1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề luật sư và hoạt động hành nghề luật sư trên địa bàn tỉnh nghệ an

99 16 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 769,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuyên sâu về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư trong thực tiễn theo quy định của pháp luật hiện hành chưa có một công trình nghiên cứu

Trang 1

NGUYỄN KHẮC TUẤN

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

Nghệ An, năm 2017

Trang 2

NGUYỄN KHẮC TUẤN

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT

SƯ VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60.38.01.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Lê Vương Long

Nghệ An, năm 2017

Trang 3

Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo

vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người cam đoan

Nguyễn Khắc Tuấn

Trang 4

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ 7

1.1 Khái niệm về Luật sư 71.2 Khái niệm, hình thức thực hiện pháp luật tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư 141.3 Nội dung của pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư 181.4 Quản lý tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư 481.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về tổ chức và hành nghề Luật sư 57

Kết luận chương 1 61 CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 62

2.1 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội và quá trình phát triển Luật sư tại tỉnh Nghệ An 622.2 Thực trạng thực hiện pháp luật tổ chức hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An 652.3 Thực trạng thực hiện pháp luật hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An 67

Trang 5

Nghệ An 73

Kết luận chương 2 78

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 79

3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật tổ chức, hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An 79

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An 80

Kết luận chương 3 87

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 6

Số hiệu

biểu đồ

Trang 7

MỞ ĐẦU

Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu khách quan đặt ra là phải tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, điều chỉnh phạm vi nội dung và phương thức hoạt động của Nhà nước cho phù hợp Nguyên tắc quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa phải được đề cao hơn bao giờ hết Bên cạnh đó trong quá trình hội nhập quốc tế trong thì cải cách tư pháp có vị trí rất quan trọng và đã có những tác động tích cực đến việc phát triển nghề Luật sư nước ta, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, hoạt động hành nghề Luật sư ở nước ta trưởng thành nhanh chóng Số lượng Luật sư đã tăng lên đáng kể và đang có xu hướng ngày phát triển, đồng thời chất lượng hoạt động cũng từng bước được nâng cao Đây chính là kết quả của công tác thể chế hóa Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nêu rõ: Đào tạo, phát triển đội ngũ Luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình

độ chuyên môn Hoàn thiện cơ chế bảo đảm để Luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với Luật sư Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức Luật sư; đề cao trách nhiệm của các tổ chức Luật sư đối với thành viên của mình [21] Với mục đích phát triển đội ngũ Luật sư đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với chất lượng dịch vụ pháp lý và hội nhập kinh tế quốc tế; kế thừa những quy định của Pháp lệnh Luật

sư năm 2001, đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập trong tổ chức và hoạt động của Luật sư, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua Luật Luật sư ngày

29 tháng 6 năm 2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 và

Trang 8

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 Sau mười năm thi hành Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn, đội ngũ Luật sư hiện nay không những đáp ứng kịp thời nhu cầu giúp đỡ pháp lý ngày càng cao của cá nhân, tổ chức, góp phần quan trọng trong việc bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác, phục vụ tích cực cho công cuộc cải cách tư pháp, mà còn góp phần tạo lập môi trường pháp

lý thuận lợi và tin cậy cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Song song với đà phát triển mạnh mẽ về đội ngũ Luật sư của nước nhà, đội ngũ Luật sư Nghệ An cũng từng bước trưởng thành Trong những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước và đặc biệt là sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ An, số lượng Luật sư đã tăng lên đáng kể, chất lượng hoạt động từng bước được nâng lên Bằng những hoạt động của mình đã góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự

an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển, hội nhập kinh tế trên địa bàn tỉnh

1 Lý do lựa chọn đề tài

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, cũng phải thấy rằng nhận thức về vị trí, vai trò của Luật sư chưa thống nhất, hiệu quả hoạt động của tổ chức hành nghề Luật sư chưa cao; chất lượng đội ngũ Luật sư chưa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế; đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật hành nghề Luật sư vẫn chưa được nhận thức đầy đủ, chưa trở thành ý thức tự giác đối với mỗi cá nhân Luật sư trong hành nghề và trong cuộc sống Một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển của Luật sư là do công tác quản lý tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư còn nhiều bất cập và hạn chế

Trang 9

1.2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Mặc dù đã có một số bài viết và công trình nghiên cứu về Luật sư nhưng các bài viết, công trình nghiên cứu chủ yếu bàn về địa vị pháp lý của người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự… chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về các quy định pháp luật liên quan đến tổ chức hành nghề Luật sư

và hoạt động hành nghề của Luật sư

Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện về các quy định pháp luật cũng như việc thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Luật sư hiện nay trong bối cảnh nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển nền kinh tế thị trường ngày một hội nhập sâu, rộng trên thế giới, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn là cần thiết Với khả năng của mình nên tác giả lựa chọn địa bàn tỉnh Nghệ An để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình để đưa ra được một cái nhìn cụ thể nhất về thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về tổ chức và

hoạt động của Luật sư hiện nay Chính vì lẽ đó, nên tác giả chọn đề tài: “Thực

hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An” để làm đề tài của luận văn cao học

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An; trên cơ sở đó đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về Luật sư, nâng cao chất lượng về tổ chức hành nghề Luật sư, hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn mình nghiên cứu cũng như nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 10

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ

như sau:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành

- Nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư

và hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An qua đó đánh giá các mặt đạt và chưa đạt

- Đưa ra giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về Luật sư nhằm nâng cao chất lượng về tổ chức hành nghề Luật sư, hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Luật Luật sư, các văn bản pháp luật

về Luật sư, thực tiễn thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề của Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật về hoạt động

hành nghề của Luật sư, hình thức tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề Luật sư; thực trạng thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An Luận văn không nghiên cứu địa vị pháp lý của Luật sư; tư cách tố tụng của Luật sư…

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật trong việc nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật sư và hoạt động của tổ chức hành nghề Luật sư

Trang 11

- Phương pháp tổng hợp để tổng hợp các vấn đề đã được nghiên cứu nhằm đưa ra những nhận định và kết luận

- Phương pháp thống kê để thống kê các số liệu trong thực tiễn hoạt động hành nghề của Luật sư và tổ chức hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An làm cơ sở cho việc đưa ra những nhận xét, kết luận và kiến nghị hoàn thiện các quy định về thể chế Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư

6 Những đóng góp mới của đề tài:

Kể từ sau Nghị quyết 08-NQ/TW được thông qua, vị trí của Luật sư trong nền tư pháp mới bắt đầu được thừa nhận Chính vì vậy, tình hình nghiên cứu đề tài về tổ chức và hoạt động của Luật sư trong những năm qua còn rất ít và số lượng sách chuyên khảo, bài viết trên tạp chí cũng như các cuộc hội thảo khoa học về đội ngũ Luật sư và pháp luật Luật sư còn rất hạn chế Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuyên sâu về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư trong thực tiễn theo quy định của pháp luật hiện hành chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính cụ thể và gắn liền với thực tiễn về vấn đề này Việc nghiên cứu đề tài đạt được những điểm mới sau:

- Trên cơ sở nghiên cứu của các quy định của pháp luật về Luật sư, luận văn làm rõ các quy định của Luật Luật sư, thực trạng thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ

An, chỉ rõ các nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng

- Luận văn đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về Luật

sư, phát triển đội ngũ Luật sư, phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, nghề nghiệp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động hành nghề của Luật sư và tổ chức hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An

7 Kết cấu của luận văn

Trang 12

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về tổ chức hành nghề Luật

sư và hoạt động hành nghề Luật sư

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật

tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ

1.1 Khái niệm về Luật sư

Luật sư là một nghề xuất hiện sớm trong lịch sử, tồn tại gắn liền với luật pháp, tòa án và công lý Để có được vị trí trong xã hội như hiện nay, nghề Luật

sư đã trải qua quá trình hình thành, theo sự phát triển của nền văn minh nhân loại Quá trình này được khởi đầu bằng việc công nhận sự bình đẳng trong xét

xử Thời Hy Lạp cổ đại, người đứng đầu Nhà nước A-ten, Pe-ri-cơ-lét (Pericles

495 - 429) đã tạo ra những tiền đề cần thiết cho quyền bào chữa được hiện hữu

trước tòa - một quyền đặc thù của nghề Luật sư: “toàn thể những ai tham dự

phiên tòa đều có quyền công khai kết tội hoặc bào chữa cho bị can” [16, tr.223]

Đến thời La Mã cổ đại, Luật sư bắt đầu được công nhận như một nghề thực hiện quyền bào chữa Những hình thái xã hội trong lịch sử đã chứng minh vai trò của Luật sư trong đời sống và đó là một nghề không thể thiếu trong xã hội phát triển Luật sư có thể đảm nhận nhiều loại công việc khác nhau, không chỉ liên quan đến tranh tụng, tư vấn, mà còn trong lĩnh vực hành chính, lập pháp,… Đây là một nghề có tính thích ứng xã hội cao, phục vụ nhu cầu của nhiều chủ thể, như

cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và Nhà nước So với nhiều quốc gia khác trên thế giới, nghề Luật sư xuất hiện tại Việt Nam muộn hơn do quá trình xâm nhập của nền văn minh phương Tây tạo ra Sau khi xâm lược Nam kỳ, ngày 26/11/1876 người Pháp đã ban hành Nghị định về việc biện hộ cho người Pháp hoặc người Việt mang quốc tịch Pháp tại Tòa án Pháp Từ đó nghề luật sư mới chính thức xuất hiện ở nước ta, còn trước đây, việc xét xử của chính quyền phong kiến Việt Nam do vua, quan phong kiến thực hiện mà không có sự bào

chữa, bảo vệ Năm 1884, sau khi thiết lập bộ máy cai trị trên toàn lãnh thổ Việt

Nam, Toàn quyền Pháp ký Sắc lệnh thành lập Luật sư Đoàn tại Sài Gòn và Hà

Trang 14

Nội gồm các luật sư người Pháp và người Việt đã nhập quốc tịch Pháp Các luật

sư chỉ biện hộ trước Tòa án Pháp cho người Pháp hoặc người có quốc tịch Pháp Sau đó, với Sắc lệnh ngày 30/1/1911, nhà cầm quyền Pháp đã mở rộng cho người Việt Nam không có quốc tịch Pháp được làm luật sư Tiến thêm một bước, nhà cầm quyền Pháp ký Sắc lệnh ngày 25/5/1930 về tổ chức Luật sư đoàn

ở Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng Sắc lệnh này đã mở rộng cho các luật sư không chỉ biện hộ ở tòa án Pháp mà cả trước Toà án Việt Nam; không chỉ bào chữa cho người có quốc tịch Pháp mà cả người không có quốc tịch Pháp

Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 về tổ chức các đoàn thể Luật sư, Sắc lệnh này đã quy định việc duy trì tổ chức Luật sư đã có với sự vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật của chế độ cũ về Luật sư nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa Trong Hiến pháp nước Việt

Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã ghi nhận tại Điều thứ 67 “Người bị cáo

được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn Luật sư” [21] Tuy nhiên, trong điều

kiện toàn Đảng, toàn dân ta phải tập trung sức người, sức của cho cuộc kháng chiến cứu nước vì vậy tổ chức Luật sư không thể tiếp tục duy trì Hưởng ứng lời kêu gọi toàn dân kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều Luật sư, luật gia

đã ra mặt trận, lên chiến khu hoặc tham gia vào hoạt động tư pháp tại các vùng

do chính quyền ta kiểm soát Nhiều Luật sư đã giữ cương vị quan trọng trong chính quyền, trong các cơ quan tư pháp, Tòa án như Luật sư Phan Anh, Luật sư Phan Văn Trường, Luật sư Vũ Văn Hưởng, Luật sư Vũ Trọng Khánh, Luật sư Phan Văn Bạch, Luật sư Vũ Đình Hòe, Luật sư Trần Công Tường, Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, Luật sư Đỗ Xuân Sảng, Luật sư Hoàng Văn Kế và nhiều Luật sư khác Mặc dù tổ chức hành nghề Luật sư không được duy trì nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn quan tâm đến việc đảm bảo quyền bào chữa trước Tòa án của bị cáo như một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi

Trang 15

nhận trong Hiến pháp Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 quy định “ bị can có

thể nhờ một công dân không phải là Luật sư bênh vực cho mình”

Cụ thể hóa sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 1/NĐ-VY ngày 12/01/1950 quy định về Bào chữa viên Chế định bào chữa viên được hình thành là một chế định phù hợp với điều kiện của nước

ta khi đó, thể hiện sự coi trọng, quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đến việc thực thi quyền bào chữa và việc xây dựng một nền tư pháp công bằng, dân chủ của chế độ mới Thực hiện quy định của pháp luật về bào chữa viên, trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đội ngũ bào chữa viên đã được hình thành và ngày càng phát triển Đặc biệt sau khi miền Bắc được giải phóng, bên cạnh các Luật sư, luật gia tham gia công tác bào chữa tại các Tòa án của chính quyền kháng chiến, nhiều Luật sư, luật gia đã làm việc trong bộ máy tư pháp của chế độ cũ cũng hăng hái gia nhập đội ngũ bào chữa viên của chế độ mới Tuy nhiên, do chiến tranh, cùng với tình trạng kinh tế khó khăn, thiếu môi trường pháp lý,… nghề Luật sư không có điều kiện phát triển ở miền Bắc Ở miền Nam cùng với nhân dân miền Nam, các Luật

sư đã hăng hái tham gia kháng chiến Nhiều Luật sư đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, điển hình là Luật

sư - Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, Luật sư Trịnh Đình Thảo, Luật sư Ngô Bá

Thành… Năm 1986, từ chủ trương “đổi mới”, những tiền đề cần thiết để nghề

Luật sư phát triển đã xuất hiện, đó là tiền đề: kinh tế, môi trường pháp lý, và nhu cầu của xã hội Năm 1987, Nhà nước ban hành Pháp lệnh Tổ chức Luật sư, sau

đó pháp lệnh này được thay thế bằng Pháp lệnh Luật sư năm 2001 Năm 2006, Nhà nước ban hành Luật Luật sư và luật này được sửa đổi vào năm 2012 Quá trình xây dựng, sửa đổi, ban hành những quy định pháp luật về Luật sư cho thấy, nghề Luật sư được Đảng và Nhà nước quan tâm Trong thời gian tới, để phát triển nghề Luật sư, đáp ứng yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

Trang 16

nghĩa, Đại hội XII của Đảng xác định: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt

động của Luật sư, bổ trợ tư pháp”

Luật sư là tên gọi chỉ một loại hình nghề nghiệp đặc thù của nghề luật và chỉ tồn tại trong lĩnh vực hoạt động riêng biệt đó là hoạt động tư pháp Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về Luật sư và nghề Luật sư Sự khác nhau về khái niệm Luật sư được phân theo hai khuynh hướng xuất phát từ hai nguồn chính: hệ thống luật tập quán pháp và hệ thống luật thành văn Theo quan điểm của Nhà nước có hệ thống pháp luật tập quán pháp thì nghề Luật sư được coi là một ngành nghề kinh doanh đặc biệt Còn các nước theo hệ thống luật thành văn thì Luật sư là một nghề tự do như các nghề bác sĩ, công chứng, kiểm toán, kiến trúc sư v.v Song nói chung đều có cùng quan điểm cho rằng, Luật sư trước hết phải là một chuyên gia pháp luật Ở Việt Nam, theo cách hiểu chung nhất, nghề Luật sư được hiểu đồng nhất với các tên gọi luật gia, Luật sư và người bào chữa, bào chữa viên nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo, các đương sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền

Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Luật sư là người có chức trách, dùng pháp luật

bào chữa cho bị can trước tòa” [18, tr.1059] Có thể nói, khái niệm "Luật sư"

luôn là vấn đề gặp nhiều khó khăn trong quá trình xây dựng pháp luật về Luật sư

và hành nghề Luật sư Tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài cho thấy, không phải nước nào cũng đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa về Luật sư Khái niệm Luật sư không phải có sự hiểu biết thống nhất hoặc quy định giống nhau ở các nước trên thế giới Hầu hết ở các nước có nghề Luật sư phát triển, việc đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa về Luật sư chỉ mang tính quy ước, khái niệm Luật sư thường mang tính hình thức hơn là khái niệm về mặt nội dung

Kể từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 các đạo luật về tố tụng được ban hành theo hướng mở rộng dân chủ trong tố tụng, trong

đó có việc tăng cường bảo đảm quyền bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp

Trang 17

của cá nhân, tổ chức trước các cơ quan tiến hành tố tụng Trong bối cảnh đó, ngày 18/12/1987, Pháp lệnh Tổ chức Luật sư được ban hành, Pháp lệnh đã chính

thức dùng từ "Luật sư" để chỉ những người hoạt động tư vấn pháp luật và bào

chữa trước tòa án Tuy nhiên, Pháp lệnh Tổ chức Luật sư năm 1987 không đưa

ra một định nghĩa về Luật sư, mà chỉ quy định muốn làm Luật sư thì phải đủ điều kiện và gia nhập Đoàn Luật sư Việc gia nhập Đoàn Luật sư phải được Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư thông qua theo đề nghị của Ban chủ nhiệm Người mới gia nhập Đoàn Luật sư phải qua một thời gian tập sự từ 6 tháng đến 2 năm

và một kỳ kiểm tra do Đoàn Luật sư tổ chức, mới được công nhận là Luật sư Luật sư tập sự được bào chữa và làm các việc giúp đỡ pháp lý khác như Luật sư Người được công nhận là Luật sư được cấp thẻ Luật sư và chỉ được sử dụng thẻ Luật sư trong khi thực hiện các nhiệm vụ do Ban chủ nhiệm phân công và trong sinh hoạt của Đoàn, không được sử dụng vào việc khác Thẻ Luật sư do Bộ Tư pháp thống nhất phát hành và quản lý việc sử dụng Như vậy, theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức Luật sư năm 1987 thì một người muốn được công nhận là Luật sư phải gia nhập Đoàn Luật sư Thẩm quyền công nhận Luật sư hay thẩm quyền chấp nhận gia nhập Đoàn Luật sư thuộc Hội nghị toàn thể Đoàn Luật sư Thẻ Luật sư là giấy tờ chứng minh một người là Luật sư và được sử dụng trong hành nghề và trong sinh hoạt của Đoàn Luật sư

Cùng với những chủ trương đổi mới mạnh mẽ về kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã đồng thời đề ra và thực thi những chủ trương, biện pháp cải cách mạnh mẽ về tổ chức, hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị, trong

đó có đổi mới tổ chức, hoạt động lập pháp, cải cách tổ chức, hoạt động của bộ máy hành chính, cải cách tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quá trình hội nhập của đất nước Để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã được ban hành và khái niệm Luật

sư mới được đặt ra Vì tên gọi là Pháp lệnh Luật sư, cho nên khái niệm Luật sư

Trang 18

là vấn đề được thảo luận rất sôi nổi trong quá trình soạn thảo Pháp lệnh Các ý kiến đều tập trung xung quanh nội hàm của khái niệm, cơ quan soạn thảo cũng đưa ra nhiều phương án xử lý, tuy nhiên vẫn còn có ý kiến khác nhau Việc đưa

ra khái niệm Luật sư trong Pháp lệnh là có phần khó khăn, dễ gây tranh luận và nhiều ý kiến cũng thừa nhận điều đó Tham khảo kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, việc đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa Luật sư chỉ mang tính quy ước, quy định để hiểu một cách thống nhất Vì vậy, quy định về Luật sư trong Pháp lệnh Luật sư chủ yếu để đưa ra cách hiểu thuật ngữ chứ không hàm ý đưa ra khái niệm Nội dung của pháp lệnh thể hiện quan điểm cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt động Luật sư ở nước ta theo hướng chính quy hóa, chuyên nghiệp hóa đội ngũ Luật sư, nghề Luật sư, tăng cường vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình hội nhập quốc tế của nghề Luật sư ở Việt Nam

Tại khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh Luật sư năm 2001 quy định:

“Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp lệnh

này và tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp

lý khác theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật”

Trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,

Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm

vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó đưa ra những định hướng quan trọng nhằm phát triển đội ngũ Luật sư có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn, đồng thời đề cao trách nhiệm của các tổ

Trang 19

chức hành nghề Luật sư, phát huy hơn nữa vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư [3] Thể chế hóa các chủ trương của Đảng, ngày 29/6/2006, Quốc hội khóa XI thông qua Luật Luật sư, Luật Luật sư có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 và thay thế Pháp lệnh Luật sư năm 2001 Trong đó, Điều 2 quy định:

“Điều 2 Luật sư

Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng).”

Như vậy, khái niệm Luật sư ở nước ta được thể hiện theo hướng Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư Điều kiện hành nghề Luật sư là được Nhà nước cấp Chứng chỉ hành nghề Luật sư và gia nhập một Đoàn Luật sư Vì vậy, ở nước ta Luật sư là luật gia, có thể là thành viên Hội luật gia, nhưng Luật sư và luật gia là hai khái niệm khác nhau, là luật gia chưa hẳn đã phải là Luật sư Một trong những tiêu chuẩn quan trọng, không thể thiếu đối với Luật sư là phải được đào tạo nghề sau khi đã tốt nghiệp đại học luật Chức năng của Luật sư là cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, tổ chức, bao gồm việc tham gia tố tụng để bào chữa hoặc biện hộ cho bị can, bị cáo, đương sự, thực hiện tư vấn pháp luật cho cá nhân, tổ chức, làm các dịch vụ pháp

lý khác và hưởng tiền thù lao do khách hàng trả Trách nhiệm xã hội của Luật sư

là góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội Luật sư độc lập, tự chịu trách nhiệm trong hành nghề, trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất mà Luật sư gây ra cho khách hàng và trách nhiệm vật chất của Luật sư là trách nhiệm vô hạn Ngoài việc phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật, Luật sư còn phải tuân theo các quy tắc hành nghề, trong đó có các quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư do tổ chức xã hội - nghề nghiệp Luật sư ban hành, ở nước

ta không có sự phân chia thành hai loại Luật sư là Luật sư tranh tụng và Luật sư

Trang 20

tư vấn Theo quan điểm và sự hiểu biết của cá nhân mình tác giả đưa ra khái

niệm về Luật sư như sau: Luật sư là người trung thành với Tổ quốc, tuân thủ

Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, có sức khỏe bảo đảm hành nghề Luật sư, đã được cấp Chứng chỉ hành nghề Luật sư và gia nhập một Đoàn Luật

sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)

1.2 Khái niệm, hình thức thực hiện pháp luật tổ chức hành nghề Luật

sư và hoạt động hành nghề Luật sư

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư

Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong đảm bảo sự ổn định và phát triển năng động của xã hội Trong điều kiện đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định vai trò hàng đầu của pháp luật

trong quản lý xã hội Chính vì vậy, Điều 12 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: "Nhà

nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa" Kế thừa và bổ sung quan điểm trên, Điều 8 Hiến pháp năm 2013

quy định: "Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật,

quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ" Khi đặt ra các quy phạm pháp luật, Nhà nước mong muốn sử dụng chúng

để điều chỉnh các quan hệ xã hội, đáp ứng lợi ích của nhân dân và sự tiến bộ xã hội Mục đích đó chỉ đạt được khi các chủ thể thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong đời sống thực tế Thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan của quản lý Nhà nước bằng pháp luật Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội:

"Thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho những quy

Trang 21

định của pháp luật trở thành hoạt động thực tế củacác chủ thể pháp luật"[20,

tr.349]

Trong xã hội có tổ chức luôn tồn tại những mối quan hệ đa dạng giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức, giữa tổ chức với tổ chức Sự xuất hiện và phát triển của kinh tế thị trường đã làm cho các mối quan hệ nêu trên rất phát triển, nhất là mối quan hệ giao dịch Các quan hệ giao dịch không có sự hướng dẫn, quản lý của Nhà nước sẽ lộn xộn, các tranh chấp vi phạm sẽ xảy ra nhiều, gây khó khăn, thiệt hại cho công dân, cơ quan, tổ chức hoặc Nhà nước

Do vậy tạo sự ổn định trong quan hệ xã hội, giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại là điều đặc biệt quan trọng nhằm phát triển kinh tế xã hội Cho nên tuyên truyền phổ biến pháp luật là cần thiết, song việc tăng cường hơn nữa các biện pháp, công cụ tổ chức thực hiện pháp luật cũng cần thiết không kém Luật sư là một nghề quan trọng và không thể thiếu được của Nhà nước pháp quyền Thông qua hoạt động của Luật sư và các quy định hướng dẫn pháp luật trở thành hiện thực sinh động của đời sống xã hội, thành hành vi xử sự đúng pháp luật, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa Do đó, để những chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống trong lĩnh vực Luật sư cần tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật

sư Thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư là thực hiện pháp luật trong lĩnh vực cụ thể, do đó, khái niệm về thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư cũng có đầy đủ các nội dung cơ bản của thực hiện pháp luật nói chung, đồng thời phải nêu được những phương hướng, mục tiêu cụ thể của Đảng, Nhà nước trong xây dựng pháp luật về Luật sư Như vậy, có thể nêu khái niệm thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư như

sau: “Thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề

Luật sư là hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho các quy phạm pháp luật về Luật sư trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật nhằm bảo vệ

Trang 22

quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật, đáp ứng yêu cầu công cuộc phát triển kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp

và hội nhập quốc tế”

Từ khái niệm có thể thấy, thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật

sư và hoạt động hành nghề Luật sư có các đặc điểm sau:

Về chủ thể: Thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt

động hành nghề Luật sư có rất nhiều chủ thể, bao gồm Nhà nước, các tổ chức và

cá nhân tham gia vào hoạt động này, được pháp luật quy định cho những quyền

và nghĩa vụ nhất định như Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Luật sư, tổ chức và cá nhân

Về tính chất: Thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt

động hành nghề Luật sư thể hiện tính pháp chế cao, các Luật sư hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, các quy trình, thủ tục trong hoạt động Luật sư được quy định chặt chẽ, cụ thể trong luật: việc cấp thẻ hành nghề và các hình thức hành nghề của Luật sư, việc thành lập, giải thể, hoạt động của các tổ chức hành nghề hành nghề Luật sư được quy định chặt chẽ trong luật để không chỉ các Luật sư thực hiện mà các tổ chức, cá nhân khác phải thực hiện

Về phạm vi: thực hiện pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt

động hành nghề Luật sư là một lĩnh vực đặc thù, chủ yếu điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình tiến hành hoạt động hành nghề cũng như hoạt động của các tổ chức hành nghề Luật sư

1.2.2 Hình thức thực hiện pháp luật tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư

Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, lý luận chung về Nhà nước và pháp luật xác định bốn hình thức thực hiện pháp luật là tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Nhận thức các hình thức thực hiện pháp luật tổ về chức hành nghề Luật sư và hoạt động

Trang 23

hành nghề Luật sư cũng dựa trên lý luận chung về các hình thức thực hiện pháp luật trên và dựa vào những đặc trưng của lĩnh vực pháp luật cụ thể này Theo đó, các hình thức thực hiện pháp luật tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư bao gồm:

- Tuân thủ pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành

nghề Luật sư: là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp

luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm Để hình thức này đi vào cuộc sống, các chủ thể pháp luật Luật sư (Luật sư, người yêu cầu Luật sư, tổ chức hoạt động hành nghề Luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân) phải kiềm chế không thực hiện hành vi bị nghiêm cấm Ví dụ: Luật Luật sư quy

định Nghiêm cấm Luật sư thực hiện hành vi "Cố ý cung cấp tài liệu, vật chứng

giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật"

- Thi hành về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư:

là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó chủ thể thực hiện nghĩa vụ của mình bằng hành động tích cực Để hình thức này đi vào cuộc sống, các chủ thể pháp luật Luật sư (Luật sư, người yêu cầu Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư,

cơ quan, tổ chức, cá nhân) cần tích cực, chủ động thực hiện các quy định về nghĩa vụ cụ thể Ví dụ: Luật Luật sư quy định Luật sư có nghĩa vụ tuân thủ nguyên tắc hành nghề Luật sư có nghĩa là bằng hành vi chủ động của mình, khi hành nghề Luật sư, Luật sư phải tuân thủ nguyên tắc hành nghề đã được pháp luật quy định Nếu Luật sư không tuân thủ nguyên tắc hành nghề, sẽ dẫn tới vi phạm pháp luật

- Sử dụng pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề

Luật sư: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó, các chủ thể pháp luật thực

hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép)

Ở hình thức này, chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật trao, theo ý thức của mình, chứ không bị ép buộc phải thực hiện

Trang 24

Để hình thức này đi vào cuộc sống, các chủ thể pháp luật Luật sư (Luật sư, người yêu cầu Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân) có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền của mình Ví dụ: Luật Luật sư quy

định "Tổ chức hành nghề Luật sư có quyền thuê Luật sư Việt Nam, Luật sư nước

ngoài và nhân viên làm việc cho tổ chức hành nghề Luật sư" Thực tế cho thấy,

có những tổ chức hành nghề Luật sư thuê nhân viên làm việc, đặc biệt là các văn phòng Luật sư, thuê nhiều hay ít nhân viên phụ thuộc vào hiệu quả của từng tổ chức hành nghề Luật sư Nhưng cũng có những tổ chức hành nghề Luật sư không thuê nhân viên làm việc, việc này không bị coi là hành vi vi phạm pháp luật

- Áp dụng pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề

Luật sư: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các

cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật Trong trường hợp này, các chủ thể pháp luật thực hiện pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước Trong trường hợp đặc biệt, theo quy định của pháp luật, cơ quan tổ chức xã hội cũng có thể thực hiện hoạt động này Áp dụng pháp luật về tổ chức hành nghề Luật sư và hoạt động hành nghề Luật sư gồm các chủ thể sau: Luật sư, các cán bộ hoạt động tại các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm quản lý hoạt động hành nghề Luật sư và tổ chức hành nghề Luật sư Để hình thức này đi vào cuộc sống đòi hỏi phải nâng cao ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn của các cán bộ, công chức, các Luật sư để việc ban hành các văn bản áp dụng pháp luật nhanh chóng, kịp thời

Trang 25

Trong điều kiện đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc phát triển đội ngũ Luật sư có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ và đủ về số lượng là một trong những nội dung quan trọng Đổi mới tổ chức

và hoạt động Luật sư không những phải theo định hướng phục vụ tốt hơn yêu cầu của hoạt động tư pháp nói chung, của hoạt động xét xử nói riêng, mà còn là nhân tố quan trọng hỗ trợ các quan hệ kinh tế thị trường phát triển Trước yêu cầu của tình hình mới, đặc biệt là việc Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thì việc ban hành Luật Luật sư điều chỉnh thống nhất về hành nghề Luật sư ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết, trong đó công tác quản

lý Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư của cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội nghề nghiệp của Luật sư hết sức quan trọng, việc quy định cụ thể, chi tiết về nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Đoàn Luật sư mới tạo điều kiện đội ngũ Luật sư phát triển, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế và xã hội hiện nay Pháp lệnh Luật sư năm 2001 quy định Luật sư chỉ được hành nghề trong tổ chức hành nghề Luật sư (thành lập hoặc tham gia thành lập văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh hoặc làm việc theo hợp đồng cho tổ chức hành nghề Luật

sư, kể cả tổ chức hành nghề Luật sư nước ngoài tại Việt Nam) Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sâu sắc và mạnh mẽ hiện nay thì những quy định về hành nghề Luật sư của Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã không còn phù hợp Luật Luật sư năm 2006 ra đời đã

mở rộng hình thức hành nghề của Luật sư, theo đó Luật sư có thể lựa chọn một trong các hình thức hành nghề (Điều 23 Luật Luật sư):

- Hành nghề trong tổ chức hành nghề Luật sư

- Hành nghề với tư cách cá nhân

Trang 26

Quy định mở rộng phạm vi hành nghề của Luật Luật sư năm 2006 xuất phát từ thực tiễn cho thấy các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, đặc biệt là doanh nghiệp đang thực sự có nhu cầu tuyển dụng Luật sư làm việc cho mình với tư cách là Luật sư riêng để giúp giải quyết những vấn đề pháp lý liên quan Mặt khác, xét về tính chất của nghề Luật sư là nghề tự do, do đó Luật sư có thể tự do lựa chọn hình thức hành nghề phù hợp với khả năng của mình và nhiều nước trên thế giới tồn tại hình thức hành nghề với tư cách cá nhân (ví dụ: Cộng hòa Pháp, Bang New South Wales của Australia, Hoa Kỳ, Singapore…) Theo quy định của Luật Luật sư năm 2006 thì tổ chức hành nghề Luật sư bao gồm: Văn phòng Luật sư, công ty luật

- Quy định của pháp luật về thành lập tổ chức hành nghề Luật sư

Mỗi Luật sư chỉ được thành lập một văn phòng Luật sư, thành lập hoặc tham gia thành lập công ty luật tại địa phương nơi có Đoàn Luật sư mà Luật sư

đó là thành viên Trong trường hợp Luật sư ở các Đoàn Luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập công ty luật thì có thể lựa chọn thành lập và đăng ký hoạt động tại địa phương nơi có Đoàn Luật sư mà một trong các Luật sư đó là thành viên (khoản 3 Điều 32 Luật Luật sư 2006) Luật Luật sư sửa đổi, bổ sung năm

2012 có quy định mới đối với điều kiện để thành lập tổ chức hành nghề Luật sư

đó là để thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề Luật sư thì Luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho

tổ chức hành nghề Luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định của Luật này Theo đó sau ít nhất hai năm kể từ khi được cấp thẻ Luật sư thì Luật sư mới có thể thành lập công ty luật hoặc văn phòng Luật sư Quy định này nhằm hạn chế tình trạng các tổ chức hành nghề Luật sư được mở ra một cách tràn lan Hiện nay nhiều tổ chức hành nghề Luật sư đã được mở ra nhưng không hề có hoạt động trên thực tế Mục đích của quy định này là muốn các tổ chức hành nghề chỉ được thành lập khi

Trang 27

Luật sư thực sự có tâm huyết và thực sự muốn thực hiện các dịch vụ pháp lý của Luật sư; đồng thời quy định thời gian hai năm là để Luật sư có đủ điều kiện tiếp xúc và tích lũy kinh nghiệm thực tế trong hoạt động nghề nghiệp của mình Bởi khi còn tập sự hành nghề Luật sư, một người chỉ được “tập bơi trên cạn” mà chưa được xuống nước nên chưa thể có được những trải nghiệm, những kinh nghiệm thực tế trong nghề Luật luật sư còn quy định: một Luật sư chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một tổ chức hành nghề Nghĩa là một Luật sư chỉ được là thành viên của duy nhất một tổ chức hành nghề Đây là điểm khác biệt giữa tổ chức hành nghề Luật sư và các loại hình doanh nghiệp khác

Thêm vào đó, khác với các loại hình công ty hợp danh được quy định trong luật doanh nghiệp, công ty luật hợp danh không được kết nạp thành viên góp vốn Công ty luật hợp danh là loại hình doanh nghiệp mà toàn bộ thành viên đều phải là thành viên hợp danh (Điều 34 Luật Luật sư 2006) Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp 2014 lại cho phép thành viên hơp ̣ danh được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc là thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác khác nếu được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại và thành viên công ty hợp danh có thể có thêm thành viên góp vốn Như vậy, về vấn đề này, Luật Luật sư

có quy định chặt chẽ hơn Luật doanh nghiệp Quy định này là hợp lý bởi hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý của Luật sư liên quan trực tiếp tới quyền lợi của con người, cùng với quy định nghề Luật sư không được kiêm nhiệm, quy định này buộc Luật sư phải chuyên tâm vào công việc cao quý của mình nhằm đem lại kết quả cao nhất trong hoạt động nghề nghiệp

Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động cho tổ chức hành nghề Luật sư là Sở Tư pháp Đây cũng là một đặc thù riêng của tổ chức hành nghề Luật sư so với các doanh nghiệp khác Theo quy định của Luật Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn Luật sư mà Trưởng văn phòng Luật sư hoặc Giám đốc công ty luật là thành viên

Trang 28

Công ty luật do Luật sư ở các Đoàn Luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập thì đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có trụ sở của công ty Việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề Luật sư cũng phải được Sở Tư pháp chấp nhận Tổ chức hành nghề Luật sư được hoạt động kể

từ ngày cấp giấy đăng ký hoạt động; trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày được cấp giấy Đăng ký hoạt động, Trưởng văn phòng Luật sư hoặc Giám đốc công ty luật phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao giấy đăng ký hoạt động cho Đoàn Luật sư mà mình là thành viên và trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày được cấp giấy đăng ký hoạt động, tổ chức hành nghề Luật sư phải đăng báo hàng ngày của trung ương hoặc địa phương nơi đăng ký hoạt động hoặc báo chuyên ngành luật trong ba số liên tiếp

- Các hình thức tổ chức hành nghề Luật sư

Văn phòng Luật sư là tổ chức hành nghề Luật sư do một Luật sư thành lập,

được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân Luật sư thành lập văn phòng Luật sư là Trưởng văn phòng và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của văn phòng Trưởng văn phòng là người đại diện theo pháp luật của văn phòng (Điều 33 Luật Luật sư 2006) Luật sư thành lập văn phòng là chủ sở hữu, là đại diện theo pháp luật và là người trực tiếp điều hành các hoạt động của văn phòng Luật sư Văn phòng Luật sư không có tư cách pháp nhân, không có sự tách biệt giữa tài sản riêng của văn phòng và của Luật

sư chủ sở hữu Luật sư làm chủ văn phòng Luật sư phải chịu trách nhiệm vô hạn

về tài sản trước mọi khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động của văn phòng Luật sư Tên gọi và trụ sở của văn phòng Luật sư, chế độ tài chính, tài sản tuân theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật Luật sư và các văn bản pháp luật có liên quan khác Văn phòng Luật sư có đầy đủ các quyền như các doanh nghiệp hoạt động cung cấp các dịch vụ khác như quyền: cung cấp dịch vụ tới khách hàng, nhận thù lao từ khách hàng, thuê Luật sư và nhân viên làm việc cho tổ

Trang 29

chức mình, tham gia xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia tư vấn, giải quyết các vụ việc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi được yêu cầu, thành lập chi nhánh, văn phòng giao dịch trong nước và nước ngoài Loại hình dịch vụ mà văn phòng Luật sư cung cấp là dịch vụ pháp lý – một loại dịch vụ đặc biệt Trong hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý, văn phòng Luật sư là chủ thể nhận yêu cầu của khách hàng, là một bên trong hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng Văn phòng Luật sư tiến hành cử Luật sư thực hiện vụ việc của khách hàng và cùng với Luật sư thực hiện chịu trách nhiệm với khách hàng trên

cơ sở hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký Văn phòng Luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, khách hàng sử dụng dịch vụ và có nghĩa vụ thanh toán cho văn phòng Luật sư Hoạt động của văn phòng Luật sư vừa mang tính nghề nghiệp, vừa mang tính lợi nhuận

Công ty luật bao gồm công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên,

công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật hợp danh Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một Luật sư thành lập và làm chủ sở hữu, chủ sở hữu đồng thời là giám đốc công ty Các thành viên công

ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thỏa thuận cử một thành viên làm giám đốc công ty (Điều 34 Luật Luật sư 2006) Trong đó, các thành viên của công ty luật đều phải là Luật sư Đối với công ty luật một thành viên thì thành viên đó là chủ sở hữu và là người đại diện theo pháp luật của công ty luật Đối với công ty luật có nhiều Luật sư thành viên thì các thành viên cử ra một Luật sư thành viên làm người đại diện theo pháp luật Các thành viên cùng chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty Về loại hình doanh nghiệp của công ty luật, trước đây có nhiều quan niệm đều cho rằng Luật

sư cung cấp loại dịch vụ đặc biệt là dịch vụ pháp lý, do tầm quan trọng của loại dịch vụ này mà nghề Luật sư phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động hành nghề của mình, mô hình doanh nghiệp phù hợp trong trường hợp này chỉ

Trang 30

có thể là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh Tuy nhiên, hiện nay đa số các học giả đều thừa nhận Luật sư có thể hành nghề dưới hầu hết các hình thức kinh doanh thông thường như công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh Chế độ chịu trách nhiệm của công ty luật cũng phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp và quy định pháp luật của mỗi quốc gia Công ty luật trách nhiệm hữu hạn chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp của các thành viên Công ty luật hợp danh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình, nếu nghĩa vụ lớn hơn tài sản công ty, các thành viên hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đó bằng tài sản cá nhân Trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý, công ty luật là một chủ thể của Hợp đồng dịch vụ pháp lý Công ty luật cung cấp các dịch vụ pháp lý tới khách hàng sau đó giao cho Luật sư thực hiện các dịch vụ đó Khách hàng là người sử dụng dịch vụ và có trách nhiệm thanh toán cho công ty luật Các tổ chức hành nghề Luật sư chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với toàn bộ hoạt động của tổ chức; thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp và nêu cao ý thức trách nhiệm chính trị, trách nhiệm xã hội trong hoạt động hành nghề; đề cao tôn trọng sự thật và pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng; đồng thời, phải có trách nhiệm bảo vệ pháp luật, phục vụ các nhiệm vụ chính trị của quốc gia Người đứng đầu của tổ chức hành nghề Luật sư cần chú trọng và đề cao vai trò tự quản, tự chịu trách nhiệm đối với mọi hoạt động hành nghề của tổ chức và Luật sư hoạt động trong tổ chức; quản lý chặt chẽ hoạt động của Luật sư và nhân viên của tổ chức; trong hoạt động hành nghề cần có biện pháp để nâng cao tính chuyên nghiệp, uy tín và hiệu quả hoạt động đối với khách hàng

- Mối quan hệ giữa tổ chức hành nghề Luật sư và các chủ thể có liên quan

Trang 31

Luật Luật sư năm 2006 không phân biệt phạm vi hành nghề giữa văn phòng Luật sư và công ty luật, theo quy định tại Điều 22 Luật Luật sư 2006, văn phòng Luật sư và công ty luật được thực hiện các dịch vụ pháp lý:

- Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự,

bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự

- Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật

- Thực hiện tư vấn pháp luật

- Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật

- Thực hiện dịch vụ pháp lý khác

Trong quá trình hành nghề, tổ chức hành nghề Luật sư là chủ thể trong hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng, chịu trách nhiệm trực tiếp với khách hàng trong quá trình thực hiện dịch vụ pháp lý Tổ chức hành nghề Luật sư phải tôn trọng sự lựa chọn của khách hàng, chỉ nhận vụ việc theo khả năng của mình và thực hiện vụ việc trong phạm vi yêu cầu của khách hàng Điều quan trọng nhất trong mối quan hệ giữa tổ chức hành nghề Luật sư và khách hàng là khách hàng phải được tự do lựa chọn tổ chức hành nghề Luật sư mà mình muốn, tổ chức hành nghề Luật sư chỉ nhận vụ việc mà mình có thể thực hiện một cách vô tư, khách quan và chất lượng Khách hàng cũng có quyền từ chối Luật sư nếu họ thấy rằng việc sử dụng dịch vụ pháp lý của Luật sư đó không đem lại kết quả như họ mong muốn Tổ chức hành nghề Luật sư chỉ được nhận yêu cầu của khách hàng khi không bị áp lực nào làm ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ

Trang 32

pháp lý (áp lực về tài chính, áp lực của bên thứ ba ) Tổ chức hành nghề Luật sư phải từ chối cung cấp dịch vụ pháp lý nếu yêu cầu của khách hàng không có căn

cứ hoặc yêu cầu của khách hàng vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc nếu thực hiện yêu cầu đó có thể dẫn đến việc Luật sư vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp Tổ chức hành nghề Luật sư không được xử lý các vấn đề pháp lý mà Luật sư biết hoặc phải biết mình không đủ năng lực để xử lý

Tổ chức hành nghề Luật sư phải có trách nhiệm bảo vệ tốt nhất lợi ích của khách hàng trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp Trong quá trình nhận

và thực hiện yêu cầu của khách hàng, Luật sư phải giải thích cho khách hàng về quyền và trách nhiệm của Luật sư, phải thường xuyên thông tin cho khách hàng

về tình hình vụ việc Bên cạnh đó, tổ chức hành nghề Luật sư phải đảm bảo các nhân viên trong tổ chức mình phải giữ bí mật đời tư, bí mật công việc và các quan hệ của khách hàng Khi ngừng tiến hành việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, tổ chức hành nghề Luật sư phải có lý do chính đáng và phải báo trước cho khách hàng trong thời gian hợp lý Bên cạnh mối quan hệ với khách hàng, mối quan hệ với hệ thống hành nghề rất quan trọng trong suốt quá trình thành lập, hoạt động và chấm dứt hoạt động nghề nghiệp của tổ chức hành nghề Luật sư Mối quan hệ giữa tổ chức hành nghề Luật sư với hệ thống hành nghề bao gồm mối quan hệ giữa tổ chức hành nghề Luật sư với tổ chức quản lý nghề nghiệp, với các tổ chức hành nghề khác và với các chủ thể khác trong hệ thống hành nghề Tổ chức quản lý nghề nghiệp Luật sư là tổ chức quản lý chung đối với hoạt động hành nghề Luật sư và bảo vệ quyền lợi cho các Luật sư Tổ chức này có thể được thành lập theo từng đơn vị hành chính ở mỗi quốc gia Tổ chức này có trách nhiệm quản lý hoạt động hành nghề Luật sư về mặt hành chính, đại diện và bảo vệ quyền lợi cho các Luật sư, tạo điều kiện bồi dưỡng thường xuyên

về kiến thức pháp luật, kỹ năng hành nghề cho Luật sư, phối hợp với các cơ quan Nhà nước khác quản lý hoạt động hành nghề Luật sư và góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của quốc gia Trong mối quan hệ với tổ chức quản lý

Trang 33

nghề nghiệp này, tổ chức hành nghề Luật sư phải tôn trọng điều lệ của tổ chức, phối hợp với tổ chức để thực hiện tốt chức năng xã hội của Luật sư đồng thời phối hợp với tổ chức trong các hoạt động tham gia xây dựng pháp luật, nghiên cứu khoa học pháp lý, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Mối quan hệ giữa tổ chức hành nghề Luật sư với các đồng nghiệp là mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa các tổ chức hành nghề Luật sư nhằm nâng cao hoạt động nghiệp vụ và phục vụ khách hàng được tốt hơn Đối với các đồng nghiệp, Luật

sư không được xúc phạm hoặc hạ thấp uy tín của đồng nghiệp, không được có hành vi gây áp lực đe dọa hoặc dùng những thủ đoạn xấu đối với đồng nghiệp để dành lợi thế cho mình trong hoạt động hành nghề Đồng thời, Luật sư không được thông đồng với Luật sư của khách hàng có quyền lợi đối lập với khách hàng của mình để cùng mưu cầu lợi ích cá nhân bất chính Quan hệ đồng nghiệp

là lĩnh vực được điều chỉnh bởi quy tắc đạo đức nghề nghiệp của Luật sư và nó thể hiện được tính tự quản trong hoạt động nghề nghiệp của Luật sư

Trong mối quan hệ với các cơ quan tố tụng tổ chức hành nghề Luật sư phải tuân thủ quy định về quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại luật Luật sư

và các văn bản pháp luật tố tụng liên quan Theo đó tổ chức hành nghề Luật sư

cử Luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án Tổ chức hành nghề Luật sư tạo điều kiện để Luật sư của tổ chức mình tham gia tố tụng thuận lợi đồng thời có trách nhiệm buộc Luật sư của tổ chức mình phải tuân thủ các quy định của luật Luật sư và các văn bản pháp luật về tố tụng có liên quan Trong tố tụng, Luật sư có nghĩa vụ sử dụng các căn cứ hợp pháp để bảo vệ lợi ích tốt nhất của khách hàng và không được lạm dụng những căn cứ

đó Nhiệm vụ của Luật sư là trình bày vụ việc của khách hàng bằng những lý lẽ thuyết phục của mình nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, đồng thời bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật, góp phần duy trì sự công bằng

Trang 34

của xã hội Tổ chức hành nghề Luật sư không được móc nối quan hệ hoặc trực tiếp quan hệ với người tiến hành tố tụng nhằm mục đích lôi kéo họ vào việc làm trái quy định trong giải quyết công việc Tổ chức hành nghề Luật sư và các cơ quan tiến hành tố tụng cùng tham gia vào sự nghiệp bảo vệ công lý Do đó, tổ chức hành nghề Luật sư nói chung và Luật sư nói riêng phải hợp tác cùng các cơ quan tố tụng để giải quyết các vụ việc cụ thể Tổ chức hành nghề Luật sư không được cung cấp cho cơ quan tố tụng những thông tin, chứng cứ mà Luật sư biết hoặc nghi ngờ là sai sự thực Tổ chức hành nghề Luật sư không được tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những thủ đoạn, những hành vi bất hợp pháp nhằm gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng Vì tổ chức hành nghề Luật sư phải cùng và giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết những vụ việc xảy ra trong xã hội một cách tốt nhất đảm bảo cho lợi ích của xã hội và của các công dân

- Chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề Luật sư

Hoạt động của tổ chức hành nghề Luật sư có thể được chấm dứt dựa trên

sự tự nguyện của các Luật sư thành viên trong tổ chức hành nghề Luật sư hoặc của cá nhân Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân Tổ chức hành nghề Luật sư đang hoạt động, Luật sư đang hành nghề với tư cách cá nhân không muốn tiếp tục hành nghề Luật sư nữa có thể chấm dứt hoạt động hành nghề Luật sư của mình nhưng phải thông qua các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật Trong trường hợp Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân tự nguyện chấm dứt hoạt động Luật sư thì bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo quy định tại điểm e

Điều 18 Luật Luật sư 2006 “Thôi hành nghề Luật sư theo nguyện vọng” Ngoài

ra, hoạt động của tổ chức hành nghề Luật sư có thể được chấm dứt trong trường hợp Công ty Luật bị hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức hành nghề Luật sư Việc hợp nhất, sáp nhập và chuyển đổi hình thức tổ chức hành nghề Luật sư được quy định tại điều 45 Luật Luật sư 2006 Theo đó, hai hoặc

Trang 35

nhiều công ty luật cùng loại có thể hợp nhất thành một công ty luật mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty luật hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty luật bị hợp nhất Một hoặc nhiều công ty luật có thể sáp nhập vào công ty luật khác cùng loại bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty luật nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty luật bị sáp nhập Văn phòng Luật sư có thể chuyển đổi thành công ty luật trên cơ sở kế thừa toàn

bộ quyền, nghĩa vụ của văn phòng Luật sư theo quy định của pháp luật đồng thời chấm dứt sự tồn tại của văn phòng Luật sư sau khi chuyển đổi Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển đổi thành công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và ngược lại; công ty luật trách nhiệm hữu hạn được chuyển đổi thành công ty luật hợp danh và ngược lại Công ty luật được chuyển đổi kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của công ty luật bị chuyển đổi Tại điểm 3, mục IV của Thông tư số 02/2007/TT-BTP ngày 25 tháng 04 năm 2007 về việc hướng dẫn một số quy định của Luật Luật sư năm 2006 có

quy định: “Văn phòng Luật sư, Công ty luật hợp danh đăng ký hoạt động theo

quy định của Pháp lệnh Luật sư năm 2001 muốn chuyển đổi sang hình thức Công ty luật trách nhiệm hữu hạn thì phải chấm dứt hoạt động và làm thủ tục đăng ký hoạt động của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Luật sư Công ty luật trách nhiệm hữu hạn được sử dụng tên của Văn phòng Luật sư, Công ty luật hợp danh đã chấm dứt hoạt động” Như vậy, muốn chuyển

đổi loại hình, tổ chức hành nghề Luật sư đang hoạt động phải tiến hành các thủ tục chấm dứt hoạt động trước rồi mới được đăng ký hoạt động sang loại hình mới, nhưng nếu làm vậy, nhiều văn phòng luật sẽ bị ảnh hưởng về thương hiệu

và giá trị doanh nghiệp được tạo dựng trong nhiều năm

Việc chấm dứt tổ chức cũ, thành lập tổ chức mới còn gây ra việc gián đoạn hoạt động của tổ chức hành nghề Luật sư do phải mất thời gian hoàn thiện về

Trang 36

mặt thủ tục Thủ tục tự chấm dứt được quy định cụ thể tại khoản 2 điều 47 Luật Luật sư 2006, theo đó chậm nhất là ba mươi ngày, trước thời điểm dự kiến chấm dứt hoạt động, tổ chức hành nghề Luật sư phải thông báo bằng văn bản cho Sở

Tư pháp, Đoàn Luật sư ở địa phương nơi đăng ký hoạt động và nơi có trụ sở của chi nhánh Trước thời điểm chấm dứt hoạt động, tổ chức hành nghề Luật sư phải nộp đủ số thuế còn nợ; thanh toán xong các khoản nợ khác; làm xong thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động đã ký với Luật sư, nhân viên của tổ chức hành nghề Luật sư; thực hiện xong các hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký với khách hàng Trong trường hợp không thể thực hiện xong hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký với khách hàng thì phải thoả thuận với khách hàng về việc thực hiện hợp đồng dịch

vụ pháp lý đó Thực hiện được tất cả các công việc này thật không đơn giản chút nào và việc thực hiện mất rất nhiều thời gian, có thể vài tháng có khi đến cả năm Mặt khác sau khi chấm dứt hoạt động của tổ chức cũ, tổ chức mới dù có được tạo điều kiện đến mấy thì cũng phải mất một khoảng thời gian nhất định để được cấp giấy đăng ký hoạt động Vấn đề đặt ra là nếu vào thời điểm tổ chức cũ

đã chấm dứt hoạt động và tổ chức mới chưa được cấp giấy đăng ký hoạt động

mà xảy ra tranh chấp hoặc có yêu cầu của khách hàng hoặc cơ quan Nhà nước yêu cầu tham gia tố tụng hoặc tư vấn thì pháp nhân nào sẽ giải quyết? Thực chất, với điều luật này thì tổ chức không được chuyển đổi loại hình, chỉ là chấm dứt tổ chức cũ bao gồm cả việc quyết toán và đóng Mã số thuế, sau đó thành lập

tổ chức mới và được cấp Mã số thuế mới Cũng chẳng có gì để chứng minh cho việc có chuyển đổi mà thực chất là hai tổ chức hoàn toàn khác nhau Còn đối với các loại hình tổ chức theo quy định của Luật doanh nghiệp và các văn bản có liên quan, khi tổ chức chuyển đổi loại hình thì tổ chức vẫn hoạt động song song với việc tiến hành các thủ tục pháp lý, Mã số thuế của tổ chức vẫn được giữ nguyên Tổ chức mới, sau khi được chuyển đổi có trách nhiệm kế thừa tất cả các nghĩa vụ cũng như được hưởng các quyền lợi từ tổ chức cũ phát sinh trong quá trình chuyển đổi loại hình doanh nghiệp và hoạt động của tổ chức không bị gián

Trang 37

đoạn hay tạm dừng Chỉ cần đăng bố cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông báo tới khách hàng về việc chuyển đổi và tên giao dịch mới của tổ chức Như vậy các quy định của Luật Luật sư và văn bản hướng dẫn về vấn đề chuyển đổi hình thức tổ chức hành nghề Luật sư là chưa phù hợp với quy định của Luật doanh nghiệp và gây nhiều bất cập trong quá trình thực hiện Những quy định này cần sớm được sửa đổi để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức hành nghề Luật sư đồng thời thúc đẩy nghề Luật sư phát triển, đáp ứng được nhu cầu trong nước và quốc tế Tổ chức hành nghề Luật sư cũng có thể bị buộc phải chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau:

Tổ chức hành nghề Luật sư chấm dứt hoạt động khi bị thu hồi Giấy đăng

ký hoạt động Tổ chức hành nghề Luật sư bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động không thời hạn trong trường hợp Lợi dụng việc hành nghề Luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Trong trường hợp Luật sư hoặc các Luật sư thành viên của tổ chức hành nghề Luật sư bị thu hồi chứng chỉ hành nghề Luật sư thì tổ chức hành nghề Luật

sư cũng chấm dứt hoạt động Đó là các trường hợp Trưởng văn phòng Luật sư, Giám đốc công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc tất cả các thành viên của công ty luật hợp danh, thành viên của công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề Luật sư Tổ chức hành nghề Luật sư cũng chấm dứt hoạt động khi thành viên duy nhất của tổ chức chết Thành viên duy nhất đó là trưởng văn phòng Luật sư hoặc giám đốc của công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điều 47 Luật Luật sư quy định về các trường hợp tổ chức hành nghề Luật sư chấm dứt hoạt động, nhưng chưa có quy định cụ thể về cách giải quyết các hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hoạt động

đó

Trang 38

Theo quy định hiện hành, khi bị chấm dứt hoạt động, tổ chức hành nghề Luật sư phải thoả thuận với khách hàng về việc thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp

lý đã ký với họ nhưng chưa thực hiện xong Luật chỉ quy định phải thỏa thuận với khách hàng, còn việc các bên có thỏa thuận được với nhau hay không thì Luật không đề cập đến cũng như không quy định về trách nhiệm liên đới của những Luật sư thành viên của tổ chức đó sau khi chấm dứt hoạt động Do đó, nếu các bên không đạt được thống nhất nào và xảy ra tranh chấp về quyền lợi thì hậu quả pháp lý của tranh chấp này dường như bị Luật Luật sư “bỏ ngỏ” Lúc này, bên khách hàng, bằng con đường tố tụng, có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của họ được không? Nếu bên khách hàng khởi kiện ra tòa, Tòa án thụ

lý theo đúng thẩm quyền và thủ tục tố tụng, bên bị đơn thông báo với tòa về việc

đã chấm dứt hoạt động theo quy định của Luật Luật sư, thì Tòa án căn cứ vào Điều 215 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì cơ quan, tổ chức đã bị giải thể mà không có cá nhân,

cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp này

là nguyên đơn không có quyền khởi kiện lại, tiền tạm ứng phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ Nhà nước Tức là, bên khách hàng mất quyền khởi kiện, mất luôn tiền tạm ứng án phí và quan trọng nhất là họ không có một cơ hội nào để yêu cầu pháp luật bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ Chính vì không có những quy định về sự kế thừa quyền và nghĩa vụ khi tổ chức hành nghề Luật sư chấm dứt hoạt động đã xâm hại các quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng

và chưa có một cơ chế pháp lý nào bảo vệ quyền lợi bên khách hàng cho đến thời điểm hiện nay Ngoài ra, Luật Luật sư cũng không có các quy định cấm tổ chức hành nghề Luật sư được thực hiện một số hành vi khi đã bị chấm dứt hoạt động, ví dụ như cất giấu, tẩu tán tài sản, ký kết hợp đồng mới không phải là hợp đồng nhằm thực hiện giải thể doanh nghiệp Không bị cấm thực hiện một số hành vi sau khi bị chấm dứt hoạt động và cũng không phải chịu trách nhiệm dân

Trang 39

sự khi bị khởi kiện ra tòa là những “kẽ hở” pháp lý nghiêm trọng cần phải

được sửa ngay lập tức trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư

1.3.2 Nội dung của pháp luật về hoạt động hành nghề Luật sư

Hoạt động hành nghề của Luật sư vào những năm đầu phát triển chỉ mới tập trung vào giai đoạn tranh tụng tại Tòa án Hình thức tư vấn pháp luật cho công dân và tổ chức chưa được đẩy mạnh trong hầu hết các Đoàn Luật sư, thậm chí có Đoàn Luật sư trên thực tế chưa tổ chức thực hiện hình thức pháp lý quan trọng này Xuất phát từ nhu cầu nội tại của xã hội, nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hoạt động hành nghề của Luật sư mang đến cho xã hội nói chung và tố tụng tư pháp nói riêng những giá trị của dân chủ, thông qua sự bình đẳng trong tranh tụng, đề xuất yêu cầu, đại diện hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trước những hành vi xâm phạm, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của nền kinh tế thị trường phát triển ổn định, vững chắc Việc phát triển nghề Luật sư ở một quốc gia được xem là một trong những điều kiện đánh giá sự phát triển của nền dân chủ và của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việc bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân là một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta Hiện nay, Luật sư được xác định là một chức danh tư pháp độc lập tham gia vào tiến trình mang tính định hướng này không thể tách rời với nhiệm vụ quan trọng mà Đảng, Nhà nước đã đề ra Hoạt động hành nghề của Luật sư trước hết phải thể hiện ở việc tuân thủ pháp luật của người hành nghề Luật sư, dựa vào pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích cho cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo đảm sự thật khách quan và công lý

Hoạt động hành nghề Luật sư được thể hiện ở uy tín nghề nghiệp, đây là thuộc tính quan trọng thể hiện bản chất của hoạt động hành nghề Luật sư Khách hàng có quyền lựa chọn Luật sư cho mình, không phụ thuộc vào chỉ định bắt

Trang 40

buộc hay can thiệp của bất cứ cơ quan, cá nhân nào và Luật sư hành nghề bằng lời nói, soạn thảo văn bản tư vấn hay tranh tụng tại phiên tòa đều nhân danh cá nhân; thuộc tính này phân biệt hoạt động hành nghề của Luật sư với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng mang tính tập thể, dưới danh nghĩa cơ quan, tổ chức Bên cạnh đó, hoạt động hành nghề của Luật sư được thể hiện ở tính độc lập, tính độc lập của hoạt động hành nghề ở đây là làm sáng tỏ phương thức hoạt động đối trọng với các chủ thể tư pháp khác trong một chỉnh thể thống nhất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tính độc lập là điều kiện tất yếu cho hoạt động hành nghề Luật sư Nếu đưa hoạt động của Luật sư và các cơ quan tiến hành tố tụng vào chung một thể chế quản lý sẽ tạo ra sự hoài nghi của một

bộ phận nhân dân, làm mất đi tính phản biện xã hội hoặc bị xuyên tạc Ngoài ra, hoạt động hành nghề của Luật sư không những phục vụ đắc lực yêu cầu của hoạt động tư pháp nói chung, của hoạt động xét xử nói riêng mà còn là nhân tố quan trọng hỗ trợ các quan hệ kinh tế thị trường phát triển và chúng ta không thể tách rời hoạt động hành nghề của Luật sư với các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cũng như không thể nói đến thực hiện dân chủ và công bằng xã hội mà không có sự tham gia của đội ngũ Luật sư

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng là vai trò đầu tiên mà ai

cũng có thể biết đến khi nhắc tới “Luật sư” Nhu cầu của con người vô cùng đa

dạng và rất nhiều trường hợp nhu cầu của một chủ thể lại đi ngược lại với nhu cầu chung của xã hội, của chủ thể khác Trong trường hợp đó, nếu chủ thể không thể bảo vê ̣ tốt quyền lợi của mình (do hạn chế về kiến thức, kỹ năng, thời gian…) thì Luật sư chính là người giúp chủ thể đó bảo vệ quyền lợi của mình một cách tốt nhất Tuy nhiên, Luật sư bảo vệ quyền lợi của khách hàng trên cơ

sở các quy định của pháp luật, và quyền lợi được bảo vệ phải là quyền và lợi ích

hợp pháp Cơ quan tiến hành tố tụng là người “cầm cân nảy mực” giúp cân bằng

quyền lợi giữa các chủ thể Luật sư giúp khách hàng đưa ra những yêu cầu, ý

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[14] Lương Ninh (chủ biên): Lịch sử thế giới cổ đại. Nxb. Giáo Dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại
Nhà XB: Nxb. Giáo Dục
[15] Luật sư Phan Trung Hoài: Luận án Tiến sĩ (2003) “Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về Luật sư ở Việt Nam hiện nay”, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về Luật sư ở Việt Nam hiện nay
[16] Luật sư, tiến sỹ Phan Đăng Thanh: Người tập sự hành nghề Luật sư: Tập bơi sao không được… xuống nước?, Báo pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 16/05/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người tập sự hành nghề Luật sư: Tập bơi sao không được… xuống nước
[19] Nguyễn Văn Bốn: Một số vấn đề về quản lý Luật sư theo Luật Luật sư - Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quản lý Luật sư theo Luật Luật sư
[29] Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1987), Pháp lệnh Tổ chức Luật sư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh Tổ chức Luật sư
Tác giả: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Năm: 1987
[30] Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2001), Pháp lệnh Luật sư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh Luật sư
Tác giả: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Năm: 2001
[1] Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới Khác
[2] Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện Pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Khác
[3] Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
[4] Bộ Tư pháp (2007), Thông Tư 02/2007/TT-BTP hướng dẫn một số quy định của Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Khác
[5] Bộ Tư pháp (2010), Quy chế tập sự hành nghề Luật sư – Ban hành kèm theo Thông tư số 21/2010/TT-BTP ngày 01/12/2010 của bộ trưởng bộ tư pháp, Hà Nội Khác
[6] Bộ Tư pháp (2011), Thông tư số 17/2011/TT-BTP hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật Luật sư, Nghị định số 28/2007/NĐ-CP, Nghị định số 131/2008/NĐ-CP; Hà Nội Khác
[7] Bộ Tư pháp (2012), Báo cáo số 15/BC-BTP ngày 20/1/2014 Tổng kết công tác tư pháp năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2014, Hà Nội Khác
[8] Chủ tịch nước (1949), Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 Khác
[9] Chính phủ (2003), Nghị định số 65/2003/NĐ-CP ngày 11/6/2003 về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật, Hà Nội Khác
[10] Chính phủ (2007), Nghị Định 28/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật Luật sư, Hà Nội Khác
[11] Chính phủ (2008), Nghị định số 131/2008/NĐ-CP hướng dẫn thi hành các quy định của luật Luật sư về tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Luật sư, Hà Nội Khác
[12] Chính phủ (2009), Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp, Hà Nội Khác
[13] Chính phủ (2013), Nghị định 123/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật Luật sư, Hà Nội Khác
[17] Liên đoàn Luật sư Việt Nam (2011), Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam được ban hành ngày 20/7/2011 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w