1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp xác suất

122 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Một Số Bộ Công Cụ Đánh Giá Kết Quả Học Tập Môn Toán Của Học Sinh Trung Học Phổ Thông Trong Dạy Học Chương Tổ Hợp - Xác Suất
Tác giả Lại Thị Điệp
Người hướng dẫn TS. Phạm Xuân Chung
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề tài, bài báo về đánh giá kết quả học tập của học sinh như đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra, đánh giá kết quả

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LẠI THỊ ĐIỆP

XÂY DỰNG MỘT SỐ BỘ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

MÔN TOÁN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG TỔ HỢP- XÁC SUẤT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LẠI THỊ ĐIỆP

XÂY DỰNG MỘT SỐ BỘ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

MÔN TOÁN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG TỔ HỢP- XÁC SUẤT

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán

Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM XUÂN CHUNG

NGHỆ AN – 2017

Trang 3

và giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện Luận văn

Trong quá trình làm luận văn tác giả còn được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trường THPT Bình Chánh – t.p Hồ Chí Minh Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn

Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn là nguồn động viên giúp đỡ tác giả có thêm nghị lực, tinh thần để hoàn thành luận văn này

Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được và biết ơn các ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn

Cuối cùng, xin được cảm ơn mọi tấm lòng ưu ái đã dành cho tác giả

Nghệ An, tháng 8 năm 2017

Tác giả

Lại Thị Điệp

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu Error! Bookmark not defined. 3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Giả thuyết khoa học Error! Bookmark not defined. Chương 1 8

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8

1.1 Một số khái niệm cơ bản 8

1.1.1 Định nghĩa về đánh giá 8

1.1.2 Mục đích của đánh giá 9

1.1.3 Khái niệm kiểm tra 10

1.1.4 Chức năng của kiểm tra - đánh giá 11

1.1.5 Những yêu cầu sư phạm trong việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh 12 1.1.6 Một số khái niệm cơ bản trong đánh giá 12

1.1.7 Lĩnh vực của đánh giá 13

1.1.8 Tiêu chí của đánh giá 15

1.1.9 Chuẩn đánh giá 16

1.1.10 Công cụ đánh giá 17

1.2 Các phương pháp KT-ĐG kết quả học tập của học sinh 18

1.2.1 Tự luận 18

1.2.2 Trắc nghiệm khách quan 18

1.2.3 Đặc điểm chung của trắc nghiệm khách quan và tự luận 19

1.2.4 Những ưu, nhược điểm của 2 loại trắc nghiệm 19

1.3 Vai trò, chức năng của đánh giá kết quả học tập của học sinh 21

1.3.1.Vai trò 21

1.3.2 Chức năng 24

Trang 5

1.4 Một số định hướng đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh 27

1.4.1 Đổi mới mục đích đánh giá 28

1.4.2 Đổi mới nội dung đánh giá 28

1.4.3 Đổi mới hình thức đánh giá 29

1.4.4 Đổi mới công cụ đánh giá 30

1.5 Các nguyên tắc xây dựng công cụ đánh giá kết quả học tập của học sinh 30

1.6 Lập kế hoạch cho một bài Trắc nghiệm 32

1.6.1 Xác định mục tiêu cần kiểm tra - đánh giá 33

1.6.2 Lập ma trận hai chiều 33

1.6.3 Soạn thảo câu hỏi 34

1.6.4 Rà soát lại câu hỏi 35

1.7 Khả năng áp dụng TNKQ vào KT-ĐG kết quả học tập ở trường phổ thông 36

1.7.1 Thực trạng việc KT-ĐG kết quả học tập của học sinh THPT 36

1.7.2 Xu thế đổi mới phương pháp KT-ĐG ở trường THPT 37

1.7.3 Tính khả thi của việc áp dụng TNKQ vào KT-ĐG ở trường THPT 38

Kết luận chương 1 39

Chương 2 40

2.1 Mục đích, yêu cầu của chương:tổ hợp – xác suất 40

2.1.1 Vị trí, vai trò, mục đích của chương 40

2.1.2 Nội dung 40

2.1.2.1 Hai quy tắc đếm cơ bản 41

2.1.2.2 Hoán vị, chỉnh hợp và tổ hợp Hoán vị: 41

2.1.2.3 Nhị thức Newton 43

2.1.2.4 Biến cố và xác suất của biến cố 43

2.2 Xây dựng các bài kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 44

2.2.1 Các hình thức câu hỏi trong các bài kiểm tra 44

2.2.1.1 Bài kiểm tra tự luận 44

2.2.1.2 Bài kiểm tra trắc nghiệm 45

2.2.2 Qui trình xây dựng các bài kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 57

2.2.3 Các hình thức cho điểm bài kiểm tra đánh giá 69

2.2.4 Một số chú ý khi xây dựng các bài kiểm tra môn Toán 71

2.2.5 Ví dụ về xây dựng các bài kiểm tra đánh giá kết quả học tập 72

2.3 Xây dựng phiếu quan sát và phiếu hỏi 80

Trang 6

2.3.1 Phiếu quan sát 80

2.3.2 Phiếu hỏi 87

2.4 Xây dựng hồ sơ học tập 90

2.5 Xây dựng phiếu tự đánh giá kết quả học tập cho học sinh 95

Kết luận chương 2 99

Chương 3 99

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 100

3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 100

3.3 Tổ chức thực nghiệm 100

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 100

3.3.2 Chuẩn bị tài liệu thực nghiệm 100

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 101

3.4.1 Phân tích định tính 101

3.4.2 Phân tích định lượng 103

Kết luận chương 3 105

KẾT LUẬN 106

Trang 8

KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT

(Quy ước về các chữ viết tắt sử dụng trong luận văn)

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Đánh giá kết quả giáo dục là một phần không thể thiếu trong quá trình giáo

dục Mặc dù là bước cuối cùng trong quá trình giáo dục, nhưng đánh giá giáo dục lại có vai trò tác động tới toàn bộ quá trình giáo dục Ở nước ta trước đây, đánh giá giáo dục thường được xem xét dựa trên kết quả học tập và chủ yếu thông qua kiểm tra, thi ở các cấp độ khác nhau Hiện nay đã từng bước phát triển theo hướng hội nhập quốc tế - đánh giá kết quả giáo dục được xem xét trong tổng thể các thành tố của quá trình giáo dục, chương trình giáo dục, thực hiện các hoạt động giáo dục,…và các điều kiện thực hiện giáo dục

Trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, muốn biết được hiệu quả thực hiện một công việc có đạt được mục đích đề ra hay không, thì nhất thiết phải có sự kiểm tra - đánh giá kết quả của công việc đó Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, những phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra Đánh giá được xem là một khâu quan trọng, đan xen với các khâu lập kế hoạch và triển khai công việc tiếp theo Bên cạnh việc giúp học sinh cải thiện kết quả giáo dục,đánh giá giáo dục còn cung cấp các thông tin cần thiết giúp cho các cấp quản lý, các nhà làm chính sách, nhà trường, giáo viên, phụ huynh và cộng đồng cải thiện môi trường giáo dục Trong quá trình dạy học, việc kiểm tra - đánh giá có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình dạy học, có ảnh hưởng trực tiếp tới cách dạy, cách học Qua kiểm tra - đánh giá, giáo viên biết được khả năng tiếp thu và vận dụng kiến thức của học sinh, từ đó có định hướng điều chỉnh hoạt động dạy của bản thân, đồng thời điều khiển hoạt động học của học sinh một cách phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng dạy học Hơn nữa, xu hướng phát triển kinh tế xã hội hiện nay đòi hỏi một nền giáo dục có chất lượng cao và chất lượng ấy phải được đánh giá theo quan điểm

và cách làm phù hợp Trong những năm gần đây, việc đổi mới đánh giá giáo dục được xã hội và ngành giáo dục rất quan tâm Một trong những người đặt ra nền

Trang 10

móng cho đánh giá giáo dục hiện đại Nhà giáo dục Ralph Tyler(1950) còn cho rằng:

“Đánh giá là trung tâm của quá trình giáo dục chứ không phải là một bộ phận phụ thuộc của quá trình này”

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định: “Từ năm học 2009 – 2010, tập trung chỉ đạo đổi mới kiểm tra đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các môn học

và hoạt động giáo dục” Như vậy đổi mới giáo dục đòi hỏi phải có sự đổi mới đồng

bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, đánh giá…Trong đó, đổi mới đánh giá phải tiến hành một cách khoa học mới phát huy được tác dụng của nó Điều 29, Luật giáo dục quy định: “Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; qui định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục, ” Trong đó, đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh góp phần quan trọng vào đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

Tuy nhiên, thực tế việc đánh giá hiện nay thực sự chưa được coi trọng đúng mức, còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém và lạc hậu, còn thiên về kinh nghiệm và thói quen, cần quan tâm hơn tới việc xây dựng cơ sở lí luận về đánh giá, thiết kế bộ công

cụ đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đổi mới

1.2 Trong thời gian qua, hệ thống kiểm tra đánh giá ở nhà trường phổ thông

đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển giáo dục Theo nhận định của nhiều nhà khoa học và nhà giáo, việc kiểm tra đánh giá hiện tại còn nhiều nhược điểm như:

Việc kiểm tra đánh giá chưa thực sự khách quan và khoa học, độ tin cậy chưa cao, đôi khi còn bị chi phối của bệnh thành tích và các biểu hiện tiêu cực trong giáo dục Các đề kiểm tra và đề thi chủ yếu là những bài kiểm tra viết thường gồm một

số câu hỏi tự luận nên chưa bao quát đủ kiến thức, kĩ năng cơ bản của từng giai đoạn học tập, chưa góp phần phân loại đối tượng học sinh Phương thức đánh giá còn lạc hậu, chưa phù hợp với mục đích đào tạo con người lao động mới năng động, sáng tạo, chỉ chú trọng đánh giá bằng điểm số mà thiếu nhận xét cụ thể, ít đánh giá

Trang 11

từng cá thể học sinh, đối tượng học sinh khá giỏi ít có cơ hội thể hiện khả năng của mình

Nội dung đánh giá nhiều khi không phù hợp với mục tiêu và nội dung đào tạo, đề bài kiểm tra, đề thi thường chú trọng nhiều đến lí thuyết, ít đòi hỏi sự sáng tạo, thiên về đánh giá khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức, chưa thực sự quan tâm đúng mức đến việc đánh giá sự thông hiểu và vận dụng kiến thức của học sinh

Hình thức kiểm tra, đánh giá còn nghèo nàn, đơn điệu Đánh giá kết quả chủ yếu dựa vào điểm số, ít chú ý đến các hình thức khác như quan sát, theo dõi… Còn

ít các phương tiện hiện đại về đánh giá kết quả học tập của học sinh, giáo viên trung học phổ thông tuy được tập huấn về đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá nhưng hiệu quả chưa cao, đa số giáo viên chưa có nhận thức đúng đắn về công tác đánh giá, phần lớn còn quan niệm rằng kiểm tra chỉ để cho điểm và xếp hạng học sinh, đôi khi giáo viên giữ độc quyền về đánh giá Do đó ít chú ý đến việc xây dựng công

cụ đánh giá chất lượng giáo dục theo hướng đổi mới, chủ yếu sử dụng phương pháp kiểm tra viết tự luận, ít quan tâm đến hình thức câu hỏi trắc nghiệm, phiếu quan sát, phiếu tự đánh giá…

Những hạn chế đó đã cản trở rất lớn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Do đó việc cải tiến công tác kiểm tra đánh giá nói chung và phương pháp, phương tiện, kĩ thuật đánh giá nói riêng đang là một đòi hỏi cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng dạy học nói chung và dạy học môn Toán nói riêng

1.3 Trong thực tế 9 năm giảng dạy môn toán ở trường THPT Bình Chánh –

t.p Hồ Chí Minh (8 năm tôi có tham gia giảng dạy lớp 11) tôi thấy rằng đối với đa

số học sinh khi học phần kiến thức chương tổ hợp xác suất là khó khăn Đây là phần kiến thức khá phức tạp và trong quá trình học và làm bài tập học sinh vướng phải nhiều vướng mắc đăc biệt là trong quá trình làm bài kiểm tra đánh giá Hiện nay Bộ giáo dục đã đổi mới cách thức làm bài thi THPT quốc gia bước đầu tiếp cận với cách học mới và phương thức đánh giá mới, thông thường nhiều học sinh không

Trang 12

thích nghi được dẫn đến kết quả học tập thấp Và trong quá trình giảng dạy, bản thân chúng tôi nhận thấy chương trình môn Toán lớp 11 đặc biệt là chương xác suất thống kê có nhiều lợi thế trong việc đổi mới đánh giá kết quả học tập cũng như xây dựng bộ công cụ đánh giá kết quả học tập của học sinh

1.4 Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề tài, bài báo về

đánh giá kết quả học tập của học sinh như đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn giáo dục công dân ở Trung học phổ thông”; “Nghiên cứu, xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 12”…Tuy nhiên, vấn đề đổi mới công tác đánh giá là vấn đề lớn, có ảnh hưởng sâu, rộng, lâu dài và toàn diện đến quá trình dạy học và giáo dục học sinh nên cần được tiếp tục nghiên cứu Ngoài ra chưa có một công trình nào nghiên cứu việc xây dựng các bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương Tổ hợp - Xác suất

Từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu luận văn là: “Xây dựng một

số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trung học phổ

thông trong dạy học chương Tổ hợp – Xác suất”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá kết quả học tập của học sinh, trên cơ sở đó, tiến hành xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp – xác suất nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học toán ở trường phổ thông

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Tìm hiểu, nghiên cứu, hệ thống hoá tài liệu về đánh giá kết quả học tập

của học sinh, về công cụ đánh giá kết quả học tập của học sinh

3.2 Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng xây dựng công cụ đánh giá kết

quả học tập của học sinh Trung học phổ thông

Trang 13

3.3 Đề xuất một số định hướng đổi mới đánh giá kết quả học tập của học

sinh; xây dựng các bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương Tổ hợp - Xác suất

3.4 Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm định giả thuyết khoa học và đánh

giá tính cần thiết, khả thi của việc xây dựng các bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương Tổ hợp - Xác suất

4 Giả thuyết khoa học

Trong quá trình dạy học nội dung chương Tổ hợp – Xác suất ở trường Trung học phổ thông, nếu quan tâm và xây dựng được một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập của học sinh dựa trên các nguyên tắc thiết kế và những luận cứ khoa học về đánh giá thì sẽ góp phần nâng cao tính khách quan, độ tin cậy của các kết luận từ hoạt động đánh giá, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy và học chương Tổ hợp – Xác suất

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Một số khái niệm và định nghĩa liên quan đến kiểm tra, đánh giá, công cụ đánh giá kết quả học tập của học sinh; Vai trò, chức năng và qui trình đánh giá kết quả học tập của học sinh; Thực trạng đánh giá kết quả học tập của học sinh ở Trường trung học phổ thông; Một số định hướng đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh; Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập của học sinh

Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực tế ở một vài trường trung học phổ thông trên địa bàn cụm 4 thành phố Hồ Chí Minh

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu, bài báo, giáo trình

về các vấn đề liên quan đến đề tài của luận văn

6.2 Nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, thăm dò, phát phiếu điều tra để khảo sát

thực trạng về vấn đề xây dựng các bộ công cụ đánh giá kết quả học tập của học sinh

Trang 14

ở Trường Trung học phổ thông bằng cách tiến hành: dạy và thử nghiệm các công cụ

đã xây dựng ở một số giáo viên khác nhau, sử dụng phiếu điều tra, quan sát, phỏng vấn trực tiếp

6.3 Tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm của đồng nghiệp, của bản

thân trong quá trình dạy học Toán, đặc biệt là của các chuyên gia và những giáo viên có kinh nghiệm về đánh giá kết quả học tập của học sinh

6.4 Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm tại các Trường Trung học

phổ thông ở trên địa bàn cụm 4 thành phố Hồ Chí Minh Phân tích kết quả thực

nghiệm bằng định tính và định lượng

7 Đóng góp của luận văn

- Luận văn nêu lên được một số định hướng đổi mới về kiểm tra đánh giá và trình bày được các nguyên tắc xây dựng công cụ đánh giá kết quả học tâp của học sinh

- Luận văn xây dựng được các bộ công cụ về đánh giá kết quả học tập của học sinh và các ví dụ mẫu

- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên Toán nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn toán ở trường THPT

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương Tổ hợp – Xác suất

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

Định nghĩa tổng quát đó có thể áp dụng vào giáo dục với nhiều cấp độ khác nhau Đánh giá hệ thống giáo dục của một Quốc gia, đánh giá một đơn vị giáo dục, đánh giá giáo viên và đánh giá học sinh

Việc đánh giá tri thức học sinh có thể mang tính chủ quan của người đánh giá thể hiện ở thái độ đánh giá của họ Điều quan trọng là phải loại bỏ dần yếu tố chủ quan đó để việc đánh giá được thể hiện một cách khách quan, chân thực đối với sự vật, hiện tượng được đánh giá như nó vốn có

Theo quan điểm hiện nay: “Đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức người học, điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục Đánh giá là một quá trình, theo một quá trình, đánh giá từng nội dung, từng bài học, từng hoạt động giáo dục, từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu giáo dục”

“Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập, lý giải và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những

Trang 16

chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo nhằm phát huy kết quả, sửa chữa thiếu sót” (dẫn theo [5])

Từ các định nghĩa khác nhau nói trên, chúng ta có thể xem xét đánh giá trong giáo dục trên những đặc điểm chủ yếu sau:

+) Là một quá trình thu thập và xử lý thông tin về hiện trạng chất lượng, hiệu quả, nguyên nhân và khả năng của học sinh;

+) Gắn bó chặt chẽ với các mục tiêu, chuẩn giáo dục;

+) Tạo cơ sở đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học và giáo dục;

+) Đánh giá là một quá trình quan trọng không thể thiếu được của quá trình giáo dục

Những đặc điểm trên cho thấy đánh giá khác với phán xét hoặc nhận xét, theo Xavier Roegiers, việc phán xét, nhận xét một con người, hoặc một hành động thường dựa trên một quá trình tự phát (có khi bản năng) và dựa trên những cảm tưởng hoặc những tiêu chí không tường minh Cũng theo tác giả, ngược với sự phán xét, đánh giá là một quá trình có chủ đích, có hệ thống, dựa trên những tiêu chí tường minh và hướng về việc ra quyết định

1.1.2 Mục đích của đánh giá

Việc đánh giá kết quả học tập của HS nhằm các mục đích sau:

- Đối với học sinh: Về mặt tri thức và kỹ năng, việc đánh giá kết quả học tập cho họ những thông tin phản hồi về quá trình học tập của bản thân, để họ điều chỉnh quá trình học tập Nếu việc đánh giá được tổ chức nghiêm túc sẽ giúp HS nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, có ý chí vươn lên đạt những kết quả học tập cao hơn, củng cố lòng tin vào khả năng của bản thân, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan, tự mãn và đặc biệt là phát triển năng lực tự đánh giá, một năng lực cần thiết đối với quá trình học tập của học sinh không chỉ là khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn cần thiết cho việc học tập suốt đời của một con người

Trang 17

- Đối với giáo viên: Việc đánh giá học sinh sẽ cung cấp cho giáo viên những thông tin cần thiết về:

1) Trình độ và kết quả học tập của lớp cũng như của từng học sinh đối với những mục đích học tập về các phương diện: nhận thức, kỹ năng và thái độ

2) Phát hiện kịp thời những sai lầm điển hình của học sinh và nguyên nhân của những sai lầm, để từ đó kịp thời điều chỉnh hoạt động học của học sinh

3) Giúp cho GV có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học

- Đối với cán bộ quản lý: Việc đánh giá HS sẽ cung cấp những thông tin

cơ bản về thực trạng dạy - học trong cơ sở đào tạo, trường học giúp các nhà quản lưý nắm bắt được những sai lệch, để từ đó kịp thời có những điều chỉnh phù hợp nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đã đề ra

1.1.3 Khái niệm kiểm tra

Theo tác giả Phạm Hữu Tòng: “Kiểm tra là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá”

Cũng nói về kiểm tra tác giả Nguyễn Bá Kim cho rằng:

“ Kiểm tra nhằm cung cấp cho thầy và trò những thông tin về kết quả dạy học, trước hết là về tri thức và kỹ năng của từng học sinh nhưng cũng lưu ý cả về mặt năng lực, thái độ và phẩm chất của họ cùng với sự diễn biến của quá trình dạy học”(dẫn theo[14])

Việc KT luôn luôn có mục đích kép: mục đích đối với thầy và mục đích đối với trò, giúp thầy và trò điều chỉnh hoạt động dạy và học Kiểm tra với tư cách là phương tiện và hình thức của đánh giá

Trong dạy học có 3 loại kiểm tra: kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ và kiểm tra tổng kết

Việc kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá

Trang 18

Như vậy KT và ĐG là hai công việc có nội dung khác nhau nhưng có liên quan mật thiết với nhau nhằm miêu tả và tập hợp những bằng chứng về kết quả học tập của học sinh KT là phương tiện để ĐG, muốn ĐG thì phải tiến hành KT

Ta có thể thấy mối quan hệ giữa các khâu đó được thể hiện trong sơ đồ sau:

1.1.4 Chức năng của kiểm tra - đánh giá

Các nhà giáo dục như: J M Dekele, Phạm Hữu Tòng, Trần Bá Hoành, … đã nghiên cứu và đưa ra những chức năng của KT-ĐG, trong cách diễn đạt tuy có khác nhau nhưng các tác giả đều cho thấy KT-ĐG có 3 chức năng cơ bản sau đây:

- Chức năng sư phạm: KT-ĐG thể hiện ở tác dụng có ích cho bản thân học sinh được kiểm tra cũng như chất lượng dạy của giáo viên trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục Qua đó làm sáng tỏ thực trạng, định hướng và điều chỉnh hoạt động dạy - học

- Chức năng xã hội: Công khai hoá kết quả học tập của mỗi học sinh trong tập thể lớp, trường, thông báo kết quả học tập, giảng dạy trước phụ huynh học sinh, trước các cấp quản lý giáo dục

- Chức năng khoa học: Nhận định chính xác về một mặt nào đó trong thực trạng dạy - học, về tính hiệu quả của việc thực hiện một sáng kiến hay một cải tiến trong hoạt động dạy - học

Kế hoạch

Đánhgiá

Kiểm tra

Trang 19

Tuỳ theo mục đích đánh giá mà một hoặc vài chức năng nào đó sẽ được đưa lên hàng đầu

1.1.5 Những yêu cầu sư phạm trong việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh

Việc KT-ĐG kết quả học tập của học sinh phải chú ý tuân theo một số yêu cầu

cơ bản sau đây:

- Đảm bảo tính khách quan:

Phải đảm bảo sự vô tư của người KT-ĐG, tránh tình cảm cá nhân, thiên vị

Phải đảm bảo tính trung thực của người được KT-ĐG, chống quay cóp, gian lận trong khi được KT-ĐG

Việc KT-ĐG phải phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học, tránh những nhận định chủ quan, áp đặt thiếu căn cứ

- Kiểm tra - đánh giá phải toàn diện:

Theo quan điểm của GS Trần Bá Hoành thì: "Một bài kiểm tra, một đợt đánh giá có thể nhằm vào một mục đích trọng tâm nào đó nhưng toàn bộ hệ thống kiểm tra - đánh giá phải đạt yêu cầu đánh giá toàn diện, không chỉ về mặt số lượng mà quan trọng là mặt chất lượng, không chỉ về mặt kiến thức mà cả về kỹ năng, thái độ,

tư duy."(dẫn theo[10]).

- Kiểm tra - đánh giá phải đảm bảo tính hệ thống:

Việc ĐG phải được tiến hành theo kế hoạch, có hệ thống bao gồm:

ĐG thường xuyên, ĐG sau khi học xong từng nội dung, ĐG định kỳ,

KT-ĐG tổng kết cuối năm học, khoá học Số lần kiểm tra phải đủ để đảm bảo đánh giá chính xác

- Kiểm tra - đánh giá phải công khai:

Việc KT-ĐG phải được tiến hành công khai, kết quả phải được công bố kịp thời để mỗi học sinh có thể tự đánh giá, xếp hạng trong tập thể

1.1.6 Một số khái niệm cơ bản trong đánh giá

Quá trình ĐG bao gồm 4 khâu:

Trang 20

- Lượng hoá: trong cuốn sách “ Phương pháp dạy học Toán” TS Nguyễn Bá

Kim cho rằng: "Lượng hoá một đặc điểm chung của những đối tượng mà ta muốn

so sánh là biểu thị mức độ của đặc điểm này ở mỗi đối tượng đó"(dẫn theo[14]).

Trong dạy học, lượng hoá được thực hiện dưới những hình thức khác nhau như: xếp loại, sắp thứ tự hoặc cho điểm

- Lượng giá:"Lượng giá được hiểu là sự giải thích thông tin về trình độ kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ của học sinh" "(dẫn theo [14])

Tuỳ thuộc vào căn cứ dùng để giải thích, người ta phân biệt 2 cách lượng giá: Lượng giá theo tiêu chuẩn: Là sự giải thích về trình độ, kiển thức, kỹ năng hoặc thái độ của học sinh được so sánh tương đối trong một tập thể, một tập hợp nào đó

Lượng giá theo tiêu chí: Là sự giải thích thông tin về trình độ, kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ của học sinh đối chiếu với một tiêu chí nhất định nào đó

- Đánh giá: Là một mắt xích trọng yếu trong quá trình đánh giá Nó không dừng lại ở sự giải thích thông tin về trình độ, kiến thức, kỹ năng, thái độ của học

sinh mà còn gợi ra những hướng "bổ khuyết sai sót hoặc phát huy kết quả" Có hai

loại đánh giá: Đánh giá từng phần và đánh giá tổng kết

- Ra quyết định: Những thông tin thu thập từ việc đánh giá sẽ làm căn cứ cho việc ra quyết định, đó là mắt xích cuối cùng của quá trình ĐG: "Thông thường, những quyết định này cho ta biết thầy giáo định làm gì, quyết định đó là hệ quả của việc lượng hoá, lượng giá và đánh giá việc học tập của học sinh"

Trang 21

- Lĩnh vực về nhận thức: Thể hiện ở khả năng suy nghĩ, lập luận, bao gồm việc thu thập các sự kiện, giải thích lập luận theo kiểu diễn dịch, quy nạp và sự ĐG

có phê phán

- Lĩnh vực hành động: Liên quan đến những kỹ năng đòi hỏi sự khéo léo về chân tay, sự phối hợp các cơ bắp từ đơn giản đến phức tạp

- Lĩnh vực về cảm xúc: Liên quan đến những đáp ứng về mặt tình cảm,

bao hàm cả những mối quan hệ như yêu - ghét, thái độ nhiệt tình - thờ ơ, cũng như

sự cam kết với một nguyên tắc và sự tiếp thu các lý tưởng

Các lĩnh vực nói trên không hoàn toàn tách biệt hoặc loại trừ lẫn nhau.Phần lớn việc phát triển tâm lý (và cả tâm linh) đều bao hàm cả 3 lĩnh vực nói trên

Về lĩnh vực nhận thức, tại Hội nghị tâm lý học tổ chức năm 1948 ở Mỹ, B S Bloom cùng với những người cộng tác của ông đã phân chia thành các mức độ nhận thức từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất như sau:

- Nhận biết: (Knowledge)

Là sự nhớ lại các dữ kiện đã được học trước đây.Có nghĩa là một người có thể nhắc lại một loạt dữ kiện, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết.Đây là cấp độ thấp nhất của kết quả học tập trong lĩnh vực nhận thức

- Thông hiểu: (Comprehension)

Là khả năng nắm được ý nghĩa của tài liệu, giải thích được ý nghĩa của các định nghĩa, định lý, … minh họa định lý bằng các ví dụ cụ thể và áp dụng thành thạo định lý vào giải toán

- Vận dụng: (Applicasion)

Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh mới.Kết quả

học tập trong lĩnh vực này đòi hỏi cấp độ thấu hiểu cao hơn so với cấp độ thông hiểu ở trên

- Phân tích: (Analysis)

Trang 22

Là sự phân chia một vấn đề thành những thành tố, bộ phận, khả năng phân biệt các sự kiện từ các giả thiết, phát hiện, nhận biết, xem xét thông tin một cách chính xác.ở đây đòi hỏi một sự thấu hiểu cả nội dung và hình thức cấu trúc của tài liệu

- Tổng hợp: (Synthesis)

Là sự nhóm họp các thành tố hoặc bộ phận riêng biệt thành cái toàn thể

mà trước đó chưa hình thành rõ Đặc biệt nhấn mạnh các hành vi sáng tạo, tập trung chủ yếu vào việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới

- Đánh giá: (Evaluation)

Là khả năng xác định giá trị của tài liệu, khả năng xem xét đánh giá chất lượng một bài học, chấm điểm một bài viết, đánh giá tính cách ở một con người Các mức độ nêu trên là các thứ bậc mà học sinh cần đạt được theo mức độ nhận thức Bài KT-ĐG cần phải phụ thuộc vào mục tiêu giáo dục của từng cấp học, đặc điểm sinh lý và năng lực trí tuệ để phù hợp với việc ĐG phân loại từng mức độ, khả năng của từng đối tượng học sinh cụ thể

Việc ĐG thái độ học sinh (một trong các mục tiêu về tình cảm) là rất khó thực hiện, việc ĐG trong lĩnh vực này có thể dựa vào nhiều biện pháp khác nhau như: quan sát tự nhiên, phỏng vấn, các phiếu trắc nghiệm,…

1.1.8 Tiêu chí của đánh giá

KT-ĐG kết quả học tập sẽ có tác dụng tích cực nếu xác định được các tiêu chí

ĐG cần thiết Các tiêu chí chủ yếu của ĐG kết quả học tập là:

1) Độ tin cậy: một bài kiểm tra được coi là có độ tin cậy nếu:

Trong hai lần kiểm tra khác nhau, cùng một học sinh phải đạt được số điểm xấp xỉ hoặc trùng nhau nếu cùng làm bài KT có nội dung tương đương

Hai giáo viên chấm cùng một bài KT đều có điểm như nhau hoặc gần như nhau

Trang 23

2) Tính khả thi: nội dung và mức độ nội dung bài kiểm tra, thi, hình thức và

phương tiện tổ chức kiểm tra, thi … phải phù hợp với điều kiện cụ thể của học sinh

ở địa phương và phù hợp với trình độ chuẩn tối thiểu của chương trình

3) Khả năng phân loại tích cực: do có sự phát triển khác nhau giữa các

cá nhân nên cần có những bài kiểm tra, thi sao cho học sinh có khả năng cao hơn thì đạt kết quả cao hơn một cách rõ nét Tránh tình trạng bài kiểm tra, thi không phản ánh được các trình độ học tập khác nhau ngay trong một lớp học

4) Tính giá trị(hoặc hướng đích): một bài kiểm tra, thi có tính giá trị nếu nó

thực sự đánh giá học sinh đúng về lĩnh vực cần đánh giá, đo được đúng cái cần đo Trong mỗi môn học có thể có các loại nội dung khác nhau nhưng khi ĐG kết quả học tập môn học đó phải tập trung phản ánh được kết quả học tập các nội dung chủ chốt, trọng tâm, cơ bản nhất

1.1.9 Chuẩn đánh giá

Chuẩn ĐG kết quả học tập của học sinh là trình độ học tập tối thiểu mà mọi học sinh phát triển bình thường muốn được công nhận có trình độ đạt được của mình trong từng giai đoạn của cấp học, bậc học

- Nguyên tắc 2: Toàn diện

Chuẩn phải phản ánh toàn bộ những trọng tâm của chương trình (của tất cả các môn học và của từng môn học cụ thể)

Trang 24

Chuẩn phải bao gồm các lĩnh vực của đánh giá như: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, sáng tạo và tự đánh giá

Xu thế hiện nay ở các giai đoạn học tập cơ bản thì các lĩnh vực KT-ĐG

kết quả học tập tập trung vào: Nhận biết, thông hiểu và vận dụng

Theo tác giả Hoàng Phê, công cụ là “Cái dùng để tiến hành một việc nào đó,

để đạt đến một mục đích nào đó”, trong đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông, công cụ được hiểu là các phương pháp, phương tiện và kĩ thuật được sử dụng nhằm đạt được các mục đích đánh giá Chức năng cơ bản của công cụ đánh giá là thu thập thông tin để cung cấp cho giáo viên và học sinh trong quá trình đánh giá và tự đánh giá, nội dung đánh giá được thể hiện trong các bộ công cụ (dẫn theo [13])

Có rất nhiều loại công cụ đang được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của học sinh Phổ thông như các bài liểm tra, các loại phiếu quan sát, phiếu học tập, phiếu hỏi, hồ sơ học tập Tùy vào mục tiêu và đặc điểm của từng quá trình dạy học

mà giáo viên lựa chọn các loại công cụ đánh giá khác nhau, cho đến nay, đa số giáo viên phổ thông vẫn chỉ quen sử dụng công cụ đánh giá là hình thức kiểm tra miệng

và các bài kiểm tra viết là chủ yếu, còn ít quan tâm đến việc xây dựng và sử dụng các loại công cụ khác

Trang 25

1.2 Các phương pháp KT-ĐG kết quả học tập của học sinh

Tính đến nay, trong việc KT-ĐG kết quả học tập của học sinh người ta hay sử dụng 2 phương pháp chủ yếu là: Tự luận (hay luận đề) và trắc nghiệm khách quan (Test) Cả hai phương pháp này đều được gọi chung là trắc nghiệm, tuy nhiên do thói quen ta thường gọi "trắc nghiệm tự luận" là "tự luận" còn "trắc nghiệm khách quan" là "trắc nghiệm"

Có thể thấy các phương pháp kiểm tra - đánh giá đã và đang được sử dụng ở trường phổ thông trong sơ đồ sau đây:

Các phương pháp trắc nghiệm

Quan sát Viết Vấn đáp

Trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm tự luận

Ghép đôi Điền khuyết Trả lời ngắn Đúng sai Nhiều lựa chọn

1.2.1 Tự luận

Là một nhóm các câu hỏi buộc phải trả lời theo dạng mở (loại câu hỏi này không chỉ có một câu trả lời hay một kiểu trả lời mà có thể có nhiều cách, nhiều hướng trình bày lời giải) Học sinh phải tự trình bày ý kiến trong một bài viết dài để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra

Trang 26

1.2.3 Đặc điểm chung của trắc nghiệm khách quan và tự luận

Cả hai phương pháp KT này đều có chung một số đặc điểm sau:

- Đều có thể dùng để đánh giá hết mọi thành quả học tập quan trọng mà một bài khảo sát bằng lối viết có thể khảo sát được

- Tất cả đều có thể được sử dụng để khuyến khích học sinh học tập nhằm đạt đến các mục tiêu: hiểu biết các nguyên lý, tổ chức và phối hợp các ý tưởng, ứng dụng kiến thức trong việc giải quyết các vấn đề

Cả 2 phương pháp TNKQ và tự luận đều đòi hỏi sự vận dụng ít nhiều phán đoán chủ quan Giá trị của hai loại TNKQ và tự luận đều phụ thuộc vào tính khách quan và đáng tin cậy của chúng

1.2.4 Những ưu, nhược điểm của 2 loại trắc nghiệm

Cả hai phương pháp TN dù sử dụng phương pháp nào thì việc KT-ĐG cũng phải đảm bảo 3 chức năng thiết yếu sau:

- Chức năng định hướng: Qua việc KT-ĐG có thể chọn ra được những phương

pháp học tập thích đáng, phù hợp hơn

- Chức năng điều hoà: Qua KT-ĐG, giáo viên có thể điều chỉnh quá trình

giảng dạy để nâng cao hiệu dạy học

- Chức năng cấp bằng (thi tuyển): Để sơ kết thu nhận, cấp bằng mỗi khoá học

và thi tuyển vào khoá học tiếp theo Trong học tập, điều cốt yếu là phải phân biệt mục tiêu cuối cùng và cách đạt được mục tiêu ấy

Trong thời đại ngày nay, việc KT-ĐG phải được coi như là một bộ phận chủ yếu và hợp thành một thể thống nhất với quá trình đào tạo Khi đó việc giáo dục sẽ đạt kết quả cao hơn

*) Trắc nghiệm tự luận và TNKQ có những ưu, nhược điểm riêng, tuỳ theo

mục tiêu cần KT- ĐG mà ta có thể nhận thấy sự khác nhau đó:

Trang 27

- Không đo lường kiến thức một cách bao quát

- Có thể đo lường khả năng suy luận như sắp xếp ý tưởng, suy diễn, so sánh và phân biệt

- Có thể bao gồm nhiều lĩnh vực trong mỗi bài thi, với nhiều câu hỏi bao quát khắp nội dung chương trình giảng dạy, đòi hỏi

HS phải có một nền tảng rộng rãi về kiến thức, kỹ năng

- Khuyến khích HS tích luỹ nhiều kiến thức và kỹ năng

- GV có thể có những nhận xét chủ quan về bài làm của

HS

- Có nhiều yếu tố chi phối

- Công việc chấm điểm nhanh chóng, chính xác và khách quan

- Có thể sử dụng công nghệ hiện đại vào chấm thi đồng loạt

Trang 28

kết quả bài kiểm tra, thi

Như vậy cả hai loại trắc nghiệm tự luận và TNKQ đều có những ưu, nhược điểm khác nhau, tuỳ thuộc vào mục tiêu ĐG, nội dung từng môn học, từng nội dung kiến thức, giáo viên có thể chọn một trong hai phương pháp TNKQ hoặc tự luận để KT-ĐG

Đôi khi trong một bài kiểm tra, giáo viên cũng có thể kết hợp cả hai phương pháp TNKQ và tự luận để đạt được mục tiêu KT- ĐG đã đề ra

1.3 Vai trò, chức năng của đánh giá kết quả học tập của học sinh

1.3.1.Vai trò

Trong quá trình dạy học, Đánh giá không phải là một hoạt động riêng lẻ sau bài giảng mà đánh giá được thực hiện liên tục trong quá trình dạy học Đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng không phải chỉ mục đích xem xét và kiểm tra, cũng không phải chỉ dừng lại ở chấm bài rồi ghi điểm mà quan trọng là sử dụng kết quả

đó để: chỉ đạo kịp thời tới các cơ sở, đơn vị giáo dục thực hiện tốt mục tiêu giáo dục; tìm và tiến hành các giải pháp nhằm cải tiến việc giảng dạy của giáo viên và nâng cao thành tích học tập của học sinh Tác giả Nguyễn Thế Thạch khẳng định:

“Đổi mới đánh giá học sinh, vấn đề trọng tâm, căn bản để cải thiện chất lượng giáo dục trung học phổ thông, bao gồm việc định ra những mục tiêu học tập phù hợp với học sinh, chú trọng xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên, khuyến khích thực hiện chuẩn chương trình, nâng cao chất lượng giảng dạy” Như vậy, đánh giá có ý nghĩa

vô cùng quan trọng đối với học sinh, giáo viên và đặc biệt là đối với cán bộ quản lí

Cụ thể:

(i) Đối với học sinh

Trang 29

- Việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp thời những thông tin “liên hệ ngược” giúp người học điều chỉnh hoạt động học cho phù hợp, tức là chỉ cho mỗi học sinh thấy mình đã lĩnh hội những điều vừa học được đến mức độ nào,

đã làm tốt cái gì, còn mắc những sai sót nào và phải làm như thế nào để bổ khuyết những lỗ hổng còn tồn tại

- Việc đánh giá kết quả học tập một cách chính xác, khách quan, công bằng, công khai sẽ kích thích hoạt động học tập của học sinh tích cực hơn, kích thích ý chí vươn lên đạt những kết quả học tập cao hơn, củng cố lòng tự tin vào khả năng của mình, biết khắc phục tính chủ quan của mình, nâng cao ý thức tự giác của mình,

có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập cũng như trong công việc

- Việc đánh giá kết quả học tập còn có tác dụng phát triển năng lực nhận thức cho học sinh, giúp các em có điều kiện tiến hành các hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức, tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tế

- Giúp học sinh bước đầu biết tự đánh giá kết quả học tập của mình, một năng lực quan trọng đối với việc học tập không chỉ khi học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn cần thiết cho việc học tập suốt đời

(ii) Đối với giáo viên

Việc đánh giá học sinh cung cấp những thông tin cần thiết giúp người thầy xác định được điểm xuất phát và các điểm kế tiếp của quá trình dạy học, phân nhóm học sinh, nắm được trình độ và kết quả học tập của lớp cũng như của từng học sinh đối chiếu với những mục tiêu học tập về nhận thức, kỹ năng, thái độ, thấy được những sai sót điển hình của học sinh và nguồn gốc của những sai sót đó, nhận ra những điểm mạnh và những điểm yếu của bản thân giáo viên, hiệu quả của những phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học mà mình đã và đang thực hiện Từ

đó kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học cho các giai đoạn tiếp theo

Trang 30

Trước khi giảng dạy, việc đánh giá giúp cho giáo viên xác định mục tiêu học tập; điều chỉnh, bổ sung nội dung dạy học cho phù hợp với đối tượng; dự kiến lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học thích hợp

Một câu hỏi mà bất kỳ một giáo viên nào trước khi dạy học trên lớp đều phải

đặt ra và tìm cách trả lời là “sẽ dạy cái gì?” Bàn về vấn đề này M Hunter – giáo sư

đại học Califonia, Los Angeles cho rằng: “Cho dù nội dung môn học ở mức độ nào

thì câu trả lời cho câu hỏi: sẽ dạy cái gì? phải phản ánh được sự hiểu biết của bạn

về những kiến thức học sinh đã biết và nội dung tiếp theo để dạy là gì? Nói cho cùng chính học sinh chứ chẳng phải ai khác, là người quyết định cho việc trả lời câu hỏi: hôm nay dạy cho học sinhnội dung gì?” Như vậy, theo tác giả để xác định nội dung sẽ dạy cái gì cho học sinh, trên cơ sở giáo viên nắm được nội dung và khối lượng tri thức, kỷ năng cần thiết như những tiền đề xuất phát của bài học, giáo viên cần biết những tri thức và kỷ năng cần thiết đã có sẵn ở học sinh ở mức độ nào Theo tác giả Nguyễn Bá Kim, điều này có thể thực hiện được nhờ quá trình theo dõi

từ trước hoặc bằng biện pháp kiểm tra, trên cơ sở đó, người giáo viên quyết định có cần thiết tái hiện những tri thức và tái tạo những kỹ năng cần thiết đó không để đảm bảo trình độ xuất phát cho học sinh nhằm đạt được mục đích đề ra

Câu hỏi thứ hai phải trả lời là dạy nội dung đó như thế nào? Xuất phát từ

quan điểm, không phải đối tượng học sinh nào cũng có mức độ nhận thức như nhau, trong một lớp học vừa có sự giống nhau, vừa có sự khác nhau về trình độ phát triển nhân cách, có những học sinh giỏi Toán, cũng có những học sinh yếu kém về Toán, mặt bằng nhận thức giữa các lớp cũng khác nhau Do đó, nếu học sinh dùng cùng một cách thức, một bài giảng để giảng dạy chung cho tất cả các lớp có thể xảy ra hiện tượng dạy học vượt quá sự cố gắng của học sinh, tạo ra sự căng thẳng không cần thiết cho số đông học sinh hoặc hiện tượng dạy học dưới tầm nhận thức của số đông học sinh, làm cho học sinh mất hứng thú học tập Vì vậy, giáo viên cần phải lấy trình độ phát triển chung của học sinh trong từng lớp làm nền tảng để lựa chọn

Trang 31

giải pháp thích hợp cho từng lớp Để làm được điều này giáo viên cũng cần dựa vào kết quả đánh giá kết quả học tập của học sinh

Trong quá trình giảng dạy, đánh giá giúp giáo viên đưa ra những quyết định

về điều khiển hoạt động học tập của học sinh, về điều chỉnh kế hoạch bài giảng

Tầm quan trọng của việc sử dụng đánh giá để đưa ra quyết định giảng dạy được nhấn mạnh: “Chất lượng của các quyết định về giảng dạy của giáo viên phụ thuộc một phần vào chất lượng của các đánh giá và thu thập bằng chứng có chủ đích trong lúc dạy” (dẫn theo [5])

Sau khi giảng dạy, giáo viên đánh giá kết quả học tập của học sinh để có được những thông tin nhằm xác định mức độ mà học sinh đạt được các mục tiêu học tập Giáo viên dựa vào các thông tin phản hồi để tự đánh giá hiệu quả giảng dạy của chính mình, điều chỉnh kịp thời hoạt động giảng dạy cho phù hợp với mục đích, yêu cầu đặt ra và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

(iii) Đối với cán bộ quản lý giáo dục

Đánh giá cung cấp cho cán bộ quản lý giáo dục những thông tin về thực trạng dạy và học trong đơn vị của mình, từ đó có những chỉ đạo kịp thời, ra những quyết định phù hợp để điều chỉnh chương trình đào tạo, tổ chức giảng dạy và học tập cũng như ra các quyết định về đánh giá kết quả học tập của học sinh đạt kết quả cao hơn, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục

Ngoài ra đánh giá kết quả học tập còn cung cấp những thông tin cho các đối tượng khác Chẳng hạn: giúp phụ huynh ra những quyết định về giáo dục, nghề nghiệp cho con cái, giúp cho các cán bộ trong một số lĩnh vực khác thiết lập chuẩn, xây dựng chính sách,

1.3.2 Chức năng

Vai trò của đánh giá cho thấy trong dạy học đánh giá có ba chức năng:

Trang 32

a) Chức năng sư phạm: làm sáng tỏ thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động học và dạy Chức năng này của đánh giá kết quả học tập có thể chia làm hai chức năng thành phần:

- Chức năng xác nhận: Giúp người học và người dạy xác định được mức độ

mà người học đạt được mục tiêu học tập, những điểm đạt được cũng như những điểm yếu và những khó khăn của học sinh khi kết thúc một giai đoạn học tập

- Chức năng điều khiển: Thông qua đánh giá kết quả học tập giúp giáo viên

và học sinh xác định được những gì đã làm được, khó khăn, vướng mắc gặp phải và xác định nguyên nhân của hiện trạng Đây chính là cơ sở để:

+ Giúp giáo viên đưa ra biện pháp dạy học phù hợp với các đối tượng trong lớp; điều chỉnh phương pháp dạy học của bản thân;

+ Giúp HS biết được khả năng học tập của mình so với yêu cầu của chương trình, biết mặt mạnh, mặt yếu để từ đó điều chỉnh phương pháp học;

+ Giúp các nhà quản lý giáo dục các cấp thấy được mức độ đạt được các mục tiêu, xác định được các điểm mạnh, những hạn chế của chương trình, trên cơ sở đó lập kế hoạch và cải thiện chương trình, đưa ra được các giải pháp quản lý phù hợp

để nâng cao chất lượng dạy và học

b) Chức năng xã hội: công khai hóa kết quả học tập của mỗi học sinh trong tập thể lớp, trường, báo cáo kết quả học tập, giảng dạy trước phụ huynh học sinh, trước các cấp quản lí giáo dục

c) Chức năng khoa học: nhận định chính xác về một mặt nào đó trong thực trạng dạy và học, về hiệu quả thực nghiệm một sáng kiến cải tiến nào đó trong dạy học

1.3.3 Qui trình đánh giá kết quả học tập của học sinh

Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một quá trình hết sức phức tạp và khó khăn vì nó mang tính tổng hợp nhiều yếu tố, vì vậy để đánh giá chính xác một học sinh, một lớp học, hay một khóa học, điều đầu tiên người giáo viên phải làm là xây dựng qui trình, đồng thời phải coi trọng tất cả các khâu của qui trình đánh giá

Trang 33

có liên quan đến đối tượng, khách thể, mục đích, nhiệm vụ, điều kiện, phương pháp

và xử lý kết quả đánh giá Chúng ta có thể tiến hành đánh giá kết quả học tập của học sinh theo qui trình sau:

Bước 1: Xác định mục tiêu đánh giá căn cứ vào mục đích học tập và các mục tiêu dạy học

Bước 2: Lượng hóa các mục tiêu dạy học để đặt ra các mức độ cần thiết về kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm xác định nội dung và các tiêu chí đánh giá

Bước 3: Chuẩn bị về mặt tổ chức, lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu, nội dung đã đề ra trên cơ sở các đặc điểm của đối tượng được đo lường, thẩm định và trên cơ sở hoàn cảnh xã hội

Bước 4: Chọn mẫu; xây dựng bộ công cụ đánh giá: soạn câu hỏi, xây dựng bài toán… dựa trên mục tiêu đề ra và nội dung cần đánh giá; đánh giá độ tin cậy, độ giá trị của công cụ, bổ sung, điều chỉnh để hoàn thiện công cụ đánh giá; sắp xếp các câu hỏi, bài toán đó theo thứ tự từ dễ đến khó, chú ý tính tương đương của các đề (nếu có nhiều đề)

Bước 5: Tiến hành đánh giá

Bước 6: Xử lí số liệu, kết quả đánh giá, viết báo cáo

Bước 7: Nhận xét, kết luận theo nhiệm vụ, mục đích đã vạch ra, dự kiến biện pháp cải tiến

Tuy nhiên, khi xây dựng và thực hiện các bước của qui trình đánh giá cần phải có sự linh hoạt vì cùng một lúc chúng ta phải xem xét nhiều yếu tố như: đặc điểm của đối tượng, mục đích, cấp độ đánh giá, khách thể đánh giá, điều kiện, phương tiện đánh giá Do đó, đòi hỏi người giáo viên phải được đào tạo ngay từ thời sinh viên về năng lực đánh giá kết quả học tập của học sinh

Đổi mới giáo dục cần phải được thực hiện đồng bộ trên các lĩnh vực: mục tiêu, hoạt động, nội dung, phương pháp và đánh giá giáo dục Những đổi mới về mục tiêu, nội dung trong chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh; những đổi mới hoạt động đánh giá trong

Trang 34

dạy và học với hình thức tương tác và thân thiện là những yếu tố không thể thiếu được trong đổi mới giáo dục; ngoài những đánh giá về những lựa chọn và hiệu quả của chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, chúng ta cần phải đánh giá và thẩm định thành tích học tập của học sinh

Để đáp ứng được mục tiêu mới của giáo dục nói chung và giáo dục trung học phổ thông nói riêng là đào tạo ra những con người tích cực, chủ động, sáng tạo, thích ứng với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hòa nhập lao động khu vực và thế giới, việc đánh giá cần phải được đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ trên tất cả các mặt Nói về tầm quan trọng của đổi mới kiểm tra đánh giá, tác giả Miller đã khẳng định: “Thay đổi chương trình hoặc phương pháp giảng dạy

mà không thay đổi hệ thống đánh giá thì chưa chắc đã thay đổi được chất lượng giảng dạy Nhưng khi thay đổi hệ thống đánh giá mà không thay đổi chương trình giảng dạy thì lại có thể tạo nên sự thay đổi theo chiều hướng tốt của chất lượng giảng dạy”

1.4 Một số định hướng đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh

Đổi mới giáo dục cần phải được thực hiện đồng bộ trên các lĩnh vực: mục tiêu, hoạt động, nội dung, phương pháp và đánh giá giáo dục Những đổi mới về mục tiêu, nội dung trong chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh; những đổi mới hoạt động đánh giá trong dạy và học với hình thức tương tác và thân thiện là những yếu tố không thể thiếu được trong đổi mới giáo dục; ngoài những đánh giá về những lựa chọn và hiệu quả của chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, chúng ta cần phải đánh giá và thẩm định thành tích học tập của học sinh

Để đáp ứng được mục tiêu mới của giáo dục nói chung và giáo dục trung học phổ thông nói riêng là đào tạo ra những con người tích cực, chủ động, sáng tạo, thích ứng với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hòa nhập lao động khu vực và thế giới, việc đánh giá cần phải được đổi mới một cách toàn diện và

Trang 35

đồng bộ trên tất cả các mặt Nói về tầm quan trọng của đổi mới kiểm tra đánh giá, tác giả Miller đã khẳng định: “Thay đổi chương trình hoặc phương pháp giảng dạy

mà không thay đổi hệ thống đánh giá thì chưa chắc đã thay đổi được chất lượng giảng dạy Nhưng khi thay đổi hệ thống đánh giá mà không thay đổi chương trình giảng dạy thì lại có thể tạo nên sự thay đổi theo chiều hướng tốt của chất lượng giảng dạy”

1.4.1 Đổi mới mục đích đánh giá

Trong chương trình giáo dục hiện nay, mục tiêu của trường phổ thông đã có những thay đổi đáng kể, đặc biệt là tập trung vào việc hình thành năng lực, do đó mục đích đánh giá không chỉ nhằm vào đánh giá kiến thức mà cần chú ý hơn vào đánh giá kỷ năng, năng lực và thái độ của học sinh trong điều kiện có thể được Ngoài ra, việc xác định mục đích đánh giá là hết sức cần thiết vì nó có vai trò quyết định nội dung, phương pháp, hình thức đánh giá kết quả học tập của học sinh Tùy vào loại hình đánh giá định hình hay đánh giá tổng kết mà chúng ta có các mục đích đánh giá cụ thể khác nhau Nhưng nhìn chung, việc đánh giá kết quả học tập của học sinh hiện này nhằn vào hai mục tiêu cơ bản sau:

Xác nhận kết quả học tập các phân môn ở từng thời kì, từng giai đoạn của quá trình học tập của học sinh trong những năm học ở Bậc trung học phổ thông theo từng lĩnh vực nội dung học tập đã được quy định trong chương trình môn học và trong quy định về trình độ chuẩn của môn học

Cung cấp những thông tin quan trọng và chính xác về quá trình học tập môn học của học sinh, cũng như quá trình dạy môn học trong trường trung học phổ thông cho giáo viên, ban giám hiệu và cán bộ quản lí môn học các cấp, từ đó rút ra được những quyết định đúng đắn và kịp thời tác động đến việc dạy và học nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh

1.4.2 Đổi mới nội dung đánh giá

Do mục tiêu, nội dung chương trình, mục tiêu đánh giá môn học đã thay đổi nên nội dung đánh giá cũng phải thay đổi cho phù hợp Nội dung đánh giá phải bao

Trang 36

quát đầy đủ những nội dung học tập của môn học được quy định trong chương trình

và trong quy định về trình độ chuẩn của môn học, chương trình có bao nhiêu học phần kiến thức và kỹ năng thì cần phải đánh giá đủ những kiến thức và kỹ năng đó, nội dung môn học không chỉ gồm những tri thức khoa học mà còn có cả những kiến thức về phương pháp Đề kiểm tra và đề thi không chỉ thể hiện đủ các kiến thức, kỹ năng mà còn phải thể hiện đúng mức độ, bảo đảm sự phân hóa trình độ của học sinh qua các kiến thức, kỹ năng, thái độ học tập mà trình độ chuẩn quy định và tương thích với thời lượng, thời điểm và mục tiêu đánh giá Ngoài ra công tác đánh giá cần chú ý hơn việc đánh giá kỹ năng vận dụng kiến thức, đánh giá khả năng tìm tòi, khai thác thông tin, khả năng xử lí và vận dụng tri thức đã học vào giải quyết vấn đề của bài toán mới, năng lực hoạt động trí tuệ, tư duy sáng tạo, vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết bài toán thực tiễn của học sinh, đánh giá về sự phát triển tư duy với những phẩm chất cần thiết của người lao động

1.4.3 Đổi mới hình thức đánh giá

Ngoài việc duy trì và tiếp tục hoàn thiện các hình thức đánh giá truyền thống như: kiểm tra viết, nói, có thể bước đầu sử dụng các hình thức như phiếu hỏi, phiếu quan sát, bài tập theo chủ đề, hồ sơ học tập, phiếu tự đánh giá kết quả học tập của học sinh; kết hợp đánh giá bằng điểm số với đánh giá qua lời nhận xét cụ thể, khắc phục thói quen chấm bài ít cho những lời phê chỉ rõ ưu khuyết điểm của học sinh khi làm bài; coi trọng hơn việc hướng dẫn học sinh phát triển khả năng tự đánh giá kết quả học tập của bản thân; quan tâm hình thức đánh giá qua đối thoại thầy trò, trò với trò cả ở trên lớp và trong các hội thi, trong quá trình trình bày bài toán của học sinh; Kết hợp đánh giá của giáo viên và đánh giá của học sinh, đánh giá kiểm tra bài

cũ đầu giờ và đánh giá hoạt động của học sinh trong giờ học, đặc biệt là trong quá trình xây dựng kiến thức mới, trong đó, việc kiểm tra bài cũ không nhất thiết thực hiện đầu giờ mà có thể tiến hành kiểm tra đánh giá trong khi xây dựng kiến thức mới; Kết hợp việc kiểm tra kiến thức đã được học với việc vận dụng giải các bài toán thực tế

Trang 37

1.4.4 Đổi mới công cụ đánh giá

Có nhiều loại công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh Mỗi loại công cụ có ưu thế khác nhau trong việc đánh giá từng lĩnh vực nội dung học tập Môn Toán trung học phổ thông sử dụng chủ yếu các loại công cụ: đề kiểm tra viết trong đó sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận, vở bài tập, sơ

đồ, biểu bảng, mô hình, thực hành giải toán trên máy tính bỏ túi, thực hành đo đạt ngoài trời… một cách thường xuyên hoặc định kì

Trong việc biên soạn và sử dụng câu hỏi, bài tập để kiểm tra đánh giá cần bảo đảm các yêu cầu sau: phù hợp với chương trình và chuẩn kiến thức kỹ năng, sát với trình độ học sinh, vừa đánh giá mức độ lĩnh hội tri thức, vừa đánh giá được kĩ năng vận dụng, năng lực giải quyết vấn đề và khả năng phát triển tư duy sáng tạo của học sinh; người giáo viên phải phát biểu một cách chính xác, rõ ràng, ngắn gọn, đơn trị, cần có cả câu hỏi bài tập đào sâu vận dụng kiến thức tổng hợp, đòi hỏi tư duy bậc cao để phân hóa học sinh

Để xây dựng bộ công cụ đánh giá đạt các yêu cầu nêu trên cần tuân theo các qui trình chặt chẽ với sự tham gia của một đội ngũ chuyên gia giỏi; sách giáo khoa, sách bài tập cần được hoàn thiện hơn; quan trọng hơn cả là đội ngũ giáo viên phải được bồi dưỡng một cách nghiêm túc, công phu và hiệu quả về công tác đánh giá

kết quả học tập của học sinh

1.5 Các nguyên tắc xây dựng công cụ đánh giá kết quả học tập của học sinh

Việc xây dựng công cụ đánh giá kết quả học tập của học sinh có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình đánh giá kết quả học tập của học sinh, lựa chọn và xây dựng công cụ đánh giá phù hợp sẽ góp phần nâng cao tính khách quan, độ tin cậy, độ giá trị của kết quả đánh giá Khi xây dựng bộ công cụ đánh giá cần chú ý đảm bảo các nguyên tắc cơ bàn sau:

Đảm bảo tính tin cậy (mức độ chính xác): Đây là một nguyên tắc rất quan trọng, các thông tin thu thập được thông qua việc sử dụng bộ công cụ đánh giá có

Trang 38

chính xác mới đảm bảo có được kết quả đánh giá chính xác, muốn vậy, bộ công cụ khi sử dụng để đánh giá phải đảm bảo thống nhất các yêu cầu cần đạt đối với mọi các nhân trong cùng một lớp đối tượng được đánh giá

Đảm bảo độ giá trị (Đo được đúng cái cần đo): Các công cụ đánh giá phải đảm bảo đánh giá được đúng theo mục tiêu cần đánh giá Căn cứ vào đặc thù và chuẩn kiến thức kỹ năng của từng bộ môn mà lực chọn công cụ đánh giá cho phù hợp trên cơ sở đảm bảo yêu cầu về nội dung

Đảm bảo tính đầy đủ và toàn diện: Nội dung của bài kiểm tra đánh giá phải

có phổ đủ rộng để có thể kiểm tra được đầy đủ các vấn đề, các nội dung mà mục tiêu dạy học đã đặt ra trong những thời điểm và những điều kiện cụ thể Cách ra đề của giáo viên nhiều khi làm cho học sinh có thái độ học đối phó, học tủ, hoặc học thiên về một số kiểu, loại bài nào đó, do đó bỏ qua nhiều nội dung cơ bản cần phải

có đối với học sinh

Đảm bảo sự tương quan hợp lí giữa các yếu tố: dung lượng kiến thức, các loại

kỹ năng cần kiểm tra, thang điểm, thời gian làm bài kiểm tra Nếu giáo viên quá tham lam về mặt nội dung kiến thức thì sẽ làm cho học sinh khó khăn về thời gian, các em sẽ không đạt được mức điểm theo đúng khả năng của mình, hoặc tập trung nhiều vào kiểm tra kiến thức sẽ dễ bỏ qua việc đánh giá các kỹ năng cần thiết của môn học

Đảm bảo tối đa yêu cầu khách quan trong quá trình thu thập thông tin từ các

bộ công cụ

Chúng ta không nên lạm dụng hoặc quá thiên về một loại công cụ, một bài kiểm tra, một hình thức câu hỏi nào đó, nên kết hợp sử dụng nhiều loại công cụ đánh giá khác nhau, nhằm đạt được các tiêu chí cụ thể Mỗi loại công cụ đánh giá thường có những ưu điểm và nhược điểm cần được phát huy và hạn chế đến mức có thể, do đó người giáo viên phải biết rõ ưu điểm và hạn chế của từng loại, từ đó có

sự kết hợp các loại công cụ khác nhau trong đánh giá kết quả học tập học sinh một cách phù hợp nhằm tận dụng ưu điểm của các loại công cụ, đồng thời khắc phục

Trang 39

những hạn chế của các công cụ đó nhằm đạt được hiệu quả cao trong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh

Người giáo viên phải nhận thức được rằng: đánh giá kết quả học tập của học sinh chỉ là phương tiện để đi đến mục đích, chứ bản thân nó không phải là mục đích, mục đích của đánh giá là đưa ra các quyết định đúng đắn, tối ưu nhất cho hai quá trình dạy và học Ở trường phổ thông, nhiều giáo viên sau khi chấm bài kiểm tra, thống kê kết quả xong, nghỉ rằng mình đã hoàn thành công tác đánh giá mà quên đi nhiệm vụ quan trọng trong quá trình đánh giá là phải đề ra các quyết định cho thời gian tới dựa trên kết quả vừa kiểm tra

Ngoài ra, giáo viên nên sử dụng nhiều phương pháp và hình thức khác nhau nhằm tăng độ tin cậy và độ chính xác, tạo không khí thoải mái, làm học sinh cảm thấy tự nguyện, không lo lắng; lôi cuốn và khuyến khích các em tham gia vào quá trình đánh giá Trong đánh giá, rất cần thiết việc kèm theo lời nhận xét, nhờ đó học sinh có thể nhận ra những sai sót của mình về kiến thức, kỹ năng, phương pháp, giáo viên cũng nhận thấy những sai sót trong quá trình dạy và đánh giá của mình, từ

đó rút được kinh nghiệm cho việc đánh giá các giai đoạn sau và thay đổi cách dạy cho phù hợp; giáo viên phải thông báo rõ các loại hình câu hỏi kiểm tra đánh giá để giúp học sinh định hướng khi trả lời, giáo viên không nên đặt những câu hỏi mà bản

thân giáo viên không thể trả lời một cách chắc chắn

1.6 Lập kế hoạch cho một bài Trắc nghiệm

Trước khi quyết định xây dựng một bài TN, chúng ta cần phải biết đòi hỏi những thông tin gì, cần có chúng một cách nhanh chóng như thế nào và hoạt động

gì phải tiến hành theo các kết quả của bài TN Câu hỏi chủ yếu là: "Cần những thông tin gì về thành tích đạt được của học sinh" Câu hỏi quan trọng thứ hai là:

"Liệu chúng ta có thể có được các nguồn lực cần thiết để thu thập các thông tin này không?"

Thành công của phương pháp KT bằng TN phụ thuộc rất lớn vào việc soạn

thảo đề thi TN, trước khi bắt đầu viết câu hỏi, cần phải quyết định: Những mục tiêu

Trang 40

muốn trắc nghiệm là gì? Khi đã xác định được điều đó thì chúng ta mới xác định

được một kế hoạch chi tiết đảm bảo việc lựa chọn tốt các mục tiêu về nội dung và quá trình tri thức

Để tiến hành soạn thảo câu hỏi TN người ta tiến hành các bước sau:

1.6.1 Xác định mục tiêu cần kiểm tra - đánh giá

Trước hết ta phân tích nội dung chương trình giảng dạy thành các chủ đề

dạy học cụ thể, xác định mức độ quan trọng của các chủ đề bằng cách phân bố

ma trận 2 chiều) trước khi soạn thảo bài TN

Ma trận 2 chiều là một công cụ hữu ích có thể giúp cho người soạn thảo TN chuẩn bị các câu hỏi phù hợp với các mục tiêu giảng dạy của mình Thường phân loại từng câu hỏi TN ra thành 2 chiều cơ bản:

- Một chiều là chủ đề dạy học, các đề mục hay nội dung quy định trong chương trình

- Chiều còn lại là các mục tiêu giảng dạy hay các năng lực đòi hỏi ở học sinh

Lý thuyết về TN cho biết rằng: "30 câu hỏi là con số tối thiểu cần thiết để đạt được một phép đo tin cậy một cách hợp lý" Từ đó giáo viên lập bảng phân bố

về số lượng các câu hỏi cho từng mục tiêu kiến thức để đi đến sự hợp lý trong một bài TN

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ GD&ĐT - Cục khảo thí và kiểm định chất lƣợng giáo dục (2006), Tài liệu tập huấn - Quy trình công nghệ trong thi trắc nghiệm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn - Quy trình công nghệ trong thi trắc nghiệm
Tác giả: Bộ GD&ĐT - Cục khảo thí và kiểm định chất lƣợng giáo dục
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
2. Bộ GD&ĐT (2005), Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho Giáo viên Trung học phổ thông chu kỳ III (2004 - 2007) - Toán học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho Giáo viên Trung học phổ thông chu kỳ III (2004 - 2007)
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2005
3. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2005
4. Nguyễn Hữu Châu (chủ biên), Vũ Quốc Chung, Vũ Thị Sơn (2005) phương pháp, phương tiện kĩ thuật và hình thức tổ chức dạy học trong nhà trường, Nhà xuất bản sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương pháp, phương tiện kĩ thuật và hình thức tổ chức dạy học trong nhà trường
Nhà XB: Nhà xuất bản sƣ phạm Hà Nội
5.Phạm Xuân Chung (2012), Chuẩn bị cho sinh viên ngành sư phạm Toán học ở trường Đại học tiến hành hoạt động đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông, Luận án tiến sĩ giáo dục học, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị cho sinh viên ngành sư phạm Toán học ở trường Đại học tiến hành hoạt động đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông
Tác giả: Phạm Xuân Chung
Năm: 2012
6. Lê Thị Mỹ Hà (2015) tài liệu tập huấn pisa và các dạng câu hỏi do OECD phát hành lĩnh vực toán học, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tài liệu tập huấn pisa và các dạng câu hỏi do OECD phát hành lĩnh vực toán học
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
7. Trần Văn Hạo (tổng chủ biên), Vũ Văn Tuấn (chủ biên), Đào Ngọc Nam, Lê Văn Tiến, Vũ Viết Yên (2015).Đại số và giải tích 11, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại số và giải tích 11
Tác giả: Trần Văn Hạo (tổng chủ biên), Vũ Văn Tuấn (chủ biên), Đào Ngọc Nam, Lê Văn Tiến, Vũ Viết Yên
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2015
8. Trần Văn Hạo (tổng chủ biên), Vũ Văn Tuấn (chủ biên), Đào Ngọc Nam, Lê Văn Tiến, Vũ Viết Yên (2015).Sách hướng dẫn giáo viên Đại số và giải tích 11, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách hướng dẫn giáo viên Đại số và giải tích 11
Tác giả: Trần Văn Hạo (tổng chủ biên), Vũ Văn Tuấn (chủ biên), Đào Ngọc Nam, Lê Văn Tiến, Vũ Viết Yên
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2015
9. Trần Văn Hạo (tổng chủ biên), Vũ Văn Tuấn (chủ biên), Đào Ngọc Nam, Lê Văn Tiến, Vũ Viết Yên (2015). Bài tâp Đại số và giải tích 11, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tâp Đại số và giải tích 11
Tác giả: Trần Văn Hạo (tổng chủ biên), Vũ Văn Tuấn (chủ biên), Đào Ngọc Nam, Lê Văn Tiến, Vũ Viết Yên
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2015
10. Trần Bá Hoành (1997), Đánh giá trong giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội 11. Nguyễn Dương Hoàng (2009), Phương pháp dạy học đại cương môn Toán, Bài giảng, Trường Đại học Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục", Nxb Giáo dục, Hà Nội 11. Nguyễn Dương Hoàng (2009), "Phương pháp dạy học đại cương môn Toán
Tác giả: Trần Bá Hoành (1997), Đánh giá trong giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội 11. Nguyễn Dương Hoàng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
13. Trần Kiều (2006), Nghiên cứu xây dựng phương thức và một số bộ công cụ đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông, Viện chiến lược và chương trình giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng phương thức và một số bộ công cụ đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông
Tác giả: Trần Kiều
Năm: 2006
14.Nguyễn Bá Kim (2007), Phương pháp dạy học môn Toán, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2007
15.Võ Ngọc Lan, Nguyễn Phụng Hoàng (1999), Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập
Tác giả: Võ Ngọc Lan, Nguyễn Phụng Hoàng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
17. Bùi Thị Hạnh Lâm (2010), Rèn luyện kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông, Luận án tiến sĩ giáo dục học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh trung học phổ thông
Tác giả: Bùi Thị Hạnh Lâm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
18.Trần Thị Bích Liễu (2007), Nội dung - phương pháp - kĩ thuật đánh giá chất lượng giáo dục, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung - phương pháp - kĩ thuật đánh giá chất lượng giáo dục
Tác giả: Trần Thị Bích Liễu
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2007
19.Đặng Huỳnh Mai (2006), Xây dựng hệ thống mẫu đề kiểm tra quốc gia về môn Toán cấp tiểu học, Luận án tiến sĩ giáo dục học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống mẫu đề kiểm tra quốc gia về môn Toán cấp tiểu học
Tác giả: Đặng Huỳnh Mai
Năm: 2006
21.Trần Thành Minh, Trần Quang Nghĩa (2000), Tuyển chọn đề thi trắc nghiệm học sinh giỏi Toán toàn nước Mỹ (Tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn đề thi trắc nghiệm học sinh giỏi Toán toàn nước Mỹ (Tập 1)
Tác giả: Trần Thành Minh, Trần Quang Nghĩa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
22.Nghiêm Xuân Nùng, Lâm Quang Thiệp (1995), Trắc nghiệm và đo lường cơ bản trong giáo dục, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm và đo lường cơ bản trong giáo dục
Tác giả: Nghiêm Xuân Nùng, Lâm Quang Thiệp
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1995
23. Trần Phương, Nguyễn Đức Tấn (2004), Sai lầm thường gặp và các sáng tạo khi giải Toán, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sai lầm thường gặp và các sáng tạo khi giải Toán
Tác giả: Trần Phương, Nguyễn Đức Tấn
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2004
25. Trần Minh Quang, Hà Văn Chương (2003), 630 câu hỏi trắc nghiệm Toán luyện thi tốt nghiệp THPT, Đại học và Cao đẳng, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 630 câu hỏi trắc nghiệm Toán luyện thi tốt nghiệp THPT
Tác giả: Trần Minh Quang, Hà Văn Chương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đầu phát hình 2000 5% Đầu phát âm thanh                6000               3%  - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
u phát hình 2000 5% Đầu phát âm thanh 6000 3% (Trang 57)
Hai bảng dƣới đây so sánh về số lƣợng trung bình từng loại đầu phát đƣợc sản xuất hàng ngày và tỉ lệ phần trăm trung bình đầu phát bị lỗi mỗi ngày của cả 2  công ty - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
ai bảng dƣới đây so sánh về số lƣợng trung bình từng loại đầu phát đƣợc sản xuất hàng ngày và tỉ lệ phần trăm trung bình đầu phát bị lỗi mỗi ngày của cả 2 công ty (Trang 63)
Về kiến thức: Hình thành và chính xác hóa các khái niệm: hoán vị, chỉnh hợp, tổ hợp... - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
ki ến thức: Hình thành và chính xác hóa các khái niệm: hoán vị, chỉnh hợp, tổ hợp (Trang 65)
Sau khi xác định đƣợc mục tiêu dạy học, ngƣời thầy cần thiết phải xác định hình thức đề kiểm tra - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
au khi xác định đƣợc mục tiêu dạy học, ngƣời thầy cần thiết phải xác định hình thức đề kiểm tra (Trang 66)
3) Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên: có cả câu hỏi dạng tự luận và câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
3 Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên: có cả câu hỏi dạng tự luận và câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan (Trang 66)
- Nếu đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận thì cần xác định tỉ lệ % tổng số điểm của mỗi một hình thức sao cho thích hợp - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
u đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận thì cần xác định tỉ lệ % tổng số điểm của mỗi một hình thức sao cho thích hợp (Trang 69)
(hình thức kiểm tra tự luận) - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
hình th ức kiểm tra tự luận) (Trang 69)
Bảng 2.4 Ma trận nhận thức - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.4 Ma trận nhận thức (Trang 71)
* Bảng 2.7: Ma trận đề: - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.7 Ma trận đề: (Trang 71)
* Bảng 2.8: Hướng dẫn chấm - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.8 Hướng dẫn chấm (Trang 75)
Bảng 2.10: MA TRẬN NHẬN THỨC - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.10 MA TRẬN NHẬN THỨC (Trang 81)
Bảng 2.6 Ma trận nhận thức - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.6 Ma trận nhận thức (Trang 81)
Bảng 2.11: số điểm của từng chủ đề của ma trận nhận thức - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.11 số điểm của từng chủ đề của ma trận nhận thức (Trang 82)
Bảng 2.8 Số điểm từng chủ đề của ma trận nhận thức - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.8 Số điểm từng chủ đề của ma trận nhận thức (Trang 82)
Bảng 2.12 - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.12 (Trang 83)
Bảng 2.9 Bảng điểm chi tiết của ma trận nhận thức - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.9 Bảng điểm chi tiết của ma trận nhận thức (Trang 83)
Bảng 2.10 Ma trận đề - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.10 Ma trận đề (Trang 84)
Bảng 2.11 Đáp án trắc nghiệm - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.11 Đáp án trắc nghiệm (Trang 86)
* Bảng 2.16 - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.16 (Trang 88)
Bảng 2.16 Phiếu quan sát - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.16 Phiếu quan sát (Trang 93)
* Bảng 2.19 - Xây dựng một số bộ công cụ đánh giá kết quả học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương tổ hợp   xác suất
Bảng 2.19 (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w