Đồng thời, tìm ra các nguyên nhân, đề ra các giải pháp để việc thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo trên địa bàn Nghệ An ngày càng phù hợp, theo đúng quy định của pháp luật cả về
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN ĐỨC SƠN
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO TỪ THỰC TIỄN ĐẠO CÔNG GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ luật học “Thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo từ thực tiễn đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Nghệ An” là kết quả công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu được sử dụng trong Luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Thành phố Vinh, ngày 01 tháng 8 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phan Đức Sơn
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN
2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và tác động
của nó đến thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo đối với đạo Công giáo ở tỉnh Nghệ An
40
2.2 Kết quả thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo đối
2.3 Hạn chế, bất cập trong thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn
2.4 Kinh nghiệm từ thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền tự
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO CÔNG GIÁO Ở NGHỆ AN HIỆN NAY
67
3.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền tự do
3.2 Một số giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền tự
KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
87
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANTT ANQG CNH, HĐH CNXH NXB TTATXH UBMTTQ UBND XHCN
An ninh, trật tự
An ninh quốc gia Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chủ nghĩa xã hội
Nhà xuất bản Trật tự, an toàn xã hội
Uỷ ban mặt trận Tổ quốc
Uỷ ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhận thức và thực hiện những quy định của pháp luật về tôn giáo đã được đặt ra từ sớm trong lịch sử hình thành Nhà nước Việt Nam hiện đại Những quan điểm và quy định của pháp luật Việt Nam đã tạo điều kiện cho mọi người dân thực hành quyền tự do tôn giáo, vì thế cùng với sự phát triển của xã hội, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia có sự đa dạng và phong phú nhất trên thế giới về tôn giáo và tín ngưỡng Sự phát triển của tôn giáo, tín ngưỡng ngày càng đòi hỏi việc hoàn thiện về pháp luật giúp cho thế giới tinh thần của người Việt Nam thêm đầy đủ Đồng thời, thực hiện pháp luật có vai trò rất quan trọng để khẳng định pháp luật đã thực sự đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật, tạo
sự ổn định, hoà bình, an ninh, an toàn, phát triển và bảo đảm các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị được ghi nhận trong một số văn bản chính trị - pháp lý của Liên Hợp Quốc bao gồm các văn bản mang tính chất Tuyên ngôn như Hiến chương của Liên Hợp Quốc năm 1945, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị năm 1966 Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước Việt Nam đều khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của công dân, của mọi người Nhà nước Việt Nam không những tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền tự do đó một cách đúng đắn, phù hợp với lợi ích của nhân dân; bảo đảm cho mọi công dân theo hoặc không theo tôn giáo đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi Các tôn giáo được Nhà nước thừa nhận đều bình đẳng trước pháp luật, được tôn trọng, được bảo đảm mọi sinh hoạt tôn giáo bình thường trong khuôn khổ
Trang 7pháp luật Đồng thời, pháp luật nghiêm cấm những âm mưu, hành động lợi dụng tôn giáo để xâm phạm quyền tự do tôn giáo hoặc xâm hại đến lợi ích chung, trái với pháp luật của Nhà nước
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo với số lượng tín đồ đông Tuy nhiên tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay đang có một số vấn đề diễn biến khá phức tạp Những âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo với mục đích phi tôn giáo vẫn còn Các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với âm mưu ý đồ lợi dụng tôn giáo để kích động người dân gây rối, biểu tình, tạo cớ để can thiệp gây bạo loạn, lật đổ chế độ Một số chức sắc cực đoan lợi dụng vấn đề tôn giáo câu kết với các đối tượng phản động trong và ngoài nước chống phá chính quyền Nhà nước Mặt khác, việc thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo có lúc, có nơi vẫn còn một số tồn tại như hiện tượng hạn chế, thu hẹp, thậm chí vi phạm quyền tự do tôn giáo; trong quản lý có nơi còn nóng vội, giản đơn khi giải quyết vấn đề liên quan đến đạo Công giáo dẫn đến vi phạm quyền tự do tôn giáo; có nơi lại thụ động, buông lỏng quản lý dẫn tới kỷ cương pháp luật không được giữ nghiêm; việc kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn chưa kịp thời, chặt chẽ và kiên quyết Nguyên nhân của tình trạng trên còn nhiều, nhưng chủ yếu là do một bộ phận cán bộ thi hành pháp luật và nhân dân chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện về ý nghĩa, tầm quan trọng và vai trò của quyền tự do tôn giáo
Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất, dân số đông thứ tư so với các tỉnh, thành phố trong cả nước, có trên 28 vạn người theo đạo Công giáo, 3/4 diện tích là vùng rẻo cao, miền núi, trung du, có nhiều dân tộc cùng sinh sống, trình độ nhận thức của người dân chưa đồng đều Trong những năm qua, ở Nghệ An nhìn chung đời sống vật chất và tinh thần của tuyệt đại bộ phận tín
đồ các tôn giáo nói chung, đạo Công giáo nói riêng ngày càng được nâng cao, chức sắc, tín đồ các tôn giáo đều tin tưởng và thực hiện đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng
Trang 8Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy hiệu quả công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tình hình ANTT, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc Tuy nhiên, tình hình thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục Trình độ lý luận, hiểu biết về các tôn giáo, nhất là về đạo Công giáo của một số cán bộ phụ trách công tác tôn giáo còn có những hạn chế; có lúc chưa giải quyết kịp thời các nhu cầu chính đáng của tổ chức tôn giáo và người theo đạo theo đúng quy định của pháp luật Pháp luật về tôn giáo chưa đầy đủ, còn thiếu cụ thể, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã được ban hành nhưng đến ngày 01/01/2018 có hiệu lực nhưng chưa có văn bản hướng dẫn thi hành Một số ít chức sắc có thái độ chính trị xấu, cố tình lợi dụng hoạt động tôn giáo
để vi phạm pháp luật như về đất đai, xây dựng, truyền đạo, tách lập cơ sở tôn giáo trái pháp luật, thậm chí kích động tụ tập đông người, gây rối ANTT, biểu tình trái pháp luật Bên cạnh đó, các thế lực thù địch bên ngoài gia tăng lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để xuyên tạc, kích động chống phá chế độ
Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo, nhất là đối với đạo Công giáo từ thực tiễn đạo Công giáo trên địa bàn Nghệ An là hết sức cần thiết, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để tiếp tục hoạch định và hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo Đồng thời, tìm ra các nguyên nhân, đề ra các giải pháp để việc thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo trên địa bàn Nghệ An ngày càng phù hợp, theo đúng quy định của pháp luật cả về phía chủ thể là Nhà nước và các chức sắc, người theo đạo Công giáo nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, vừa bảo đảm quyền tự do tôn giáo, vừa đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Nghệ An
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo từ thực tiễn đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Nghệ An” làm luận văn Thạc sỹ Luật học, chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà
nước và pháp luật, Mã số: 60.38.01.01
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đến công tác tôn giáo, nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học về tôn giáo đã được hình thành, nhiều công trình khoa học có giá trị thực tiễn đã được công bố Những kết quả đó đã góp phần thuận lợi cho công tác thực hiện pháp luật bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào, góp phần củng cố lòng tin của đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo với Đảng và Nhà nước, tích cực đóng góp công sức vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta Những công trình nghiên cứu nổi bật là:
- Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, PGS.TS Đỗ Quang Hưng, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2008, 447 trang
- Chính sách tôn giáo và Nhà nước pháp quyền, PGS.TS Đỗ Quang Hưng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, 567 trang
- Tôn giáo phương Đông, quá khứ và hiện tại, TS Đỗ Minh Hợp, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2006, 398 trang
- Tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2008, 332 trang
- Pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ của Đỗ Thị Kim Định, Học viện Khoa học Xã hội, năm 2015
- Tìm hiểu pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực tôn giáo của ThS Nguyễn Ngọc Huấn, ThS Nguyễn Văn Hòa, ThS Cát Ngọc Trình,Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2016, 167 trang
- Vấn đề đạo Công giáo và dân tộc ít người ở Nghệ An, giai đoạn 1945
- 2005, Nxb Công an nhân dân 2013, 391 trang
- Vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo ở Ninh Bình hiện nay, Luận văn thạc sĩ của Vũ Tuệ Minh, 2013
- Quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở Lâm Đồng hiện nay, Luận văn
Trang 10thạc sĩ của Lê Minh Quang, 2001
- Hoàn thiện pháp luật về tôn giáo ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Xuân Diện, 2003
Các công trình nghiên cứu nêu trên tập trung nghiên cứu những vấn đề
về lịch sử tôn giáo, quá trình phát sinh, phát triển, đặc điểm của tôn giáo, công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, vai trò tích cực cũng như mặt hạn chế của tôn giáo đối với xã hội, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước đối với tín ngưỡng, tôn giáo, quy định của pháp luật đối với tín ngưỡng, tôn giáo, các âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch, hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo của Việt Nam… Đã có những công trình đề cập đến vấn đề pháp luật về tôn giáo nói chung, hoặc vấn
đề hoàn thiện pháp luật về tôn giáo Song, nhìn chung cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp, cụ thể, có hệ thống với nội dung thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo từ thực tiễn đạo Công giáo
trên địa bàn Nghệ An Chính vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo từ thực tiễn đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Nghệ An” làm luận văn Thạc sỹ luật học
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo, khảo sát thực trạng thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo từ thực tiễn đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Nghệ An, đánh giá cụ thể những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân Từ đó, đưa ra quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo đảm quyền tự do tôn giáo đối
với đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Nghệ An
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên của đề tài đặt ra, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn được xác định là:
+ Làm sáng tỏ khái niệm, nguồn gốc, đặc điểm, vai trò của tôn giáo và quyền tự do tôn giáo; nội dung quyền tự do tôn giáo trong pháp luật quốc tế và
Trang 11pháp luật Việt Nam; nội dung và hình thức thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo và các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo
+ Nghiên cứu đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tác động của nó đến thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo đối với đạo Công giáo
ở tỉnh Nghệ An, chỉ ra những đặc điểm cụ thể, mang đặc tính riêng có của đạo Công giáo ở tỉnh Nghệ An
+ Đánh giá đúng thực trạng kết quả thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo đối với đạo Công giáo ở tỉnh Nghệ An và nguyên nhân đạt được những kết quả đó; chỉ ra những hạn chế, bất cập, nguyên nhân của hạn chế, bất cập và rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo đối với đạo Công giáo ở tỉnh Nghệ An
+ Đưa ra những quan điểm và các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo đối với đạo Công giáo ở tỉnh Nghệ An nhằm góp phần thực hiện tốt hơn chính sách pháp luật về tôn giáo hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm: Vấn đề thực hiện pháp luật
về quyền tự do tôn giáo trên phương diện lý luận chung, thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền tư do tôn giáo trong đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Nghệ An; trong đó việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo gắn liền với cuộc đấu tranh chống hoạt động lợi dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng cơ sở lý thuyết về phương pháp luận duy vật biến chứng, duy vật lịch sử và quan điểm, đường lối, chủ trương, chính
Trang 12sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, khoa học lý luận chung Nhà nước và pháp luật về vấn đề tôn giáo, thực hiện pháp luật bảo đảm quyền tự do tôn giáo
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp điều tra xã hội học; phương pháp lịch sử cụ thể; phương pháp so sánh, đối chiếu, chứng minh; tổng kết kinh nghiệm thực tiễn thực hiện pháp luật; phương pháp chuyên gia trên cơ sở thống nhất giữa lý luận với thực tiễn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
- Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về tôn giáo và việc thực hiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do tôn giáo; làm rõ những vấn đề lý luận và tính tất yếu, yêu cầu của việc hoàn
thiện pháp luật về tôn giáo, thực hiện pháp luật bảo đảm quyền tự do tôn giáo
- Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu và những giải pháp của luận văn có ý nghĩa đối với việc thực hiện pháp luật đảm bảo quyền tự do tôn giáo, nhất là đối với đạo Công giáo tại địa bàn tỉnh Nghệ An Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, pháp luật về tôn giáo nói riêng và cho ngành quản lý nhà nước về tôn giáo Các giải pháp đưa ra có thể áp dụng trong thực tiễn quản lý nhà nước đối với đạo Công giáo trên địa bàn Nghệ An bảo đảm đúng quy định của pháp luật
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 88 trang, được bố cục thành 3 chương, 10 tiết
Chương 1: Những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về quyền tự
do tôn giáo
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo đối với đạo Công giáo ở tỉnh Nghệ An
Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền
tự do tôn giáo đối với đạo Công giáo ở Nghệ An hiện nay
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO TÔN GIÁO 1.1 Tôn giáo và quyền tự do tôn giáo
1.1.1 Khái niệm, nguồn gốc, vai trò của tôn giáo và đạo Công giáo
1.1.1.1 Khái niệm tôn giáo và đạo Công giáo
a Khái niệm tôn giáo
Thuật ngữ “tôn giáo” có nguồn gốc từ phương Tây, có quá trình biến đổi nội dung, khi trở thành phổ quát trên thế giới thì vấp phải những khái niệm truyền thống không tương ứng của những các nền văn minh khác nhau,
vì vậy đã xuất hiện nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo của nhiều tác giả
và nhiều dân tộc trên thế giới
Theo từ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ - 1996) thì “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng những lực lượng siêu nhiên cho rằng những lực lượng siêu nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ” Theo từ điển Tôn giáo (2001 - Marguerite Mariethiollier): Tôn giáo bao hàm một mặt, sự tìm kiếm sự thật về nguồn gốc của thế giới và của con người và những quan hệ của nó với thần thánh Mặt khác, một tập hợp những tín ngưỡng, một nhu cầu thương yêu và xúc cảm, một quan hệ hài hòa giữa vũ trụ vi mô và vũ trụ vĩ mô, nó là sự thể hiện của cái thiêng và sự tổ chức những nghi thức cá nhân và xã hội
Với cách nhìn tôn giáo từ góc độ triết học, Ăng-ghen cho rằng: “Tất cả các tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc của con người, của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là
sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [3, tr.437]
Một số nhà nghiên cứu tôn giáo Việt Nam cũng đưa ra những lý giải hoặc chia sẻ quan điểm của mình về tôn giáo Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: “Tôn giáo là thế giới siêu nhiên vô hình được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại hư ảo giữa con người và thế giới đó nhằm lý giải
Trang 14những vấn đề trên trần thế, cũng như ở thế giới bên kia trong những hoàn cảnh lịch sử, địa lý khác nhau, của từng cộng đồng tôn giáo hay xã hội khác nhau” [26, tr.42] Phó Giáo sư Nguyễn Văn Kiệm cho rằng tôn giáo phải hội
đủ các điều kiện như: “Một niềm tin vào đấng siêu nhiên có vai trò quyết định đối với vận mệnh của con người trong cuộc sống hiện tại cũng như cuộc sống bên kia; một hệ thống lễ nghi đôi khi đơn giản, đôi khi phức tạp, cầu kỳ nhằm giúp tín đồ thường xuyên gắn bó với niềm tin; một tổ chức nhân sự ít nhiều quy mô về hệ thống điều hành việc hành đạo của tín đồ; hệ thống luân lý đạo đức cho người tu hành, đây là thành tố được coi là quan trọng nhất”
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) định nghĩa:
“Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt
Để có một khái niệm làm công cụ nghiên cứu việc thực hiện pháp luật
về quyền tự do tôn giáo hiện nay, thì khái niệm tôn giáo được hiểu là: “Tôn giáo là niềm tin vào các đấng siêu nhiên hay những người được cho là thần thánh ở thế giới siêu thực, có sức mạnh tác động vào đời sống hiện tại của con người và được những người cùng chung một tổ chức, có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn thờ và được Nhà nước công nhận”
b Khái niệm đạo Công giáo
Công giáo là một thuật ngữ rộng được sử dụng đặc biệt trong ngữ cảnh Kitô giáo, xuất phát từ chữ Hy Lạp katholikos có nghĩa "chung" hay "phổ quát" Thuật ngữ Công giáo trong tiếng Việt được dùng để dịch chữ catholicus với ý nghĩa đó là đạo chung, đạo phổ quát, đón nhận mọi người Thuật ngữ này cũng được dùng để đề cập đến các giáo hội Công giáo về bản chất qua việc họ tuyên bố giữ niềm tin Công giáo và có tính tông truyền như Giáo hội Chính thống giáo Đông phương, Giáo hội chính thức của Anh hay các Giáo hội Công giáo Cổ và một số giáo hội khác Được dùng để phân biệt giáo hội Kitô giáo tiên khởi (Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền) với các nhóm lạc giáo
Đạo Công giáo tôn thờ Thiên Chúa ba ngôi cùng một bản thể và uy
Trang 15quyền như nhau, Thiên Chúa của đạo Công giáo là Thiên Chúa của Chúa Kitô Giáo hội Công giáo Rôma là một giáo hội thuộc Kitô giáo, hiệp thông hoàn toàn với vị giám mục giáo phận Rôma, hiện nay là Giáo hoàng Phanxicô Giáo hội Công giáo hiện là nhánh Kitô giáo lớn nhất, với trên một tỉ thành viên, chiếm hơn một nửa số giáo dân Kitô hữu và 1/6 dân số thế giới Giáo hội Công giáo coi Giáo hoàng là người kế vị tông đồ trưởng Phêrô, còn các Giám mục là những người kế vị các tông đồ khác Dưới sự lãnh đạo của Giáo hoàng Kinh Thánh của giáo hội Công giáo gồm cả hai phần Cựu Ước và Tân Ước
1.1.1.2 Nguồn gốc của tôn giáo và đạo Công giáo
a Nguồn gốc của tôn giáo
Sự ra đời và tồn tại của tôn giáo có nguồn gốc khách quan và chủ quan của nó Sự hạn chế về khả năng chinh phục của con người trước sức mạnh tự phát của giới tự nhiên hay xã hội đã khiến cho con người sợ hãi trước sức mạnh ấy, từ đó dẫn tới sự hình thành tín ngưỡng và cao hơn là sự ra đời và tồn tại của tôn giáo Trong xã hội có sự thống trị của các giai cấp áp bức, bóc lột, giai cấp này đã lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng, để ru ngủ sức phản kháng của nhân dân lao động trước sự áp bức bóc lột đó Khả năng nhận thức của con người trước thế giới vô cùng tận là có hạn Trong những giới hạn lịch sử nhất định, con người chưa thể giải thích được hết mọi bản chất của các hiện tượng tự nhiên và xã hội, do đó dẫn tới sự sùng bái chúng đến mức biến thành tín ngưỡng và tôn giáo Trước sự sợ hãi, bất lực và bất hạnh trong cuộc đời của mỗi cá nhân khiến con người ta tìm đến tôn giáo như một chỗ dựa tinh thần hay như một sự “đền bù hư ảo” trước cái gọi là “số phận” Trong tiến trình phát triển văn hoá truyền thống của các dân tộc, các tộc người, tôn giáo, tín ngưỡng đã trở thành một thành tố của sự phát triển văn hoá, nó hoà đồng
và bám rễ sâu chắc vào các sinh hoạt đó và đồng hành cùng sự phát triển văn hoá của các cộng đồng người trong lịch sử
Vấn đề nguồn gốc của tôn giáo là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tôn giáo học Mác xít Nhờ vạch ra được nguyên nhân xuất hiện và tồn tại của hiện tượng nào đó mà sự giải thích nó mới mang tính khoa học
Trang 16Đối với hiện tượng tôn giáo cũng vậy V I Lênin đã gọi toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện tất yếu làm nảy sinh niềm tin tôn giáo là những nguồn gốc của tôn giáo Nguồn gốc đó bao gồm:
Một là, nguồn gốc xã hội của tôn giáo: Nguồn gốc xã hội của tôn giáo
là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện những niềm tin tôn giáo Trong đó một số nguyên nhân và điều kiện gắn với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối quan hệ giữa con người với con người
Hai là, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo: Lịch sử nhận thức của con
người là một quá trình từ thấp đến cao, trong đó giai đoạn thấp là giai đoạn nhận thức tự nhiên cảm tính Ở giai đoạn nhận thức này (nhất là đối với cảm giác và tri giác), con người chưa thể sáng tạo ra tôn giáo, bởi vì tôn giáo với
tư cách là ý thức, là niềm tin bao giờ cũng gắn với cái siêu nhiên, thần thánh,
mà nhận thức trực quan cảm tính thì chưa thể tạo ra cái siêu nhiên thần thánh được Như vậy, tôn giáo chỉ có thể ra đời khi con người đã đạt tới một trình
độ nhận thức nhất định Thần thánh, cái siêu nhiên, thế giới bên kia… là sản phẩm của những biểu tượng, sự trừu tượng hoá, sự khái quát dưới dạng hư ảo
Ba là, nguồn gốc tâm lý của tôn giáo: Ngay từ thời cổ đại, các nhà duy
vật đã nghiên cứu đến ảnh hưởng của yếu tố tâm lý, tâm trạng, xúc cảm đến
sự ra đời của tôn giáo Họ đã đưa ra luận điểm “Sự sợ hãi sinh ra thần thánh” Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã giải quyết vấn đề nguồn gốc tâm lý của tôn giáo khác về nguyên tắc so với các nhà duy vật trước đó Lênin cho rằng, sợ hãi trước thế lực mù quáng của tư bản … sự phá sản “đột ngột”
“bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm họ bị diệt vong …, dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại Ngay cả những tâm lý tích cực như lòng biết ơn, sự kính trọng cũng có khi được thể hiện qua tôn giáo
Thuật ngữ “Tông giáo” được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ 19, nhưng do kỵ với tên húy của vua Thiệu Trị là Nguyễn Phúc Miên Tông nên được gọi lệch đi thành “Tôn giáo” Vì vậy, thuật ngữ “tôn giáo” được sử dụng
từ đó đến nay ở Việt Nam với nghĩa chỉ các tôn giáo nói chung
Trang 17b Nguồn gốc của đạo Công giáo
Công giáo là tôn giáo lớn nhất trong 4 tôn giáo lớn hiện nay có nguồn gốc từ Kitô giáo Vì vậy khi nghiên cứu về Công giáo cần phải đề cập một đôi nét về lịch sử Kitô giáo Kitô giáo xuất hiện vào thế kỷ thứ I sau Công nguyên
ở các tỉnh phía Đông của đế chế La Mã trong chế độ chiếm hữu nô lệ, được coi là đất nước Palestin ngày nay Đế chế La Mã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, tạo ra nhiều mâu thuẫn và xung đột gay gắt trong đời sống xã hội Trong bối cảnh ấy đã làm nảy sinh những tư tưởng được giải phóng và tự do Bên cạnh đó, vùng Trung Cận đông là nơi tiếp giáp 3 châu lục, dân cư ở đây vốn theo đa thần giáo, trong quá trình thống nhất của đế chế
đã xuất hiện yêu cầu thống nhất về tư tưởng, trong đó có nhu cầu về tôn giáo độc thần, vì vậy Kitô giáo đã ra đời trên cơ sở của Do Thái giáo vốn đang tồn tại ở vùng này Sự ra đời của Kitô giáo gắn với tên tuổi của Giêsu Kitô Ông sinh ra vào đầu Công nguyên, theo truyền thuyết, bà Maria đã mang thai một cách màu nhiệm và sinh ra ông
Thời kỳ cổ đại, Kitô giáo xuất hiện và hoạt động trong cộng đồng người Do Thái nhưng bị những người theo Do Thái giáo đả kích và chính quyền La Mã đàn áp Sang thế kỷ II, tầng lớp quý tộc dần theo Kitô giáo làm thay đổi vị trí và ảnh hưởng của nó, đến cuối thế kỷ II, Kitô giáo trở thành quốc giáo của đế chế La Mã Thời trung cổ, Kitô giáo chi phối mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nhiều nước phong kiến Châu Âu Quá trình mở rộng ảnh hưởng của đạo Kitô đã gây ra nhiều cuộc xung đột, mâu thuẫn gay gắt giữa Kitô giáo với Do Thái giáo, Hồi giáo với những cuộc Thập tự chinh tàn khốc và đẫm máu
Ngay trong bản thân trong Kitô giáo cũng nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, quyết liệt dẫn đến sự phân hoá Kitô giáo lần thứ nhất vào năm 1054 thành 2 phái: Công giáo - thế lực lớn nhất ở phía Tây La Mã Chính thống giáo ở phía Đông La Mã Trong thời kỳ cận - hiện đại, đến thế kỷ XVI, sự ra đời, phát triển của giai cấp tư sản và phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện yêu cầu cải cách Kitô giáo Với những sự cải cách của Mactin Luthơ
Trang 18(1483 - 1546) và Giăng Canvanh (1509 - 1546) đã làm xuất hiện Giáo hội cải cách gọi là Tin lành Cũng thời kỳ này vua Anh tách Công giáo ở Anh khỏi sự chỉ đạo của Giáo Hoàng và lập ra Anh giáo Ngày nay, Kitô giáo có hơn 400 dòng khác nhau trong đó có 4 nhánh lớn là Công giáo, Chính thống giáo, đạo Tin Lành và Anh giáo
Đạo Công giáo có mặt ở Việt Nam gần 5 thế kỷ (1533 - 2017), lịch sử
truyền giáo và quá trình phát triển của đạo Công giáo ở Việt Nam được chia
thành 4 giai đoạn; thời kỳ từ năm 1533 - 1884, thời kỳ từ 1884 - 1954, thời kỳ
từ 1954 – 1975 và thời kỳ từ 1975 đến nay Đạo Công giáo truyền vào Việt Nam năm 1533, do giáo sĩ Tây dương tên là In-nê-khu đến làng Ninh Cường
và Quần Anh, huyện Nam Chấn và làng Trà Lũ, huyện Giao Thuỷ (tỉnh Nam Định ngày nay) Đạo Công giáo vào Việt Nam trong bối cảnh tình hình kinh
tế, chính trị lâm vào giai đoạn khủng hoảng, nội chiến kéo dài giữa Nhà Trịnh
- Nhà Mạc, Nhà Trịnh - Nhà Nguyễn, đất nước bị chia cắt thành Đàng Trong, Đàng Ngoài Cuối thế kỷ XVIII, với vai trò của Giám mục Bá Đa Lộc, đại diện Tông toà Đàng Trong (1771 - 1799), người đã giúp Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long; cũng là người mang lại nhiều "cơ hội" cho việc truyền giáo của các thừa sai nước ngoài tại Việt Nam
Đạo Công giáo du nhập vào Việt Nam là tôn giáo hoàn toàn xa lạ với tín ngưỡng, phong tục và lề lối phong kiến Việt Nam thời đó, vốn lấy Nho giáo làm tư tưởng chủ đạo trong trị nước yên dân Nên trong quá trình truyền giáo nhất là thời Nhà Nguyễn đạo Công giáo cũng bị cấm gay gắt, nhất là thời vua Minh Mạng, Tự Đức Với hoà ước Giáp Thân ngày 6/6/1884, Pháp bắt đầu đô hộ toàn bộ Việt Nam, tạo nhiều thuận lợi cho hoạt động của đạo Công giáo ở Việt Nam Hiện nay, Công giáo là một trong số các tôn giáo lớn ở Việt Nam có tổ chức chặt chẽ với hơn 6 triệu tín đồ, 47 Giám mục, hơn 3.500 linh mục, hơn 3.000 giáo xứ, khoảng 9.000 giáo họ, hơn 100 dòng tu, tu hội, tu đoàn với trên 15.000 tu sĩ nam, nữ sinh hoạt trong 26 giáo phận thuộc 3 giáo tỉnh là: giáo tỉnh Hà Nội có 10 giáo phận: Hà Nội, Lạng Sơn, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Hoá, Bùi Chu, Thái Bình, Phát Diệm, Thanh Hoá và Vinh; giáo
Trang 19tỉnh Huế gồm 6 giáo phận: Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Kon Tum, Nha Trang
và Ban Mê Thuột; giáo tỉnh thành phố Hồ Chí Minh gồm 10 giáo phận: thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Mỹ Tho, Đà Lạt, Long Xuyên, Phú Cường, Xuân Lộc, Phan Thiết và Bà Rịa Đứng đầu 03 giáo tỉnh là 03 Tổng giám mục và đứng đầu các giáo phận là các giám mục Các giám mục làm việc chung trong một tổ chức là Hội đồng Giám mục Việt Nam Hội đồng Giám mục Việt Nam là một tổ chức có tư cách pháp nhân, được thành lập năm 1980, trụ sở tại Toà Giám mục Hà Nội, số 40 phố Nhà Chung, thành phố
Hà Nội Đạo Công giáo hiện có 6 đại chủng viện là nơi đào tạo linh mục, nơi cung cấp nguồn giáo sĩ chủ yếu cho Giáo hội Sáu Đại chủng viện hoạt động ở
3 giáo tỉnh, mỗi giáo tỉnh có 2 Đại chủng viện Lịch sử hình thành và phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam với nhiều thăng trầm, biến động Từ một tôn giáo ban đầu hoàn toàn xa lạ với xã hội Việt Nam, đến nay đạo Công giáo đã phát triển trở thành tôn giáo lớn ở Việt Nam, với nhiều hoạt động đa dạng và
có những ảnh hưởng trong đời sống văn hóa - xã hội Việt Nam
1.1.1.3 Vai trò của tôn giáo
Tôn giáo luôn ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa - xã hội, chính trị, nhà nước, quan hệ giữa các dân tộc, gia đình, lĩnh vực văn hóa thông qua hoạt động của cá nhân, nhóm, tổ chức tôn giáo trong các lĩnh vực ấy Quan hệ tôn giáo thường “đan xen” với các quan hệ xã hội khác “Mức độ ảnh hưởng của tôn giáo gắn liền với địa vị của nó trong xã hội, còn địa vị này không phải cái
cố định có sẵn, nó biến đổi theo hoàn cảnh diễn ra các quá trình thần thánh hóa và thế tục hóa” [15, tr.133] Tôn giáo có vai trò tác động đặc biệt đến xã hội, đến cá nhân của các tôn giáo thị tộc, bộ lạc, dân tộc, thế giới, cũng như đến các khuynh hướng và từng giáo phái riêng biệt Giáo lý tôn giáo, sự thờ cúng, tổ chức, đạo đức được biểu hiện ở lối ứng xử hàng ngày của tín đồ trong các lĩnh vực đời sống xã hội và đời sống khác nhau, để lại dấu ấn ở con người kinh tế, con người chính trị, con người đạo đức, con người nghệ thuật
Khi bàn về vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội, Mác - Ăngghen cho rằng, sự ra đời của tôn giáo một mặt là sự phản ánh hiện thực khách quan,
Trang 20mặt khác nó còn là sự phản kháng xã hội hiện thực với quá nhiều bất công, đau khổ Ăngghen, khi nghiên cứu đạo Cơ Đốc sơ kỳ cũng đã thừa nhận nó như là sự phản ánh khát vọng của những người nô lệ và trong bản thân nó có những điểm tương đồng với lý tưởng của chủ nghĩa xã hội Ông viết: “Trong lịch sử đạo Cơ Đốc sơ kỳ có những điểm giống đáng lưu ý với phong trào công nhân hiện đại, đạo Cơ Đốc nảy sinh như là một phong trào của những người bị áp bức; lúc đầu nó là tôn giáo của những người nô lệ và nô lệ đã được tha, của người nghèo và người vô quyền, của các dân tộc bị La Mã chinh phục hoặc đuổi đi tản mát Cả đạo Cơ Đốc lẫn chủ nghĩa xã hội công nhân đều tuyên truyền sự giải phóng con người trong tương lai khỏi cảnh nô
và giai cấp tư sản đã trở nên gay gắt và trong xã hội đó, “Tôn giáo là một trong những hình thức áp bức về tinh thần, luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì phải lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng cô độc” [19, tr.169]
Do điều kiện và yêu cầu của cách mạng đương thời, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu các khía cạnh khác như văn hóa, tâm lý, tình cảm, đạo đức của tôn giáo Do đó, các ông rất ít đề cập đến vai trò tích cực của tôn giáo trong đời sống xã hội Đây là một trong những vấn đề đòi hỏi cần phải tiếp tục vận dụng phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin đi sâu tìm hiểu tôn giáo từ nhiều góc độ khác nhau để có cách nhìn khách quan, khoa học về hiện tượng xã hội này
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo vào thực tế cách mạng nước ta một cách rất phù hợp
Trang 21Người không chỉ nhìn tôn giáo dưới góc độ chính trị, ý thức hệ, mà Người đã phát hiện và chỉ ra những giá trị văn hóa, đạo đức tích cực của tôn giáo Nhận thức sâu sắc vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội, bao hàm cả hai mặt tích cực và mặt tiêu cực, Hồ Chí Minh luôn tìm cách khai thác, phát huy các giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo để phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đồng thời đấu tranh khắc phục những tiêu cực Hồ Chí Minh đấu tranh với các thế lực lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị Bởi Người nhận thức được rất rõ ràng rằng, trong một quốc gia đa tôn giáo, khi mà nhiệm vụ giải phóng dân tộc đang được đặt lên hàng đầu thì việc tập hợp sức mạnh của toàn dân không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề sống còn của cách mạng Hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rõ việc phê phán, đấu tranh một cách trực diện với giáo lý tôn giáo sẽ không có lợi cho việc đoàn kết toàn dân Điều đó càng thể hiện rõ, Hồ Chí Minh đã rất thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng một cách sáng tạo những quan điểm đó vào điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam
Chúng ta biết rằng, tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới… Đây là cơ sở lý luận quan trọng để hạn chế các biểu hiện sai sầm trong nhận thức và ứng xử với tôn giáo, làm cho chính sách của Nhà nước về tôn giáo ngày càng đúng đắn và được đông đảo đồng bào có đạo đồng tình, ủng hộ Tôn giáo vẫn phát huy ảnh hưởng của nó trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận theo quy định của pháp luật Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp
Trang 22luật” [9, tr.165] Từ nhận thức đúng đắn về nhu cầu tôn giáo của quần chúng,
về vai trò của tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống xã hội, Đảng và Nhà nước
ta đã thường xuyên chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tín ngưỡng chân chính của đồng bào có đạo Đảng, Nhà nước cũng luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào các tôn giáo phát huy giá trị nhân văn, nhân bản của tôn giáo trong xây dựng cuộc sống; động viên đồng bào các tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”; đồng thời cũng kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đấu tranh với các hành vi lợi dụng tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc
Thực tế cho thấy, khi vai trò tích cực của tôn giáo được thừa nhận và khuyến khích phát huy đã đem lại những hiệu quả thiết thực trong đời sống xã hội Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ đổi mới đã được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo được niềm tin, sự phấn khởi lớn trong đồng bào có đạo Khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được tăng cường, củng cố vững chắc hơn Đồng bào có đạo trên khắp các vùng miền cả nước đã và đang tích cực hưởng ứng phong trào thi đua yêu nước, sống tốt đời, đẹp đạo, hăng hái tham gia vào các phong trào phát triển kinh tế-
xã hội, góp phần xây dựng quê hương, đất nước Nhiều gia đình tín đồ tôn giáo từ nghèo đói triền miên đã vươn lên thoát nghèo Nhiều vùng đồng bào
có đạo từ nghèo đói đã trở nên giàu có và trở thành điển hình của cả nước Hàng chục vạn gia đình tín đồ, hàng ngàn làng, xã, khu dân cư của đồng bào có đạo được công nhận là gia đình văn hóa, làng xã văn hóa, khu dân cư an toàn
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quyền tự do tôn giáo
1.1.2.1 Khái niệm quyền tự do tôn giáo
Đảm bảo quyền tự do tôn giáo là nguyện vọng chính đáng của các tổ chức tôn giáo và mỗi người tín đồ theo tôn giáo Tự do là một phạm trù triết học chỉ khả năng biểu hiện ý chí, làm theo ý muốn của mình trên cơ sở nhận thức được quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội Tự do tôn giáo, cùng với
tự do tín ngưỡng, tự do chính kiến, tự do biểu đạt, tự do báo chí, tự do thông
Trang 23tin, tự do lập hội, tự do hội họp, tự do thành lập và tham gia công đoàn là những giá trị xuất phát từ chủ nghĩa duy lý trong thời kỳ Khai sáng, cho rằng
sự tồn tại của cá nhân về mặt tinh thần đòi hỏi sự bảo vệ đặc biệt của nhà nước, bao gồm niềm tin vào những giá trị tinh thần đó, quyền giao tiếp về những chủ đề tinh thần với người khác, quyền tự do bảo vệ những niềm tin và giá trị đó dưới hình thức cá nhân hay tập thể, và quyền tự do hành động theo những niềm tin và giá trị tinh thần đó chừng nào còn không vi phạm đến các quyền của những người khác
Quyền tự do tôn giáo trong văn bản luật quốc tế về tôn giáo được ghi nhận từ rất sớm trong các văn kiện luật nhân quyền quốc gia và quốc tế Ở cấp độ quốc tế, quyền này được khẳng định ngay trong văn kiện quốc tế đầu tiên về nhân quyền là Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền năm 1948: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo; quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tôn giáo và niềm tin, cũng như quyền tự do biểu hiện tôn giáo hay niềm tin của mình, một mình hay cùng chung nhau, ở nơi công cộng hay ở nơi riêng tư, bằng thuyết giảng, tục lệ, thờ cúng và làm các nghi lễ” [25, tr.152]
Ở Việt Nam, quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được Nhà nước ta ghi nhận ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, nó thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ nhân dân, tôn trọng quyền công dân, quyền con người Tư tưởng ấy nó vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình lập pháp ở nước ta qua bốn bản Hiến pháp Tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo
để vi phạm pháp luật” [12, tr.17-18]
Tại Điều 1, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân
Trang 24Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy” [22] Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) quy định cụ thể hơn về quyền tự
do tôn giáo của mọi người, tại Điều 6 quy định: “1 Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào 2 Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo 3 Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý 4 Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác 5 Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo” [20] Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được hiểu là một trong những quyền cơ bản của công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định trong Hiến pháp và pháp luật
1.1.2.2 Đặc điểm quyền tự do tôn giáo
Chúng ta biết rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phản ánh bản chất của chế độ chính trị - xã hội, thường xuyên biến đổi, phát triển về nội dung và hình thức cùng với sự biến đổi, phát triển không ngừng của xã hội và có một
số đặc điểm như sau:
Một là, nội dung điều chỉnh của pháp luật về tôn giáo liên quan đến
những quyền tự do căn bản của con người như tự do truyền đạo, tự do thể hiện niềm tin tôn giáo, liên quan đến các vấn đề chính trị, kinh tế - xã hội và
an ninh, trật tự; vì vậy trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tôn giáo, phải xác định rành mạnh, cụ thể chức năng, thẩm quyền của các cấp, các ngành trong nhiệm vụ quản lý các hoạt động tôn giáo
Xét trên bình diện lý luận chung về nhà nước và pháp luật thì pháp luật
Trang 25về tôn giáo cũng cần phải có những chế định, quy phạm đầy đủ và toàn diện
để điều chỉnh, phản ánh toàn bộ các hoạt động, các mối quan hệ xã hội có liên quan đến lĩnh vực tôn giáo kể cả những vấn đề phức tạp mới nảy sinh trong hoạt động tôn giáo của các tôn giáo ở nước ta và những tác động mới của các tôn giáo từ nước ngoài vào Việt Nam những năm gần đây Pháp luật của Việt Nam hiện nay phân chia các ngành luật theo từng lĩnh vực như hình sự, dân
sự, hành chính, và trong các ngành luật đó đều có chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực tôn giáo, do đó việc thể hiện tính toàn diện của pháp luật về tôn giáo sẽ phức tạp hơn vì phải phân tán các chế định, các quy phạm pháp luật trong từng luật theo lĩnh vực riêng Do vậy, Quốc hội đã ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo là một tất yếu khách quan để hoàn thiện và đưa các quy phạm điều chỉnh liên quan đến hoạt động tôn giáo và nó sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018
Hai là, pháp luật về tôn giáo bắt buộc hoạt động tôn giáo diễn ra trong
khuôn khổ pháp luật, nhưng không ảnh hưởng đến hoạt động thuần túy tôn giáo; đối với các hoạt động thuần túy tôn giáo, pháp luật không can thiệp, điều chỉnh, nhưng về nguyên tắc Nhà nước quy định: Nghiêm cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tôn giáo; xúc phạm tôn giáo; xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức
xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa những người theo các tôn giáo khác nhau; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi
Ba là, pháp luật về tôn giáo của nước ta còn điều chỉnh hoạt động tôn
giáo ở Việt Nam có yếu tố nước ngoài; do đặc điểm mối quan hệ quốc tế của các tôn giáo ở Việt Nam nên pháp luật về tôn giáo phải tôn trọng các hoạt động này, trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc đảm bảo độc lập, chủ quyền đất nước và phù hợp với chủ trương của nhà nước về hợp tác quốc tế Tôn giáo là
Trang 26một lĩnh vực nhạy cảm, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng vào mục đích chính trị Đặc biệt, trong giai đoạn hội nhập, giao lưu quốc tế hiện nay, nhiều
tổ chức, cá nhân tôn giáo vào Việt Nam làm ăn, sinh sống thì những quy định
về tôn giáo lại càng phải phù hợp với những Điều ước quốc tế mà Việt Nam
đã tham gia ký kết hoặc gia nhập trong đó có Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền và Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị
Bốn là, đặc điểm của đối tượng quản lý: Đối tượng của quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo gồm chức sắc, chức việc, tín đồ, nhà tu hành
và các tổ chức tôn giáo; hiện nay, trên địa bàn cả nước hiện có khoảng trên 24 triệu tín đồ, 83.000 chức sắc, 250.000 chức việc, 46 cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo, 25 ngàn cơ sở thờ tự
- Đặc điểm của tín đồ: Tín đồ các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật về nghĩa vụ và quyền lợi như mọi công dân khác; đa số đồng bào tín đồ các tôn giáo có lòng yêu nước, tinh thần chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc Trong công cuộc đổi mới, đồng bào tín đồ các tôn giáo là một lực lượng quan trọng góp phần xây dựng đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Đồng bào tín đồ các tôn giáo là công dân và là thành viên của một tổ chức tôn giáo với niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo sâu sắc; cùng với việc thực hiện nghĩa vụ công dân với Nhà nước, họ còn thực hiện nghĩa
vụ của một tín đồ đối với tổ chức tôn giáo
- Đặc điểm của nhà tu hành, chức sắc: Nhà tu hành, trước hết là tín đồ thuộc một tổ chức tôn giáo nhất định, bởi vậy họ cũng có những đặc điểm chung của một tín đồ; hiện nay lực lượng nhà tu hành, chức sắc các tôn giáo khá đông đảo; đa số được tổ chức tôn giáo đào tạo cơ bản, phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử Nhà tu hành, chức sắc có vị trí, vai trò ảnh hưởng sâu sắc trong đồng bào tín đồ và thường xuyên gần gũi tín đồ, có uy tín trong đồng bào tín đồ Họ đại diện ở mức độ khác nhau cho các tổ chức giáo hội trong quan hệ nội bộ, trong quan hệ xã hội
- Đặc điểm của tổ chức tôn giáo: Hệ thống tổ chức, bộ máy của tổ chức tôn giáo được quy định trong hiến chương, điều lệ, các quy định của tổ chức
Trang 27và được nhà nước thừa nhận Tổ chức tôn giáo điều hành hoạt động tôn giáo; đại diện cho cộng đồng tín đồ trong quan hệ với nhà nước và các tổ chức khác
có liên quan khi giải quyết công việc tôn giáo Trong mối quan hệ với nhà nước và dân tộc, các tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận đều thể hiện đường hướng hành đạo gắn bó với tổ quốc, đồng hành cùng dân tộc Đa số các tổ chức tôn giáo có mối liên hệ đồng đạo với tổ chức tôn giáo nước ngoài, tình hình đó đặt ra nhiều vấn đề trong quản lý các hoạt động quan hệ quốc tế của tổ chức, cá nhân tôn giáo
1.1.2.3 Vai trò của quyền tự do tôn giáo
Một là, vai trò của quyền tự do tôn giáo là rất quan trọng, bảo đảm
quyền tự do tôn giáo là đáp ứng nhu cầu tinh thần của đại đa số đồng bào có tôn giáo; nguyện vọng mong muốn của các chức sắc, tín đồ là được Nhà nước bảo đảm cho quyền được bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo Các chức sắc, chức việc, nhà tu hành luôn mong muốn có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo
Hai là, bảo đảm quyền tự do tôn giáo là thực hiện nhất quán chủ
trương, đường lối của Đảng ta, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, đó là mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau Thông qua đó, để tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, với mục đích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Ba là, trong điều kiện đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế
ở nước ta hiện nay, việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân sẽ góp phần tạo ra động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, tập hợp được quần chúng có đạo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc Nhận
Trang 28thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc bảo đảm cho cho người dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình Điều đó không những được nêu rõ ở những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng mà Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật cũng quy định rõ nội dung quyền, các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền đó cho người dân phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã
ký kết gia nhập ngày 24-9-1982 Việt Nam cam kết tôn trọng và thực hiện có hiệu quả các quyền được Công ước ghi nhận bằng hoạt động lập pháp cũng như bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trên thực tế
Bốn là, quyền tự do tôn giáo của nhân dân luôn được Nhà nước ta tôn
trọng, bảo đảm, coi đó là một trong những quyền cơ bản của công dân, khi quyền tự do tôn giáo được Nhà nước bảo hộ, pháp luật bảo vệ thì các thế lực thù địch sẽ không thể tìm cách tung ra những luận điệu cho rằng Việt Nam không có tự do tôn giáo, không thể vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, nhằm gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ Đảng, Nhà nước với đồng bào các tôn giáo, kích động quần chúng tín đồ chống đối chính quyền, gây mất ổn định chính trị - xã hội, không thể tạo cớ can thiệp vào nội bộ nước ta
1.2 Quyền tự do tôn giáo trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam
1.2.1 Quyền tự do tôn giáo trong pháp luật quốc tế
Quyền tự do tôn giáo là một trong những vấn đề được thảo luận nhiều nhất trong lịch sử phát triển các quyền và tự do cơ bản của con người Khung pháp lý quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện trong các văn kiện quốc tế bao gồm: Hiến chương Liên Hợp quốc, Tuyên ngôn thế giới
về nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về quyền của người bản xứ… Điều 18 của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 đã khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo; quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tôn giáo và niềm tin, cũng như quyền tự do biểu hiện tôn giáo hay niềm tin của mình, một mình hay cùng chung nhau, ở nơi công cộng hay ở nơi riêng
Trang 29tư, bằng thuyết giảng, tục lệ, thờ cúng và làm các nghi lễ” [25]
Công ước quốc tế về quyền dân sự - chính trị đã tái khẳng định nguyên tắc mọi người đều có quyền tự do, bình đẳng theo hay không theo tín ngưỡng, tôn giáo (khoản 1, điều 18) [5] và quyền không bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn một tôn giáo hoặc tín ngưỡng (khoản 2, điều 18) [5] và nhấn mạnh nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc tôn trọng
và bảo đảm việc thực hiện hóa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Đặc biệt là điều 18 (khoản 3) của Công ước đã đề cập đến những giới hạn của việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Những giới hạn chỉ ra cho thấy việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mỗi công dân phải trong khuôn khổ của hiến định và luật định cũng như truyền thống văn hóa, bản sắc dân tộc Về khía cạnh này có thể thấy sự cần thiết đặc biệt của công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục về pháp luật quốc tế và quốc gia liên quan đến tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng, cũng như về quyền và nghĩa vụ của công dân nói chung Việc đưa quy định về giới hạn luật định đối với tự do tín ngưỡng, tôn giáo vào thành một chuẩn mực pháp lý quốc tế đã
đủ cho thấy tầm quan trọng của giới hạn tự do và quyền cũng như tính nghĩa
vụ và trách nhiệm của cá nhân trong khi thực hiện tự do của mình mà không làm ảnh hưởng đến tự do của người khác, cũng như lợi ích chung của cộng đồng, xã hội và dân tộc
Quyền con người luôn bao chứa nghĩa vụ của chủ thể mang quyền ấy đối với sự tôn trọng quyền của người khác, quyền và lợi ích của cộng đồng; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng vậy, luôn chỉ ra nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc thực hiện quyền ấy của mỗi cá nhân Tính giới hạn của các quyền, nghĩa vụ là việc thực hiện quyền hay tự do của mỗi người phải trên cơ
sở của việc tuân thủ các chuẩn mực của pháp luật và đạo đức mà xã hội ấy cho phép, cũng là một trong những đặc trưng cơ bản của quyền và pháp luật quốc tế và quốc gia quy định Điều 29 của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền nhấn mạnh “1 Cá nhân phải có những bổn phận đối với cộng đồng, chỉ trong
đó nhân cách của mình mới có thể phát triển tự do và đầy đủ; 2 Trong việc
Trang 30thực hiện các quyền và hưởng thụ các tự do của mình, mọi người chỉ bị giới hạn bằng luật pháp nào nhằm bảo đảm thừa nhận và tôn trọng các quyền và các tự do của người khác và nhằm thỏa mãn những yêu cầu đúng đắn của đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ” [8] Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị tại khoản 2, điều 18, khoản 2 điều
21, 22 quy định cụ thể về nghĩa vụ, trách nhiệm của cá nhân đối với người khác và cộng đồng trong khi thực hiện quyền của mình
1.2.2 Quyền tự do tôn giáo trong pháp luật Việt Nam
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, gồm cả tôn giáo nội sinh và ngoại nhập Tuy vậy, quyền tự do tôn giáo đã được ghi nhận ngay trong Hiến pháp đầu tiên (1946) và tiếp tục được tái khẳng định trong các bản Hiến pháp năm
1959, 1980, 1992, 2013, với những quy định càng về sau càng có xu hướng chi tiết hơn Ngoài Hiến pháp, trong từng thời kỳ, quyền tự do tôn giáo còn được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quan trọng khác Chẳng hạn như ngay sau khi hòa bình lập lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 234-
SL ngày 14/6/1955 ghi rõ: “Việc tự do, tín ngưỡng, thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân Chính quyền dân chủ cộng hoà luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy
và giúp đỡ nhân dân thực hiện” (Điều 15) Một số Thông tư hướng dẫn thi hành Sắc lệnh này sau đó đã được ban hành, bao gồm: Thông tư số 593-TTg (năm 1957) và Thông tư số 60-TTg (11/6/1964) quy định chi tiết về việc thi hành chính sách tôn giáo…
Sau khi đất nước thống nhất, Chính phủ đã thông qua Nghị quyết số 297-CP ngày 11/11/1977 về “Một số chính sách đối với tôn giáo”, trong đó nêu các nguyên tắc về tự do tôn giáo Bước vào thời kỳ đổi mới, vấn đề quyền
tự do tôn giáo và bảo vệ quyền này tiếp tục được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật, bao gồm: Nghị định số 69-HĐBT ngày 21/3/1991 ban hành “Quy định về các hoạt động tôn giáo”; Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 quy định về các hoạt động tôn giáo; Bộ luật Dân sự 1995 (Điều 43), Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 (Điều 129), Luật tổ chức Chính phủ 2001 (Điều 13), Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 (Điều
Trang 315); Luật Giáo dục 2005 (các Điều 9 và 16)… Tuy nhiên, quan trọng nhất là Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ban hành năm 2004 đang còn hiệu lực thi hành
Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 đã thể chế hóa quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong đó xác định: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” Pháp lệnh lần đầu tiên giải thích các thuật ngữ “hoạt động tín ngưỡng”,
“cơ sở tín ngưỡng”, “tổ chức tôn giáo”, “hoạt động tôn giáo”, “hội đoàn tôn giáo”, “cơ sở tôn giáo”, v.v… đồng thời quy định cụ thể về hoạt động tín ngưỡng của người có tín ngưỡng; hoạt động tôn giáo của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc; tổ chức tôn giáo và hoạt động của tổ chức tôn giáo; tài sản thuộc cơ
sở tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động xã hội của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà
tu hành, chức sắc; quan hệ quốc tế của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc Những vấn đề này sau đó được cụ thể hóa trong các Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01/3/2005 và Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 (thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP) của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
Nội dung của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 đã quán triệt, thể chế hóa cơ bản những quan điểm, chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Đã tạo sự thông thoáng đáng kể về sinh hoạt tôn giáo trong xã hội so với thời kỳ trước đó Quy định về việc công nhận tổ chức tôn giáo đã làm tăng số lượng các xứ, họ đạo Công giáo được công nhận trên thực tế Việc chia tách, sáp nhập các tổ chức tôn giáo được thực hiện thuận lợi hơn Các yêu cầu về đất đai, cơ sở vật chất của một số tôn giáo từng bước được Nhà nước xem xét giải quyết Hoạt động in ấn, xuất bản, đào tạo của các tôn giáo ngày càng phát triển Việc sửa chữa, nâng cấp, cải tạo các công trình tôn giáo cũng có những chuyển biến quan trọng, do chính quyền cơ sở được trao quyền giải quyết với các công trình tôn giáo không thuộc diện phải xin giấy phép xây dựng Pháp lệnh cũng thể hiện chính sách dân chủ, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; xác định rõ quyền và nghĩa vụ
Trang 32của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc những việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo do các tôn giáo tự giải quyết theo hiến chương, điều lệ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận Đồng bào các tôn giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, thực hiện đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”
Tuy nhiên, cùng với những kết quả đạt được, Pháp lệnh đã bộc lộ những bất cập Đó là: Một số quy định của Pháp lệnh còn thiếu cụ thể, chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo của mọi người, như quy định về đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo, phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, hoạt động xã hội của tổ chức tôn giáo Một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn chưa được quy định trong Pháp lệnh như: Vấn đề tổ chức tôn giáo ở Việt Nam gia nhập tổ chức tôn giáo quốc tế; việc phong chức, phong phẩm,
bổ nhiệm cho người có quốc tịch nước ngoài hoạt động cho tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; việc người nước ngoài vào tu tại cơ sở tôn giáo ở Việt Nam; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, công tác đấu tranh chống hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá chế độ, gây bất ổn về an ninh, trật
tự chưa được quy định cụ thể trong Pháp lệnh
Ngày 18/11/2016, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua (sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018) với 9 chương, 68 Điều, bên cạnh các nội dung kế thừa từ các quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
và Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 18/12/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã bổ sung các quy định mới nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người
Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã mở rộng phạm vi chủ thể có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ “công dân” thành “mọi người”; bổ sung riêng một
Trang 33Chương về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phản ánh rõ hơn phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật cũng như thể hiện một cách cơ bản nhất chính sách của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người Điều chỉnh về quy định đăng ký sinh hoạt tôn giáo để mọi người có quyền bày tỏ niềm tin tôn giáo; thay đổi thẩm quyền giải quyết đối với một số hoạt động tôn giáo giúp cho việc thực hiện các thủ tục hành chính nhanh gọn, thuận lợi hơn cho các tổ chức tôn giáo; mở rộng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người nước ngoài ở Việt Nam nhằm phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế; mở rộng các hoạt động của tổ chức tôn giáo trong lĩnh vực y
tế, giáo dục, đào tạo theo hướng phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan; khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tham gia sâu vào các hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo; Luật cũng phân định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, bộ, ngành, Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo các cấp trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng bảo vệ Tổ quốc
Bên cạnh đó, Luật cũng có các quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tôn giáo (Điều 9) Đồng thời, quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm như: Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau (khoản 4, Điều 5)
Có thể nói, Luật tín ngưỡng, tôn giáo với nhiều điểm mới tiến bộ có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người Luật tín ngưỡng, tôn giáo cũng được đánh
Trang 34giá là một bước tiến mới trong vấn đề đảm bảo quyền tự do tôn giáo ở nước
ta, phù hợp với xu thế hội nhập của thế giới trong tình hình hiện nay
1.3 Nội dung và hình thức thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo
1.3.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo
Thực hiện pháp luật là phương thức tồn tại của pháp luật, để pháp luật
có thể thực hiện chức năng xã hội của mình, tức là pháp luật ở trạng thái động, pháp luật trong hành động “Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hoá các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [8, tr.463] Hay diễn đạt một cách khác: “Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [13, tr.316]
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, trách nhiệm thực hiện pháp luật mang tính nguyên tắc do Hiến pháp quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN” Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật Quản lý nhà nước bằng pháp luật đòi hỏi Nhà nước phải ban hành pháp luật Nếu pháp luật ban hành nhiều nhưng ít
đi vào cuộc sống, hiệu quả điều chỉnh của các quy phạm pháp luật không cao, chứng tỏ việc thực hiện pháp luật kém hiệu quả Do đó, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là đòi hỏi khách quan và có mối quan hệ biện chứng với nhau Thực hiện pháp luật được thể hiện dưới 4 hình thức đó là: Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Mặc
dù thực hiện pháp luật được thể hiện ở nhiều hình thức nhưng nó đều là hành động có mục đích nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống
Từ nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật như
sau: Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho các
Trang 35quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật
Khái niệm thực hiện pháp luật và khái niệm quyền tự do tôn giáo đã nêu trên là cơ sở để nghiên cứu khái niệm thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo Để bảo vệ quyền tự do tôn giáo, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tôn giáo, Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về tín ngưỡng tôn giáo nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp luật bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo Từ đó, chúng tôi đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật về quyền tự
do tôn giáo như sau: Thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo là một quá
trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật về quyền tự
do tôn giáo trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật
1.3.2 Nội dung thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo
Nội dung thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo bao gồm các vấn đề sau:
Một là, về công nhận tổ chức tôn giáo
Hai là, về việc mở trường đào tạo chức sắc
Ba là, sinh hoạt tôn giáo của tín đồ
Bốn là, về việc xây dựng, sửa chữa nơi thờ tự, hiến tặng, chuyển nhượng đất đai liên quan đến tôn giáo
Năm là, về in ấn, xuất bản
Sáu là, về hoạt động quốc tế của các tổ chức, cá nhân tôn giáo
Bảy là, các tổ chức tôn giáo tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động xã hội hóa về y tế, giáo dục, từ thiện, nhân đạo
Tám là, về khiếu nại, tố cáo
1.3.3 Hình thức thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo
Thực tế cho thấy rằng, các quy phạm pháp luật rất phong phú nên hình
Trang 36thức thực hiện chúng cũng rất phong phú và khác nhau Tuy nhiên từ căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã xác định thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo cũng được cụ thể trong 04 hình thức thực hiện pháp luật gồm: Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật
Một là, Tuân theo (tuân thủ) pháp luật (xử sự thụ động) là một hình
thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ngăn cấm
Hai là, Thi hành (chấp hành) pháp luật là một hình thức thực hiện pháp
luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải xuất phát từ quyền con người trong lĩnh vực tôn giáo; nhưng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn với nghĩa vụ trong thực hiện tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Quyền và nghĩa vụ là hai mặt không thể tách rời của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Công dân muốn được hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thì phải gánh vác nghĩa vụ khi thực hiện tự do tín ngưỡng, tôn giáo, dù ở bất kỳ một tín ngưỡng, tôn giáo nào Đây là điều kiện bảo đảm cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện Mặt khác, Nhà nước cũng sẽ bảo đảm cho các quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp của công dân được thực hiện trên cơ sở nghiêm chỉnh chấp hành các nghĩa vụ mà pháp luật quy định
Ví dụ, theo quy định tại khoản 2, Điều 9, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 thì các chủ thể pháp luật là những chức sắc, tín đồ theo tôn giáo phải có nghĩa vụ là: “Trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, người có tín ngưỡng, tín đồ có trách nhiệm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người khác; thực hiện quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo không cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật” Đối với hoạt động tôn giáo hàng năm, hoặc muốn tổ chức hoạt động tôn giáo ngoài chương trình đã đăng ký thì phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm
Trang 37quyền; tại khoản 1, Điều 12, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quy định: “Người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở có trách nhiệm đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo hàng năm diễn ra tại cơ sở đó với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn; trường hợp tổ chức hoạt động tôn giáo ngoài chương trình đã đăng ký thì phải được xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận” [22]
Ba là, Sử dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó
các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép) Hình thức này khác với các hình thức thi hành pháp luật ở chỗ chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình, chứ không bị ép buộc phải thực hiện Chẳng hạn như quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.” [9]
“Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” [22] “Chức sắc, nhà tu hành và công dân có tín ngưỡng, tôn giáo được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân” [22]
Bốn là, Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong
đó nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo
ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan
hệ pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo Trong trường hợp này các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật về quyền tự do tôn giáo có sự can thiệp của nhà nước
Áp dụng pháp luật là một hình thức rất quan trọng của thực hiện pháp luật để bảo đảm pháp luật luôn được thực thi Chẳng hạn, hoạt động truyền đạo ngoài khuôn viên cơ sở tôn giáo chưa xin phép cơ quan chức năng theo quy định, hoạt động lấn chiếm, chuyển nhượng, xây dựng cơ sở tôn giáo trái pháp luật, hay mức độ nguy hiểm hơn là hoạt động lợi dụng tôn giáo để tổ
Trang 38chức chống phá, gây rối an ninh, trật tự, biểu tình trái pháp luật, bạo loạn lật
đổ là những hành vi vi phạm pháp luật, nhà nước, chính quyền và các cơ quan hoặc nhà chức trách có thẩm quyền sẽ thực hiện các biện pháp áp dụng pháp luật phù hợp để ngăn chặn, xử lý các hoạt động vi phạm đó, bảo đảm tính thực thi của pháp luật, đồng thời cũng chính là bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, công dân, trong đó có quyền và lợi ích hợp pháp
của các tổ chức, tín đồ theo các tôn giáo khác nhau trong xã hội
1.4 Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền tự do tôn giáo
1.4.1 Điều kiện bảo đảm về chính trị
Pháp luật nói chung và pháp luật về tôn giáo nói riêng chính là sự phản ánh, cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo đảm
sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội Việt Nam Vì vậy, để pháp luật về tôn giáo ngày càng hoàn thiện, Đảng đã đề
ra các chủ trương, chính sách về tôn giáo đúng đắn, sáng suốt Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật Như vậy, quyền công dân nói chung và quyền tự do tôn giáo nói riêng được bảo đảm bằng thể chế chính trị của nền dân chủ Đảng ta là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, tại Điều 4, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” [12]
Thực tế cho thấy, những năm qua chủ trương, chính sách của Đảng về tôn giáo đã được quan tâm và có nhiều thay đổi, có những bước đột phá lớn, được thể chế hóa thành pháp luật, đáp ứng kịp thời tình hình thực tiễn và đi vào cuộc sống Đời sống của đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo đã thay đổi
Trang 39một cách rõ rệt, làm cho họ ngày càng yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Trong hoạt động bảo đảm thực hiện quyền tự do tôn giáo, các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp đã có mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức xã hội, đặc biệt là các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc các cấp, phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự thống nhất về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật Sự phát triển toàn diện của nền dân chủ đòi hỏi sự tham gia đông đảo của công dân vào công việc của nhà nước Hoạt động kiểm tra, giám sát của các tổ chức xã hội và công dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước cũng là điều kiện bảo đảm về chính trị cho việc thực hiện các quyền công dân nói chung và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng
1.4.2 Điều kiện bảo đảm về tư tưởng
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết lương giáo, đoàn kết dân tộc, triệt để tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, thể chế hóa quyền đó thông qua hệ thống pháp luật của nhà nước, yêu cầu cơ quan nhà nước và công dân thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật Nhà nước phải có trách nhiệm thường xuyên chăm lo đời sống mọi mặt của đồng bào có đạo; với tinh thần đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được đông đảo chức sắc, tín đồ các tôn giáo hết lòng phấn đấu cho sự nghiệp cứu nước, kiến quốc, từ đó xóa dần những định kiến, mặc cảm do lịch sử để lại và
âm mưu chia rẽ tôn giáo của một số thế lực thù địch Người cho rằng, đoàn kết lương giáo là đoàn kết lâu dài và toàn diện, là vấn đề chiến lược; với thái độ chân tình, cởi mở, bao dung và luôn thấu hiểu nỗi trăn trở, suy tư của đồng bào
Tư tưởng đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc và tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do không tín ngưỡng là nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Công tác tôn giáo phải được làm thường xuyên, phải được nghiên cứu sâu sắc tình hình thực tế, hiểu rõ phong tục tập
Trang 40quán, truyền thống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; việc thực hiện khoa học, chặt chẽ, có chất lượng cao, nâng cao năng lực cán bộ, tăng cường các biện pháp giáo dục chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng đối với cán bộ, đảng viên Quan tâm quần chúng tín đồ, tôn trọng và thực hiện đầy đủ quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng cương quyết xử lý những phần tử lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vi phạm pháp luật Vì vậy, công tác tôn giáo không chỉ góp phần giữ gìn ổn định chính trị, xã hội mà cần phải biết phát hiện, phát huy những yếu tố có ý nghĩa về văn hóa, đạo đức trong công tác tôn giáo, động viên được người có đạo tham gia các phong trào cách mạng, tham gia vào quá trình xây dựng đời sống mới, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
1.4.3 Điều kiện bảo đảm về kinh tế, văn hóa, xã hội
Điều kiện bảo đảm về kinh tế: Trong sự nghiệp đổi mới Đảng ta xác
định nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, phải đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường coi đó là tiền đề vật chất để thực hiện và bảo đảm quyền con người nói chung và quyền tự do tôn giáo nói riêng Mục đích của chính sách kinh tế nhà nước là phát triển dân sinh, dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất, tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, khoa học kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới Trong các quyền về kinh tế, quyền được kinh doanh là một quyền cơ bản của công dân trong nền kinh tế thị trường, phát triển kinh tế, đời sống nhân dân sẽ có nhiều thuận lợi, tạo điều kiện tốt hơn trong thực hiện quyền tự do tôn giáo Với đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta ngày càng tạo ra những điều kiện cần thiết để thực hiện các quyền được pháp luật thừa nhận Đó chính là những tiền đề, điều kiện bảo đảm về kinh tế để mọi công dân thực hiện tốt các quyền công dân