

có, những điều đã từng trải; Nguyễn Trí còn khiến người đọc bất ngờ khi khai thác các đề tài xã hội, nhất là về số phận những người phụ nữ bất hạnh Các truyện: “Nín lặng khóc”, “Trại viên cũ quay trở lại đông lắm”, “Đoạn trường”… là góc nhìn nhân văn về những kiếp mà hồng phận bạc Các truyện này được viết mềm mại hơn, có tình hơn, góp phần làm nên sự đa dạng và đặc sắc của tập truyện “Bãi vàng, Đá quý, Trầm hương”[12]

Hoàng Ngọc Điệp cho rằng: “truyện ngắn đầu tay Nín lặng khóc in trên báo Tuổi trẻ cuối tuần của Nguyễn Trí đã làm bạn đọc bất ngờ Sau đó hàng

loạt truyện ngắn được viết bằng giọng văn “giật cục”, tưng tửng, với hàng trăm nhân vật gồ ghề, góc cạnh gồm: thợ đãi vàng, lâm tặc, đĩ điếm, chủ chứa, dân nghèo thành thị… Thế giới bần cùng ấy sống, hít thở, yêu đương, sinh con đẻ cái… trong lao động cực nhọc, hiểm nguy bủa vây, thiện ác lẫn lộn Chính giọng điệu lạ, những nhân vật hoang dã mang lại cho tác phẩm của anh sức lôi cuốn và nét riêng không trộn lẫn” [14]

Tác giả Huỳnh Thu Hậu trong bài viết Đọc Bãi vàng của Nguyễn Trí có

Trang 11

những cảm nhận thú vị: “Đọc Bãi vàng, chúng ta cảm thấy hấp dẫn bởi ngôn

ngữ cực hạn, cách viết câu đặc biệt, nghệ thuật dùng phương ngữ, ngôn ngữ đời thường tràn vào trong tác phẩm Nguyễn Trí không sa vào miêu tả rườm

rà, mà đi ngay vào bản chất của vấn đề Văn anh viết, vì thế rất kén người đọc Đã có những người đọc truyền thống thích cách viết câu phải mượt mà,

bay bổng, bảo truyện Bãi vàng rất khó đọc, cứ trúc tra, trúc trắc Những câu

văn của anh ám gợi mà phần lớn là câu đặc biệt, câu rút gọn… Việc sử dụng câu đặc biệt mang đến hiệu quả nghệ thuật là tạo ra nhiều điểm nhìn trong một thông báo” [24]

Tác giả bài báo còn khẳng định: “Cùng với ngôn ngữ đối thoại cực hạn,

là cách dùng phương ngữ Cũng giống như Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Trí đã thành công khi sử dụng các từ địa phương như: dzô, cà chớn, thiệt hông… để tạo nên chất riêng Không chỉ dùng từ địa phương, ngôn ngữ phố phường như

ùa vào trong truyện với các từ chửi tục, chửi thề như: đù má… Những tiếng lóng: đánh bồi, đụng bổi… Hiện thực cuộc sống vì thế chân thực hơn và trần trụi hơn [24]

Cái tài của Nguyễn Trí là đọc Bãi vàng, chúng ta như thể đang nhắm

mắt mà lắng nghe được rất nhiều giọng nói cùng vang lên Đó cũng chính là cái đa âm, phức điệu mà ta bắt gặp trong tiểu thuyết của Dostoievski: “Tướng

tá rất bụi, dân đi đây đi đó không bụi mới lạ Giang hồ đúng nghĩa với từ này

Là sao? Giải thích nghe chơi Được thôi, muốn đến xứ người làm ăn phải có cái miệng Tô Tần, cái đầu Chu Du Ngọt như mật và mưu mô, giảo quyệt nhiều nhiều chút” Bãi vàng là tạp âm Nguyễn Trí bằng cảm quan tự nhiên đã tạo cho chúng ta nghe được tất cả sự hỗn độn của bãi vàng Văn của anh vì vậy mới và chạm đến hậu hiện đại” [24]

Đồ tể, tập truyện thứ hai của nhà văn Nguyễn Trí vừa tiếp nối mạch văn

đầy ấp trải nghiệm, những câu chuyện li kì của những công việc lạ Những

Trang 12

phận người lạ Giọng điệu lạ Nhà văn Lê Minh Khuê nhận xét: “…Đọc thiên kinh vạn quyển để xem các tác giả lớn miêu tả cuộc sống theo cách nào Trí miêu tả cuộc sống theo cách Trí… Những câu chuyện Trí kể có thể gặp rất nhiều trong các trang báo, nhất là báo về pháp luật và an ninh Nhưng các câu chuyện báo chí đó đơn thuần thông tin cho người đọc cái vừa xảy ra Có nhiều người mới vào nghề còn non tay đã chỉ thông tin một chuyện đọc vậy

để biết vậy “Đơn thuần thông tin” (chữ Hồ Anh Thái hay dùng) Không không hề có trong truyện ngắn của Trí Trí có vô số thông tin và đã biến thông tin đó thành thế giới tưởng tượng của riêng anh để truyện nào cũng có nhân vật rõ tới sờ thấy được và tình huống truyện rất kì lạ và cái quan trọng là cảm xúc nhà văn tràn đầy ở người viết đã biến những cái thông thường thành cảm

xúc chung lớn lao” [31] Lê Minh Khuê tiếp tục nói về tập truyện Đồ tể: “Các

truyện đều không dài dòng Trí viết theo cách tỉ mỉ quan sát Cái cách chấm phết nhưng rất ra màu sắc, có góc có cạnh nổi rõ có thể cầm nắm được từ tính cách nhân vật đến tình huống truyện… Các truyện ngắn của Trí thường có một câu chuyện, là thế giới của cái ác; nếu lần đầu đọc nó, không truyện nào yên ổn và rất bất an và mong manh Nhưng hãy đọc lại nó và sẽ thấy cái âm hưởng chung là cái tình giữa con người lúc nào cũng hiện hữu Trong tập có

truyện Ngoại tình mô tả hai vụ ngoại tình có giằng có kéo từ vụ này sang vụ

khác Cũng là truyện có độ lạnh nhất nhưng vẫn gợi tới lòng thương Người nghèo vẫn khổ ngay cả khi có tiền

Tác giả có lẽ cũng không ý thức được cuộc sống và tâm hồn mình dù xáo trộn phức tạp giằng xé vẫn có một khoảng lớn lao dành cho sự thiện và cái đẹp Điều đó in đậm trong sáng tác của anh.” [31]

Cũng nhận xét về tập truyện Đồ tể, Lam Thu cho rằng: Nguyễn Trí

không viết về những truyện bằng phẳng, an lành Nhân vật của ông đau thương, câu chuyện của ông khủng khiếp, hiện thực của ông trần trụi Thế

Trang 13

nhưng ẩn sau đó luôn là vẻ đẹp của sự hướng thiện, tính nhân ái” [52] Cuối bài, Lam Thu còn khẳng định: “Một trong những yếu tố khiến tác phẩm của Nguyễn Trí có sức thu hút là cách dùng từ ngữ Không hoa văn trau chuốt, Nguyễn Trí khiến người đọc cảm giác ông bê nguyên ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày vào trang viết Nhưng nếu chỉ đặt văn nói vào tác phẩm mà thành công thì quá dễ Nguyễn Trí biết cách đặt đúng, đặt trúng

từ cần dùng vào ngữ cảnh của truyện Thế giới ngôn từ của Nguyễn Trí sinh động, hấp dẫn, ông dùng những từ như: mới rợi, xụ mặt một đống, đẹp dậy xóm làng… không hề khiên cưỡng khiến tác phẩm mang vẻ đẹp của sự chân thực giản dị” [52]

Về cuốn Thiên đường ảo vọng, Cát Đằng khẳng định: “Tác phẩm của

Nguyễn Trí luôn tạo cảm giác như cuộc sống cuộn chảy trong từng trang viết Ông thể hiện điều đó bằng văn phong độc đáo, giọng điệu riêng biệt với câu chữ đời thường pha chút khẩu khí giang hồ Đặc biệt là lối viết trong vai người dẫn chuyện và nêu ra những thắc mắc; vừa trong vai người trả lời để

người đọc dễ hiểu Nếu trong Bãi vàng, đá quý, trầm hương, phận đời những phu đào vàng được khai thác thành những truyện ngắn riêng lẻ, thì đến Thiên đường ảo vọng, Nguyễn Trí đã khái quát, lột tả trọn vẹn tâm lí nhân vật cũng

như phát triển hài hoà đường dây, cốt truyện mang đến cho độc giả một câu chuyện khốc liệt, gian truân” [13]

Trong tập truyện Ngoi lên từ đáy, Nxb Văn hóa Văn nghệ TP HCM

2016, Nguyễn Trí tâm sự ở cuối trang sách về những con người dưới đáy trong truyện của mình: “Tôi viết về họ bằng trái tim chân thật của tôi, viết

mà không vì một lợi ích nào Phải chăng vì vậy mà trang viết của tôi được chia sẻ Tôi cảm ơn nhân vật của tôi, những người đã cho tôi lòng nhân ái qua kiểu sống của họ Đôi khi họ cũng nhe nanh múa vuốt vì gặp phải thú

dữ đội lốt người, Nhưng tựu trung tâm tính họ vốn lành Cũng sẵn sàng sa

Trang 14

nước mắt khi được tha nhân trân trọng Cũng yêu với tình yêu say đắm nhất

có thể có trên thế giới này Tôi tìm thấy được lòng nhân ái, nét nhân văn trong những người ở đáy xã hội Tôi yêu họ và viết dù chưa hay lắm nhưng

cố gắng đem tình yêu, tình thương, niềm đau và sự cô đơn của họ vào trang viết của mình” [61]

Trong trang Tuổi trẻ online - Văn hóa giải trí 04/8/2016 Lam Điền viết:

“Đọc văn Nguyễn Trí lạnh mình nghĩ lại cuộc đời lầm than cay nghiệt giáng xuống những cảnh đời rất thật kia, liệu có ai thoát ra để trở thành chất liệu cho văn chương!?”

Ngọc Lợi trong bài viết Đọc Ảo và sợ của Nguyễn Trí có quả, có nhân

cho rằng: “có lẽ chính vì cuộc đời với những thăng trầm, dâu bể thấy kia nên trong tác phẩm của Nguyễn Trí ngồn ngộn những số phận, những cuộc đời với đủ các cung bậc thăng trầm, bể dâu qua 18 truyện ngắn với những câu chuyện rất đời và “rất nặng”

Nặng - Bởi dường như cuộc đời của các nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Trí đều có số phận truân chuyên, kinh qua hầu hết những sướng khổ của đời người, khi thì “lên voi” “xuống chó”, lúc nghèo đến cùng cực, khi thì giàu ngất trời, lúc thì tột đỉnh vinh hoa, lúc lại sa chân xuống đáy vực, nhất là cái kết của đời họ gần đúng là quả (đắng hoặc ngọt) từ những cái nhân mà họ

đã gieo trong quá khứ dẫu có khi muộn nhưng nhân - quả là điều có thể thấy

rõ ràng khi đọc các truyện ngắn của Nguyễn Trí Các truyện ngắn Quả báo, Nhãn tiền, Trên đồi đất đỏ, Trời cao đất thấp là những thân phận con người

dưới đáy của sự cùng cực, nhưng vẫn thấm đượm tình người chất nhân văn của cuộc sống Thực ra đó không chỉ là những câu chuyện về trả - vay quả báo nhãn tiền mà còn có cả những câu chuyện rưng rưng xúc động Những câu chuyện mà khi đọc xong ta không biết nên trách những nhân vật khi chính họ là người đã gây nên những điều ấy bởi nếu đặt bản thân mình vào vị

Trang 15

trí của họ có lẽ ta ít nhiều sẽ hành động tương tự” [34]

Tác phẩm đầu tiên viết cho thiếu nhi của ông - Tuổi thơ không có cánh diều - đã được ra mắt bạn đọc nhỏ tuổi

Nguyễn Trí nói “Tuổi thơ không có cánh diều” đích thị là tuổi thơ tôi Tất cả hầu như bê nguyên xi đời tôi vào Những chuyến đi, những cái chết, truyện cắt rào của Ba Gà Bà cụ Kiền với những cái bánh ít và cái chết của chú Ba Nở cũng như cánh diều rũ rượi trên cánh đồng là thật Có sao tôi kể lại

y khuôn Không hư cấu” [10]

Nhìn chung nhiều bài viết đưa ra những nhận diện ban đầu về một số đặc điểm, nét riêng với mục đích ghi nhận dấu ấn của nhà văn Nguyễn Trí trên văn đàn Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu, phát triển các ý kiến của các nhà

nghiên cứu, chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu hình tượng con người dưới đáy trong truyện Nguyễn Trí trên các phương diện: hiện thực con người, kết cấu,

ngôn ngữ, giọng điệu, đặc điểm thi pháp trong sáng tác…

3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Con người dưới đáy trong truyện Nguyễn Trí

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Chúng tôi khảo sát trên 78 truyện ngắn, 01 tiểu thuyết và 01 truyện dài của Nguyễn Trí được in trong các tập sách sau:

Nguyễn Trí (2013), Bãi vàng, đá quý, trầm hương, Nxb Trẻ

Nguyễn Trí (2014), Đồ tể, Nxb Trẻ

Nguyễn Trí (2015), Thiên đường ảo vọng, Nxb Trẻ

Nguyễn Trí (2016), Ngoi lên từ đáy – Nxb Văn hóa Văn nghệ

Nguyễn Trí (2016), Ảo và sợ – Nxb Trẻ

Nguyễn Trí (2016), Tuổi thơ không có cánh diều – Nxb Kim Đồng Nguyễn Trí (2016), Bay cao thì mặc bay cao – Nxb Văn học

Trang 16

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ nét độc đáo của truyện Nguyễn Trí trong việc miêu tả, thể hiện con người và cắt nghĩa nguyên nhân tạo nên sức hấp dẫn của hiện tượng văn học này

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Khái lược về con người và sự thể hiện con người trong văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay

4.2 Tìm hiểu đặc điểm hình tượng con người dưới đáy trong truyện

Nguyễn Trí

4.3 Chỉ ra nét độc đáo trong nghệ thuật thể hiện hình tượng con người dưới đáy trong truyện Nguyễn Trí

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, chúng tôi đặc biệt chú ý sử

dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Về lí luận: Luận văn là một công trình nghiên cứu có hệ thống về con người trong truyện Nguyễn Trí Từ đó cho thấy tầm quan trọng của con người - con người đóng vai trò trung tâm không thể vắng mặt trong các tác phẩm nghệ thuật Đồng thời thông qua việc nghiên cứu ta biết được tư tưởng,

ý đồ mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm

6.2 Về thực tiễn: Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu sâu hơn truyện Nguyễn Trí Nó là tài liệu tham khảo cần thiết phục vụ cho việc giảng

Trang 17

dạy chuyên đề văn học đương đại Việt Nam trong các trường Đại học, Cao đẳng, Phổ thông trung học

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của

luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Truyện Nguyễn Trí trong xu hướng đổi mới cách tiếp cận

con người của văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay Chương 2: Đặc điểm hình tượng con người dưới đáy trong truyện

Nguyễn Trí

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện hình tượng con người dưới đáy trong

truyện Nguyễn Trí

Trang 18

Chương 1 TRUYỆN NGUYỄN TRÍ TRONG XU HƯỚNG ĐỔI MỚI

CÁCH TIẾP CẬN CON NGƯỜI CỦA VĂN XUÔI VIỆT NAM

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

1.1 Con người trong văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay

1.1.1 Khái niệm con người trong văn học

Theo M Gorki, “Văn học là nhân học” Quan niệm về con người trong văn học là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong nghiên cứu lí luận phê bình Quan niệm về con người của các nhà văn không chỉ là một phạm trù thế giới quan mà còn là một phạm trù mỹ học, một phạm trù nghệ thuật

Đối tượng và nội dung của văn học chính là cuộc sống của con người Nhà văn chân chính, dù viết về điều gì và thể hiện như thế nào trong tác phẩm thì điểm xuất phát và đích đến cuối cùng là cõi nhân sinh rộng lớn ngoài xã hội

Con người trong văn học nghệ thuật chính là sự phản ánh những mẫu người trong thực tại Nhưng dù có là vòng tròn đồng tâm thì con người trong đời sống và con người trong nghệ thuật không bao giờ đồng nhất Bởi từ cuộc đời bước vào văn học, con người trở thành đứa con tinh thần của nhà văn

Vì vậy tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người chính là bước đi thiết thực để khám phá tính độc đáo, chiều sâu tư tưởng trong cách thể hiện con người của nhà văn cũng như của mỗi thời đại văn học

Nhà lý luận Trần Đình Sử cho rằng quan niệm con người trong nghệ thuật là một cách cắt nghĩa, lí giải thể hiện tầm hiều biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người trong tác phẩm của mình”

Huỳnh Như Phương cũng góp tiếng nói của mình bằng một cách nhìn khá bao quát: “Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lí của tác phẩm”

Trang 19

Cũng về vấn đề này một nhà nghiên cứu về văn học Việt Nam hiện đại

đã viết trong một bài nghiên cứu: “Quan niệm về con người chính là những nguyên tắc chiếm lĩnh, cắt nghĩa đời sống của nhà văn, là nơi đánh dấu trình

độ tư duy nghệ thuật, của một thời đại, một trào lưu, một tác giả”

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Quan niệm nghệ thuật về con

người là hình thức bên trong, là hệ qui chiếu ẩn chìm trong hình thức tác phẩm

Nó gắn với các phạm trù khác như phương pháp sáng tác, phong cách của nhà văn, làm thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật”

Như vậy cùng một vấn đề nhưng mỗi người có một cách hiểu và một cách đặt vấn đề khác nhau Nhưng nếu đọc kỹ các nhận định trên, ta thấy chúng khác nhau mà không mâu thuẫn khác nhau Khác chỉ là do cách diễn đạt; và nếu có sự khác nhau nào đó trong cách đặt vấn đề thì đó là do các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận quan niệm về con người từ các góc độ riêng biệt mà thôi

Như vậy trong việc tham khảo tài liệu kết hợp với thực tế tìm hiểu, nghiên cứu và giảng dạy văn học, chúng tôi đưa ra một cách hiểu về khái niệm nghệ thuật về con người trong văn học như sau:

Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù quan trọng của thi pháp học Đó là cách nhìn, cách cảm, cách cắt nghĩa, lí giải và cách thể hiện đầy độc đáo, sáng tạo của mỗi nghệ sĩ, mỗi thời đại nghệ thuật về con người Quan niệm ấy thể hiện cụ thể sống động trong tác phẩm của nhà văn

1.1.2 Bối cảnh phát triển của văn học Việt Nam từ năm 2000 đến nay

Từ sau ngày đất nước thống nhất, đời sống hòa bình đưa con người trở

về với quỹ đạo đời thường, tạo điều kiện nảy sinh những nhu cầu mới, những quan điểm thẩm mĩ mới, hình thành nên những lớp công chúng mới Ý thức cá nhân đã được đánh thức trở lại với những đòi hỏi cụ thể, bình thường nhất Nhiều giá trị trong thời chiến đã thay đổi khác và thay thế nó là những hệ giá trị mới đang trong quá trình hình thành Đời sống văn hóa tư tưởng vì vậy cũng vô

Trang 20

cùng phức tạp, thậm chí khủng hoảng ở một bộ phận nào đó Tình hình đó được tạo nên do những tác động mạnh mẽ từ sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự kết thúc của tình thế chiến tranh lạnh giữa hai phe trên thế giới

Đường lối đổi mới của Đảng từ sau đại hội lần thứ VI đã đưa Việt Nam từng bước hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, vì thế ảnh hưởng của toàn cầu hóa ngày càng rõ rệt đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa tư tưởng ở nước ta Toàn cầu hóa đã mở ra nhận thức mới cho con người Việt Nam hôm nay

Cái nhìn về con người từ đó cũng thay đổi Bên cạnh việc khẳng định những giá trị mang bản sắc dân tộc, con người còn được nhấn mạnh trong tính nhân loại, trong bản chất phổ quát Mặc dù kinh tế nước ta còn chậm phát triển, nhưng con người Việt Nam hôm nay vẫn có những dấu ấn thể hiện tâm thức của con người thời đại hậu công nghiệp trên thế giới

Trong bối cảnh mở cửa của hội nhập quốc tế, văn học Việt Nam không còn bị khép kín trong tính chất khu vực của những nền văn học xã hội chủ nghĩa như trước đây mà đã từng bước mở rộng sự giao lưu tiếp nhận ảnh hưởng của nhiều nền văn học trên thế giới

Các trào lưu lí thuyết văn học vốn đã quen thuộc có ảnh hưởng sâu rộng ở phương Tây trong thế kỷ XX đã từng bước được giới thiệu và tiếp nhận ở Việt Nam qua việc dịch thuật (cả sáng tác và lí luận) qua một lớp tác giả, công chúng có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với đời sống văn học thế giới, nhất là bộ phận người Việt ở hải ngoại Từ phân tâm học đến chủ nghĩa hiện sinh, trào lưu lí thuyết văn học vốn đã quen thuộc, có ảnh hưởng sâu rộng ở phương Tây trong thế kỷ XX đã từng bước được giới thiệu và tiếp nhận ở Việt Nam qua việc dịch thuật (cả sáng tác và lí luận) qua một lớp tác giả, công chúng có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với đời sống văn học thế giới, nhất là bộ phận người Việt ở hải ngoại

Trang 21

Từ năm 2000 đến nay nền văn học Việt Nam là nền văn học của sự hội nhập, phát triển theo cơ chế thị trường nên văn xuôi giai đoạn này có nhiều điểm khác so với văn học giai đoạn trước, trong đó cần phải nhắc đến quan điểm nghệ thuật của người cầm bút Nghệ thuật chính là đời sống, là hiện sinh

và như thế nghệ thuật luôn là trò rượt đuổi của những giới hạn Điều này được đội ngũ nhà văn đương đại thể hiện một cách sinh động, hấp dẫn qua nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết

Như đã đề cập văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay có số lượng phát triển nhanh vì nhờ có lịch sử phát triển lâu dài Tiếp tục kế thừa và phát huy những đặc điểm của ưu thế này riêng về mặt đề tài văn xuôi Việt Nam đương đại có những chuyển biến rõ nét so với những gì đã có trong truyền thống

Các nhà văn thuộc thế hệ nhà văn kiểu mới những năm gần đây đã có nhiều sự đổi mới trong cách viết Họ là những: Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư một số trang viết còn lạ lẫm với độc giả về cách nhìn con người nhưng xét ở một số phương diện nào đó vẫn là những suy

tư trăn trở rất đáng trân trọng

Chưa bao giờ vai trò trách nhiệm của người cầm bút và tính chân thực của văn học lại được đặt ra một cách ráo riết, toàn diện đến thế, một không khí dân chủ trong đời sống văn hóa và văn học đã thực sự có tác động lớn lao đến đội ngũ những người sáng tác Tất cả những yếu tố nói trên đã làm biến đổi ý thức, nghệ thuật của nhà văn và công chúng văn học Trung tâm của sự đổi mới

ý thức nghệ thuật đó chính là đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người

1.1.3 Xu hướng đổi mới quan niệm về con người trong văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay

Năm 1975 trở thành một cột mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam kết thúc chiến tranh, chuyển sang thời kỳ hòa bình, độc lập tự do Năm

1986 là bước ngoặt đánh dấu công cuộc đổi mới của đất nước Gắn bó với

Trang 22

những biến chuyển chính trị xã hội, văn học cũng mang đặc điểm của từng giai đoạn lịch sử

Ba mươi năm 1945-1975 là giai đoạn văn học chiến tranh hay còn được gọi là văn học cách mạng, văn học đầy chất sử thi và cảm hứng lãng mạn Có thể nói từ 1986 đến nay gọi là văn học đổi mới mà đặc biệt từ năm 2000 đến nay văn học Việt Nam có một số chuyển mình khá rõ nét Vấn đề thế sự, đời

tư được quan tâm hơn

Chịu sự tác động của hoàn cảnh chiến tranh văn học trước 1975 tập trung vào nhiệm vụ giáo dục con người mới, con ngưởi cộng đồng Hình mẫu con người được gởi gắm vào các nhân vật lí tưởng Phát hiện con người cộng đồng trong mỗi cá nhân, con người như một sản phẩm hoàn hảo của hiện thực cách mạng Xung đột dân tộc và xung đột giai cấp đã buộc văn học đặt con người vào trong điểm nhìn ý thức hệ Chiến tranh kéo dài khiến một số nguyên tắc miêu tả con người trở thành quy phạm

Văn học sau 1975 không thể không tự điều chỉnh khi các phông thời đại đã hoàn toàn thay đổi, ý thức về con người cá nhân, sự khích lệ tinh thần dân chủ khơi thông những ẩn ức dồn nén những khát khao được nghiên cứu

Xuất phát từ quan niệm con người không đơn trị, con người đa diện, con người luôn biến đổi, phức tạp, bí ẩn… văn học giai đoạn mới ít có những nhân vật đẹp hoàn hảo Nhân vật đời thường đi vào tác phẩm, hiển hiện như

lẽ đương nhiên Con người bị đồng tiền làm cho biến dạng, trở nên độc ác, tàn nhẫn, tẻ nhạt, con người bị tha hóa, con người bị xơ cứng với những giáo điều

và niềm tin mù quáng, con người u mê, tăm tối, hoang dã, con người đầy ắp tham vọng và có thể biến mình thành quỷ dữ sẵn sàng đánh đổi tình thân, danh dự thậm chí cả nhân phẩm cho uy quyền và danh lợi

Văn học Việt Nam sau 1975 đặc biệt từ năm 2000 đến nay đã nhìn nhận con người dưới góc độ đời tư mang tính chất “phi sử thi hóa” (Trần

Trang 23

Đình Sử) Những sáng tác nhìn nhận con người dưới góc độ cái tôi sử thi mờ dần và thay vào đó là những tác phẩm nêu lên sự bức xúc, trăn trở, xót xa trước nhân tình thế thái Với xu hướng đào xới đến tận cùng bản thể con người, cái tôi cá nhân được khai thác ở mọi bình diện, trong nhiều mối quan

hệ xã hội Rất nhiều truyện ngắn với những gương mặt tiêu biểu như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo,

Dạ Ngân, Tạ Duy Anh, Lê Minh Khuê, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Xuân Hà, Phùng Văn Khai, Đỗ Bích Thủy, Đỗ Hoàng Diệu, Bích Ngân, Nguyễn Ngọc

Tư, Nguyễn Trí, Sương Nguyệt Minh,…

Nhìn chung ngòi bút các nhà văn thay đổi trên nhiều phương diện trong

đó đáng chú ý nhất là sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người Đây chính

là bước chuyển quan trọng cho văn xuôi Việt Nam, ứng với mỗi giai đoạn văn học có một cách thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người khác nhau

Văn học chống Pháp và chống Mỹ gắn với cảm hứng ngợi ca con người xả thân vì quê hương đất nước con người đặt trong bối cảnh cộng đồng Sau 1975 đặc biệt từ 2000 đến nay con người trong văn xuôi Việt Nam bắt đầu có ý thức nhìn ngắm lại mình Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà văn đã hướng vào thế giới nội cảm, khám phá chiều sâu tâm linh để thấy được những sắc thái tình cảm Vì vậy các nhà văn thể hiện quan niệm nghệ thuật và con người ở nhiều chiều hướng khác nhau, chuyển hướng cách nhìn nhận, cách cảm nhận và cách đánh giá con người được coi là tự làm mới mình

về mặt nhận thức, tư duy bản thể con người Con người luôn phải tự đấu tranh, tự dò dẫm trước muôn ngàn ngã rẽ của xã hội bởi con người luôn tồn tại hai mặt đẹp xấu, thiện ác cao cả thấp hèn, mạnh mẽ yếu đuối

Nguyễn Minh Châu, nhà văn tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học, tiên phong thay đổi quan niệm nhận thức về con người Ông không còn nhìn con người một chiều mà nhìn con người trong mối quan hệ nhiều chiều

Trang 24

Tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa là một ví dụ điển hình cho sự đổi mới quan

niệm về con người Trước năm 1975 Nguyễn Minh Châu sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Sau 1975 ông thay đổi khuynh hướng sáng tác với cảm hứng triết luận thế sự và đời tư

Làm nên sự phong phú đa dạng trong quan niệm nhận thức về con người không thể không nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp với một giọng văn sắc lạnh, gai góc đã viết lên những góc khuất của cuộc đời và xã hội Các nhân vật trong truyện Nguyễn Huy Thiệp đều đau khổ, cô đơn đến tột cùng và chính điều đó tạo nên một Nguyễn Huy Thiệp độc và lạ của văn học Việt Nam Song hành cùng với giai đoạn đổi mới văn học còn có cả những cây bút

nữ tên tuổi như Vũ Thị Hảo với tác phẩm Người sót lại của rừng cười, Dạ Ngân với Gia đình bé mọn, Đỗ Hoàng Diệu với Bóng đè, Phan Thị Vàng Anh với Khi người ta trẻ, Nguyễn Ngọc Tư với Cánh đồng bất tận

1.2 Những loại hình nhân vật tiêu biểu trong văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay

1.2.1 Nhân vật người lính thời chiến và thời hậu chiến

Chiến tranh đã đi qua rất lâu, hòa bình trở lại sau năm 1975, những mất mát trong chiến tranh là điều không thể tránh khỏi Văn học giai đoạn đổi mới nhìn nhận lại cuộc chiến bằng cái nhìn hiện thực là cách để trân trọng và phát huy những gì đã có, khẳng định dân tộc ta đã vượt qua gian khổ hy sinh để chiến thắng

Mở rộng phạm vi hiện thực và quan tâm đến số phận con người chính

là những nỗ lực đầu tiên của văn xuôi viết về chiến tranh thời kỳ hậu chiến Hầu hết các tác phẩm văn xuôi thuộc khuynh hướng này đều khai thác chiến tranh với cái nhìn bi tráng

Trong văn xuôi Việt Nam từ năm 1945-1975 người đọc vẫn nhớ mãi hình tượng những người lính những người con vinh quang của dân tộc: anh

Trang 25

hùng Núp (Đất nước đứng lên), chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng), anh Nguyễn Văn Trỗi (Sống như Anh), chị Sứ (Hòn Đất), hai chị em Việt Chiến (Những đứa con trong gia đình), hay hình ảnh con người Tây Nguyên trong tác phẩm Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) với nhân vật Tnú, Mai, Dít…

bất khuất, kiên cường

Văn xuôi Việt Nam giai đoạn chiến tranh còn ca ngợi mối tình đẹp lãng

mạn hư ảo của Nguyệt và Lãm (Mảnh trăng cuối rừng) Những hình tượng

nhân vật người lính thời chiến đều mang dáng dấp sử thi nó mang vẻ đẹp sáng ngời của tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Như câu nói

của cụ Mết: “Chúng nó cầm súng mình phải cầm giáo” (Rừng xà nu)

Nhìn chiến tranh bằng điểm nhìn của người đứng trong chiến hào, các nhà văn thường viết nhiều về người lính Hầu như họ không có cơ hội để thể hiện đời tư Xúc cảm của người lính thời chiến là xúc cảm thẩm mỹ hướng về cộng đồng nhân danh cộng đồng mà chiến đấu là sự sống còn của Tổ quốc Như vậy văn học giai đoạn 1945-1975 diễn ra trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh Cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc và hình tượng người lính trở thành đề tài lớn trùm văn học Hầu hết các tác phẩm giai đoạn này đều viết

về những người con vinh quang của đất nước về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc

Văn học hậu chiến được hiểu một cách đơn giản là “sau chiến tranh” Như vậy thời kỳ hậu chiến được tính từ mốc sau năm 1975 Trong văn học thời kỳ này vừa tồn tại những đặc điểm của văn học sử thi vừa xuất hiện những đặc điểm của nền văn học mới Điều này được nhà văn Nga Iu Bondarev phát biểu: “Trong những truyện viết về chiến tranh, điều đặc biệt lý thú đối với tôi là xem những người lính ở tiền tuyến hàng ngày, hàng giờ khắc phục bản thân mình như thế nào Theo tôi đó là phẩm chất anh hùng trong chiến tranh”

Trang 26

Sau 1975 các nhà văn đã nhìn sâu vào thế giới nội tâm phong phú của nhân vật, văn xuôi vì thế gần gũi với cuộc sống đời thường bởi văn học và cuộc sống là những đường tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người (Nguyễn Minh Châu)

Đặc biệt là sau 1986 những thay đổi những thay đổi trong tư duy nghệ thuật định hình ngày càng rõ nét, mở ra khuynh hướng sáng tác khác với giai đoạn trước trên mọi thể loại văn học Nhà văn Việt Nam sau chiến tranh đã có những nỗ lực vượt qua lối viết còn nhiều phiến diện của văn học giai đoạn trước Người lính được khắc họa đa chiều hơn với cá tính riêng, số phận đời

tư, những khiếm khuyết Đằng sau nhân vật anh hùng là chân dung con người đời thường với đủ mọi hỉ, nộ, ái, ố

Cùng với việc đổi mới tư duy, nhu cầu nói thật, hình tượng người lính

bị tha hóa đã xuất hiện nhiều trong văn học nói chung, truyện ngắn chiến tranh nói riêng, điều ít thấy trong giai đoạn trước Đó là kiểu nhân vật người

lính đa diện có thể kể đến một số nhân vật như Hòa (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành), Lực (Cỏ lau), Toàn (Mùa trái cóc ở miền Nam) của Nguyễn Minh Châu, Lâm (Truyền thuyết về Quán Tiên) của Xuân Thiều, hắn (Họ đã trở thành đàn ông) của Phạm Ngọc Tiến

Thời kỳ hậu chiến còn xuất hiện kiểu nhân vật người lính chịu dư chấn chiến tranh và vượt lên bi kịch hậu chiến Là người chịu ảnh hưởng trực tiếp của chiến tranh hòa bình lập lại người lính phải đối diện với chiến trường mới

bởi những tổn thương do chiến tranh để lại Đó là Lực (Cỏ lau - Nguyễn Minh Châu) đã bị báo tử, vợ con cha già ở cùng người chồng mới, Mây (Người ở bến Sông Châu - Sương Nguyệt Minh) trở về với thương tật, người yêu đi lấy

vợ Những người lính ấy đều sống cao thượng và tìm lại sự cân bằng trong cuộc sống

Đối lập với kiểu nhân vật này là một số nhân vật không dung hòa được

với cuộc sống sau chiến tranh như Thảo (Người sót lại của rừng cười - Võ Thị

Trang 27

Hảo), Tướng Thuấn (Tướng về hưu - Nguyễn Huy Thiệp), Mộc (Trại Bảy chú lùn - Bảo Ninh) … Tất cả đều rơi vào bi kịch lạc thời dù hòa bình vốn là lý

tưởng để họ chiến đấu

Bên cạnh đó còn xuất hiện kiểu người lính tự thú sám hối Những nhân vật này thể hiện con người có tính hướng thiện nên có sự cắn rứt lương tâm

Phần lớn họ là người lính bên kia chiến tuyến như tôi (Con gà rừng - Đoàn

Lê), hay sám hối đối với Phùng Văn Khai là dòng trạng thái kí ức về hành động trong chiến tranh của những người lính Mỹ sau chiến tranh ở Việt Nam Sám hối cũng là trạng thái nhân vật hướng đến cởi trói tâm hồn mình để sống đẹp hơn Văn xuôi Việt Nam đương đại viết về người lính trong và sau chiến tranh một cách rất chân thật Mỗi kiểu nhân vật góp phần vào chuyển tải những thông điệp nhân văn sâu sắc về con người trong cuộc kháng chiến bi hùng của dân tộc Việt Nam

1.2.2 Nhân vật trí thức

Trong văn xuôi hiện đại đầu thế kỷ XX vấn đề nhân vật trí thức nổi trội như một đặc điểm lớn: tính phức hợp, đa bình diện trở thành một đặc tính nổi bật của các loại hình nhân vật trí thức

Trí thức là người có kiến thức từ việc học tập, nghiên cứu, luôn khát khao cống hiến tài năng cho đời và có lối hành xử văn minh, văn hóa Ở họ tập trung mọi tinh hoa của dân tộc và nhân loại Họ là nhân vật trung tâm, là động lực của xã hội, có sự đóng góp to lớn và giúp đỡ xã hội phát triển vững chắc, ngày càng văn minh tiến bộ hơn Họ mang cái đẹp đến cho đời

Trong thành phần cấu tạo nền xã hội, trí thức là một bộ phận đặc biệt

Họ tuy giữ tỷ lệ không cao trong dân số nhưng với đặc thù của trí tuệ và tâm hồn nhìn chung họ là một bộ phận dân cư tiên tiến nhất của xã hội Khái niệm trí thức từ trước đến nay có rất nhiều cách gọi khác nhau Theo tiếng Hán trí thức được gọi là thức giả, học giả, hiền tài, sĩ phu….theo tiếng Việt là kẻ sĩ,

kẻ có học, người lao động trí óc…

Trang 28

Trong quan niệm thời hiện đại trí thức là lớp người sản xuất ra các giá trị tinh thần đẻ ra các ý tưởng Họ có thể làm thay đổi nhận thức về tự nhiên và xã hội loài người Về người trí thức, nghị quyết Trung ương Đảng nêu rõ: “Trí thức

là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập sáng tạo, truyền bá và luôn giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội”

Những năm gần đây các truyện ngắn, tiểu thuyết đề cập rất nhiều đến vai trò của người trí thức trong cuộc sống Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X họp từ ngày 9 đến ngày 17-7-2008 đã ra nghị quyết về xây dựng đội ngũ tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đánh giá vai trò của trí thức và đội ngũ tri thức Trung ương nhận định “Trong mọi thời đại tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức”

Trong bối cảnh những năm sau chiến tranh đời sống của người tri thức

vô cùng khốn khổ đã trở thành nhu cầu bức thiết muốn giãi bày của văn nghệ

sỹ Đặc biệt những thay đổi của đất nước kéo theo những xáo trộn và ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người trí thức Trong quá trình phát triển văn học Việt Nam nhân vật trí thức đã được nhiều nhà văn khai phá, nhưng mỗi nhà văn mổ xẻ những khía cạnh khác nhau tùy theo nhận thức của từng nhà văn về quan niệm nghệ thuật và con người

Trong xu thế đổi mới hội nhập và sự tác động sâu sắc của nền kinh tế thương trường các nhà văn thời kỳ đổi mới đã không ngần ngại phơi bày những mặt trái những khuất lấp nhất trong đời sống con người trong thế giới nhân vật trí thức hiện diện phong phú và đa dạng nhất

Nhân vật trí thức là nhà văn nhà báo, nhân vật trí thức là nghệ sĩ… Mỗi loại nhân vật trí thức đều có đặc điểm riêng về hoàn cảnh cuộc sống, diện mạo, tâm hồn, tính cách Sau năm 1986 đến nay khi cuộc sống con người

Trang 29

dường như gấp gáp hơn, năng động hơn Các nhà văn có tên tuổi những cây bút tiêu biểu của văn học thời chiến nhận thức rất rõ yêu cầu mới của văn học nên cũng ít nhiều ghi được thành công

Bên cạnh những cây bút như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Trần Thị Trường, Dạ Ngân, Nguyễn Quang Thân lại những xuất hiện gương mặt mới như Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ, Tạ Duy Anh, Nguyễn Ngọc Tư… đã có rất nhiều thay đổi trong tư duy quan niệm, cách viết

Tác giả Phạm Thị Hương (2008) đã cho rằng: “không phải ngẫu nhiên

mà các nhà văn đặc biệt là các nhà văn đương đại lại thích xây dựng hình tượng nhân vật nhà văn trong tác phẩm của mình” Có thể nói Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiên phong trong công cuộc đổi mới và tư duy về cách nhìn

mới về thế giới nội tâm người trí thức Hình ảnh người y sỹ Quỳ (trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành) thể hiện cách nhìn mới của nhà văn về

Ở Hồ Anh Thái các truyện như Cây hoàng lan hóa thành cây si, Trại

cá sấu, Lọt sàng xuống nia, Tin thật lòng (2002), Cả một dây theo nhau đi, Sân bay, Chạy quanh công viên mất một tháng, Phòng khách, Chín triệu, Hai triệu, Ba triệu và Bóng rổ, Tờ khai Visa, Sân bay, Chơi (2003) Sắp đặt

(2004) cũng khai thác rất thành công những phương diện khác nhau của người trí thức Đó là những sự lố lăng, kệch cỡm, là những thói hư tật xấu,

Trang 30

là bản chất thật sự của con người là sự vô dụng của những con người mang

danh trí thức Hay ở truyện ngắn của Nguyễn Việt Hà Biển lạ, Thật bồ đoàn (2001) Mãi không tới núi (2002), Có rồi sẽ nhớ, Hồn của bướm (2004), Những trang báo ma quái (2005) đều viết về giới trí thức với những cách

thể hiện mới mẻ khiến những đề tài tuy cũ nhưng vẫn gây được sự chú ý của độc giả

Bên cạnh tên tuổi như trên còn có sự đóng góp của những gương mặt

nữ như Trần Thùy Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thị Trường, Võ Thị Xuân Hà, Y Ban, Lý Lan…

Những đóng góp của các nhà văn nữ về đề tài người trí thức đã thực sự làm cho mảng đề tài này trở nên phong phú, đa dạng hơn rất nhiều Quan loại hình nhân vật trí thức, nhà văn đã có điều kiện giải bày tư tưởng quan điểm sáng tác của mình một cách chân thành, sâu sắc Những điều này đã làm cho văn học trở nên phong phú và có sức sống hơn

1.2.3 Nhân vật thị dân, công chức, nhân vật lịch sử

Bước sang thế kỷ XXI đời sống con người đã có những thay đổi đáng

kể Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng và sự gia tăng của các phương tiện truyền thông hiện đại của internet, truyền thông đa phương tiện đã tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội trong đó có văn học

Cùng với sự thay đổi của đời sống xã hội, của ý thức và nhu cầu đổi mới

tư duy nghệ thuật là sự xuất hiện của đông đảo những người viết trẻ, phần lớn được sinh ra và lớn lên sau chiến tranh Trong những năm qua số lượng các cây bút trẻ đang ngày một chiếm lĩnh thị trường sách văn học đồng thời xuất hiện một nhu cầu mang tính tự thân là nhu cầu “viết về thế hệ mình”

Nhân vật thị dân công chức xuất hiện trong những trang viết của các nhà văn kiểu mới này Trong những năm đầu thế kỷ XXI xuất hiện những cây bút như Đỗ Bích Thủy, Nguyễn Ngọc Thuần, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Vĩnh

Trang 31

Nguyên, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp,… từ chỗ là gương mặt khá mới mẻ trên trên văn đàn đến nay họ đã là lớp đàn anh đàn chị, đã từng bước khẳng định được vị thế và nhiều người trong số họ lại tiếp tục thử sức với thể loại tiểu thuyết như: Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp Bên cạnh đó là những cây bút thế hệ 8x (Nguyễn Quỳnh Trang, Phạm Thị Điệp Giang, Nguyễn Thị Cẩm, Chu Quỳnh Anh, Ngọc Cầm Dương…)

Thế hệ cầm bút 8x, 9x sinh ra trong thời buổi hòa bình, tiếng súng, tiếng gươm đã lùi xa rất lâu, đất nước đã có sự chuyển mình dữ dội với những

sự đổi thay rõ rệt thì họ những con người trẻ tuổi, mang trong mình những ước mơ khát vọng, hoài bão và những suy tư trăn trở về thời cuộc đã đặt chân

vào sáng tác Những tác phẩm của nhiều tác giả trẻ như Vũ điệu thân gầy và

truyện ngắn 8x vẫn chưa thực sự nổi bật và có sức hút độc giả mạnh mẽ

Văn học suy cho cùng là sự phản ánh đời sống, là “một cách sống với hiện thực” bởi “hồn cốt của văn chương là đời sống con người” Cái nhìn về hiện thực xã hội đương đại của các nhà văn hôm nay được thể hiện ở chỗ tả thực bởi cái cốt lõi của văn chương là đời sống con người Cái nhìn về con người hiện thực hôm nay được nhà văn tả thực gắn liền với phân tích lý giải chiêm nghiệm suy tư về cuộc đời

Trong văn xuôi đương đại, thế giới nhân vật ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, mỗi nhân vật là một hoàn cảnh và thái độ ứng xử độc lập, khác biệt Không chỉ viết về công nông binh như văn học giai đoạn trước mà văn xuôi từ năm 2000 đến nay còn hướng đến nhiều giai tầng khác trong xã hội

Có thể đó là nhân vật thị dân công chức trong cuộc mưu sinh, trong cách ứng

xử mà ở đó nhân cách của họ được bộc lộ rõ nét

Sau năm 2000 đến nay những nhân vật mới như công chức, doanh nhân, giám đốc, kỹ sư… những con người là sản phẩm của văn minh đô thị xuất hiện nhiều trong văn xuôi Việt Nam con người cá nhân có những tâm lý, tính cách được khắc họa rất nhiều cung bậc

Trang 32

Ở họ có thể là nỗi cô đơn trong chính ngôi nhà của mình, trong cuộc

sống thường ngày mà họ phải đối mặt Y Ban (Miếu hoang, Đàn bà xấu thì không có quà) Năm 2006, Y Ban cho xuất bản cuốn I am đàn bà trong đó có

truyện ngắn cùng tên mang nội dung bày tỏ những khao khát về tình dục, phụ

nữ, truyện ngắn gây được sự chú ý của nhiều người và được xét trao giải nhân cuộc thi truyện ngắn năm 2006 trên báo Văn Nghệ

Tuy nhiên tháng 3/2007 Y Ban bị thu hồi giải thưởng vì lý do phạm quy Bên cạnh Y Ban còn có các nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ sau năm 2000

với những tác phẩm như: Nào ta cùng lãng quên (Thành phố đi vắng) 37 truyện ngắn Khi những giá trị tinh thần của gia đình truyền thống đang dần

mất đi con người trong thành phố trong vòng xoáy của bộn bề công việc họ cô đơn sống trong những tòa cao ốc cách biệt mà không có người thân bên cạnh

(Thành phố không mùa Đông - Nguyễn Thị Thu Huệ) Những cây bút trẻ từ

năm 2000 đến nay không bị ám ảnh bởi văn chương là một cái gì đó quá đao

to búa lớn, họ viết theo bản năng về những cái mà họ quan tâm nhưng vẫn giữ được nét hồn nhiên của tuổi trẻ

Đặc biệt từ năm 2000 đến nay, các nhà văn có cái nhìn mới về nhân vật

lịch sử Thời kỳ đầu đổi mới, sự ra đời của bộ ba truyện ngắn lịch sử Vàng lửa, Kiếm sắc và Phẩm tiết (Nguyễn Huy Thiệp) đã gây được sự chú ý và

tranh luận của độc giả trên văn đàn Trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp những nhân vật lịch sử như Gia Long, Quang Trung, Nguyễn Thị Lộ đã không còn những đặc điểm từng được ghi lại trong lịch sử, mà lịch sử được xem như một chất liệu mà nhà văn có quyền tái tạo lịch sử theo cảm quan mới Với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp những nhân vật trong văn học dân gian như Trương Chi hay những tên tuổi như Hồ Xuân Hương đều có thể trở thành nhân vật văn học nhưng lại không trùng khít với những dấu ân đã đi vào tâm thức cộng đồng

Trang 33

Năm 2008 Trần Thùy Mai đã cho ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn Một mình ở Tokyo trong đó có nhiều truyện ngắn viết về nhân vật lịch sử Các truyện ngắn Nàng công chúa té giếng, Thần nữ đi chân không, Nơi có những cây tùng xanh biếc viết về các nhân vật lịch sử như vua Gia Long, Trịnh Hoài

Đức cũng như lịch sử vương triều Huế với cái nhìn giải thiêng, thân mật hóa đối tượng

Ở những tác phẩm này lịch sử được coi như một nguyên cớ, lịch sử như một tấm phông và tác giả có quyền tái tạo hiện thực bằng những suy lý lịch sử

bằng các tuyến nhân vật độc đáo Trong truyện ngắn Dị hương (Sương Nguyệt

Minh) nhân vật Nguyễn Phúc Ánh (tức vua Gia Long) được xây dựng bằng cảm quan và tinh thần hiện đại Nguyễn Ánh không chỉ ở vị thế của một ông vua mà là một cá nhân trần tục với những ham muốn nhục dục, tác phẩm đã khơi gợi nhiều vấn đề không chỉ của người xưa mà cả với con người hôm nay

1.3 Sự xuất hiện của Nguyễn Trí và một cách tiếp cận mới đối với con người

1.3.1 Nguyễn Trí, từ thợ đào vàng đến nhà văn

Nguyễn Trí sinh năm 1956 quê gốc ở Quảng Bình sinh ra ở Bình Định, lang bạt qua nhiều vùng đất và dừng chân ở Đồng Nai đã ba chục năm nay Nguyễn Trí là con thứ năm trong gia đình có chín anh em Cha ông từng là lính của Bảo Đại Đó là lí do vì sao quê gốc của ông ở Quảng Bình mà anh

em của ông người sinh ra ở Huế, người sinh ra ở Đà Lạt, còn ông lại sinh ra ở Bình Định

Năm 1945 sau khi triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam bị lật đổ vua Bảo Đại phải thoái vị cha ông đi lính cho Ngô Đình Diệm Sau đó tiếp tục làm lính cho nền đệ nhị cộng hòa từ Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu Cha ông đi đến đâu đưa vợ con theo đó Cuộc sống thường xuyên thay đổi khiến việc học của Nguyễn Trí bị gián đoạn Đến năm

1975 nhà văn mới học lớp 10

Trang 34

Rồi cha Nguyễn Trí từ giã đời lính, cuộc sống gia đình lâm vào cảnh khó khăn túng thiếu, khiến anh em Nguyễn Trí mỗi người phân tán mỗi nơi Ông vào Đồng Nai và bắt đầu công cuộc mưu sinh chật vật khi mới 17 tuổi

Tuổi trẻ của ông gắn liền với cây đàn ghi ta và sách Nguyễn Trí từng chia sẽ rằng: “Tôi biết đọc sách từ rất sớm, nhớ và thuộc nhiều đoạn văn thậm chí đến bây giờ vẫn có thể đọc thuộc lòng không trừ một dấu phẩy” Cùng trong thời gian này Nguyễn Trí học Anh văn do một người Mỹ kèm Sau đó ông có đi dạy kèm tiếng Anh nhưng chỉ là tiếng Anh “bồi” Cuộc sống đói nghèo cơ cực cùng gánh nặng một vợ bốn con Nguyễn Trí quyết định đào vàng cái nghề cực nhọc, nguy hiểm khôn lường nhưng cũng đầy ma lực quyến rũ”

Quả thật nghề đào vàng đã mang lại vinh hoa cho Nguyễn Trí Ông kể lại: “tôi đã từng ôm mười cây vàng về nhà đó chứ” Cuộc đời vốn không phẳng lặng với bản tính của Nguyễn Trí, ông không muốn làm thuê mãi nên ông rút hết tiền hùn vốn đào hầm khai thác vàng, tiếp tục giấc mộng đổi đời Thật oái oăm tất cả của cải của ông bị mất hết trong đợt này, ngay cả tiền xe

về nhà ông cũng phải đi xin

Năm 2013, Nguyễn Trí bất ngờ trở thành chủ nhân giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam và từ đó ông trở thành một hiện tượng lạ và độc đáo trên văn đàn

Trước khi trở thành nhà văn, cuộc đời Nguyễn Trí gói gọn trong hai chữ “nỗi đau” Gương mặt và đôi bàn tay (in trên trang gấp của cuốn sách) cũng đầy khắc khổ, không có chút gì dính líu đến văn chương Độc giả thắc mắc tại sao một phu đào vàng, một đồ tể bỗng chốc vụt sáng thành nhà văn?

Ai cũng có một thời tuổi trẻ để ước mơ, để sống Nguyễn Trí cũng vậy ông ước mơ trở thành nhà văn năm 16 tuổi nhưng ước mơ đó tưởng không trở thành hiện thực Trong suốt đoạn đường đói khổ, ông vẫn đọc sách Với ông

sách là điểm sáng nhất cuộc đời 12 tuổi ông đã đọc Tội ác và trừng phạt

Trang 35

Ông nói rằng nhà ông có Lê-nin toàn tập, Nguyễn Trãi toàn tập, Nguyễn Du… Với ông, đọc sách là đam mê, không thể thiếu, trong khi ông vẫn lăn

lóc kiếm sống bằng đủ thứ nghề: nấu rượu, nghề nhảy tàu, nghề đồ tể, nghề tìm vàng, nghề khai thác đá quý, trầm hương, chặt củi, đốt than, xe ôm và danh giá nhất là nghề dạy tiếng Anh bồi

Yêu thích đam mê văn chương từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường nhưng cuộc sống mưu sinh thiếu thốn về vật chất cùng với những thảm kịch gia đình liên tiếp xảy ra Trải qua những biến cố thăng trầm dữ dội của cuộc sống, ông uống rượu nhưng rượu không làm ông hết buồn và ông quyết định viết văn Viết để trút nỗi buồn vào trang giấy, viết như trút ra một gánh nặng, một kiếp người để rồi khi đọc lại những trang làm mình sảng khoái, niềm vui bừng dậy khiến ông quên hết mình đang phải trả nợ cuộc đời từng ngày Trong

vô số những nghề mà ông nếm trải, có lẽ nghề đào vàng là khốc liệt và ám ảnh ông nhất Ông may mắn được trở về nhưng biết bao bạn bè ông đã bỏ mạng nơi chốn rừng thiêng nước độc Nỗi đau đó đeo đẳng, thôi thúc ông cầm bút

Nguyễn Trí viết văn trước hết là để trả nợ với những người đã khuất, sau nữa là để trả món nợ của chính cuộc đời ông Nguyễn Trí kể về lần đầu cầm bút của mình: “Hồi con gái tôi qua đời, tôi buồn nhiều và cầm bút viết

Cô phóng viên Vũ Mai khuyến khích tôi viết những dòng tâm sự sau khi xin giảm án cho kẻ giết con mình, bài viết đăng trên báo VnExpress và được nhiều người chia sẻ Tôi bắt đầu viết để trải lòng mình”

Trong một lần trả lời phỏng vấn, Nguyễn Trí chia sẻ mộc mạc: “Cám

ơn đời đã cho tôi cái nghèo, cái khổ… Nhờ cái khổ, cái nghèo mà tôi biết yêu thương, biết tha thứ, chia sẻ với số phận bất hạnh” Đam mê văn chương từ nhỏ nhưng không thực hiện được Rốt cuộc nghề văn chọn Nguyễn Trí, đó cũng là duyên nợ với cuộc đời

Hành trình kiếm sống phải lăn lóc bôn ba, nhiều lúc Nguyễn Trí rơi vào tuyệt vọng Nhưng trong hành trình từ thợ đào vàng, một đồ tể thành một nhà

Trang 36

văn bước lên bục vinh quang năm 2013, Nguyễn Trí không còn đơn độc Nhờ

sự giúp đỡ nhiệt tình của nhà văn - người thầy đầu tiên là Hồ Anh Thái và sau này là các nhà văn khác như Nguyễn Thái Hải, Nguyễn Đức Tiến…, cái tên Nguyễn Trí đã trở nên quen thuộc với độc giả Các tập truyện của ông được in những năm gần đây và được đón nhận nhiệt liệt từ những người yêu văn học trong cả nước

1.3.2 Nét lạ trong cách tiếp cận con người và hiện thực đời sống trong truyện Nguyễn Trí

Trong số những nhà văn Việt Nam đương đại có lẽ không có nhà văn nào có tiểu sử, cuộc đời sửng sốt như Nguyễn Trí Ông đến với văn chương xuất phát từ nỗi đau cuộc đời và niềm đam mê Văn chương khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Nguyễn Trí viết văn như một sự trải nghiệm của những năm tháng lăn lóc với đời, viết văn để bù đắp trả nợ với quá khứ và những người đã khuất Mặt khác thôi thúc ông cầm bút không chỉ là đam mê mà viết văn là cách “để phụ thêm cùng vợ… để cùng nuôi hai cháu nội”

Xuất hiện khá muộn mằn trong đời sống văn học, tuổi lại cao, Nguyễn Trí hiện diện cùng một thế hệ nhà văn khác hẳn về thể chất về tâm tính, sự trải nghiệm và những suy tư về văn học Nguyễn Trí đã làm nên một “hiện tượng lạ” trong đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI

Văn học sau năm 1975 đặc biệt là văn xuôi Việt Nam từ năm 2000 đến nay không hoàn toàn cắt đứt với những kinh nghiệm nghệ thuật của văn học giai đoạn trước đó nhưng đã có sự đổi mới đáng kể về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Hiện thực đời sống con người đã có nhiều thay đổi, nhu cầu thẩm

mĩ cách tiếp cận con người của các nhà văn cũng khác Văn học từ năm 2000 đến nay đã có những bước chuyển mình rõ rệt Những khía cạnh đời tư, đời thường những số phận cá nhân phức tạp được các nhà văn thẳng thắn vạch

Trang 37

trần những thành phần cặn bã, biến chất, thoái hóa trong đời sống xã hội đã khiến cho những tác phẩm trở nên hấp dẫn và thu hút hơn

Tư duy và quan niệm về con người thay đổi tất yếu đòi hỏi cách viết, hình thức nghệ thuật cũng phải thay đổi Đó là sự đa dạng trong tình huống, cốt truyện trong văn học đương đại không còn được quá đề cao như trong truyền thống mà có xu hướng nới lỏng cốt truyện Kết cấu chính là một phương tiện quan trọng góp phần vào việc tạo nên diện mạo mới của văn học thời kỳ này kiểu kết cấu này nhiều khi nhà văn chỉ đưa ra vấn đề mà không có kết luận khiến người đọc có cảm giác câu chuyện còn tiếp diễn và kéo dài nữa, độc giả có thể tham gia sáng tạo, dự đoán, đánh giá, phán xét theo mọi cách hiểu Điều này đáp ứng xu hướng dân chủ trong văn học

Đọc truyện Nguyễn Trí ta cảm nhận ông vẫn cho mình đến với văn chương như một cái duyên “Nghề văn chọn tôi” Quan điểm như vậy nhưng Nguyễn Trí luôn ý thức viết văn là quá trình lao động nghiêm túc Nguyễn Trí không quá đặt nặng mục tiêu khi nào sáng tác Ông quan tâm đến cái sống cụ thể trong cuộc đời hơn Ông viết về tất cả những gì mình biết, mình quan tâm từ cuộc sống xung quanh, đặc biệt ông viết từ những trải nghiệm của mình Ông tâm sự “tất cả mọi thứ mà tôi trải qua đã có sẵn trong đầu, nên cứ thế mà viết”

1.3.3 Sự chung thủy của Nguyễn Trí đối với loại hình nhân vật dưới đáy

Trong thời buổi kinh tế thị trường như hiện nay người người làm thơ, người viết truyện chạy theo thị hiếu chung của xã hội với những đề tài khá sốc và giật gân thì nhà văn Nguyễn Trí xuất hiện và được vinh danh trên bảng vàng quả là một bất ngờ

Năm 2013 Hội Nhà văn Việt Nam đã chọn ra bốn tác phẩm trong số

190 tác phẩm để vinh danh Bên cạnh hai gương mặt lão làng của Văn học

Trang 38

Việt Nam là nhà văn Ma Văn Kháng và nhà thơ Mã Giang Lân, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013 đã vinh danh một cây bút hoàn toàn mới

Đó là Nguyễn Trí, một “Nông dân mới cầm bút viết văn Nguyễn Trí cho biết

tập truyện Bãi vàng, đá quý, trầm hương được viết bằng sự trải nghiệm của

ông” Trước khi cho ra đời tác phẩm này, ông đã từng gắn bó với nghề tìm trầm và đào vàng hơn chục năm Từ những điều cuộc đời mình đã trải qua, Nguyễn Trí cho ra đời các truyện ngắn và được sự ủng hộ của nhà văn Hồ Anh Thái, gửi đăng trên các báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ và Đại biểu nhân dân

Nhà văn Nguyễn Trí từng là “người dưới đáy” Ông hiểu hơn ai hết cuộc sống của những con người dưới đáy Ông viết về họ chính là ông viết về cuộc đời mình, chân thực, sống động

Ngay sau Bãi vàng đá quý, trầm hương Nguyễn Trí xuất bản tập truyện ngắn Đồ tể, Thiên đường ảo vọng, Ngoi lên từ đáy, Ảo và sợ… hầu hết trong

các tác phẩm của ông đều có bóng dáng của con người ông, cuộc đời ông, cuộc đời của một kẻ dưới đáy cùng xã hội

Đọc truyện Nguyễn Trí ta nhận thấy đây chủ yếu hướng và những nhân vật dưới đáy cùng xã hội như thợ đào vàng, lâm tặc, ma cô, đĩ điếm, chủ chứa, dân nghèo thành thị… Đó là thế giới của những con người bần cùng, thế giới của những con người dưới đáy

Nhìn chung các tác phẩm của Nguyễn Trí chạm đến một đề tài không

phải mới vì trước Nguyễn Trí viết về những con người dưới đáy đã có Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, Làm đĩ, Cơm thầy cơm cô của Vũ Trọng Phụng… Nguyễn

Trí từng chia sẻ: “Tôi đã nghèo và nay vẫn nghèo, tôi sinh sống, viết lách giữa những người lao động, tôi yêu mến họ như họ yêu mến tôi Nên đó cũng là niềm tự hào với bản thân tôi.Nếu cất tiếng nói của những người lao động cùng khổ nhất mà đánh động được lương tri của người khác tôi cũng vui và

có thêm động lực

Trang 39

Nguyễn Trí từng là thợ đào vàng, ông từng là người dưới đáy nên ông hiểu hơn ai hết cuộc sống của những con người dưới đáy… Ông viết về họ chính là ông viết về cuộc đời mình chân thực, sống động Cùng với cách viết phóng khoáng giọng điệu lạ, những nhân vật hoang dã bụi bặm trong cuộc sống xô bồ khuất lấp đã được Nguyễn Trí mô tả rất sinh động đã mang lại cho tác phẩm của ông sức lôi cuốn nét riêng độc đáo làm nên tên tuổi một nhà văn

- nhà văn Nguyễn Trí

Với ngôn ngữ giản dị, trực diện, đôi khi pha chút suồng sã, câu chuyện của một người từng trải qua nhiều nghề kiếm sống Nguyễn Trí đã kể lại những câu chuyện của mình hoặc những câu chuyện mà ông chứng kiến một cách tự nhiên nhất

Như vậy Văn học Việt Nam từ năm 2000 đến nay xuất hiện rất nhiều nhà vản, mỗi tác giả đều có những hướng đi, có những cách khẳng định bản thân riêng của mình Nguyễn Trí xuất hiện trên văn đàn và trở thành một hiện tượng lạ, tác giả ăn khách của một số tờ báo lớn Nhờ những năm tháng bươn chải mưu sinh, Nguyễn Trí có được vốn sống phong phú và điều đó tạo nên

sự thành công cho ông, nhà văn của những “con người dưới đáy”

Trang 40

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI DƯỚI ĐẤY

TRONG TRUYỆN NGUYỄN TRÍ

2.1 Con người bị hất ra ngoài lề xã hội

2.1.1 Nguyên cớ khiến con người bị bỏ rơi

Khi Bãi vàng, đá quý, trầm hương được đạo diễn Việt Đỗ Khoa mua bản quyền chuyển thể điện ảnh thì Thiên đường ảo vọng của nhà văn Nguyễn

Trí cũng được mua ý tưởng làm phim Liên tục viết truyện ngắn, truyện nhiều

kì gửi các báo và đầu tư sáng tác tiểu thuyết, có lẽ với Nguyễn Trí thời điểm này là ông viết sung sức nhất, viết như một sự bù đắp suốt những năm tháng lăn lóc với đời, như một cuộc trả nợ với quá khứ và những người đã khuất

Là gương mặt mới, xuất hiện trên văn đàn vài ba năm trở lại đây nhưng nhà văn Nguyễn Trí được “đóng dấu” như nhà văn của những phận nghèo

“nhà văn của những mảnh đời đau khổ”

Cuộc đời ông luôn phảng phất trên những trang viết, nhưng càng nói chuyện với Nguyễn Trí, càng thấy đằng sau khuôn mặt hằn đầy dấu tích của u uẩn, khắc khổ đau đớn cùng tận ấy là những câu chuyện chưa bao giờ được

kể Ông cứ như người đi gom bão, nhặt hết bi ai của một thân phận khốn cùng

để rồi mọi giá trị tìm thấy trong cuộc đời cuối cùng chỉ có thể nén lại trong một câu nói: “Phải đi hết những đau thương của cuộc sống mới hiểu được tình người là thứ quý giá nhất trên đời”

Nguyễn Trí nói: “Tôi đi qua nhiều tang thương của đời sống Những kẻ tôi quen biết tuy dưới đáy xã hội nhưng bao giờ tình thương trong họ cũng vun đầy Tôi yêu họ nên khi họ vào trong truyện của mình, tôi luôn giữ với lòng trân trọng Về sau tôi ngụ cư Sài Gòn hành nghề honda ôm Tôi vốn cùng khổ nên cảm nhận được niềm đau của những kẻ khốn cùng Họ cùng

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Thị Lan Anh (2013), Đóng góp nghệ thuật của truyện ngắn Ngô Phan Lưu, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đóng góp nghệ thuật của truyện ngắn Ngô Phan Lưu
Tác giả: Hồ Thị Lan Anh
Năm: 2013
2. Quỳnh Anh (2015), “Thiên đường ảo vọng - giấc mơ đổi đời của phu đào vàng”, http://giaitri.vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên đường ảo vọng - giấc mơ đổi đời của phu đào vàng”
Tác giả: Quỳnh Anh
Năm: 2015
3. Thái Phan Vàng Anh (2011), “Trần thuật từ điểm nhìn bên trong ở tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Tạp chí Non nước, (158) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần thuật từ điểm nhìn bên trong ở tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, "Tạp chí Non nước
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2011
4. Vũ Tuấn Anh (1996), “Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại”, Tạp chí Văn học (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại”," Tạp chí Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
5. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
6. Bakhtin.M (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin.M
Năm: 1992
7. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn học hiện đại”, Tạp chí Văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn học hiện đại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
8. Ngọc Bi, Thiên Hương (2014), “Nhà văn Nguyễn Trí - Không viết được gì sau khi đoạt giải vì quá sướng”, http://thanhnien.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Trí - Không viết được gì sau khi đoạt giải vì quá sướng”
Tác giả: Ngọc Bi, Thiên Hương
Năm: 2014
10. Anh Chi (2016), Nguyễn Trí “Tuổi thơ không có cánh diều”, http://vanhoa.nhandan.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuổi thơ không có cánh diều”
Tác giả: Anh Chi
Năm: 2016
11. Nông Hồng Diệu (2014), “Tiểu sử gây sửng sốt”, http://tienphong.vn 12. Cát Đằng (2015), “Máu và nước mắt từ Bãi vàng, đá quý, trầm hương”,http://wwwbaocantho.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu sử gây sửng sốt”, "http://tienphong.vn "12. Cát Đằng (2015), “Máu và nước mắt từ "Bãi vàng, đá quý, trầm hương"”
Tác giả: Nông Hồng Diệu (2014), “Tiểu sử gây sửng sốt”, http://tienphong.vn 12. Cát Đằng
Năm: 2015
13. Cát Đằng (2015), “Thiên đường ảo vọng - thăng trầm phận phu đào vàng”, http://wwwbaocantho.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên đường ảo vọng - thăng trầm phận phu đào vàng”
Tác giả: Cát Đằng
Năm: 2015
14. Hoàng Ngọc Điệp (2016), “Nguyễn Trí - nhà văn của những phận nghèo”, http://baodongnaidientu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trí - nhà văn của những phận nghèo”
Tác giả: Hoàng Ngọc Điệp
Năm: 2016
15. Hiền Đỗ (2013), “Người cha xin giảm án cho kẻ giết con đoạt giải Hội Nhà văn”, http://giaitri.vnexprss.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cha xin giảm án cho kẻ giết con đoạt giải Hội Nhà văn”
Tác giả: Hiền Đỗ
Năm: 2013
16. Hiền Đỗ (2014), “Tác giả đoạt giải Hội Nhà văn cầm bút từ nỗi đau mất con”, http://giaitri.vneprss.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả đoạt giải Hội Nhà văn cầm bút từ nỗi đau mất con”
Tác giả: Hiền Đỗ
Năm: 2014
17. Hồ Hương Giang (2014), “Nhà văn của bãi vàng, nhà văn của đời đau khổ”, http://Vietnam.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn của bãi vàng, nhà văn của đời đau khổ”
Tác giả: Hồ Hương Giang
Năm: 2014
18. Hồ Hương Giang (2014), “Tập truyện Bãi vàng, đá quý, trầm hương - nhà văn Nguyễn Trí”, http://viettramhuong.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập truyện Bãi vàng, đá quý, trầm hương - nhà văn Nguyễn Trí”
Tác giả: Hồ Hương Giang
Năm: 2014
19. Văn Giá (2014), Giáo trình sáng tác truyện ngắn, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sáng tác truyện ngắn
Tác giả: Văn Giá
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2014
20. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
21. Tiêu Viết Hải (2015), “Con người trong truyện ngắn Nguyễn Trí”, http://phebinhvanhoc.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người trong truyện ngắn Nguyễn Trí”
Tác giả: Tiêu Viết Hải
Năm: 2015
22. Tiêu Viết Hải (2016), “Nhân vật giang hồ trong truyện Nguyễn Trí”, http://www.vanhaiphong.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật giang hồ trong truyện Nguyễn Trí”
Tác giả: Tiêu Viết Hải
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w