Về mặt thời gian, Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2016 – 2021, bởi đây là quá trình bầu cử đại biểu Hội đồng
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH THỦY
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN CẤP TỈNH Ở TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGHỆ AN, 2017
Trang 2NGUYỄN THỊ THANH THỦY
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN CẤP TỈNH Ở TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60.38.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN MẠNH
NGHỆ AN, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác
và trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của trường Đại học Vinh
Vậy, tôi viết lời cam đoan này kính đề nghị Trường Đại Vinh cho tôi đươc bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Thanh Thủy
Trang 4Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh, người đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tuy đã cố gắng rất nhiều, nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự thông cảm, đóng góp ý kiến từ phía các nhà khoa học và quý thầy cô giáo!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp mới của đề tài 4
7 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 6
1.2 Nội dung và hình thức thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 16
1.3 Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 28
Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH Ở TỈNH NGHỆ AN. 33
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An 33
2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở tỉnh Nghệ An 35
2.3 Đánh giá việc thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở tỉnh Nghệ An 41
Trang 6Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH Ở TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY 48 3.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở tỉnh Nghệ An hiện nay 48 3.2 Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở tình Nghệ An hiện nay. 52
KẾT LUẬN 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐB HĐND : Đại biểu hội đồng nhân dân HĐND : Hội đồng nhân dân
MTTQ : Mặt trận tổ quốc UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa ĐCS : Đảng Cộng Sản
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Điều 2, Hiến pháp 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và
vì dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.” Điều 6 Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định “Nhân dân sử dụng quyền
lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của nhà nước”.[30]
Bầu cử được sử dụng là một phương thức phổ biến và dân chủ để nhân dân lựa chọn và ủy thác quyền lực cho các thiết chế đại diện, thể hiện rõ nét nhất Nhà nước của nhân dân; có ý nghĩa quan trọng quyết định phương thức hoạt động của nhà nước do nhân dân để hướng tới mục đích vì nhân dân, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN
Với bản chất là một nhà nước có chế độ chính trị dân chủ, Nhà nước ta được sử dụng một hệ thống các phương pháp và biện pháp dân chủ rộng rãi để
tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước Gần sáu mươi lăm năm qua, Nhà nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt Góp phần vào những thành tựu to lớn đó không thể không kể đến vai trò của pháp luật bầu cử
Để bảo đảm sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối toàn cầu hóa, cần xây dựng chính quyền nhân dân thực sự vững mạnh, dân chủ, hiệu quả Tuy nhiên, việc phát huy dân chủ trong pháp luật bầu cử đại biểu các cơ quan đại diện không chỉ là việc hoàn thiện các quy định của pháp luật, mà còn cần phải được thể hiện trong cả trong hoạt động thực thi pháp luật bầu cử trong thực tiễn cuộc sống Vì thế, cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bầu cử nói chung và pháp luật về bầu
cử hội đồng nhân dân cấp tỉnh nói riêng cần phải tổ chức thực hiện tốt pháp luật về bầu cử
Trang 9Thực tế cho thấy việc thực hiện pháp luật nói chung, pháp luật bầu cử đại biểu các cơ quan đại diện nói riêng trong thời gian qua có lúc, có nơi còn chưa được nghiêm chỉnh Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng hoạt động tổ
chức thực hiện chính sách, pháp luật Người cho rằng:“Chính sách đúng là
nguồn gốc của thắng lợi Nhưng khi chính sách đúng thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do cách thức tổ chức công việc, lựa chọn cán bộ
và kiểm tra Nếu một trong ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng trở nên vô nghĩa”.[13, tr 150 – 151].Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, sự
thành công hay thất bại của chính sách pháp luật còn do nơi thực hiện
Chính sách đúng, phương pháp tổ chức phù hợp là cơ sở cho sự thành công của một chính sách pháp luật Và như vậy, chính sách pháp luật bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh sẽ đạt kết quả tốt, góp phần vào công cuộc đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị khi và chỉ khi nó được đảm bảo thực hiện trên thực tế Tuy nhiên, qua thực tiễn thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở tỉnh Nghệ An nhiệm kỳ 2016 – 2021 cho thấy: việc thực hiện pháp luật bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có lúc, có nơi còn chưa được bảo đảm, còn có biểu hiện của vi phạm pháp luật bầu cử một cách nghiêm trọng Nguyên nhân của thực trạng đó, một phần do sự bất cập giữa lý luận với thực tiễn, một phần do ý thức của các chủ thể trong quá trình thực thi pháp luật, dẫn đến hệ quả là tính dân chủ trong pháp luật bầu cử chưa được bảo đảm Đây là một trong nhưng nguyên nhân làm cho bộ máy chính quyền cấp tỉnh ở một số địa phương chưa thực sự vững mạnh
Đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị và phát huy dân chủ, xuất phát từ hoạt động nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh với mục tiêu thiết lập nên hệ thống các cơ quan đại diện hoạt động có hiệu quả, thay mặt nhân dân địa phương quản lý nhà nước, quản lý xã hội, duy trì, ổn định đời sống chính trị tại địa phương
Trang 10Những phân tích trên nêu là cơ sở cho việc tác giả lựa chọn, nghiên cứu
đề tài: “Thực hiện pháp luật về bầu cử hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở tỉnh Nghệ An” trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là trên cơ sở khái quát cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng, xác định được các quan điểm, đề xuât các bảo đảm thực hiện pháp luật bầu về cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh từ thực tiễn tỉnh Nghệ An
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nói trên, Luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bao gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, hình thức, các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về bầu cử HĐND cấp tỉnh
- Phân tích đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bầu cử HĐND cấp tỉnh cấp tỉnh ở tỉnh Nghệ An, rút ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế
- Đề xuất các quan điểm bào đảm thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
4 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian, thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh là một vấn đề nghiên cứu có phạm vi rộng lớn, liên quan đến tất cả các đơn vị hành chính lãnh thổ cấp cơ sở trong phạm vi cả nước, ở mỗi vùng, miền lại có những đặc điểm đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn thạc sĩ, chúng tôi giới hạn việc nghiên cứu thực tiễn chỉ trong phạm vi một tỉnh (tỉnh Nghệ An), nơi đây có vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa - xã hội mang tính đặc thù của các tỉnh
Trang 11đồng bằng ven biển Đây là là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi đây
Về mặt thời gian, Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu việc thực hiện pháp
luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2016 – 2021, bởi đây là quá trình bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đầu tiên được áp dụng theo Luật bầu cử mới (Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân năm 2015) được xây dựng trên những quan điểm, đường lối, chính sách mới của Đảng trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm phát huy dân chủ và củng cố, xây dựng bộ máy chính quyền cơ sở thực sự vững mạnh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lenin, của Đảng Cộng Sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước, pháp luật và dân chủ XHCN; quan điểm của ĐCS Việt Nam về phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Tư tưởng
Hồ Chí Minh về giành, giữ chính quyền và phát huy dân chủ, tư tưởng về quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong Luận văn Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh, để giải quyết các vấn đề đặt ra trong Luận văn
6 Những đóng góp mới của đề tài
Ý nghĩa lý luận, thực tiễn Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh qua thực
Trang 12tiễn thực thi pháp luật bầu cử tại một địa phương cụ thể Kết quả nghiên cứu
đề tài có đóng góp như sau:
- Bổ sung, hoàn thiện các vấn đề lý luận của việc thực hiện pháp luật về bầu cử HĐND cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp bào đảm thực hiện pháp luật
về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và các cơ quan, tổ chức hữu quan
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn này gồm phần mở đầu, ba chương, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 13Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BẦU CỬ HĐND CẤP TỈNH
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về bầu cử HĐND cấp tỉnh
1.1.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về bầu cử HĐND cấp tỉnh
- Khái niệm bầu cử
“Bầu cử” là một cách thức được sử dụng và áp dụng rất nhiều trong các trường hợp để xây dựng mới, củng cố, kiện toàn thậm chí là cả bãi nhiệm, bãi miễn đối với các chức danh, các vị trí, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế Tùy từng bối cảnh sử dụng khác nhau mà “bầu cử có tính chính trị” hay “tính xã hội” [43, Tr 6] Với vai trò thể hiện tính chính trị, “bầu cử do các cơ quan nhà nước thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định mang tính bắt buộc được quy định trong Hiến pháp và Luật, chọn ra các cá nhân nắm giữ các chức vụ trong Quốc hội, các cơ quan đại diện chính quyền” [43, Tr 6] Thủ tục này được thực hiện bởi sự biểu quyết của cử tri (đại cử tri, đại diện cử tri) với điều kiện để bầu một đại biểu (chức danh) phải có từ hai ứng cử viên trở lên Ngược lại, với vai trò thể hiện tính xã hội, bầu cử do các tổ chức xã hội hay kinh tế thực hiện, áp dụng bâu cử theo quy chế, quy ước của tổ chức đó, chọn
ra các cá nhân nắm giữ những cương vị lãnh đạo trong tổ chức (ví dụ: bầu cử ban chấp hành công đoàn, giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị công ty; ban chấp hành, ban chủ nhiệm các hội, hiệp hội, các câu lạc bộ ) Cũng bởi tính chất bầu cử trong mỗi hoàn cảnh sử dụng khác nhau nên phạm vi, giá trị kết quả của mỗi lần bầu cử không giống nhau và tạo nên sự khác biệt rõ rệt giữa các khái niệm “bầu cử” với các hình thức tuyển chọn khác: như “cử”, “bổ nhiệm” và “tuyển dụng” Kết quả bầu cử mang tính chất xã hội sẽ chỉ có ảnh hưởng, tác động trong phạm vi hoạt động nhỏ, đơn lẻ trong nội bộ cơ quan, tổ
Trang 14chức Trong khi đó, kết quả bầu cử mang tính chính trị là “biểu hiện cụ thể của dân chủ” là khẳng định trao quyền cho một cơ quan, một cá nhân nhất định đại diện cho nhân dân nhằm thực hiện quyền lực nhà nước Tuy nhiên việc xác định tính xã hội hay tính chính trị của bầu cử chỉ mang tính tương đối bởi chính những cuộc bầu cử mang tính chính trị đã diễn ra trên thực tế
trong đời sống chính trị - xã hội lại coi “bầu cử là hoạt động xã hội của con
người” được thực hiện dựa trên những nguyên tắc mang tính chất của mọi
hoạt động xã hội và những nguyên tắc đặc thù của hoạt động bầu cử Các nguyên tắc đó thống nhất với nhau, đảm bảo cho bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn đại biểu
Theo Montesquieu chỉ ra trong Quyển II, Chương II của cuốn De I’esprit des lois (Tinh thần pháp luật) ông cho rằng trong việc bầu cử ở thể chế cộng hòa hay dân chủ, cử tri có khi là những người cầm quyền của quốc gia, có khi lại là người dân của nhà nước đó bằng việc bỏ phiếu Nó cho phép người dân có quyền rất lớn để hành động như những “chủ nhân” chọn những
“công bộc” chính quyền cho họ Đặc điểm đặc biệt của các nền dân chủ và cộng hòa là sự nhận thức rằng chỉ có quyền hợp pháp cho nhà nước “của dân,
do dân và vì dân” là phải có sự đồng thuận của người dân hay những người bị trị.[16, tr.149]
Giống như nhiều quốc gia trên thế giới, mô hình tổ chức nhà nước được Đảng và nhân dân ta lựa chọn hiện nay đó là mô hình của nhà nước đơn nhất
về hình thức cấu trúc lãnh thổ Quyền lực nhà nước tập trung vào các cơ quan trung ương, sau đó phân dần cho các cơ quan chính quyền nhà nước ở địa phương được tổ chức tương ứng với các đơn vị hành chính Về mặt chính thể của nhà nước Việt Nam hiện nay được tổ chức theo mô hình của một nhà nước dân chủ, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân Quyền lực nhà nước được
tổ chức không theo phân quyền mà tập trung trong tay Quốc hội, cơ quan duy
Trang 15nhất thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về mình do nhân dân toàn quốc trực tiếp bầu ra, nhưng có sự phân định rạch ròi giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Thông qua bầu cử, bộ máy nhà nước được thành lập ra cho phép chúng ta xác định nguồn gốc, bản chất dân chủ của nhà nước và khẳng định tính hợp pháp, chính đáng của chính quyền
Trong tính thể dân chủ: Pháp luật bầu cử cũng giống như nhiều chế định pháp luật khác của ngành luật Hiến pháp, không những chỉ quy định bầu
cử chứa đựng các quy phạm nói chung về quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể tham gia các mối quan hệ bầu cử mà còn chứa đựng cả những quy phạm có tính thủ tục, quy định trình tự đối với một cuộc bầu cử và xác định kết quả cho cuộc bầu cử [12, tr.330]
Vì thế, khái niệm bầu cử chính trị có thể được hiểu ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau:
Xét về ý nghĩa: Bầu cử là một hình thức sinh hoạt chính trị thể hiện quyền lực, ý nguyện của nhân dân
Xét về thuật ngữ trong Luật Hiến pháp: Bầu cử được hiểu là thủ tục thành lập cơ quan nhà nước hay chức danh nhà nước
Xét về trình tự: Bầu cử là một quá trình đưa ra quyết định của người dân để chọn ra một cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền
Xét về chức năng: Bầu cử là cơ chế thông thường mà các nền dân chủ hiện dùng để phân bổ chức vụ trong bộ máy lập pháp, thỉnh thoảng ở bộ máy hành pháp, tư pháp, và ở chính quyền địa phương
Xét về vị trí pháp lý: Bầu cử là một trong những chế định quan trọng trong ngành Luật Hiến pháp, là cơ sở pháp lý cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực Nhà nước
Trang 16Ngoài ra bầu cử còn được coi là một chế định trọng tâm của các chính phủ dân chủ kiểu đại diện; một biện pháp hạn chế hữu hiệu quyền lực nhà nước
Với nhiệm vụ nghiên cứu Hiến pháp – một đạo luật cơ bản do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành Nó quy định việc tổ chức nhà nước, cơ cấu thẩm quyền các cơ quan nhà nước trung ương và quyền cơ bản của con người Mọi cơ quan và tổ chức phải có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp Trong Hiến pháp, chế độ bầu cử là một trong số chế định quan trọng vì nó vừa thể hiện những quan hệ có liên quan đến việc thành lập các cơ quan nhà nước lại vừa
thể hiện quyền chính trị của công dân Do vậy, bầu cử được hiểu là “Quyền
chính trị cơ bản của công dân trong việc trực tiếp lựa chọn đại diện của mình tham gia các cơ quan quyền lực nhà nước đại diện cho nhân dân”
- Khái niệm pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Bầu cử đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người Trong chế độ công
xã nguyên thủy, do nhu cầu cần có người đứng đầu quản lý công việc chung của thị tộc nên mỗi thị tộc bầu ra người đứng đầu, thường bầu ra Tù trưởng và Thủ lĩnh quân sự Thời kỳ chiếm hữu nô lệ cũng đã tồn tại chính thể cộng hòa với Viện nguyên lão bao gồm đại diện của những chủ nô quý tộc và đại diện của những người cầm vũ khí Dưới chế độ phong kiến chuyên chế nói chung bầu cử không được áp dụng, trong cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản đã sử dụng bầu cử như một vũ khí hữu hiệu để hạn chế quyền lực của giai cấp phong kiến Cách mạng dân chủ tư sản xác lập chế độ dân chủ tư sản với tuyên bố chủ quyền nhân dân, cũng đồng thời khẳng định bầu cử là phương thức căn bản để ủy quyền, qua đó thành lập ra các thiết chế đại diện
Ở Việt Nam, tầm quan trọng của thiết chế bầu cử ngay lập tức được khẳng định bởi cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 với mục đích lựa chọn được những đại biểu xứng đáng tham gia lãnh đạo, quản lý một nhà nước kiểu mới ở
Trang 17Đông Nam châu Á Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Việt Nam trở thành biểu tượng của độc lập tự do, với sự hiện diện của một bản hiến pháp ghi nhận quyền dân chủ của nhân dân Ngày nay trong các nhà nước đương đại nào “chế độ bầu cử” đều đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các chế độ chính trị của một quốc gia Nó là một chế định quan trọng hàng đầu được ghi nhận trong Hiến pháp của các nước Trên phương diện lý luận, chế độ bầu cử nhìn chung đều được hiểu là hệ thống các nguyên tắc, các quy định của pháp luật quy định trình tự bầu cử đại biểu các cơ quan đại diện trong bộ máy nhà nước Tương tự như vậy, chế độ bầu cử ở Việt Nam cũng được hiểu bao gồm các nguyên tắc, các quy định của pháp luật quy định trình tự tiến hành hoạt động bầu cử đại biểu các cơ quan đại diện của bộ máy nhà nước (ở trung ương có pháp luật bầu cử đại biểu Quốc hội, địa phương có pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân)
Các quy định pháp luật về bầu cử đại biểu các cơ quan đại diện tạo thành pháp luật bầu cử Pháp luật bầu cử được hiểu là tổng thể các quy định pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bầu cử đại biểu các cơ quan đại diện nhằm thiết lập nên các cơ quan đại diện trong bộ máy nhà nước
Pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được hiểu là tổng thể những quy định của pháp luật chứa đựng các quy tắc xử sự chung, do các chủ thể có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhằm thiết lập nên các cơ quan đại diện tại chính quyền cấp tỉnh theo quy định của pháp luật
Nhưng nếu pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ được nhìn nhận trên phương diện lập pháp bao gồm các hoạt động như: xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về bầu cử đại biểu các
cơ quan đại diện tại chính quyền cấp tỉnh là chưa đủ, vì pháp luật là một phạm
Trang 18trù tương đối trừu tượng có tính khái quát cao, nó luôn là sự tổng kết, mô hình hóa các quan hệ xã hội Chúng ta cần nhìn nhận pháp luật ở góc độ thứ hai, góc
độ thực tiễn, đó là việc thực thi pháp luật bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong đời sống xã hội Từ góc độ thứ hai ta thấy, muốn đưa pháp luật bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh vào cuộc sống phải có các điều kiện, cơ chế bảo đảm thực thi
- Khái niệm thực hiện pháp luật về bầu cử HĐND cấp tỉnh
Về mặt lý luận, hoạt động xây dựng và ban hành pháp luật được coi là quá trình lao động quyền lực của các chủ thể, trong đó chủ thể chính là các cơ quan có thẩm quyền (Quốc hội, các cơ quan của quốc hội, Chính phủ, các Bộ) cùng với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân (trong quá trình tham gia ý kiến, quan điểm điều chỉnh) Và như vậy thì pháp luật dù ở dạng nào (quy phạm hay chế định) cũng là những phạm trù trừu tượng, có mức khái quát rất cao Khi pháp luật được đưa vào đời sống thực tiễn, số lượng các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật rộng hơn rất nhiều cho nên hoạt động thực hiện pháp luật có tính phức tạp, sinh động hơn so với hoạt động xây dựng pháp luật
Tính lôgic của cơ sở lý luận về pháp luật và thực hiện pháp luật trong thực tiễn được GS.TSKH Đào Trí Úc mô tả theo phác đồ sau:
Phác đồ về quá trình hình thành “đời sống thứ hai” của pháp luật
Theo phác đồ trên đây, GS.TSKH Đào Trí Úc lý giải: “Thực hiện pháp
luật với tính cách là một nhu cầu, một phạm vi hết sức phức tạp của các quan
hệ xã hội,, có mối liên hệ với thực tiễn xã hôi, phản ánh tính chất phức tạp
PHÁP LUẬT
Thực tiễn pháp lý
Thực hiện Hành vi pháp luật pháp luật
Các quan
hệ pháp luật
Trang 19của các quan hệ do pháp luật sinh ra Có thể nói: Thực hiện pháp luật là đời sống thứ hai của pháp luật có mức độ phức tạp nhiều hơn so với lần sinh thứ nhất của nó”.[10]
Với góc nhìn xã hội học về thực hiện pháp luật, GS.TS Võ Khánh Vinh
nhận định “Đời sống pháp luật không phải ở các văn bản của các bộ luật và
các quy định, mà là các quan hệ thực hiện của mọi người tuân thủ (hoặc vi phạm) các quan hệ pháp luật Từ quan điểm xã hội học, nghiên cứu vấn đề về thực hiện pháp luật là nghiên cứu về con đường tác động ngược trở lại của hình thức pháp lý đối với nội dung xã hội” [40, tr.108]
Trong giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật của trường Đại học luật Hà Nội xuất bản năn 2008 GS.TS Lê Minh Tâm đưa ra khái niệm:
“Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy
định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi
thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [11, tr.468]
Từ những phân tích như trên, tôi nhận thức được rằng: Thực hiện pháp
luật là một khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý Đó là quá trình hoạt động
có mục đích của các chủ thể (Nhà nước, cá nhân, tổ chức) thuộc đối tượng điều chỉnh của các quy phạm pháp luật, dựa trên các quy định của pháp luật (quy phạm pháp luật), trong phạm vi quyền và nghĩa vụ của mình thông qua hành vi thực tế, hợp pháp, các chủ thể chuyển hóa các quy định của pháp luật vào đời sống thực tiễn
Vận dụng các tri thức lý luận đã dẫn ở trên tôi đưa ra khái niệm thực
hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là quá trình thực hiện có mục đích của các chủ thể (cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật bầu cử) thông qua hành vi thực tế, hợp pháp của mình, hiện thực hóa các quy phạm pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, được quy định trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều
Trang 20chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
1.1.2 Vai trò thực hiện pháp luật về bầu cử HĐND cấp tỉnh
Thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có những vai trò sau đây:
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có
vai trò hợp pháp hóa, chính đáng hóa chính quyền cơ sở
Tại Hội nghị An ninh và Hợp tác châu Âu (CSCE) đã khẳng định: Ý chí
của nhân dân thông qua bầu cử định kỳ và chân thực là nền tảng cho thẩm quyền và tính hợp pháp của quyền lực nhà nước [20] Trong thế giới ngày
nay, không kể chính quyền của một quốc gia hay một khu vực hành chính được thành lập không qua bầu cử thường không được các quốc gia hay cộng đồng quốc tế thừa nhận hoặc nếu có được thừa nhận thì cũng chỉ được thừa nhận một cách dè dặt bởi một số quốc gia thân cận Ngược lại, một chính quyền xuất hiện do dân thành lập theo định kỳ thông qua bầu cử công khai, theo những nguyên tắc tiến bộ như: tự do, công bằng, trung thực và khách quan thì đó là chính quyền hợp pháp được do nhân dân thành lập
Về nguyên tắc, một chính quyền đó sẽ được sự thừa nhận, ủng hộ của cộng đồng dân cư nơi chính quyền đó được thành lập và của cộng đồng thế giới Và cũng như vậy, khi pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được đảm bảo thực hiện, phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương điều đó đồng nghĩa với việc bộ máy chính quyền tỉnh được thành lập trên cở sở sự ủy nhiệm quyền lực hợp pháp từ nhân dân Bộ máy chính quyền địa phương được xây dựng phù hợp với lòng dân, được nhân dân ủng hộ
Ngược lại, nếu pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh không được đảm bảo thực hiện, kết quả bầu cử không phản ánh không chân thực, không phù hợp với ý chí của nhân dân địa phương, bị chi phối bởi nhiều
Trang 21yếu tố khác, khi đó kết quả của cuộc bầu cử đó chỉ là “vỏ bọc” được mượn để
hợp thức hóa chính quyền địa phương, là cách thức thành lập chính quyền phản khoa học nhất trong các nhà nước dân chủ đương đại hiện nay và đương nhiên hệ quả kéo theo là chính quyền đó sẽ không được sự thừa nhận của nhân dân, không được nhân dân ủng hộ Đây là một trong những nguyên nhân làm chính quyền địa phương hoạt động không hiệu quả và là mầm mống làm phát sinh những mâu thuẫn xã hội, gây mất ổn định chính tri tại địa phương
Thứ hai, thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đảm
bảo phát huy dân chủ cơ sở góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền chủ nghĩa xã hội
Tính dân chủ sẽ được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
là không thể không khẳng định trong các Nhà nước dân chủ hiện đại Nhưng tính dân chủ trong bầu cử nhằm hợp pháp hóa chính quyền là quan trọng hơn
cả, bởi đó là sự khởi nguồn và bảo đảm cho nhiều hoạt động dân chủ khác, Vì
thế, trong Văn kiện đại biểu đại hội toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “thực hiện
tốt quy chế dân chủ cơ sở, mở rộng dân chủ trực tiếp, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội” Dân chủ trong pháp luật bầu
cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là một phương thức phát huy dân chủ trực tiếp ở cơ sở, tính dân chủ sẽ được phản ánh trong trên nhiều phương diện
của pháp luật bầu cử: Dân chủ trong việc các đại biểu thực hiện quyền tham
gia ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: người đạt điều kiện đều có thể tham gia tự ứng cử hoặc được các các cơ quan, tổ chức giới thiệu ứng cử; Dân chủ trong việc lựa chọn cơ cấu, thành phần đại biểu ứng cử bao gồm: đại diện cho các thành phần dân tộc, các tầng lớp nhân dân tại địa phương; Dân chủ trong hình thức bỏ phiếu: tất cả mọi công dân (cử tri) tại địa phương có đủ điều kiện luật định đều có quyền tham gia bỏ phiếu lựa chọn những đại biểu đại diện cho ý chí của mình
Trang 22Trường hợp vì những lý do khách quan mà cử tri không thể đến nơi bỏ phiếu, pháp luật dự liệu những biện pháp khắc phục để cử tri có điều kiện thuận lợi để lựa chọn theo ý chí của mình Thực hiện thành công cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là hiện thực hóa các quan điểm của Đảng, các quy định pháp luật của Nhà nước về phát huy dân chủ cơ sở, mở rộng dân chủ, xây dựng một bộ máy chính quyền vững mạnh cấp cơ sở
Thứ ba, thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có
vai trò thiết lập cơ quan đại diện ở chính quyền cơ sở, duy trì trật tự xã hội ở địa phương, đảm bảo sự vận hành xuyên suốt của bộ máy nhà nước
Cách thức thành lập cơ quan đại diện nhà nước ở cấp tỉnh, xét cho cùng
đó là sự tích hợp những ý chí riêng lẻ của từng cá nhân thành ý chí tập thể -
là biểu hiện của việc nhân dân thành lập nên một bộ phận của bộ máy nhà nước, quyền lực nhân dân liên hiệp tạo nên quyền lực nhà nước Nên việc thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được bảo đảm, kết quả bầu cử khách quan có vai trò quyết định trong việc thành lập cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Sự vận hành của bộ máy nhà nước bao gồm
sự vận hành của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở Hội đồng nhân dân cấp tỉnh một cơ quan đại diện nhân dân ở địa phương– là cơ quan trong hệ thống các cơ quan hình thành nên bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập trên cơ sở ý chí của cử tri địa phương Như vậy, trên
cơ sở pháp luật bầu cử, bằng hành vi hợp pháp của mình nhân dân địa phương
đã thành lập lên cơ quan dân cử, cơ quan đại diện ở địa phương, thay mặt nhân dân địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội góp phần đảm bảo cho sự vận hành đồng bộ của bộ máy nhà nước hoạt động xuyên suốt, đồng bộ và hiệu quả
Thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có hiệu quả, ngoài việc xây dựng được hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước ở cơ sở vững
Trang 23mạnh và đảm bảo cho sự vận hành xuyên suốt, thống nhất của bộ máy nhà nước, thì thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh còn có vai trò trong việc duy trì ổn định trật tự xã hội tại địa phương Thực tế đã chứng minh, nếu một chính quyền được xây dựng trên sự đồng thuận của người dân
sẽ được người dân hậu thuẫn, ủng hộ đó là một trong những phương thức quan trọng để xây dựng một nền chính trị pháp quyền hữu hiệu, một xã hội ổn định mà ở đó không có cơ hội cho những mầm mống xung đột xã hội phát triển
1.2 Nội dung và hình thức thực hiện pháp luật về bầu cử HĐND cấp tỉnh
1.2.1 Nội dung thực hiện pháp luật về bầu cử HĐND cấp tỉnh
Nội dung pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quy định trong Hiến pháp 2013, Luật bầu cử đại biểu Quốc Hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và các văn bản liên quan khác, bao gồm:
1.2.1.1 Các nguyên tắc của pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Nguyên tắc bầu cử là những tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt hoạt động xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật bầu cử Nguyên tắc bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gồm các nguyên tắc hiến định: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, ngoài ra tinh thần pháp luật bầu cử còn thể hiện nguyên tắc bỏ phiếu
tự do Đây sẽ là “bộ” tiêu chí để đánh giá tính chất, mức độ dân chủ và tính công bằng trong chế độ bầu cử đại biểu dân cử nói chung và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nói riêng
Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, nội dung của nguyên tắc này là đảm
bảo cho mọi công dân thường trú hay tạm trú trên địa bàn tỉnh không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú,… Đủ 18 tuổi trở lên có quyền tham gia bầu cử và từ đủ
Trang 2421 tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật Đây là nguyên tắc bảo đảm tính công khai dân chủ và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân địa trong hoạt động bầu cử đại biểu
cơ quan đại diện cấp tỉnh
Nguyên tắc bình đẳng được hiểu là việc các cử tri tham gia bầu cử (ứng
cử và đi bầu) ở địa bàn tỉnh đều phải bình đẳng với nhau Sự bình đẳng giữa các cử tri được thể hiện: trong việc bỏ phiếu không có sự phân biệt như dân tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, chính kiến….; Mỗi cử tri một phiếu bầu, sức nặng (giá trị) của mỗi lá phiếu là tương đương nhau Ngoài ra, nguyên tắc bình đẳng còn thể hiện là sự bình đẳng giữa các ứng cử viên được giới thiệu ứng cử và các ứng cử viên tự ứng cử Không ai
có thể bị hạn chế quyền bầu cử,ứng cử, trừ những trường hợp bị hạn chế do pháp luật quy định Các ứng cử viên bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin và
sử dụng các phương tiện truyền thông trong công tác vận động bầu cử
Nguyên tắc bầu cử trực tiếp được hiểu là việc các cử tri địa phương có
đủ điều kiện luật định có quyền trực tiếp tham gia bỏ phiếu bầu đại biểu các
cơ quan đại diện mà không cần thông qua tầng, nấc trung gian nào Cử tri địa phương thể hiện ý chí của mình bằng cách trực tiếp viết phiếu bầu đại biểu đại diện cho mình tham gia vào cơ quan đại diện cấp tỉnh, tự tay bỏ phiếu vào hòm phiếu, không nhờ người bầu cử hộ, bầu cử thay hoặc không bầu cử qua đường gửi thư Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu, có thể nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự tay bỏ phiếu vào hòm Nếu cử tri trong tỉnh
bị khuyết tật không tự bỏ phiếu bầu vào hòm phiếu thì có thể nhờ người khác hoặc nếu vì ốm, đau cử tri không đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử phải đưa hòm phiếu phụ và phiếu bầu cử đến tận nơi để cử tri bỏ phiếu Nguyên tắc này bảo đảm người đại biểu Hội đồng nhân tỉnh trực tiếp tiếp nhận ủy quyền từ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân địa phương và chịu trách
Trang 25nhiệm trước cử tri địa phương
Nguyên tắc bỏ phiếu kín Nguyên tắc được quy định nhằm đảm bảo cho
sự lựa chọn của mỗi cá nhân, họ được tự do thể hiện ý chí của mình khi lựa chọn người đại diện mà không bị ảnh hưởng của bất kỳ sự tác động nào Khu vực bỏ phiếu có phòng viết phiếu kín, hòm phiếu kín; không ai được đến xem lúc cử tri viết phiếu bầu; phiếu không có dấu hiệu đặc biệt, in sẵn tên để không phát hiện ra phiếu của người nào, cử tri phải trực tiếp viết phiếu và bỏ phiếu, nếu không biết viết (gạch tên) thì có thể nhờ người viết hộ nhưng phải
tự mình bỏ phiếu vào hòm phiếu
Nguyên tắc tự do bỏ phiếu Pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh hiện nay chưa trực tiếp quy định nguyên tắc này trong các văn bản pháp luật bầu cử Tuy nhiên, việc pháp luật bầu cử quy định đi bầu cử là “quyền” của công dân mà không quy định việc cử tri đi bỏ phiếu là “nghĩa vụ”, thì trong tinh thần của pháp luật bầu cử đã thể hiện nguyên tắc này bỏ phiếu tự
do Tuy nhiên, việc bỏ phiếu tự do phải được hiểu là cử tri có quyền thực hiện quyền bầu cử của mình hoặc không thực hiện quyền bầu cử (cử tri có quyền
đi bỏ phiếu hoặc không đi bỏ phiếu bầu cử) hoặc có quyền lựa chọn bỏ phiếu
cho bất cứ ứng cử viên nào trong đơn vị bầu cử của mình
Ngoài ra, pháp luật còn quy định tính công khai trong hoạt động bầu cử, mọi công đoạn của quá trình bầu cử đều phải diễn ra công khai như: việc giới thiệu và lập danh sách ứng cử viên, các thông tin liên quan đến các ứng cử viên, danh sách cử tri, việc kiểm phiếu… Trừ thời điểm bỏ phiếu phải đảm bảo không có sự tham gia của bất cứ nhân vật nào, kể cả nhân viên phụ trách công việc bầu cử tại phòng bỏ phiếu Nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa hành vi lựa chọn trong phiếu bầu và nhận thức của cử tri
1.2.1.2 Thực hiện Quyền bầu cử, ứng cử và cách tính tuổi thực hiện quyền bầu cử, ứng cử và lập danh sách cử tri
Trang 26Quyền bầu cử, ứng cử được pháp luật bầu cử quy định mọi công dân
Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều
có quyền bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; trừ những trường hợp quy định tại điều 30 của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND Công dân Việt Nam đủ 21 tuổi trở lên, có đủ điều kiện và tiêu chuẩn quy định đều có quyền ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trừ nhưng trường hợp quy định tại
Điều 37 của Luật Ngoài ra, Điều 36 còn quy định: “ Người tự ứng cử, người
được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân của địa phương nào thì phải là người đang cư trú hoặc công tác thường xuyên ở địa phương đó.” Cách tính tuổi thực hiện quyền bầu cử, ứng cử Điều 2 của Luật được
quy định như sau: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và
đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này”.[14]
Nguyên tắc lập danh sách cử tri :
Danh sách cử tri là cơ sở pháp lý để cử tri nhận thẻ cử tri, thực hiện quyền bầu cử của mình, việc lập danh sách cử tri được pháp luật bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định như sau:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập danh sách cử tri theo khu vực bỏ phiếu trên
cơ sở bảo đảm nguyên tắc sau: khi lập danh sách cử tri không được bỏ sót quyền bầu cử của bất cử cử tri nào, trừ trường hợp bị hạn chế quyền bầu cử Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi mình thường trú hoặc cư trú
Cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải là người cư trú thường xuyên có quyền lợi gắn bó với địa phương, nếu mới chuyển đến thì phải hoàn tất thủ tục hoặc có giấy giới thiệu chuyển đến cư trú làm ăn sinh
Trang 27sống tại địa phương mới có quyền bầu cử đối với cử tri là những người chưa
có hộ khẩu thường trú, nhưng có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở nơi cư trú mới thì được ghi vào danh sách cử tri tại địa phương nơi cư trú mới để tham gia bầu cử; Trường hợp tạm vắng khỏi nơi cư trú để đi lao động, làm ăn xa hoặc vì lý do khác, nếu đã đăng ký tạm trú từ 6 tháng trở lên ở nơi cư trú mới thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại địa phương nơi cư trú mới để thực hiện quyền bầu cử; Trường hợp tạm vắng khỏi nơi cư trú để đi lao động để đi thăm người thân, đi du lịch hoặc vì lý do khác thì ghi tên vào danh sách hộ khẩu thường trú để thực hiện quyền bầu cử (Điều
14 Nghị định số 19/NĐ–CP)
Chậm nhất là 35 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải niêm yết danh sách cử tri tại trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh và những nơi công cộng trong khu vực bỏ phiếu; đồng thời thông báo rộng rãi địa điểm để người dân biết Luật quy định như vậy, nhằm bảo đảm để tất cả các cử tri đều được thực hiện quyền bầu cử Mặt khác, nhằm bảo đảm sự bình đẳng trong bầu cử, không ai có thể đi bỏ phiếu ở nhiều nơi
1.2.1.3 Công tác tuyên truyền, vận động bầu cử
- Công tác tuyên truyền pháp luật về bầu cử: Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đảm bảo công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động cho cuộc bầu cử tại điạ phương theo chỉ đạo của Hội đồng bầu cử Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ quan thông tin báo chí trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền về cuộc bầu cử
Tổ chức cho cử tri học tập những nội dung cơ bản của Luật bầu cử đại biểu Quốc Hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, một số điều về Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 như: các điều quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tham gia ứng cử và bầu cử, tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng
Trang 28nhân dân các quy định về lập danh sách cử tri, quyền khiếu nại, tố cáo, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân; các nơi có đồng bào dân tộc có thể dùng tiếng địa phương để phân tích cho đồng bào tiếp thu
- Quyền vận động bầu cử, người có tên trong danh sách ứng cử đại biểu
Hội đồng nhân dân ở địa phương nào thực hiện quyền bầu cử ở địa phương đó nơi mình ứng cử thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật để người ứng cử báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu trong trường hợp họ trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm Việc gặp gỡ tiếp xức cử tri do Ủy ban thường trực của mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức, vận động bầu cử phải được tiến hành công khai, dân chủ, bình đẳng; Không được lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền nội dung trái với Hiến pháp
và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, uy tín và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác; Không biến vận động bầu cử thành nơi để khiếu nại, tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo Phải bảo đảm an ninh, trật tự trong quá trình vận động bầu cử
1.2.1.4 Thực hiện quy định về cách tính số đại biểu, đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu
- Căn cứ vào kết quả hiệp thương lần thứ nhất, chậm nhất là 90 ngày trước ngày bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện điều chỉnh cơ cấu, thành phần, số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình
- Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(gọi chung là cấp tỉnh) dự kiến cơ cấu, thành phần, phân bổ số lượng người của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước ở cấp mình và các đơn vị hành chính cấp dưới,
Trang 29đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế trên địa bàn được giới thiệu để ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện Trong đó bảo đảm có ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân là phụ nữ ; số lượng người ứng cử là người dân tộc thiểu số được xác định phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương
- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được chia thành các đơn vị bầu
cử Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh Số đơn vị bầu cử Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu được bầu cử ở mỗi đơn vị bầu cử do Ủy ban bầu cử ở cấp Tỉnh ấn định theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cùng cấp và được công bố chậm nhất là 80 ngày trước ngày bầu cử
- Khu vực bỏ phiếu bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quy định
như sau: Mỗi đơn vị bầu cử được chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu.Số lượng
cử tri ở mỗi khu vực bỏ phiếu được quy định từ 300 đến 4.000 cử tri Ở miền núi, hải đảo những nơi không tập trung thì dù chưa có tới 300 cử tri cũng có thể thành lập khu vực bỏ phiếu [14]
1.2.1.5.Thực hiện quy định về thành lập các tổ phụ trách bầu cử
- Chậm nhất là 105 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi thống nhất với Thường trực HĐND và Ban thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Nghệ An quyết định thành lập Ủy ban bầu cử ở Tỉnh để thực hiện công tác bầu cử Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh [34]
- Ủy ban bầu cử ở Tỉnh có từ 21 đến 31 thành viên gồm Chủ tịch, các Phó chủ tịch và các Ủy viên là đại diện thường trực HĐND, UBND, UB MTTQ Việt Nam cùng cấp và một số cơ quan, tổ chức hữu quan
Danh sách Ủy ban bầu cử ở Tỉnh phải được gửi đến Hội đồng bầu cử Quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ban thường trực ủy ban trung ương MTTQ Việt Nam
Trang 30Thành phần ban bầu cử cấp tỉnh cần phải lựa chọn những có nhiệt tình công tác, có kiến thức nhất định và có khả năng thực hiện nhiệm vụ bầu cử, chấp hành tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước Đối với chức danh thư ký tổ bầu cử, chọn người có khả năng tổng hợp ghi biên bản bầu cử để tránh sai sót nhầm lẫn
1.2.1.6 Thực hiện quy định về Quy trình tổ chức Hội nghị hiệp thương
- Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở mỗi cấp do Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức chậm nhất là 95 ngày trước ngày bầu cử Thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ nhất gồm Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận Đại diện Ủy ban bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp được mời tham dự hội nghị này
- Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất ở cấp tỉnh, cấp huyện thỏa thuận về
cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn
vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước cùng cấp và của đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, các đơn vị hành chính, cấp dưới trên địa bàn
- Biên bản hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả hội nghị
Biên bản hội nghị hiệp thương ở cấp tỉnh được gửi ngay đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu
cử cùng cấp
- Hội nghị hiệp thương lần thứ hai ở mỗi cấp do Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức chậm nhất là 65 ngày trước ngày bầu cử Thành phần hội nghị hiệp thương lần thứ hai thực hiện theo quy
Trang 31định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này
- Hội nghị hiệp thương lần thứ hai căn cứ vào tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân, cơ cấu, thành phần, số lượng người được giới thiệu ứng
cử để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với người tự ứng cử, người được cơ quan,
tổ chức, đơn vị giới thiệu ứng cử và lấy ý kiến cử tri nơi công tác (nếu có) của người tự ứng cử, người được thôn, tổ dân phố giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã Việc tổ chức lấy ý kiến cử tri được thực hiện theo quy định tại Điều 54 của Luật này
- Biên bản hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả hội nghị
Biên bản hội nghị hiệp thương ở cấp tỉnh được gửi ngay đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu
cử cùng cấp
1.2.1.7 Thực hiện quy định về trình tự bầu cử và kết quả bầu cử ở mỗi đơn vị bầu cử
- Trình tự bầu cử
Thời gian bỏ phiếu được quy định từ 7 giờ và kết thúc vào 19 giờ cùng
ngày Nếu sớm hơn không được quá 5 giờ và kết thúc muộn được quá 20 giờ cùng ngày
Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu cho mỗi cấp Hội đồng nhân dân,
cử tri phải tự mình đi bầu, không được nhờ người khác bầu thay, trừ trường hợp không tự viết được phiếu bầu có thể nhờ người khác viết hộ nhưng phải
tự mình bỏ phiếu Người viết hộ phải đảm bảo bí mật phiếu bầu của cử tri Nếu vì tàn tật không thể tự tay bỏ vào hòm phiếu thì có thể nhờ người khác tự tay bỏ phiếu vào hòm Cử tri viết phiếu không ai được xem kể cả thành viên
Trang 32của tổ bầu cử Mọi người đều phải tuân thủ nội quy phòng bỏ phiêú; Không được tuyên truyền vận động bầu cử tại nơi bỏ phiếu
Địa điểm bỏ phiếu và phòng bỏ phiếu: địa điểm bỏ phiếu phải trang nghiêm, có đủ phương tiện vật chất để phục vụ bầu cử và thuận lợi cho cử tri đến bầu
- Kết quả bầu cử ở mỗi đơn vị bầu cử
Ban bầu cử kiểm tra các biên bản kiểm phiếu của các tổ bầu cử và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình, biên bản xác định kết quả bầu cử phải phản ánh một số nội dung biên bản như: Số cử tri tham gia bỏ phiếu, tỉ lệ phiếu đạt được so với tổng số cử tri đã được lập danh sách;
số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử Những người ứng cử được quá nửa số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn thì trúng cử Trường hợp có nhiều người có số phiếu bằng nhau thì người nhiều tuổi hơn là người trúng cử
1.2.1.8 Thực hiện quy định về công tác kiểm tra, giám sát hoạt động bầu cử
Ban thường trực Ủy ban mặt trận tổ quốc cấp tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với các tổ chức thành viên và thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp, giám sát và vận động nhân dân giám sát quá trình tổ chức, thực hiện cuộc bầu cử Quá trình bầu cử đảm bảo các thủ tục, trình tự tiến hành bầu cử thực sự dân chủ, đúng luật
1.2.1.9 Bầu cử thêm, bầu cử lại
Các tổ phụ trách bầu cử trong lần bầu cử đầu tiên tiếp tục làm nhiệm vụ trong cuộc bầu cử thêm, bầu cử lại trong những trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật
1.2.2 Hình thức thực hiện pháp luật về bầu cử HĐND cấp tỉnh
Hình thức thực hiện pháp luật là cách thức thực hiện pháp luật của mỗi loại chủ thể trong từng quan hệ pháp luật cụ thể, được pháp luật quy định dưới dạng: cho phép các chủ thể thực hiện, cấm chủ thể không được thực hiện
Trang 33hoặc các chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện và các chủ thể được trao quyền thực hiện
Hình thức thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
được hiểu là: Tổng hợp các cách thức (biện pháp) mà các chủ thể thuộc đối
tượng điều chỉnh của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểuHội đồng nhân dân, bằng hành vi thực tế, hợp pháp của mình, cụ thể hóa các quy phạm pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thực hiện quyền chính trị cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận, nhằm lựa chọn những đại biểu xứng đáng, thay mặt nhân dân địa phương quản lý nhà nước, quản lý xã hội, xây dựng một chính quyền cơ sở vững mạnh, có hiệu quả
Thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực chất là quá trình các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bầu cử hiện thực hóa các quy phạm pháp luật bầu cử đại biểu dân cử cấp tỉnh vào đời sống thực tiễn Chủ thể trực tiếp tham gia hiện thực hóa các quan hệ pháp luật bầu cử bao gồm: các cơ quan nhà nước; các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức khác và mọi công dân đủ 18 tuổi trở lên nếu không bị pháp luật quy định hạn chế quyền bầu cử đều được tham gia bầu cử đại biểu, các cơ quan của chính quyền cấp tỉnh Với sự đa dạng của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bầu cử như vậy, thì mỗi chủ thể có cách thức thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh một cách khác nhau bao gồm:
-Tuân thủ pháp luật
Tất cả các chủ thể, thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đều thực hiện pháp luật bầu cử dưới hình thức tuân thủ pháp luật bầu cử, tức là bằng nhận thức của mình, các chủ thể kìm chế không thực hiện những hành vi mà quy phạm pháp luật về bầu cử cấm, ví như: đối với các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật không được
vi phạm các điều pháp luật cấm trong các khâu tổ chức bầu cử, kiểm phiếu
Trang 34hoặc dùng các thủ đoạn khác làm sai lệch kết quả bầu cử Đối với công dân, không được dụ dỗ, gây rối hoặc ép buộc người khác gây trở ngại cho cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
- Sử dụng pháp luật
Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể sử dụng quyền năng được pháp luật bầu cử quy định Bằng hành vi hợp pháp của mình các công dân thông qua hành vi bỏ phiếu chọn những đại biểu xứng đáng tham gia vào cơ quan đại diện ở chính quyền cơ sở Ngoài ra, các chủ thể còn có thể sử dụng quyền chủ thể trong quan hệ pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh khi quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ pháp luật về bầu cử bị xâm hại Ví dụ: bị tước quyền bầu cử một cách không hợp pháp, hay khi hạn chế quyền ứng cử của các đại biểu khi không có căn cứ, khi đó các chủ thể trên cơ sở các quy định của pháp luật có thể sử dụng quyền luật định của mình, thực hiện hành vi khiếu nại hoặc tố cáo các chủ thể vi phạm pháp luật bầu cử Trong cách thực thực hiện này, các chủ thể của quan hệ pháp luật bầu cử có sự lựa chọn trong việc thực hiện quyền của mình, họ có thể thực hiện hoặc không thực hiện xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của chính họ
Trang 35- Áp dụng pháp luật
Là cách thức thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh mang tính đặc thù Các chủ thể được Nhà nước trao quyền đều phải chấp hành các quy định pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Trên cơ sở thẩm quyền được trao, các chủ thể ra các quyết định mang tính pháp lý áp dụng đối với từng chủ thể cụ thể trong những trường hợp nhất định, phương thức thực hiện này mang tính tổ chức – quyền lực
Thông thường, áp dụng pháp luật bầu cử được thực hiện trong những trường hợp sau:
Thứ nhất, khi các chủ thể được trao thẩm quyền ban hành hành các văn
bản, tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện công tác bầu cử (chủ thể mang quyền lực nhà nước ban hành các văn bản hướng dẫn các đơn vị tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử hay các văn bản xử lý của Hội đồng bầu cử trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân)
Thứ hai, trong trường hợp đặc biệt, hình thức này sẽ được các các chủ
thể có thẩm quyền áp dụng như ra quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với tổ chức, cá nhân nào đó có hành vi vi phạm pháp luật bầu cử Ngoài ra, thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện pháp luật bằng các hình thức khác mang tính chất tổ chức - kỹ thuật, nghiệp
vụ mà trong phạm vi luận văn này tôi không đề cập
1.3 Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về bầu cử HĐND cấp tỉnh
Từ ban hành pháp luật đến việc thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, xét cho cùng đều do con người thực hiện Điều đó chứng
tỏ, việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu dân cử cấp tỉnh đạt hiệu quả hay không? phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của các chủ thể trong mọi giai đoạn thực thi của pháp luật bầu cử từ khâu xây dựng, ban hành các văn bản pháp
Trang 36luật đến khâu tổ chức đưa pháp luật bầu cử vào đời sống thực tiễn, kể cả khi kết thúc cuộc bầu cử thì hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ vừa được bầu đó cũng là một trong những yếu tố đảm bảo cho thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có hiệu quả Ngoài ra, việc tính toán nhằm hạn chế được những yếu tố khách quan như: giao thông, điều kiện kinh tế người dân tạm thời trong những thời điểm nhất định cũng phần nào nâng cao chất lượng hiệu quả của việc thực thi pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Từ những phân tích như trên, chúng tôi cho rằng, hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể bị ảnh hưởng bởi những yếu tố sau:
1.3.1 Sự điều chỉnh phù hợp và mức độ hoàn thiện của pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Trong khâu xây dựng pháp luật, đòi hỏi của các nhà soạn luật cần thiết
phải xây dựng được một “khung pháp lý” phù hợp về pháp luật bầu cử Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh nhằm khắc phục những hạn chế khách quan trong quá trình thực hiện Dẫu biết rằng, pháp luật chỉ mang tính phổ quát, là những mô hình khái quát nên từ thực tiễn, nhưng nếu bỏ qua hẳn tính đặc thù trong pháp luật bầu cử thì đôi khi pháp luật khi ban hành không thể được bảo đảm thực
hiện bởi chính những yếu tố đặc thù đó Vì thế có tác giả từng nhận định:
Những quy phạm pháp luật ra đời sẽ không thể đi vào cuộc sống, nếu nó không xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn và không trả lời những câu hỏi bức xúc từ thực tiễn đặt ra Nên những văn bản do nhà nước ban hành ai cũng biết, nhưng trong cuộc sống lại có một luật khác “Luật của cuộc sống”
Vì vậy, sự điều chỉnh phù hợp đối với quan hệ bầu cử và mức độ hoàn thiện của pháp luật bầu cử là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật về bầu cử trong thực tiễn Nói cách khác, chất lượng pháp luật về bầu cử HĐND các cấp quyết định tính khả thi của pháp luật về bầu cử trong
Trang 37Thứ nhất, ý thức của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật bầu
cử (các chủ thể được trao quyền tiến hành bầu cử)
Thứ hai, ý thức của công dân trong việc phát huy quyền làm chủ của
mình, góp phần tham gia bầu cử đúng quy định của pháp luật
Các cơ quan tổ chức bầu cử thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về bầu cử, góp phần bảo đảm việc thực hiện pháp luật về bầu cử một cách nghiêm túc của cử tri, ngược lại cử tri yêu cầu nơi bầu cử phải đúng pháp luật tạo nên áp lực, dư luận buộc các cơ quan nhà nước phải thực hiện nghiêm túc
1.3.3 Hoạt động kiểm tra, giám sát bầu cử của các tổ chức chính trị -
xã hội và của công dân
Thực thi quyền lực và thi hành pháp luật luôn luôn là những hoạt động cần sự kiểm tra, giám sát đầy đủ và hữu hiệu Đây là cách thức hoạt động của một nhà nước dân chủ, để bảo đảm cho pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được đảm bảo thi hành thì vai trò của công tác kiểm tra, giám sát là không thể phủ nhận
Sự giám sát đòi hỏi ở đây phải được tiến hành từ hai phía, thứ nhất là sự
giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội đối với các thành viên của tổ chức mình và giám sát hoạt động của các cán bộ đang trực tiếp thực thi pháp luật
bầu cử Thứ hai, là sự giám sát của công dân đối với việc thi hành pháp luật
của các chủ thể thực thi pháp luật bầu cử Việc kiểm tra, giám sát thường
Trang 38xuyên sẽ giúp cho nhưng hành vi sai lệch của các chủ thể trong công tác tổ chức bầu cử được uốn nắn, sửa chữa kịp thời
1.3.4 Điều kiện vật chất, kinh phí, phương tiện kỹ thuật phục vụ bầu cử
Điều kiện vật chất, kinh phí, phương tiện kỹ thuật phục vụ bầu cử cũng là điều kiện quan trọng bảo đảm thực hiện pháp luật về bầu cử HĐND cấp tỉnh nói riêng, HĐND và Quốc Hội nói chung Thực hiện các quy định của pháp luật về bầu cử phái bảo đảm phòng bầu cử, thùng phiếu, nơi viết phiếu, băng rôn biểu ngữ tuyên truyền cho bầu cử, nơi niêm yết danh sách cử tri Công khai tiểu sử, quá trình công tác của ứng cử viên, lập danh sách cử tri và các thông tin
về cử tri phải bảo đảm chính xác Vấn đề kiểm phiếu nhanh chóng và đúng đắn,…
Tất cả những hoạt động nêu trên đều cần đến điều kiện vật chất, kinh phí
và phương tiện kỹ thuật phục vụ bầu cử phải được tăng cường Với sự phát triển của công nghệ thông tin trong việc ứng dụng công nghệ trong bầu cử đã góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả của nhiều hoạt động trong bầu cử
Một vấn đề cũng cần chi phí lớn trong bầu cử là tổ chức các cuộc tiếp xúc
cử tri, đó là các chi phí về đi lại cho đại biểu, chi phí về hội trường tổ chức các hội nghị tiếp xúc cử tri,…Ở các nước trên thế giới, chi phí cho hoạt động này rất lớn vì còn chi phí cho cử tri để “mua” sự ủng hộ của họ, ở Việt Nam thì không tranh cử theo phương thức này nhưng cũng cần quan tâm thích đáng đến điều kiện vật chất, kinh phí, phương tiện kỹ thuật phục vụ bầu cử
1.3.5 Đảm bảo vai trò tiên phong của Đảng trong thực thi pháp luật về bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Vai trò tiên phong của Đảng trong công tác bầu cử không chỉ bằng việc Đảng lãnh đạo hoạt động bầu cử mà còn ở khả năng Đảng vạch ra đường lối chính trị đúng đắn, khơi dậy sự gắn bó đoàn kết, đồng thuận trong nhân dân
và khả năng tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, toàn dân, toàn xã hội chấp
Trang 39thuận những chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước Ngoài ra, vai trò tiên phong của Đảng còn được thể hiện qua sự gương mẫu của các đảng viên trong việc thực thi pháp luật bầu cử
Kết luận chương 1
Từ những trình bày về cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật về bầu
cử HĐND cấp tỉnh có thể thấy thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh là quá trình thực hiện có mục đích của các chủ thể (cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật bầu cử) thông qua hành vi thực tế, hợp pháp của mình, hiện thực hóa các quy phạm pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, được quy định trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Giờ đây, bầu cử HĐND các cấp luôn được coi là một sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, của từng địa phương có ý nghĩa về nhiều mặt, nhất là
có vai trò nền tảng với dân chủ đại diện và hoàn thiện bộ máy nhà nước Quá trình hình thành và phát triển của quy phạm bầu cử, cụ thể là bầu cử HĐND cấp tỉnh phụ thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của địa phương Việc quy định và thực thi các nguyên tắc bầu cử là tiêu chí quan trọng để pháp luật bầu cử HĐND các cấp, đặc biệt là cấp tính chuyển hóa theo đúng ý chí của nhân dân thành đại biểu cơ quan đại diện quyền lực nhà nước