Đây là đề tài tác giả nghiên cứu, tìm hiểu về nền kinh tế Nhật Bản thời kỳ công nghiệp hóa.. PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: KINH TẾ NHẬT BẢN THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA 1.1.Đôi nét về đất nước-
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG I: KINH TẾ NHẬT BẢN THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP
HÓA
2
1.2.4 Tái thiết sau chiến tranh (1946-1953) 6 1.2.5 Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh (1955-1973) 8
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài:
Nhật Bản là quốc gia đứng đầu thế giới về khoa học và công nghệ Được đánh
giá là một cường quốc kinh tế, là quốc gia có nền kinh tế thứ 3 toàn cầu tính theo tổng sàn phẩm nội địa cũng như theo sức mua tương đương chỉ sau Mỹ và Trung Quốc Và Nhật còn là nước đứng thứ 5 thế giới trong lĩnh vực đầu tư cho quốc phòng, xếp thứ 4 thế giới về xuất khẩu và đứng thứ 6 về nhập khẩu
Hiện nay,Việt Nam đang trên đà hội nhập và phát triển nền kinh tế thị trường,
vì thế việc nghiên cứu và tìm hiểu một nền kinh tế lớn trên thế giới như nền kinh
tế Nhật Bản là một điều hết sức cần thiết
2.Tình hình nghiên cứu:
Quá trình tìm hiểu nghiên cứu của bộ môn lịch sử kinh tế quốc dân
Đây là đề tài tác giả nghiên cứu, tìm hiểu về nền kinh tế Nhật Bản thời kỳ công nghiệp hóa
3 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Nước Nhật Bản
Phạm vi thời gian: Nhật Bản thời kỳ công nghiệp hóa ( 1870- 1973 )
4 Nhiệm vụ của đề tài:
Đề tài có nhiệm vụ chủ yếu là tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu lịch sử nền kinh
tế Nhật Bản, từ đó rút ra bài học cho nền kinh tế khác, đặc biệt là Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này, tôi sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp lý giải các sự kiện lịch sử, các biện pháp, chính sách của Đảng, và Chính phủ được vận dụng trong thời kỳ
6 Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu đề tài gồm 2 chương:
Chương I: Kinh tế Nhật Bản thời kỳ công nghiệp hóa
Chương II: Bài học kinh nghiệm
Trang 3
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KINH TẾ NHẬT BẢN THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA
1.1.Đôi nét về đất nước-con người Nhật Bản:
Vị trí địa lí: Nhật Bản nằm ở phía Đông của Châu Á, là một dãy đảo nằm ở
giữa biển Bắc Thái Bình Dương và biển Nhật Bản, phía Đông bán đảo Triều Tiên Nhật Bản là một quốc gia hải đảo hình vòng cung, là quần đảo với trên 3 trăm đảo lớn nhỏ, có 4 đảo chính là: Honshu, Hokkaido, Shikoku, Kyushu Nhật Bản thuộc vùng ôn đới có 4 mùa rõ rệt Phần lớn đảo ở Nhật Bản có nhiều núi lửa, như núi Phú Sĩ cao nhất ở Nhật Bản Bờ biển Nhật Bản rất đa dạng, lồi lõm rõ rệt với
vô số vịnh và bán đảo, nhưng cũng có những bãi biển dài hàng chục km
Nhật Bản có ít tài nguyên thiên nhiên Các khoáng sản như quặng sắt, đồng đỏ, kẽm, chì, bạc,các tài nguyên năng lượng quan trọng, như dầu mỏ, than, đều phải nhập khẩu Địa hình và khí hậu cũng khiến người nông dân gặp rất nhiều khó khăn Nhật Bản chỉ trồng cấy được một số cây trồng như lúa gạo nên khoảng một nửa số lương thực phải nhập khẩu từ nước ngoài, nên kinh tế bị phá hủy kiệt quệ trong chiến tranh Nhưng với các chính sách phù hợp kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng được phục hồi trong giai đoạn (1945-1960) và phát triển cao độ trong giai đoạn (1960-1973) làm thế giới phải kinh ngạc, gọi đó là “Sự phát triển thần kỳ” của kinh
tế Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia duy nhất ở phương Đông có sự đồng nhất gần như là tuyệt đối về dân tộc và ngôn ngữ: một dân tộc, một ngôn ngữ Nó là một nhân tố quan trọng bậc nhất tạo ra sức mạnh đoàn kết và tính dân tộc cao cả Người Nhật Bản có tính kỷ luật cao Tính kỷ luật của người Nhật khác hẳn với tính tùy tiện của
cư dân nhiều vùng trồng lúa nước ở Đông Nam Á Chính tính kỷ luật cao ấy đã giúp người Nhật nhanh chóng thích nghi với nền sản xuất công nghiệp hiện đại
Trang 41.2.Thời kỳ công nghiệp hóa:
1.2.1 Thời kỳ 1870-1890 :
Năm 1868, sau chiến tranh Boshin, Thiên hoàng Minh Trị tiến hành cuộc cải cách Minh Trị Duy Tân, mở ra kỷ nguyên hiện đại hóa đất nước Mục tiêu bao trùm của cải cách là đưa Nhật Bản trở thành cường quốc Chính phủ mới coi công nghiệp là một trong những trụ cột, là xương sống của một quốc gia hiện đại, và vì vậy đã đề ra nhiều chính sách phát triển nền công nghiệp với nội dung:
Về mặt hành chính: thủ tiêu chế độ phong kiến, thành lập chế độ quân chủ lập hiến
Mở rộng giao lưu buôn bán với nước ngoài, chú trọng phát triển công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vạn tải Chính phủ đã bắt tay vào công nghiệp
hóa thông qua "Chính sách xúc tiến công nghiệp" Cụ thể, chính phủ tiến hành phát triển các ngành khai mỏ và công nghiệp nặng, xây dựng cơ sở hạ tầng (đường sắt, đường bộ, ), thúc đẩy công nghiệp nhẹ Chiến lược công nghiêp hóa thay thế nhập khẩu hàng sơ cấp
Chính sách ruộng đất mới được ban hành trên cơ sở cuộc cải cách ruộng đất
1872-1873 Nhà nước công nhận quyề sở hữu ruộng đất của địa chủ, cho phép tự do mua bán ruộng đất
Xúc tiến xây dựng hệ thống ngân hàng, cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ngay từ đầu đã cho phép Nhật Bản rút ngắn thời gian, nhanh chóng hiện đại hóa, đi vào công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu hàng sơ cấp
Để bảo vệ nền công nghiệp non trẻ trước sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài, chính phủ khuyến khích thành lập các thương hội theo ngành nghề và địa phương để có điều kiện hướng dẫn kỹ thuật và giới thiệu chuyên gia cho các xí nghiệp Đối với khu vực công nghiệp hiện đại, chính phủ trợ cho họ bằng cách cho vay dài hạn với lãi xuất thấp
Hệ thống tiền tệ quốc gia ra đời Kim loại mệnh giá 1 Yên làm bằng bạc được phát hành vào năm 1872 Tiền giấy mệnh giá 1 Yên có thể chuyển đổi sang bạc
Trang 5được phát hành vào năm 1885.Năm 1868, Nhật Bản tiến hành cuộc cải cách Minh Trị, mở ra kỷ nguyên hiện đại hóa đất nước Chính phủ mới coi công nghiệp là một trong những trụ cột của một quốc gia hiện đại, và vì vậy đã đề ra nhiều chính sách phát triển nền công nghiệp
Nhà nước thành lập các trường phổ thông, đại học, mở các trường tiểu học cưỡng bức Suốt thời Minh Trị 50% tổng số nam; 1,5% tổng số nữ học trong các trường phổ cập Năm 1897, ông ban hành luật phổ cập giáo dục, ông chọn thanh niên ưu tú gửi ra nước ngoài đào tạo thành nhân tài
Cuộc cải cách của Minh Trị là cuộc cải cách toàn diện mang tính chất một cuộc cách mạng tư sản, giải phóng nước Nhật khỏi sự ràng buộc của quan hệ sản xuất phong kiến, mở đường cho Nhật Bản nhanh chóng tiến lên con đường tư bản chủ nghĩa Nhưng cuộc cải cách không triệt để, bởi vì người lãnh đạo cuộc cải cách
là thuộc tầng lớp phong kiến, và kết thúc cải cách tầng lớp phong kiến chưa bị xóa bỏ
1.2.2 Thời kỳ 1900-1919 :
Sau cải cách Minh Trị, Nhật Bản diễn ra cải cách công nghiệp với nội dung chủ yếu là chuyển nền sản xuất từ thủ công lên cơ khí
Khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp, Nhật Bản vẫn là nước nông nghiệp với 75%- 80%, dân cư sống bằng nghề nông, công nghiệp vẫn là thủ công gia đình, phường hội nhỏ bé và phân tán
Nguồn vốn là công nghiệp hóa 20 năm đầu dựa chủ yếu vào nông nghiệp Nguồn vốn dựa vào xuất khẩu nông sản (chiếm 40% giá trị xuất khẩu) Thuế nông nghiệp cung cấp trên 50% nguồn thu ngân sách 1870-1917 trở về sau Nhật Bản tiến hành chiến tranh với các nước láng giếng để vơ vét tài nguyên phục vụ cho công nghiệp
Nhà nước Nhật Bản có vai trò to lớn trong quá trình công nghiệp hóa, nhà nước đầu tư vốn phát triển công nghiệp, 1910 vốn đầu tư của nhà nước chiếm
Trang 660%-70% tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản Nhà nước còn có chính sách
khuyến khích tư nhân bỏ vốn để xây dựng Nhà nước đứng ra tổ chức thành lập các công ty cổ phần , khuyến khích thành lập các công ty mẫu dịch quốc tế
Năm 1900, Nhật Bản hoàn thành giai đoạn thay thế nhập khẩu hàng dệt và bắt đầu xuất khẩu mặt hàng này Sau đó, các hàng công nghiệp nhẹ khác cũng gia nhập danh sách hàng xuất khẩu Nhật Bản đã chuyển sang giai đoạn công nghiệp hóa theo định hướng xuất khẩu hàng sơ cấp trong khi vẫn làm sâu thêm thay thế nhập khẩu hàng sơ cấp
Một số dặc điểm công nghiệp hóa của Nhật Bản:
Sự tách rời giữa nông nghiệp và công nghiệp, nông nghiệp ngày càng lạc hậu so với sự phát triển của công nghiệp, đến thế kỷ XX 2/3 dân số vẫn làm nông nghiệp
Được khởi đầu bằng công nghiệp nhẹ nhưng các nghành công nghiệp nặng, giao thông vận tải, công nghiệp quốc phòng đã xuất hiện sớm và phát triển nhanh
Công nghiệp hóa Nhật Bản gắn liền với việc chuyển từ chủ nghĩa tư bản tự
do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền
Cách mạng công nghiệp Nhật Bản gắn liền với việc mở rộng thị trường, dẫn đến 3 cuộc chiến tranh( Trung - Nhật 1894, Nga - Nhật 1905, Nhật -Triều 1910)
Nhật Bản bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, khi những tàn dư của chế
độ phong kiến vẫn còn tồn tại
1.2.3 Thời kỳ 1920-1937 :
Nhật Bản tham gia vào chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) nhằm tranh giành khu vực thị trường thuộc địa Châu Á, Thái Bình Dương với Mỹ và Anh.Nhật chiếm 1 phần đảo ở Masan, Maianr,Cowrralin củng cố ví trí quân sự của Trung Quốc
Trang 7Đầu thập niên 1920, công cuộc công nghiệp hóa của Nhật Bản đã chuyển sang giai đoạn thay thế nhập khẩu hàng thứ cấp Chủ nghĩa tư bản nhà nước phát triển mạnh mẽ Cơ cấu công nghiệp thời kỳ này được xem là "nhân tạo" do
có sự can thiệp mạnh mẽ của chính phủ
Chính phủ đẩy mạnh hơn nữa việc bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước, tiếp tục trợ cấp và giới thiệu những công nghệ tiên tiến của thế giới cho các ngành công nghiệp nặng và hóa chất Nhờ những chính sách này, mức độ tập trng sản xuất đã tăng lên nhanh chóng, đặc biệt thấy rõ qua sự phát triển của các zaibatsu Ngay trước Chiến tranh thế giới thứ hai, công nghiệp nặng của Nhật Bản đã thu hút tới 40% tổng số lao động và đóng góp 50% vào sản lượng công nghiệp của đất nước
Khủng hoảng kinh tế 1929-1933 bắt đầu từ Mỹ và nhanh chóng lan sang cả Nhật Năm 1931 so với 1929 sản lương công nghiệp giảm 32%, ngoại thương giảm 50%, đầu năm 1930 có 10,5 triệu người thất nghiệp.Nhật phát động chiến tranh nhằm phục thù Mỹ và phương Tây Tháng 9 năm 1931, Nhật nổ súng đánh chiếm Trung Quốc
Từ sau 1930, Nhật đã trở thành nước tư bản công nghiệp, đến 1942 tỉ trọng công nghiệp tăng 72% Toàn bộ công nghiệp đặt dưới sự chỉ huy của Nhà nước phục vụ cho chiến tranh
Chiến tranh thế giới thứ 2 đã để lại hậu quả nặng nề cho Nhật Bản về người
và của Hàng chục vạn người chết, đất nước bị tàn phá nặng nề Sản xuất công nghiệp của Nhật Bản năm 1946 chỉ còn 30,7% So với thời kỳ 1934-1936 vị trí kinh tế Nhật Bản tụt sau nhiều nước
1.2.4 Tái thiết sau chiến tranh (1946-1953):
Thời kỳ khôi phục kinh tế của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai kéo dài từ năm 1945 đến 1953 Đây cũng là thời kỳ của những cuộc cải cách theo đề nghị của Lực lượng Đồng Minh đang quân quản Nhật Bản
Những cải cách:
Trang 8Cuối năm 1945: Tư lệnh Lực lượng Đồng mình Quân quản ra lệnh cải cách
ruộng đất ở nông thôn Cuộc cải cách ruộng đất này đã tạo ra cơ sở để tăng năng suất nông nghiệp và để ổn định các vùng nông thôn Cũng trong năm 1945, lệnh giải tán các zaibatsu (các tập đoàn tài phiệt) được đưa ra
Năm 1947: Luật chống độc quyền được ban hành Tiếp theo là luật thủ tiêu
tình trạng tập trung quá mức sức mạnh kinh tế được ban hành bổ sung cho luật chống độc quyền Những cải cách dân chủ hóa kinh tế này có tác dụng nâng cao vị trí của tư bản công nghiệp, khuyến khích tinh thần kinh doanh và đầu tư
Ổn định kinh tế vĩ mô: Do chiến tranh, sản xuất bị gián đoạn, thất nghiệp
gia tăng, tổng cầu vượt tổng cung khiến cho lạm phát tăng tốc nhanh chóng Nạn đói tuy được ngăn chặn nhờ phát chẩn khẩn cấp của lực lượng quân quản, song thức ăn tồi và thiếu đã gây ra nạn suy dinh dưỡng và ngộ độc ở nhiều nơi Để khôi phục và ổn định kinh tế, chính phủ đã phải tiến hành phân phối lương thực, kiểm soát hành chính đối với giá cả, chống nạn đầu cơ, "đông lạnh" tiền gửi ngân hàng, đổi tiền, phát hành trái phiếu chính phủ, tập trung sức khôi phục và phát triển một
số ngành ưu tiên như than, thép, phân bón, điện lực, v.v
Đường lối Dodge: Cuối năm 1948, chính phủ Mỹ cử Joseph Dodge sang
Nhật Bản để điều hành nền kinh tế ở đây Ông này chủ trương cân đối ngân sách thông qua hạn chế chi tiêu, ngừng kiểm soát giá, cố định tỷ giá hối đoái Yên Nhật/ Dollar Mỹ là 360 : 1 Nhờ đường lối này, nền kinh tế tự do được khôi phục, năng suất lao động ở Nhật Bản được nâng lên, lạm phát được khống chế, thậm chí còn đưa tới nguy cơ giảm phát
Ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Triều Tiên: Chiến tranh Triều Tiên bùng
nổ vào tháng 6 năm 1950 Mỹ và Nhật Bản liền ký hiệp định hòa bình để Mỹ rảnh tay hơn đối phó với chiến sự Những đơn đặt hàng của lực lượng quân sự Mỹ để cung cấp cho mặt trận Triều Tiên gần đó đã làm tăng tổng cầu của Nhật Bản Nó tạo điều kiện cho Nhật Bản khắc phục một số lệch lạc của nền kinh tế, thúc đẩy tiêu dùng
Trang 9Năm 1952, Nhật Bản đã khôi phục xong nền kinh tế ngang mức trước chiến tranh, sau đó tiếp tục phát triển với mức độ cao Tốc độ tăng binh quân các năm sau chiến tranh:
1950-1954: 18,8%
1955-1959: 13,1%
1960-1964: 15,7%
1965-1969: 13,7%
1970-1973: 7,8%
1.2.5 Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh (1955-1973) :
So sánh tốc độ tăng GNP bình quân đầu người của Nhật Bản giữa các thời kỳ.
Trong khoảng hơn 20 năm sau chiến tranh (1955-1973) nền kinh tế Nhật Bản phát triển rất nhanh, lịch sử gọi đây là giai đoạn phát triển “thần kỳ” của Nhật Bản
Tốc độ tăng trưởng trung bình ngày càng cao:
1950-1960: 8,5%
1960-1965: 9,8%
1965-1971: 11,2%
GNP năm 1970 đạt 199,8 tỷ USD tăng hơn 8,3 lần so với 23,9 tỷ USD của năm 1955
GNP/đầu người là 6270 USD vào năm 1969
Trang 10 Tổng kim ngạch ngoại thương tăng 25 lần trong 20 năm (1950-70).
Dự trữ ngoại tệ từ 1,8 tỷ USD năm 1960 tăng lên 15 tỷ USD năm 1971
Chính phủ duy trì được một ngân sách cân bằng cho đến giữa những năm
1960 với các chính sách thắt chặt tài chính và mở rộng tiền tệ
Lao động chuyển dịch mạnh từ nông thôn vào các ngành công nghiệp chế tạo
Năng suất lao động tăng nhanh: trung bình 11,5% trong khoảng 1963-73
GDP thực tế theo giá so sánh hàng năm (năm gốc là 1965) của Nhật Bản trong thời kỳ này hầu hết đều có tốc độ tăng lên tới hai chữ số.Chính trong thời kỳ này, kinh tế Nhật Bản đã đuổi kịp các nền kinh tế tiên tiến của thế giới Nếu vào năm 1950, GNP của Nhật còn nhỏ hơn của bất cứ nước phương Tây nào và chỉ bằng vài phần trăm so với của Mỹ, thì đến năm 1960 nó đã vượt qua Canada, giữa thập niên 1960 vượt qua Anh và Pháp, năm 1968 vượt Tây Đức Năm 1973, GNP của Nhật Bản chỉ còn bằng một phần ba của Mỹ và lớn thứ hai trên thế giới
Những nhân tố tạo nên sự tăng trưởng nhanh chóng của Nhật Bản trong thời kỳ này :
Cách mạng công nghệ
Lao động rẻ lại có kỹ năng
Khai thác được lao động dư thừa ở khu vực nông nghiệp
Tỷ lệ để dành cao, đầu tư tư nhân cao
Đồng yên Nhật được cố định vào dollar Mỹ với tỷ giá 360JPY/USD có lợi cho xuất khẩu của Nhật Bản
Nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh
Giá dầu lửa hãy còn rẻ
Nguồn tài chính cho đầu tư ổn định nhờ chính sách của chính phủ giữ cho các ngân hàng khỏi bị phá sản
Con người được đào tạo chu đáo, có ý thức tổ chức kỉ luật, được trang bị kiến thức và nghiệp vụ, cần cù, tiết kiệm, ý thức cộng đồng cao con người được xem là vốn quí, nhân tố quyết định hàng đầu