1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng pháp luật trong xử lí vi phạm an toàn giao thông của cục cảnh sát giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh nghệ an

92 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 829,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động áp dụng pháp luật diễn ra trong nhiều lĩnh vực như hình sự, dân sự, lao động, giải quyết tranh chấp… trong đó, áp dụng pháp luật trong lĩnh vực xử lý vi phạm an toàn giao thông

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- -

NGUYỄN KIM THI

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XỬ LÝ VI PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG CỦA CỤC CẢNH SÁT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

Chuyên nghành :Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số :60.38.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHỆ AN – 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

- -

NGUYỄN KIM THI

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XỬ LÝ VI PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG CỦA CỤC CẢNH SÁT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử về Nhà nước và Pháp luật

Mã số :60.38.01.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN ĐỨC HẢI

NGHỆ AN – 2017

Trang 3

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

TNGT Tai nạn giao thông

TTKS Tuần tra kiểm sát

BCA

Bộ Công an

CSND

Ca Cảnh sát nhân dân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU - 0 -

VI PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG 7

1.1 Vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm an toàn giao thông 7 1.2 Khái niệm, giai đoạn và các trường hợp áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm an toàn giao thông 19 1.3.Vai trò của áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm an toàn giao thông 27

PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG CỦA CỤC CẢNH SÁT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 31

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm giao thông của tỉnh Nghệ An 31 2.2 Tổ chức bộ máy và chức năng xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An 38 2.3 Tình hình áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An 40

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XỬ LÝ VI PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG

NGHỆ AN HIỆN NAY 58

3.1 Dự báo tình hình vi phạm an toàn trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở Nghệ An trong những năm tới 58 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm an toàn giao thông đường bộ của Cục cảnh sát giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An 65

KẾT LUẬN 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở nước ta hiện nay, pháp luật đã trở thành một trong những công cụ có hiệu quả nhất để Nhà nước quản lý xã hội Song pháp luật chỉ thể hiện được vai trò đó của mình khi nó được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và đặc biệt là được áp dụng một cách đúng đắn, chính xác Hoạt động áp dụng pháp luật diễn

ra trong nhiều lĩnh vực như hình sự, dân sự, lao động, giải quyết tranh chấp… trong đó, áp dụng pháp luật trong lĩnh vực xử lý vi phạm an toàn giao thông đường bộ có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho các quy định của pháp luật thuộc lĩnh vực giao thông vận tải được thực thi trên thực tế, làm cho pháp luật về giao thông vận tải được tôn trọng, ý thức pháp luật được nâng cao, góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông, xây dựng văn hóa giao thông đô thị Là cơ quan được giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức hoạt động tuần tra, kiểm soát và xử lý

vi phạm về trật tự trên các tuyến cao tốc theo quy định của pháp luật, Đội 3 thuộc Cục cảnh sát giao thông đường bộ có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra việc chấp hành những quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực giao thông vận tải và tham gia giao thông; xử lý vi phạm an toàn giao thông theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực quản lý của Ngành và Công tác phòng, chống tham nhũng theo thẩm quyền

Trong những năm qua, việc áp dụng pháp luật xử lý vi an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng góp phần giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, giảm thiểu tai nạn giao thông, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển của tỉnh Nghệ An cũng như cả nước

Bên cạnh thành tựu đó, công tác xử lý vi phạm an toàn giao thông của các đơn vị thuộc Cục cảnh sát giao thông đường bộ vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót và bất cập như: Công tác xử lý vi phạm còn thiếu chính xác, kịp thời, nghiêm minh trong các tình huống vi phạm pháp luật; áp dụng các điều khoản chưa phù hợp với thực tế… Những hạn chế này đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động xử lý vi phạm an toàn giao thông của đơn vị, làm nảy sinh tâm lý coi thường pháp luật, gây bức xúc, khiếu kiện trong nhân dân… Nguyên nhân

Trang 6

của hạn chế này xuất phát từ nhiều phía, cả khách quan lẫn chủ quan, tuy nhiên, nguyên nhân cốt lõi và trực tiếp nhất chính là bất cập từ các quy định của pháp luật cũng như thiết chế thực thi pháp luật về xử lý vi phạm an toàn giao thông hiện nay

Xuất phát từ lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề: “Áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường

bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình với

mong muốn nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật xử lý

vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay có nhiều đề tài, sách báo viết về hoạt động áp dụng pháp luật như: đề tài “Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Xuân Thân (2004), luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị quốc Gia Hồ Chí Minh; hay như đề tài “Áp dụng pháp luật,

lý luận và thực tiễn”, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012 Sách tham khảo như: “Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay – Một

số vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS Nguyễn Thị Hồi (chủ biên)…Tuy nhiên các đề tài và sách tham khảo trên các tác giả chưa đề cập đến hoạt động áp dụng pháp luật gắn với xử lý vi phạm an toàn giao thông, nhằm đưa ra những lý luận

cơ bản và giải pháp có giá trị khoa học để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

về xử lý vi phạm an toàn giao thông Do đó, đề tài “Áp dụng pháp luật trong xử

lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An” không bị trùng về nội dung với các đề tài trước đó, đồng thời

kế thừa các giá trị chứa đựng trong các đề tài đi trước, đáp ứng tính mới của công trình nghiên cứu khoa học

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường bộ, Luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, thiết chế thực thi, góp phần bảo đảm việc áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiệu quả

Trang 7

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nói trên, Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể các vấn đề sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông

- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn tập trung nghiên cứu về hoạt động áp dụng pháp luật trong việc xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Phù hợp với mục tiêu, nội dung nghiên cứu, Luận văn được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật Luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp và so sánh, phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật, phương pháp thống kê…

Trang 8

6 Những đóng góp mới của Luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông, do đó, Luận văn có một số đóng góp sau:

- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông

.- Thông qua đánh giá tổng quát thực trạng áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông trên địa bàn tỉnh Nghệ An,, Luận văn đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông trên địa bàn tỉnh Nghệ An,

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

Luận văn đã phân tích và đưa ra một số vấn đề có tính lý luận về hoạt động áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông, bên cạnh đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông trên địa bàn tỉnh Nghệ An,Luận văn có thể được sử dụng để tham khảo

8 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục của tài liệu tham khảo, nội Luận văn gồm 03 chương, cụ thể như sau:

- Chương 1 Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm an toàn giao thông

- Chương 2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An

- Chương 3 Dự báo và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường

bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XỬ LÝ VI PHẠM

AN TOÀN GIAO THÔNG

1.1 Vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm an toàn giao thông

1.1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải

Để phân tích vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải, trước hết cần khái quát về pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải để khi giải quyết những vấn đề cụ thể không phải quay lại xem xét những vấn đề chung Vì vậy, trong phần này bên cạnh việc tập trung phân tích các yếu tố các dấu hiệu vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải, luận văn khái quát về pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải

Trong khoa học pháp lý, pháp luật là những quy tắc hành vi, quy tắc xử

sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành, thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội Hệ thống pháp luật là một chỉnh thể thống nhất, được chia thành các ngành luật, mỗi ngành lập là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực pháp luật, có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng Mỗi ngành luật được chia thành các chế định, mỗi chế định pháp luật là một nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội gần gũi nhau, cùng tính chất Chế định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính là một chế định pháp luật thuộc ngành luật hành chính, là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về hành vi vi phạm hành chính, các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong xử lý

vi phạm hành chính, trình tự thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính Do tính đặc thù của quản lý hành chính nhà nước, sự đa dạng, phức tạp của vi phạm hành chính, nên trong mọi lĩnh vực của quản lý hành chính nhà nước đều có những hành vi vi phạm quy tắc quản lý hành chính nhà nước Vì vậy, chế định xử phạt vi phạm hành chính là một chế định rất lớn, bao gồm nhiều những “chế định” nhỏ, hay “tiểu chế định”, trong đó có “chế định” xử phạt vi phạm hành chính [12, tr.186] Từ đây có thể suy ra pháp luật về xử phạt

Trang 10

vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là tập hợp các quy phạm pháp luật quy định những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải, các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính, thẩm quyền của các cơ quan,

cá nhân trong xử phạt vi phạm hành chính, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải Trong đó thanh tra giao thông chuyên ngành chỉ là một chủ thể có quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải Các quy định đó được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật, trước hết là Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, các Nghị định của Chính phủ quy định về vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải như Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02/4/2010 của Chính phủ quy định về

xử phạt vi phạm an toàn giao thông, Nghị định số 71/2012/NĐ-CP, Nghị định số 60/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2011 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, Thông tư hướng dẫn Nghị định của Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an, điển hình như Thông tư liên tịch số 37/2012/TTLT-BGTVT-BCA ngày 17/9/2012 của liên Bộ Giao thông vận tải,

Bộ Công an hướng dẫn Nghị định số 60/2011/NĐ-CP, Thông tư BCA ngày 01/3/2013 của Bộ Công an hướng dẫn Nghị định số 34/2010/NĐ-CP

11/2013/TT-và 71/2012/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

Theo Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính, vi phạm hành chính là hành

vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm quy định của pháp luật về quản

lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị

xử phạt vi phạm hành chính Trên cơ sở quy định này có thể thấy các dấu hiệu, các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải bao gồm: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể

- Dấu hiệu về mặt khách quan

Dấu hiệu bắt buộc về mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là sự biểu hiện bên ngoài của hành vi, đó là hành vi vi phạm hành chính do pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải quy định Như vậy, khi xem xét để đi đến kết luận rằng hành vi của cá nhân hay tổ chức có phải

là vi phạm hành chính hay không, thì chúng ta phải có những căn cứ pháp lý xác định hành vi đó và phải được pháp luật về lĩnh vực giao thông vận tải quy định

Trang 11

là hành vi vi phạm hành chính; đồng thời, hành vi đó phải bị ngăn chặn, xử lý bằng các biện pháp hành chính được pháp luật về lĩnh vực giao thông vận tải quy định Cần tránh tình trạng áp dụng “tương tự pháp luật” trong việc xác định

vi phạm hành chính đối với tổ chức và cá nhân

Đối với một số loại vi phạm hành chính thì dấu hiệu về mặt khách quan của nó còn có thể có sự kết hợp với những yếu tố khác Những yếu tố khác có thể là: (i) Thời gian thực hiện hành vi vi phạm; (ii) Địa điểm thực hiện hành vi vi phạm; (iii) Công cụ, phương tiện vi phạm; (iv) Hậu quả và mối quan hệ nhân quả

- Dấu hiệu về mặt chủ quan

Dấu hiệu bắt buộc về mặt chủ quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là dấu hiệu lỗi của chủ thể vi phạm Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là hành vi có lỗi thể hiện dưới dạng lỗi cố ý hoặc lỗi

vô ý của tổ chức, cỏ nhân Người thực hiện hành vi này phải trong trạng thái có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thận trọng mà không nhận thức được điều đó hoặc nhận thức được nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi vi phạm hành chính Ngược lại, nếu chủ thể thực hiện hành vi đó khi không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì hành vi do họ thực hiện không phải là vi phạm hành chính

Ngoài yếu tố lỗi là dấu hiệu bắt buộc về mặt chủ quan của mọi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải thì trong một số vi phạm hành chính cụ thể, pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc Vì thế khi xử lý hành chính cá nhân, tổ chức về vi phạm hành chính này cần xác định rõ hành vi của họ có thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu mục đích hay không, ngoài việc xem xét các dấu hiệu khác

Khi xác định dấu hiệu lỗi trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính về lĩnh vực giao thông vận tải, thì dấu hiệu lỗi trong vi phạm hành chính của tổ chức là vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, lỗi là trạng thái tâm lý của cá nhân trong khi thực hiện hành vi hành chính nên không đặt ra vấn đề lỗi đối với tổ chức vi phạm hành chính Khi xử lý vi hành chính đối với

tổ chức chỉ cần xác định tổ chức đó có hành vi trái pháp luật và hành vi đó theo quy định của pháp luật bị xử lý bằng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính là

đủ điều kiện để xử lý hành chính Ngược lại, có quan điểm khác cho rằng, cần

Trang 12

xác định lỗi của tổ chức khi vi phạm hành chính thì mới có đầy đủ cơ sở để tiến hành hoạt động xử lý vi phạm hành chính đối với tổ chức vi phạm Theo quan điểm này, lỗi của tổ chức được xác định bằng lỗi của các thành viên trong tổ chức khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được tổ chức đó giao cho Đồng thời, tổ chức phải có trách nhiệm xác định lỗi của người thuộc tổ chức mình trực tiếp gây ra vi phạm hành chính trong khi thi hành công vụ được giao để truy cứu trách nhiệm kỷ luật và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành chỉ quy định chung rằng tổ chức phải chịu trạch nhiệm về mọi vi phạm hành chính do mình dây ra và có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính

(i) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể là chủ thể của vi phạm hành chính với lỗi cố ý Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này có vi phạm hành chính hay không, cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ

(ii) Người đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong mọi trường hợp

(iii) Tổ chức có thể là chủ thể vi phạm hành chính, bao gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân

(iv) Cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác

- Dấu hiệu về khách thể

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải cũng như các vi phạm pháp luật khác đều xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Dấu hiệu khách thể để xác định vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông

Trang 13

vận tải là hành vi vi phạm này đã xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực giao thông vận tải, hay vi phạm hành chính là hành vi trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông vận tải như quy tắc về an toàn giao thông, quy tắc về phòng ngừa đua xe trái phép … được quy định trong các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Từ những đặc điểm nêu trên, có thể đưa ra một số khái niệm: Vi phạm

hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là những hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải một cách

cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải

bị xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm: Các hành vi vi phạm quy tắc giao thông vận tải; các hành vi vi phạm quy định về kết cấu hạ tầng giao thông vận tải; các hành vi vi phạm quy định về phương tiện tham gia giao thông vận tải; các hành vi vi phạm quy định về người điều khiển phương tiện tham gia giao thông; các hành vi vi phạm quy định về vận tải; các hành vi vi phạm khác về giao thông vận tải

1.1.2 Xử phạt vi phạm trong lĩnh vực giao thông vận tải

Xử phạt vi phạm trong lĩnh vực giao thông vận tải, thực chất là việc áp dụng các chế tài biện pháp xử lý đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải Đây là hoạt động đặc biệt và rất phức tạp bao gồm một loạt các hành vi cụ thể liên quan mật thiết với nhau như phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của vi phạm hành chính, xác định thẩm quyền xử phạt, đối chiếu với quy định của pháp luật, áp dụng hình thức và mức phạt và ra quyết định xử phạt hành chính

Quyết định xử phạt hành chính khi được ban hành sẽ gây một hậu quả pháp lý đặc biệt, làm phát sinh trách nhiệm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, tức là buộc họ phải chịu hậu quả bất lợi trước Nhà nước về tinh thần (bị hạn chế quyền) hoặc về tài sản (bị phạt tiền, bị tịch thu tang vật, phương tiện v.v)

Là hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải vừa có đặc điểm chung so với hoạt động xử phạt trong lĩnh vực khác, vừa có đặc điểm

Trang 14

đặc thù Do đó, hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải có đặc điểm chung sau:

Một là, xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là một loại hoạt động cưỡng chế nhà nước, mang tính quyền lực nhà nước

Tính cưỡng chế và tính quyền lực nhà nước thể hiện ở chỗ hoạt động xử phạt hành chính luôn được các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ có thẩm quyền trong lĩnh vực giao thông vận tải thực hiện Chỉ có các cơ quan nhà nước; hoặc cán bộ nhà nước nào được Nhà nước trao thẩm quyền xử phạt hành chính và được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có quy định về xử lý hành chính mới có thẩm quyền quyết định xử phạt

Xử phạt hành chính là phản ứng (chế tài) của Nhà nước trước các hành vi xâm hại quy tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông vận tải Biểu hiện của phản ứng đó là việc áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính Việc áp dụng các biện pháp xử phạt này có tác dụng trực tiếp điều chỉnh hành vi xử sự của chủ thể vi phạm; tức là buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi trước Nhà nước và có tác dụng đình chỉ vi phạm hành chính qua đó mà bảo vệ và duy trì trật tự quản lý nhà nước

Hai là, cơ sở để xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải

Chỉ có hành vi nào xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông vận tải mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự do các cá nhân, tổ chức đủ năng lực chủ thể thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý mới bị xử phạt hành chính

Từ quy định trên, khi áp dụng các biện pháp xử phạt đòi hỏi các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ nhà nước có thẩm quyền phải xác định rõ có vi phạm hành chính xảy ra hay không, tính chất và mức độ của vi phạm như thế nào, hành vi vi phạm đó có quy định trong các văn bản pháp luật quy định về xử phạt hành chính hay chưa

Ba là, hoạt động xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải được quy định qua nhiều trình tự, thủ tục, nhiều giai đoạn nhưng kết quả của hoạt động này phải được thể hiện bằng quyết định xử lý hành chính về lĩnh vực giao thông vận tải

Trang 15

Trong xử phạt hành chính, các chủ thể có thẩm quyền xử phạt được thực hiện hai loại hành vi:

- Hành vi ban hành quyết định xử phạt, quyết định xử phạt hành chính phải được thể hiện bằng văn bản hay bằng một hình thức khác do pháp luật quy định;

- Hành vi hành chính khác như nhằm đình chỉ hành vi vi phạm, lập biên bản vi phạm, áp dụng các biện pháp để đảm bảo cho xử phạt (giữa các phương tiện vi phạm, giấy tờ của người vi phạm) và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính

Hai loại hành vi trên luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, hành vi ban hành quyết định xử phạt là cơ bản và chủ yếu nhất Các hành vi hành chính khác được thực hiện nhằm hướng tới việc ra quyết định

xử phạt hoặc thực hiện trên cơ sở quyết định xử phạt Đặc biệt, khi ban hành quyết định xử phạt sẽ gây ra hậu quả pháp lý là làm phát sinh trách nhiệm hành chính Quyết định xử phạt hành chính là hình thức thể hiện công khai ý chí và thái độ của Nhà nước phản ứng trước các hành vi vi phạm hành chính và mức cưỡng chế của Nhà nước đối với chủ thể vi phạm

Bốn là, hoạt động xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật và phải tuân theo pháp luật về trình

tự, thủ tục hành chính

Tất cả các cơ quan nhà nước, cán bộ có thẩm quyền xử lý hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải khi thực hiện các hành vi xử phạt đều phải tuân theo trình tự, thủ tục hành chính do pháp luật quy định chứ không tuân theo các quy định về tố tụng hình sự

Ngoài những đặc điểm chung trên, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải còn có một số đặc trưng sau:

- Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải chỉ được tiến hành bởi chủ thể có thẩm quyền đặc thù, do tính chất, mức độ gây thiệt hai cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật về giao thông vận tải nên pháp luật chỉ quy định cho hai loại cơ quan đặc thù có thẩm quyền xử lý, đó là

cơ quan có thẩm quyền chung (Ủy ban nhân dân các cấp) và cơ quan có thẩm quyền chuyên biệt (các Sở, Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Cục Đường thủy nội

Trang 16

địa Việt Nam), cụ thể là các cơ quan: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; Cảnh sát giao thông đường bộ, đường thủy nội địa; Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng Công an cấp xã (trong một số trường hợp); Thanh tra đường bộ, đường thủy nội địa và Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội

- Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thanh tra giao thông vận tải thường diễn ra nhanh chóng, ngay khi có hành vi vi phạm và trình

tự, thủ tục áp dụng cũng tương đối gọn nhẹ Do xuất phát từ thực tế công việc, thường khi xảy ra trường hợp vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền xử phạt, lực lượng chức năng sẽ xem xét, đánh giá, phân tích các khía cạnh của vụ việc để đưa ra cách giải quyết phù hợp Đối với những trường hợp tiến hành thanh tra theo đoàn, việc áp dụng pháp luật trong hoạt động này có thể kéo dài hơn, tuy nhiên, nếu so sánh với các lĩnh vực khác như văn hóa, điện lực, trật tự đô thị thì hoạt động này diễn ra tương đối nhanh chóng

- Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải qua thanh tra chuyên ngành thường gắn liền với hành vi hành chính cụ thể, mang tính trực tiếp; là những hành vi phương hại đến kết cấu hạ tầng giao thông, hành

vi gây nguy hại cho chính chủ thể vi phạm và những người tham gia giao thông

Nó đòi hỏi phải nhanh chóng kịp thời và chính xác, nếu không được phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời sẽ dễ dẫn đến hậu quả là tai nạn và tai nạn nghiêm trọng Đặc trưng này tạo nên tính đặc thù trong hoạt động xử phạt vi phạm hành chính của lực Thanh tra Giao thông, nó khác với xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng hay trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác…

Từ những đặc điểm trên có thể đi đến định nghĩa sau: Xử lý vi phạm hành

chính trong lĩnh vực giao thông vận tải là một loại hoạt động cưỡng chế hành chính cụ thể mang tính quyền lực nhà nước phát sinh khi có vi phạm hành chính

về giao thông vận tải; biểu hiện ở việc áp dụng các chế tài hành chính mang tính chất trừng phạt do các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm phục hồi quan hệ xã hội đã bị hành vi vi phạm hành chính xâm phạm tới

Trang 17

1.1.3 Nội dung công tác xử lý hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông

1.1.3.1 Tổ chức tuần tra, kiểm soát phát hiện và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

TTKS là hoạt động nghiệp vụ của lực lượng CSGT, được tiến hành trên

cơ sở các qui định của pháp luật và qui trình công tác của ngành Công an để kiểm tra, soát xét việc chấp hành Luật giao thông đường bộ của các đối tượng tham gia giao thông, nhằm chủ động phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh với các hành vi vi phạm về TTATGT

Hoạt động TTKS của lực lượng CSGT được tiến hành theo tinh thần của các Thông tư như: Thông tư số 27/2009/TT-BCA(C11) ngày 06/5/2009 của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung TTKS của CSGT đường bộ, Thông tư số 60/2009/TT-BCA(C11) ngày 29/10/2009 của Bộ Công

an quy định về quy trình TTKS và xử lý VPHC của CSGT đường bộ, Thông tư

số 27/2009/TT-BCA(C11) ngày 06/5/2009 của Bộ Công an quy định rõ nhiệm

vụ, quyền hạn xử lý VPHC về TTATGT của CSGT đường bộ

Tại Thông tư số 65/2012/TT-BCA ngày 30/10/2012 của Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung TTKS của CSGT đường bộ [13]; Thông tư số 66/2012/TT-BCA ngày 30/10/2012 của Bộ Công an quy định về quy trình TTKS và xử lý VPHC của CSGT đường bộ [14], cụ thể như sau:

- Xử lý các hành vi VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ và an ninh, TTATXH theo quy định của pháp luật

- Được áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm cho việc xử lý VPHC theo quy định của pháp luật, được yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân phối hợp, được sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và phương tiện, thiết bị kỹ thuật theo đứng quy định của pháp luật

Đồng thời tại Thông tư số 45/2012/TT-BCA ra ngày 27/7/2012 Quy định

về biển hiệu và Giấy chứng nhận Cảnh sát TTKS giao thông đã góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác TTKS và xử lý đối với các hành vi VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ

Theo quy định của các Thông tư nêu trên, khi xử lý theo thủ tục đơn giản, cán bộ, chiến sĩ TTKS quyết định xử lý tại chỗ theo quy định của pháp luật Nếu

Trang 18

người bị xử lý chưa thực hiện ngay được quyết định xử lý thì tạm giữ giấy tờ liên quan để bảo đảm cho việc chấp hành quyết định xử lý VPHC (ghi rõ việc tạm giữ giấy tờ vào quyết định xử lý) Trường hợp vụ, việc VPHC có mức lý tiền trên 200.000 đồng thì phải lập biên bản VPHC, nếu thuộc thẩm quyền xử lý của mình thì ra quyết định xử lý, nếu không thuộc thẩm quyền xử lý (hình thức

xử lý, xử lý bổ sung, các biện pháp khắc phục hậu quả) thì phải chuyển vụ, việc

vi phạm đến người có thẩm quyền để xử lý

Trường hợp cần ngăn chặn kịp thời VPHC hoặc để bảo đảm cho việc chấp hành quyết định xử lý VPHC thì tổ trưởng tổ TTKS phải quyết định hoặc báo cáo người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn (tạm giữ người; tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện VPHC) Khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về xử lý VPHC

1.1.3.2 Tổ chức chỉ huy điều khiển giao thông phát hiện và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

Tổ chức điều khiển hoạt động giao thông của lực lượng CSGT là hoạt động nghiệp vụ chuyên ngành của một cơ quan quản lý TTATGT, được tiến hành trên cơ sở khai thác, sử dụng đồng bộ các biện pháp, phương tiện kỹ thuật cho phép để tổ chức giao thông; chỉ huy, hướng dẫn hoạt động của các đối tượng tham gia giao thông theo quy định của pháp luật, nhằm góp phần đảm bảo giao thông được thông suốt, người phương tiện hàng hoá tham gia giao thông được trật tự, an toàn, vệ sinh và mỹ quan

Công tác này có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo TTATGT, ngăn ngừa đấu tranh làm giảm vi phạm và TNGT Nhất là trong tình hình hiện nay khi

mà mật độ người, phương tiện tham gia giao thông tăng cao, vượt quá xa mức

độ cho phép của thiết kế công trình giao thông, thì các biện pháp chỉ huy hướng dẫn điều khiển giao thông của CSGT như phân tuyến, phân làn giao thông, quy định các bãi đỗ điểm dừng tạm thời, đột xuất cho các phương tiện giao thông

để thực hiện các phương án phòng ngừa giải toả ùn tắc giao thông có tác dụng thiết thực trong việc đảm bảo TTATGT ở các địa bàn đô thị, các tuyến giao thông trọng điểm

Trang 19

Công tác tổ chức điều khiển hoạt động giao thông của lực lượng CSGT được thực hiện theo các Nghị định số 109/2009/NĐ-CP ngày 01/12/2009 của Chính phủ quy định về tín hiệu của xe được quyền ưu tiên; Thông tư số 61/2009/TT-BCA(C11) ngày 06/11/2009 của Bộ Công an quy định về dẫn đường các đoàn trong nước và khách nước ngoài đến Việt Nam Hiện nay, công tác tổ chức điều khiển hoạt động giao thông đường bộ của lực lượng CSGT đã được thực hiện theo Thông tư số 28/2011/TT-BCA ngày 10/5/2011 của Bộ

Công an quy định về chỉ huy, điều khiển giao thông của CSGT đường bộ

Theo tinh thần của các văn bản pháp lý nói trên, quá trình thực hiện công tác tổ chức điều khiển giao thông đường bộ mà phát hiện vi phạm Luật giao thông đường bộ của người và phương tiện tham gia giao thông, lực lượng CSGT

có quyền xử lýVPHC theo quy định tại Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử lý VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt

1.1.3.3 Tổ chức đăng ký quản lý phương tiện và người điều khiển phương tiện giao thông phát hiện và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

Quản lý phương tiện và người điều khiển phương tiện giao thông là một biện pháp quản lý hành chính công khai của nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền dựa vào pháp luật về TTATGT tiến hành đăng ký, kiểm tra, kiểm soát đối với phương tiện và người điều khiển phương tiện giao thông, cũng như việc chấp hành Luật giao thông đường bộ của những người điều khiển phương tiện đó, để nắm vững thực trạng phương tiện và người điều khiển phương tiện giao thông, phát hiện, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những hành vi

vi phạm, góp phần giữ gìn TTATGT, TTATXH

Công tác quản lý phương tiện và người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của lực lượng CSGT được thực hiện theo tinh thần các Thông tư số 06/2009/TT-BCA(C11) ngày 11/3/2009 của Bộ Công an quy định việc cấp, thu hồi đăng ký, biển số các loại phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; Thông tư

số 31/2009/TT-BCA(C11) ngày 25/5/2009 của Bộ Công an quy định về yêu cầu, tiêu chuẩn, trách nhiệm của cán bộ làm nhiệm vụ đăng ký phương tiện và quy trình cấp, đăng ký, thu hồi đăng ký, biển số các loại phương tiện giao thông cơ

Trang 20

giới đường bộ; Thông tư số 15/2009/TT-BCA(C11) ngày 31/3/2009 của Bộ Công an quy định về cơ sở đào tạo, tổ chức đào tạo, sát hạch và cấp đổi, thu hồi giấy phép lái xe của lực lượng CAND; Thông tư số 12/2009/TT-BCA(C11) ngày 31/3/2009 của Bộ Công an quy định về việc tổ chức cấp, thu hồi đăng ký, biển

số xe máy chuyên dùng của lực lượng CAND; Thông tư số BCA(C11) ngày 31/3/2009 của Bộ Công an quy định về việc tổ chức kiểm định

16/2009/TT-an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe ô tô, xe máy chuyên dùng của lực lượng CAND; Thông tư 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe

Theo tinh thần của các văn bản trên, quá trình tiến hành công tác đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ mà phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về lĩnh vực này, thì lực lượng CSGT đường bộ có thẩm quyền xử

lý VPHC theo quy định tại Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử lý VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt

1.1.3.4 Điều tra, xử lý tai nạn giao thông phát hiện và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

Điều tra TNGT là một hoạt động điều tra công khai của lực lượng CSGT đường bộ, nhằm làm rõ tai nạn đã xảy ra, có kết luận chính xác về nguyên nhân, diễn biến mức độ lỗi và trách nhiệm của từng người có liên quan đến vụ tai nạn làm cơ sở cho việc xử lý người vi phạm trước pháp luật góp phần phòng ngừa hạn chế TNGT đến mức thấp nhất

Công tác điều tra TNGT của lực lượng CSGT đường bộ được tiến hành theo tinh thần của Quyết định số 768/2006/QĐ-BCA(C11) ngày 20/6/2006 của

Bộ trưởng Bộ Công an ban hành quy định phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác điều tra, giải quyết TNGT của lực lượng CSND; Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA(C11) ngày 05/01/2007 của Bộ trưởng BCA ban hành quy trình điều tra, giải quyết TNGT đường bộ Gần đây nhất là Thông tư số 76/2011/TT-BCA ngày 22/11/2011 quy định phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác điều tra, giải quyết TNGT của lực lượng CSND [33]

Theo tinh thần của các quyết định nêu trên, qua điều tra giải quyết vụ TNGT gây hậu quả nghiêm trọng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng không có người chết, xác định không có dấu hiệu tội phạm thì Cục trưởng Cục CSGT, Trưởng phòng CSGT ra quyết định không

Trang 21

khởi tố vụ án hoặc CSGT cấp huyện đề nghị Thủ trưởng cơ quan CSĐT cấp huyện ra quyết định không khởi tố vụ án để xử lý hành chính theo quy định

Quá trình xử lý hành chính vụ TNGT và va chạm giao thông, CSGT phải mời các bên liên quan hoặc đại diện hợp pháp của họ đến trụ sở đơn vị để thông báo kết quả điều tra, kết luận nguyên nhân của vụ tai nạn và xác định lỗi của những người có liên quan trong vụ tai nạn, hình thức giải quyết Cho các bên liên quan phát biểu ý kiến của họ Mọi ý kiến đều được ghi vào biên bản giải quyết vụ TNGT và có chữ ký của các bên liên quan Tiến hành lập biên bản VPHC và ra quyết định hoặc đề xuất lãnh đạo có thẩm quyền ra quyết định xử lý VPHC đối với người có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật Sau khi cá nhân bị xử lý thực hiện xong quyết định xử lý VPHC, cán bộ thụ lý lập biên bản trả lại phương tiện giao thông (nếu phương tiện còn đang bị tạm giữ), đồ vật và các giấy tờ đã tạm giữ cho người bị xử lý; thu biên lai tiền lý lưu trong hồ sơ vụ TNGT

Quá trình giải quyết việc khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại giữa các bên liên quan trong vụ TNGT khi các bên có yêu cầu đòi bồi thường: Trường hợp các bên liên quan tự thương lượng thỏa thuận khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại thì phải có bản cam kết thống nhất thỏa thuận về mức và hình thức bồi thường thiệt hại giữa các bên; ký và ghi rõ họ, tên những người liên quan Thỏa thuận bồi thường thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ khi xem xét ra quyết định xử lý hành chính Trường hợp các bên liên quan trong vụ TNGT không tự thỏa thuận thương lượng được với nhau thì CSGT có trách nhiệm hướng dẫn các bên liên hệ với Tòa án để giải quyết theo thủ tục dân sự

1.2 Khái niệm, giai đoạn và các trường hợp áp dụng pháp luật trong

xử lý vi phạm an toàn giao thông

1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm an toàn giao thông

Khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm an toàn giao thông đường bộ, Nhà nước hướng tới sử dụng các quy đó để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh do vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải gây nên, nhằm xử lý những đối tượng vi phạm, giáo dục đối với những đối tượng vi phạm, duy trì trật tự quản lý trong lĩnh vực giao thông vận tải, phục hồi

Trang 22

những quan hệ xã hội đã bị hành vi hành chính xâm phạm Tuy nhiên, để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống thì ngoài những yếu tố như sự phù hợp của pháp luật với các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, trình độ phát triển của xã hội, Nhà nước còn quan tâm đến tổ chức thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật một cách nghiêm minh Bởi lẽ, cho dù có ban hành ra những văn bản pháp luật hoàn chỉnh đến đâu đi chăng nữa nhưng nếu các quy định của những văn bản đó không được thực hiện trên thực tế thì mục đích điều chỉnh pháp luật vẫn chưa đạt được Áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông là một hình thức

áp dụng pháp luật, một loại hoạt động đặc thù trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước do Cục cảnh sát giao thông đường bộ thực hiện nhằm duy trì, bảo đảm trật tự kỷ cương, trong lĩnh giao thông vận tải, xử lý những hành vi vi phạm an toàn giao thông

Từ những phân tích trên có thể định nghĩa: “Áp dụng pháp luật xử lý vi

phạm an toàn giao thông mang tính tổ chức, tính quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua Cục cảnh sát giao thông đường bộ, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể vi phạm

an toàn trong lĩnh vực giao thông vận tải”

1.2.2 Các giai đoạn áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm an toàn giao thông

Cũng giống như áp dụng pháp luật trong mọi lĩnh vực khác, nhưng áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông có những đặc thù riêng của nó, điều này cũng cần được làm rõ khi nghiên cứu Áp dụng pháp luật xử lý vi phạm

an toàn giao thông là một quy trình tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố có sự tương tác lẫn nhau như con người, tổ chức, kỹ thuật, pháp lý Dựa vào nội dung công việc cụ thể được thực hiện, khoa học và thực tiễn pháp lý, hoạt động này gồm 4 giai đoạn sau:

Thứ nhất: Phân tích, đánh giá nội dung, điều kiện hoàn cảnh sự kiện thực

tế cần áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông

Đây là giai đoạn khởi đầu của cả quy trình áp dụng pháp luật nên nó có tính chất bản lề Trước hết cần xác định đúng đắn nội dung, đối tượng, bản chất pháp lý của sự kiện thực tế đó (tức là xem xét vụ việc vừa xảy ra có liên quan

Trang 23

đến pháp luật hay không, có cần đến pháp luật để giải quyết hay không) [12, tr.234] Nếu xác định bản chất pháp lý không chính xác thì toàn bộ quá trình áp dụng pháp luật sẽ sai và gây ra hậu quả pháp lý và xã hội nhất định Hơn nữa hoạt động xử lý vi phạm an toàn giao thông lại thường xảy ra trên hiện trường, ở những nơi công cộng, những vi phạm khá rõ ràng, thường là những vi phạm rõ, trừ một số trường hợp khó phát hiện, xác định

Tiếp theo, triển khai thực hiện cần chuẩn bị về mặt tổ chức, nhân sự, kỹ thuật cũng như xác định về mặt thời gian, thời điểm tiến hành áp dụng pháp luật Đồng thời với việc chuẩn bị về nội dụng cần xác định những thuận lợi, khó khăn hoặc những rủi ro có thể xảy ra cản trở quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế Nhìn chung, việc áp dụng pháp luật phải hướng tới một sự thuận lợi, tiết kiệm về chi phí thời gian, sức lực, vật chất và đạt hiệu quả cao nhất cho các bên có liên quan Do đó, giai đoạn đầu trong áp dụng pháp luật bao giờ cũng đòi hỏi cần phải chuẩn bị một phương án chi tiết, tỷ mỷ cả về nội dung, hình thức cũng như phương thức, lịch trình tiến hành Về nguyên tắc, chỉ có khẳng định được là hoàn toàn có cơ sở và đủ điều kiện để tiếp tục áp dụng pháp luật trên thực tế mới cho phép chuyển sang giai đoạn sau Nếu thấy chưa đủ điều kiện, chưa hoặc không cần thiết phải tiếp tục áp dụng pháp luật thì các chủ thể có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ hoặc chấm dứt việc áp dụng pháp luật Ví dụ như trường hợp văn bản quy định đã có hiệu lực thi hành nhưng việc tổ chức các biển hiệu quy định tại một số vị trí chưa triển khai kịp thời hoặc trong một số trường hợp khác khi mới được triển khai thực hiện, khuất tầm nhìn; để đạt hiệu quả cao trong công tác kiểm tra xử lý cần tính đến thời gian, khu vực tuyến đường các phương tiện tập trung tham gia giao thông và chú ý tránh giờ cao điểm tại một

số khu vực trung tâm Để áp dụng pháp luật xử lý đối với hành vi vi phạm an toàn giao thông cần phải làm rõ các dấu hiệu, yếu tố cấu thành của vi phạm: Mặt khách quan, khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của vi phạm pháp luật

Thứ hai: Lựa chọn quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật

Đây là giai đoạn quan trọng trong quy trình áp dụng pháp luật vì nếu không đưa ra cơ sở pháp lý có sức thuyết phục, phù hợp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các giai đoạn sau và đến kết quả của quá trình áp dụng Ở đây cần phải hiểu,

Trang 24

có hai loại quy phạm pháp luật cùng có liên quan đến việc đưa ra quyết định áp dụng pháp luật, đó là quy phạm nội dung và quy phạm hình thức hay quy phạm thủ tục Các quy phạm nội dung xác định nội dung cần áp dụng, điều chỉnh pháp luật Về nguyên tắc, cần phải chọn quy phạm pháp luật còn hiệu lực và sát thực với nội dung sự kiện, quan hệ cụ thể đó Cần làm rõ quy phạm pháp luật đó thuộc ngành luật nào sau đó phân tích, làm sáng tỏ nội dung của quy phạm đã lựa chọn để có thể hiểu được một cách đầy đủ các khía cạnh nhận thức về nội dung của quy phạm đó đối với quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế Các quy phạm hình thức hay quy phạm thủ tục có nhiệm vụ qui định trình tự, thủ tục của quy trình áp dụng pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế việc lựa chọn quy phạm pháp luật có thể xảy ra các khả năng như:

- Có một quy phạm pháp luật đáp ứng đủ yêu cầu để làm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng Đây là điều rất thuận lợi cho các chủ thể có thẩm quyền, giúp

họ có thể dễ dàng xác định được cơ sở pháp lý để sớm ban hành văn bản, quyết định áp dụng pháp luật đúng thời hạn, thời hiệu theo quy định của pháp luật Trên thực tế việc xử lý này nếu không được kiểm soát chặt chẽ theo đúng quy trình quy định rất dễ xảy ra sai sót dẫn tới khiếu kiện dẫn tới phải đền bù thiệt hại và vi phạm kỷ luật trong thực thi công vụ

- Có nhiều quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh quan hệ đó nhưng đưa ra cách giải quyết khác nhau Đây là trường hợp xung đột quy phạm pháp luật trong áp dụng pháp luật Thực tiễn pháp lý có các cách giải quyết đối với tình huống này bằng việc lựa chọn quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn và lựa chọn quy phạm pháp luật được ban hành sau Tuy vậy, cách giải quyết này cũng khó có thể thoả mãn trường hợp: Quy phạm pháp luật ban hành trước có giá trị pháp lý cao hơn nhưng lại không còn phù hợp với điều kiện thực tế Ngược lại quy phạm pháp luật ban hành sau có giá trị pháp lý thấp nhưng lại phù hợp với thực tế Vậy, ở đây sẽ áp dụng quy phạm pháp luật nào? Nếu áp dụng quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn thì không có hiệu quả thực

tế vì không đủ điều kiện cho phép Trong khi đó, việc áp dụng quy phạm pháp luật ban hành sau thì có hiệu quả bởi nó phù hợp với điều kiện thực tế nhưng lại vướng vì giá trị pháp lý thấp hơn quy phạm pháp luật ban hành trước Cũng có ý kiến cho rằng cần làm thủ tục xem xét lại tính hợp lý, hợp pháp của cả hai văn

Trang 25

bản chứa đựng quy phạm pháp luật trên rồi mới tiến hành áp dụng pháp luật theo một văn bản nhất định Hay nói cách khác là, cần giải quyết xung đột theo qui định về giá trị pháp lý (văn bản có giá trị cao hơn) với qui định thời gian ban hành (ban hành sau) giữa hai văn bản Đây là một việc làm không hề đơn giản trên thực tế, bởi để kiểm tra, xử lý văn bảncần phải có thời gian và trải qua một qui trình thủ tục phức tạp Chẳng hạn, việc sửa đổi các văn bản luật thuộc thẩm quyền của Quốc hội, đương nhiên điều đó phải chờ khi đến kỳ họp Quốc hội mới tiến hành thực hiện được Trong khi đó, thời hạn, thời hiệu của áp dụng pháp luật không cho phép kéo dài để chờ đợi Việc xung đột khi chọn quy phạm

để áp dụng pháp luật là điều khó tránh khỏi Xung đột có hai dạng là xung đột pháp luật nội và xung đột pháp luật ngoại Xung đột pháp luật nội là sự khác biệt khi có hai hay nhiều quy phạm pháp luật trong cùng một hệ thống pháp luật đưa

ra cách giải quyết khác nhau cho một quan hệ xã hội hoặc một sự kiện pháp lý thực tế Xung đột pháp luật ngoại là sự khác biệt khi có các qui định pháp luật của hai hoặc nhiều hệ thống pháp luật có liên quan đưa ra cách thức giải quyết khác nhau về cùng một sự việc, một quan hệ Tính phức tạp ở đây còn cao hơn bởi sự khác biệt có yếu tố nước ngoài và rộng hơn là giữa cả các nền văn hoá pháp lý Đối với trường hợp này, cách thức xử lý trước hết dựa vào sự thoả thuận về khả năng lựa chọn qui định của một hệ thống pháp luật nằm trong các nước có xung đột Nếu không được cần sử dụng các thoả thuận trong các hiệp định về tư pháp song phương hoặc đa phương (nếu đã ký kết) giữa các quốc gia

có xung đột đó Một số trường hợp cần đi đến giải pháp cuối cùng để có thể đưa

ra quyết định áp dụng pháp luật được là phải nhờ đến phán quyết của trọng tài quốc tế hoặc toà án quốc tế Trường hợp xung đột này, thường ít xảy ra trên thực

tế trong lĩnh vực Giao thông vận tải

- Không có quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng pháp luật đối với sự kiện, quan hệ đó Đây là thực trạng pháp lý có thể xảy ra ở bất cứ quốc gia nào ngay cả đối với những quốc gia có hệ thống pháp luật hoàn thiện ở mức độ cao Thực tiễn pháp lý nước ta có cách giải quyết đối với tình huống này bằng việc áp dụng pháp luật tương tự

Thứ ba: Đưa ra quyết định áp dụng pháp luật

Trang 26

Đây là giai đoạn quan trọng bởi nó phản ánh kết quả thực tế của quá trình

áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền Về bản chất, đây là giai đoạn chuyển hóa những quy định chung được nêu ra trong các quy phạm pháp luật thành những qui định cụ thể, cá biệt Các quyết định áp dụng pháp luật được đưa

ra phải đảm bảo tính khách quan, hợp pháp cũng như sự phù hợp cả về nội dung

và hình thức Sự phù hợp của quyết định áp dụng pháp luật được đưa ra cần phải xem xét ở cả hai khía cạnh là pháp lý và thực tế Theo đó, mức độ cá thể hóa càng chi tiết, sát thực về nội dung, yêu cầu và đảm bảo khách quan thì quyết định áp dụng pháp luật càng chính xác, hiệu quả Quyết định áp dụng pháp luật

có thể được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản Việc các quyết định áp dụng pháp luật được thể hiện bằng lời nói trên thực tế không phổ biến nhưng không có phải là không có trong thực tiễn lịch sử pháp lý Thực ra đây là hình thức mệnh lệnh có tính chất pháp lý bất thành văn tồn tại chủ yếu ở các chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến Trong giai đoạn hiện nay, việc sử dụng hình thức mệnh lệnh này không còn phổ biến nhưng trong một số trường hợp do điều kiện thực tế không cho phép hoặc không cần ban hành văn bản áp dụng pháp luật thì phải sử sử dụng nó

Thứ tư: Tổ chức thực hiện trên thực tế quyết định áp dụng pháp luật đã được ban hành và đã có hiệu lực pháp lý

Trước hết có thể nói, hiện nay trong khoa học và thực tiễn pháp lý nước

ta còn có ý kiến khác nhau đối với giai đoạn này Có ý kiến khẳng định, đây không phải là một giai đoạn trong qui trình áp dụng pháp luật Qui trình áp dụng pháp luật có kết quả cuối cùng là đưa ra quyết định áp dụng pháp luật Việc tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật không phải lúc nào cũng là hoạt động có tính liên tục được thực hiện ở cùng chủ thể đưa ra quyết định đó Chẳng hạn, toà án xét xử vụ án dân sự và ban hành ra bản án hoặc quyết định về vụ án

đó nhưng việc tổ chức thi hành án lại do cơ quan thi hành án dân sự thực hiện Tuy nhiên cũng có quan điểm khác cho rằng, tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật cần phải coi là một giai đoạn của qui trình áp dụng pháp luật Mặc dù không phải lúc nào chủ thể đưa ra quyết định áp dụng pháp luật cũng đồng thời tổ chức thực hiện quyết định đó Xét theo quan điểm toàn diện cho thấy, về mặt nội dụng, mục đích của việc áp dụng pháp luật phải được cụ thể

Trang 27

hoá trên thực tế Đó là một qui trình thống nhất và toàn vẹn của nhiều yếu tố liên thông, là kết quả của việc chuyển hoá cái chung của qui định của pháp luật thành cái riêng, cụ thể vào đời sống thực tiễn Áp dụng pháp luật chỉ có giá trị thực và hiệu lực khi nội dung quyết định cá biệt được các chủ thể có liên quan tôn trọng thực hiện Như vậy, việc chủ thể tiến hành áp dụng pháp luật không tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật của mình đưa ra hoàn toàn không phủ nhận đó là một giai đoạn cuối cùng của áp dụng pháp luật Giai đoạn này, nằm trong trong qui trình áp dụng pháp luật được thể hiện khá rõ trong việc xử

lý hành chính thuộc lĩnh vực giao thông vận tải: thể hiện trong việc áp dụng các hình lý bổ sung như tước quyền xử dụng giấy phép lái xe, đình chỉ thi công công trình liên quan đến quản lý hạ tầng giao thông Việc bảo đảm cho các quyết định áp dụng pháp luật có hiệu lực thực thi trên thực tế có ý nghĩa quan trọng bởi mục đích điều chỉnh của pháp luật mới đạt được trên thực tế Để các quyết định áp dụng pháp luật được các chủ thể có liên quan tôn trọng thực hiện cần chuẩn bị tốt các điều kiện thiết yếu để các chủ thể đó có khả năng thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp lý cũng như trách nhiệm và trách nhiệm pháp lý của họ như: các điều kiện về kỹ thuật, pháp lý, tổ chức, xã hội và tư tưởng…v.v Cần tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực thi các quyết định áp dụng pháp luật đối với các chủ thể có liên quan để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của

trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, khi cần truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những chủ thể vi phạm pháp luật về giao thông vận tải Khi trong thực tế xảy ra hành vi vi phạm pháp luật thì nhà nước phải tiến hành áp dụng pháp luật để truy cứu trách nhiệm

Trang 28

pháp lý đối với chủ thể đã thực hiện hành vi vi phạm đó Ví dụ, công dân A lái

xe quá tải trọng quy định (đã có hành vi vi phạm pháp luật) thì cần áp dụng pháp luật của lực lượng chức năng (thanh tra hoặc chủ thể khác có thẩm quyền) truy cứu trách nhiệm hành chính (ra quyết định xử lý, trong đó có ấn định biện pháp

và mức xử lý cụ thể đổi với A và buộc A phải chấp hành quyết định xử lý đó)

Thứ ba, khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể mà họ không tự giải quyết được Đây là trường hợp quan hệ pháp luật đã xuất hiện nhưng do có sự tranh chấp giữa các bên về quyền và nghĩa vụ pháp lý nên các bên không thể thực hiện được các quyền, nghĩa vụ pháp lý của mình Nói cách khác, đây là trường hợp một quan hệ pháp luật cụ thể đã phát sinh, các chủ thể đã có quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với nhau, nhưng một trong các bên hoặc tất cả các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý của mình nên dẫn đến tranh chấp mà họ không tự giải quyết được với nhau và yêu cầu có sự can thiệp của một chủ thể có thẩm quyền Chủ thể

có thẩm quyền áp dụng pháp luật sẽ đóng vai trò là trọng tài để giải quyết tranh chấp đó Ví dụ, cơ quan thanh tra giải quyết tranh chấp giữa chủ phương tiện giao thông và hành khách tham gia giao thông, cơ quan tòa án giải quyết tranh chấp giữa đương sự vi phạm với cơ quan ban hành quyết định hành chính

Thứ tư, khi cần áp dụng sự cưỡng chế của nhà nước vì lợi ích chung của

xã hội Trong đời sống xã hội, mỗi người đều có và đều quan tâm đến lợi ích riêng của mình và những lợi ích chính đáng sẽ được nhà nước bảo hộ Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt, để bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, của cả cộng đồng, nhà nước buộc phải xâm hại đến lợi ích riêng của những chủ thể nhất định Để bảo đảm tính đúng đắn, hợp tình, hợp lý của sự “xâm hại” đó, nhà nước phải quy định cụ thể trong pháp luật các biện pháp “xâm hại”, chủ thể, điều kiện, trình tự, thủ tục để áp dụng các biện pháp đó Khi một chủ thể cụ thể nào đó bị áp dụng một trong các biện pháp đó có nghĩa là họ đã phải gánh chịu

sự cưỡng chế của nhà nước, họ đã phải chịu những sự thiệt hại nhất định mặc dù

họ không vi phạm pháp luật mà hoàn toàn chỉ vì lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng Ví dụ, việc hạn chế đi lại trên một tuyến đường khi mất an toàn giao thông có thể xảy ra, việc cấm quay đầu xe tại một số điểm nhằm tránh xung đột

và đảm bảo an toàn giao thông

Trang 29

Thứ năm, khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong một số quan hệ pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, các chủ thể đều có quyền và nghĩa vụ nhất định do pháp luật quy định Có những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện nó chỉ liên quan đến lợi ích của cá nhân người thực hiện, song có những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện nó lại liên quan đến lợi ích của các chủ thể khác, lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng

Vì vậy, cần phải kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đó để đảm bảo tính đúng đắn, chính xác của nó Hoạt động kiểm tra, giám sát đó chỉ do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định Ví dụ: hoạt động kiểm tra an toàn của các phương tiện giao thông, kiểm tra, thanh tra cơ sở đào tạo cấp giấy phép lái xe, các doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô

1.3.Vai trò của áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm an toàn giao thông

Thứ nhất, thông qua áp dụng pháp luật có thể phát hiện những “lỗ hổng”pháp luật về giao thông vận tải để góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật

Để hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông vận tải cóhiệu quả, thì việc áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toan giao thông phải đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và phù hợp với nội dung, mục đích của pháp luật Điều đó cũng có nghĩa là hoạt động đó không được trái với Hiến pháp và luật cũng như các quyết định khác của cơ quan nhà nước cấp trên, phải được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định Hoạt động đó phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy định Hoạt động đó phải đảm bảo được lợi ích của Nhà nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân không tách rời giữa lợi ích của nhà nước và nguyện vọng của nhân dân Hoạt động đó phải xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước, không xuất phát từ ý muốn chủ quan của cơquan hành chính quyết định Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, Cục cảnh sát giao thông đường bộ đã áp dụng các văn bản pháp luật của Nhà nước để xử

lý những hành vi vi phạm an toàn giao thông

Trang 30

Tuy nhiên, thực tế hiện nay hệ thống văn bản pháp luật xử lý viphạm an toàn giao thông có nhiều nội dung khôngcòn phù hợp, các chế tài xử lý không được tổ chức, cá nhân vi phạm thựchiện đầy đủ Ví dụ: Theo quy định hiện hành, việc chưa chấp hành đầy đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của các doanh nghiệp vận tải, việc đua xe trái phép; điều khiển phương tiện giao thông đi vào đường cấm, đường ngược chiều v.v chỉ bị xử lý tiền với số tiền nên đến vài triệu đồng hoặc tạm giữphương tiện trong vòng 01 tuần đó không đủ sức răn đe đối với người vi phạm Hơn nữa, pháp luật hiện hành chưa có đầy đủ các quy định về xử lý đối với những người có hành vi can thiệp vào việc xử lý vi phạm pháp luật về giao thông của lực lượng thanh tra giao thông, cảnh sát giao thông trong khi đang thực thi công vụ Bên cạnh đó, các quy định về xử lý đối với người vi phạm pháp luật giao thông chống lại người thi hành công vụ với những biện pháp chế tài ở mức độ nhẹ cũng giúp phần làm cho ý thức tuân thủ pháp luật giao thông trong xã hội chưa có những chuyển biến thật sự tích cực…Để có cơ sở đánh giá, xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật về giaothông vận tải, cần phải dựa vào những tiêu chí xác định về mặt lý thuyết để từđó đối chiếu với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của từng giai đoạn cụ thể, xemxét một cách khách quan nhằm rút ra những kết luận, làm rõ những ưu điểmcũng như những vướng mắc, bất cập của pháp luật về giao thông gópphần hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhànước về giao thông trong nền kinh tế thị trường ở nước ta

Thứ hai, áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông là phương tiện tăng cườngtrật tự kỷ cương, hình thành trật tự pháp luật trong lĩnh vực giao thông vậntải, nhằm tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho việc phát triển về

giao thông vận tải của đất nước Với tư cách là một yếu tố điều chỉnh các quan

hệ xã hội, áp dụng phápluật có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định

và phát triển xã hội.Điều này được thể hiện cụ thể đối với áp dụng pháp luật xử

lý vi phạm an toàn giao thông, đó là:

Thứ ba, đảm bảo giữ vững kỷ cương pháp chế trong quản lý nhà nước về lĩnhvực giao thông vận tải Áp dụng pháp luật xử lý vi phạm an toàn giao thông

là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nướcban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quảnlý hành chính về giao thông vận tải,

Trang 31

bao gồm các hình thức xử lý vi phạmvà một số biện pháp xử lý hành chính khác trong lĩnh vực giao thông vận tải.Như vậy, Nhà nước sử dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnhvực giao thông vận tải như một phương tiện để thực hiện quyền lực của mìnhtrong quản lý, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động của các đối tượng tham giagiao thông, tham gia hoạt động, sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực giaothông vận tải Nhờ có sự quy định chặt chẽ của pháp luật xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực giao thông vận tải mà các đối tượng tham gia hoạt độngtrong lĩnh vực giao thông vận tải phải thực hiện một cách nghiêm túc đườnglối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đảm bảo thực hiện tốtcải cách hành chính nhà nước, giảm phiền hà, tiêu cực trong hoạt động giaothông vận tải, đảm bảo trật tự an toàn xã hội đáp ứng yêu cầu của sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ tư, thúc đẩy phát triển kinh tế theo đúng chủ trương hội nhập kinh tếquốc tế của Đảng Hội nhập kinh tế đồng nghĩa với việc mở cửa nền kinh tế

gắn kết nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới thành một thể thống nhất Pháp luật quản lý nhà nước về lĩnh vực giao thông vận tải gắn liền với pháp luật

về đầu tư, pháp luật doanh nghiệp, pháp luật thương mại quốc tế,bảo vệ môi trường, xây dựng, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng… và đi đôi với nó là các quy định bắt buộc phải thực hiện, các quy định cấm, các thủ tục phải tuân theo Điều này, đồng nghĩa với việc nếu vi phạm các quy định nàyđều bị xử lý Hội nhập kinh tế đòi hỏi phải tạo lập môi trườngkinh doanh thuận lợi, công khai và minh bạch nhằm xác lập các điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư phát triển công nghiệp và cơ sở hạ tầng giao thông, đòi hỏi pháp luật phải thông thoáng, công khai, minh bạch, thống nhất và đồng bộ Như thế pháp luật sẽ dễ áp dụng, dễ thực hiện; đồng thời làm giảmcác vi phạm an toàn giao thông xảy ra và góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển

Trang 32

xây dựng dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn nhất định Khi nghiên cứu về hoạt động áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm an toàn giao thông cần phải xác định rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của hoạt động này, đây chính là lý

do mà một phần trong nội dung Chương 1 đã phân tích làm rõ cơ sở lý luận và

cơ sở thực tiễn của hoạt động áp dụng pháp luật trong xử lý an toàn giao thông

- Để hiểu đúng bản chất xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường

bộ, làm cơ sở cho hoạt động khảo sát công tác này của lực lượng CSGT, luận văn đã xây dựng một số khái niệm cơ bản như: khái niệm VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ; khái niệm, đặc điểm công tác xử phạt VPHC trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo chức năng của lực lượng CSGT

Hoạt động áp dụng pháp luật trong xử lý an toàn giao thông được thể hiện trong các văn bản pháp luật, đặc biệt là trong luật giao thông đường bộ 2008, Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 cùng với quá trình hoàn thiện các quy định

về áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm an toàn giao thông cho thấy hoạt động

xử lý vi phạm an toàn giao thông có vai trò to lớn đối với Nhà nước và của toàn

xã hội

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XỬ LÝ VI PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG CỦA CỤC CẢNH SÁT GIAO THÔNG ĐƯỜNG

kinh độ 1030 52' đến 1050 48' kinh độ Đông, ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung

Bộ của Việt Nam Phía Đông giáp biển, phía Tây giáp nước CHDCND Lào, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa Nằm trong hành lang kinh tế Đông - Tây nối liền Myanmar - Thái Lan - Lào - Việt Nam theo Quốc lộ 7 đến cảng Cửa Lò Nghệ An có 1 thành phố, 3 thị xã và 17 huyện Trong đó, Thành phố Vinh là đô thị loại 1, là trung tâm kinh tế, văn hóa của tỉnh

và của cả khu vực Bắc Trung bộ

Địa hình: Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa

dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng

từ Tây - Bắc xuống Đông - Nam với ba vùng sinh thái rõ rệt: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chỉ cao đến 0,2 m so với mặt nước biển (đó là xã Quỳnh Thanh huyện Quỳnh Lưu) Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh

Khí hậu, thủy văn: - Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,

chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) Nhiệt độ trung bình hàng năm 23 - 24,20C Tổng lượng mưa trong năm là 1.200 – 2.000 mm Độ ẩm trung bình hàng năm 80-90% Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1.460 giờ

- Thủy văn: Tỉnh Nghệ An có 7 lưu vực sông (có cửa riêng biệt) với tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trung bình là 0,7 km/km2 Sông lớn nhất là sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyện Mường Pẹc

Trang 34

tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), có chiều dài là 532 km (riêng trên đất Nghệ An có chiều dài là 361 km), diện tích lưu vực 27.200 km2 (riêng ở Nghệ An là 15.346 km2) Tổng lượng nước hàng năm khoảng 28.109 m3

Diện tích tự nhiên: Nghệ An có diện tích tự nhiên 1.648.997,1 ha, là tỉnh

có diện tích lớn nhất cả nước, địa hình phong phú, đa dạng, có biển, đồng bằng, trung du và miền núi Trong đó: Đất nông nghiệp 1.249.176,1 ha (đất sản xuất nông nghiệp: 276.047,1 ha, đất lâm nghiệp có rừng 963.691 ha, đất nuôi trồng thủy sản 7.984,1 ha, đất làm muối 837,8 ha, đất nông nghiệp khác 616,1 ha), Đất phi nông nghiệp 129.171,6 ha, Đất chưa sửa dụng: 270.649,4 ha Đất đai lớn là tiềm năng để phát triển sản xuất nông, lâm, thuỷ sản trên quy mô lớn, tập trung, tạo vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến các loại sản phẩm từ cây công nghiệp dài ngày, ngắn ngày, cây ăn quả, cây dược liệu, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm v.v

Dân số và lao động: Nghệ An có dân số hơn 3,037 triệu người, là địa phương đông dân thứ tư trong cả nước (sau Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Thanh Hóa) Tỷ trọng: Dân số sống ở thành thị 15,1%; dân số nữ 50,34%; Dân số phi nông nghiệp 31,3% Mật độ dân số trung bình 184 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số

tự nhiên 0,13% Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh - danh nhân văn hoá thế giới, là vùng đất nổi tiếng có truyền thống hiếu học, học giỏi, cần

cù, sáng tạo; là trung tâm giáo dục - đào tạo của khu vực Bắc miền Trung với 17 trường Đại học, Cao đẳng đào tạo trên các lĩnh vực: kinh tế, kỹ thuật, đào tạo nghề, sư phạm, y tế, văn hóa nghệ thuật Đặc biệt, là hệ thống các trường trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo nghề lao động kỹ thuật trên địa bàn tỉnh đáp ứng đầy đủ nhu cầu nguồn nhân lực cho các nhà đầu tư Tổng số lực lượng lao động gần 1,9 triệu người Trong đó, lực lượng lao động được đào tạo chiếm 48%

(Nguồn: Cổng thông tin điện tử UBND tỉnh Nghệ An 2017)

2.1.2 Sơ lược về đặc điểm hệ thống giao thông của tỉnh Nghệ An

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2016 - 2020 của tỉnh đã được thông

qua tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVIII là: “Ưu tiên nguồn

lực cho 3 vùng kinh tế trọng điểm để tạo thành các cực tăng trưởng gồm: (1)- Phát triển thành phố Vinh - thị xã Cửa Lò - các huyện đông nam của tỉnh gắn với vùng Nam Nghệ - Bắc Hà (2)- Phát triển vùng Hoàng Mai - Quỳnh Lưu gắn

Trang 35

với vùng Nam Thanh - Bắc Nghệ (3)- Phát triển kinh tế miền Tây Nghệ An, trọng điểm vùng là vùng Tân Kỳ - Đô Lương - Nghĩa Đàn - Thái Hòa - Quỳ Hợp” Hệ thống các khu kinh tế, khu công nghiệp và các cụm công nghiệp đã

được quy hoạch, phân bổ đều trên toàn bộ địa bàn tỉnh, cụ thể: Khu kinh tế Đông Nam đã được Chính phủ phê duyệt (gồm 05 khu công nghiệp: Hoàng Mai; Đông Hồi; Nam Cấm; Thọ Lộc; VSIP) và 6 Khu công nghiệp ngoài khu kinh tế Đông Nam là: Nghĩa Đàn; Sông Dinh; Tân Kỳ, Bắc Vinh; Tri Lễ và Phủ Quỳ;

Về Cụm công nghiệp, toàn tỉnh có 47 cụm công nghiệp, phân bổ đều ở 21 huyện, thành, thị và các nhà máy khác nằm ngoài các khu công nghiệp

Hiện nay việc kết nối bằng đường bộ giữa các vùng kinh tế trọng điểm trên địa bàn tỉnh cơ bản đã đáp ứng được các yêu cầu đặt ra, kết nối thông qua các tuyến quốc lộ như: Quốc lộ 1, quốc lộ 7, quốc lộ 7B; quốc lộ 15, quốc lộ 46, quốc lộ 48, quốc lộ 48B, quốc lộ 48C, quốc lộ 48D, quốc lộ 48E… và các tuyến đường tỉnh như ĐT 532, ĐT.533, ĐT.537B, ĐT.531B, ĐT 535, ĐT 536, ĐT 542… Tuy nhiên, thời gian vừa qua do phương tiện giao thông tăng nhanh, một

số tuyến đường được xây dựng đã lâu, quy mô còn nhỏ nên khả năng kết nối các vùng chưa cao, dễ gây ra ùn tắc cục bộ và làm hạn chế đến sự phát triển kinh tế -

xã hội của tỉnh

- Quốc lộ: Có 14 tuyến với tổng chiều dài là 1.655,95km Trong đó, 727km đường bê tông nhựa chiếm 44%, 920km đường láng nhựa chiếm 55% và 19km đường cấp phối chiếm 1%

Thời gian qua đã được sự quan tâm của Chính phủ, Bộ GTVT, hệ thống quốc lộ trên địa bàn tỉnh đã từng bước được đầu tư nâng cấp, mở rộng như: QL1, QL46B đoạn tránh TP Vinh, QL15 đoạn qua khu di tích Truông Bồn, QL46 đoạn Cửa Lò đi TP Vinh, QL48, QL48B đoạn km0-km12,… góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông thương hàng hóa, đi lại của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bên cạnh đó do nguồn vốn khó khăn nên một số đoạn tuyến chưa hoàn thành đúng tiến độ hoặc chưa được đầu tư nâng cấp như: QL7 đoạn km0-km36 (tạm dừng), QL15 đoạn Tân Kỳ đi Đô Lương và đoạn Đô Lương đi Nam Đàn, QL48C, QL48E

- Đường tỉnh: Có 16 tuyến với tổng chiều dài 242,82 km, Trong đó 114,42km đường bê tông nhựa chiếm 47,12%; 123,04 km đường đá dăm và đá

Trang 36

dăm láng nhựa chiếm 50,67%; 5,36 km đường Bê tông xi măng chiếm 2,21% Các tuyến đường cơ bản đáp ứng cơ bản khả năng vận chuyển và kết nối của các phương tiện vận tải

- Các tuyến đường huyện và đường xã có tổng chiều dài 15.664,9 km trong đó 3.782,4km đường huyện và 11.882,5 km đường xã: Hầu hết đều được đầu tư xây dựng đã lâu với quy mô nhỏ chủ yếu là cấp V và VI nên khả năng đáp ứng nhu cầu vận tải lớn để kết nối giữa các cụm công nghiệp với các khu công nghiệp là chưa cao

- Hệ thống các tuyến đường đô thị, đường chuyên dụng và các tuyến đường nội bộ trong các khu kinh tế, khu công nghiệp và các cụm công nghiệp với tổng chiều dài 1.005,1 km Các tuyến đường này đã được quan tâm đầu tư,

cơ bản đáp ứng được nhu cầu vận chuyển, hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư

* Hiện trạng các tuyến đường bộ kết nối các vùng kinh tế trọng điểm (1)- Thành phố Vinh - thị xã Cửa Lò - các huyện đông nam của tỉnh gắn với vùng Nam Nghệ - Bắc Hà (2)- vùng Hoàng Mai - Quỳnh Lưu gắn với vùng Nam Thanh - Bắc Nghệ (3)- miền Tây Nghệ An, trọng điểm vùng là vùng Tân Kỳ -

Đô Lương - Nghĩa Đàn - Thái Hòa - Quỳ Hợp)

a) Các tuyến đường kết nối vùng kinh tế trọng điểm (1) và (2)

- Quốc lộ 1 (điểm đầu: Khe nước Lạnh, tỉnh Thanh Hóa, điểm cuối: cầu Bến Thủy): Dài 84km, Bề rộng mặt đường 20-21 m; kết cấu mặt đường thảm bê tông nhựa,

- Tuyến tránh QL1 đoạn qua TP Vinh (điểm đầu: huyện Nghi Lộc, điểm cuối: tại cầu Bến Thủy): dài 25km, Bề rộng mặt đường 9m, kết cấu mặt đường thảm bê tông nhựa

Đánh giá: Đây là các tuyến đường mới được đầu tư nâng cấp mở rộng, có lưu lượng tham gia giao thông lớn, hiện nay cơ bản đáp ứng nhu cầu kết nối, vận chuyển, trao đổi hàng hóa giữa các vùng kinh tế trọng điểm (1) và (2)

b) Các tuyến đường kết nối vùng kinh tế trọng điểm (1) và (3)

- Đường Hồ Chí Minh (điểm đầu: Làng Tra Thanh Hóa; điểm cuối: Phố Châu, Hà Tĩnh): Dài 132km, Bề rộng mặt đường 7m, kết cấu mặt đường thảm

bê tông nhựa

Trang 37

- Quốc lộ 7 (điểm đầu: xã Diễn Thành, Diễn Châu; điểm cuối: Cửa khẩu Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn): Dài 227km, Bề rộng mặt đường 7m, kết cấu mặt đường thảm bê tông nhựa

- Quốc lộ 7B (điểm đầu: tại xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu; điểm cuối xã Thanh Đồng, huyện Thanh Chương: Dài 45km, Bề rộng mặt đường 5,5m, kết cấu mặt đường láng nhựa;

- Quốc lộ 15 (điểm đầu: Làng Tra, Thanh Hoá; điểm cuối: xã Nam Kim huyện Nam Đàn): dài 135km, bề rộng mặt đường đoạn qua khu di tích Truông Bồn rộng 7 m, mặt đường bê tông nhựa; các đoạn còn lại bề rộng mặt đường rộng 5,5m, kết cấu mặt đường láng nhựa

- Quốc lộ 46 (điểm đầu thị xã Cửa Lò, điểm cuối cửa khẩu Thanh Thủy, Thanh Chương): dài 82km, đoạn từ Cửa Lò đến Vinh (km0-km11) bề rộng mặt đường 14 m, các đoạn còn lại rộng 7m; kết cấu mặt đường bê tông nhựa

- Quốc lộ 46B (Điểm đầu tại Quán Bánh, điểm cuối tại Đô Lương), dài 33 km: Đoạn tránh thành phố Vinh dài 8km, bề rộng mặt đường 9m, kết cấu mặt đường thảm bê tông nhựa; đoạn từ thị trấn Thanh Chương đi thị trấn Đô Lương dài 25km, bề rộng mặt đường rộng 5,5m; kết cấu mặt đường láng nhựa

- Quốc lộ 48E (điểm đầu tại Lạch Cờn, điểm cuối nối với QL46 tại Cửa Lò) Đoạn đi qua địa phận các huyện như Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Yên Thành và huyện Nghi Lộc: dài 150 km, bề rộng mặt đường 5,5m, kết cấu mặt đường láng nhựa

- Đường tỉnh ĐT.533 (Điểm đầu xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, điểm cuối xã Nam Lộc, huyện Nam Đàn): Dài 57,5 km, bề rộng mặt đường 5,5m, kết cấu mặt đường láng nhựa

- Đường nối từ đường N5, Khu kinh tế Đông Nam đến Hòa Sơn, Đô Lương (điểm đầu nối với đường N5 tại Nghi Lộc; điểm cuối nối QL7 tại Đô Lương): Dài 28,5km, bề rộng mặt đường 11m; hiện đang triển khai đẩy nhanh tiến độ thi công phục vụ vận chuyển xi măng (đoạn trong khu kinh tế đã được đầu tư xây dựng)

Đánh giá: Việc kết nối vùng kinh tế trọng điểm (1) với (3) bằng đường bộ

có nhiều sự lựa chọn, đặc biệt là các tuyến đường mới được đầu tư xây dựng như QL46 đoạn tránh TP Vinh, tuyến N5 kéo dài… tuy nhiên quy mô hiện tại

Trang 38

của một số tuyến đường còn hạn chế, nên chưa đáp ứng được nhu vận chuyển hàng hóa với khối lượng lớn, đặc biệt là trong thời gian tới

c) Các tuyến đường kết nối vùng kinh tế trọng điểm (2) và (3)

- Quốc lộ 48 (Điểm đầu Yên Lý, điểm cuối cửa khẩu Thông Thụ): dài 160km Bề rộng mặt đường: đoạn km0-km20 rộng 9m, đoạn km38-km64 rộng 7m, kết cấu mặt đường thảm bê tông nhựa; các đoạn còn lại bề rộng mặt đường 5,5m; kết cấu mặt đường láng nhựa

- Quốc lộ 48B (điểm đầu: xã Quỳnh Thuận, huyện Quỳnh Lưu; điểm cuối

xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu): dài 25 km, bề rộng mặt đường 5,5 m, kết cấu mặt đường đá dăm láng nhựa

- Quốc lộ 48C (điểm đầu: Ngã ba Săng Lẻ Quỳ Hợp, điểm cuối Cửa Rào, huyện Tương Dương): dài 123km, bề rộng mặt đường 3,5m, kết cấu mặt đường láng nhựa

- Quốc lộ 48D (điểm đầu: tại Đông Hồi, điểm cuối: ngã ba Châu Thôn, huyện Quế Phong): dài 165,2km, bề rộng mặt đường đoạn Đông Hồi đi Thái Hòa rộng 9m, mặt đường bê tông nhựa; các đoạn còn lại bề rộng mặt đường 5,5m; kết cấu mặt đường láng nhựa

- Quốc lộ 48E (điểm đầu tại Lạch Cờn, điểm cuối nối với QL46 tại Cửa Lò) Đoạn đi qua địa phận các huyện như Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn: dài 80 km, Bề rộng mặt đường 5,5m, kết cấu mặt đường láng nhựa

Thời gian qua, các tuyến đường đã từng bước được đầu tư nâng cấp, mở rộng, góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế xã hội và liên kết các vùng Tuy nhiên một số tuyến do mới được nâng cấp chuyển từ đường tỉnh lên đường quốc lộ nên quy mô còn hạn chế, một số đoạn tuyến đi qua khu vực miền núi, nên việc vận chuyển, trao đổi hàng hóa với khối lượng lớn giữa các vùng miền còn bị ảnh hưởng

d) Các tuyến đường nội vùng kết nối đến các trục chính nối các vùng kinh

tế trọng điểm

- Nội vùng (1)

+ Đại lộ Vinh đi Cửa Lò (điểm đầu giao với đường Lê Nin, điểm cuối giao với đường Bình Minh): Hiện tại đang triển khai thi công trên phía đầu tuyến và cuối tuyến

Trang 39

+ Đường tỉnh ĐT.535 (điểm đầu tại Cửa Hội, điểm cuối tại thành phố Vinh): dài 11km, bề rộng mặt đường mặt đường 11m, kết cấu mặt đường thảm

Bê tông nhựa

+ Đường tỉnh ĐT.536 (điểm đầu: tại Cửa Lò, điểm cuối tại Nam Cấm): dài 8km, bề rộng mặt đường mặt đường 9m, kết cấu mặt đường Bê tông nhựa

+ Đường tỉnh ĐT.542 (điểm đầu tại Cửa Hội, điểm cuối tại thị trấn Nam Đàn): dài 53,66km bề rộng mặt đường 9m, kết cấu mặt đường Bê tông nhựa

+ Đường Vinh đi Hưng Tây (điểm đầu nối với QL1, điểm cuối nối với QL1 tránh Vinh): dài 6,2km, hiện triển khai thi công với quy mô đường đô thị

Dự kiến hoàn thành Quý III/2017;

+ Đường nối QL46 với đường Ven Sông Lam (điểm đầu nối QL46, điểm cuối nối đường Ven Sông Lam): dài 8km, hiện đang chuẩn bị triển khai thi công với quy mô bề rộng mặt đường 7m, kết cấu mặt đường Bê tông nhựa Dự kiến hoàn thành Quý III/2017;

- Nội vùng (2)

+ Đường tỉnh ĐT.537B (điểm đầu xã Quỳnh Bá, huyện Quỳnh Lưu; điểm cuối xã Quỳnh Dị huyện Quỳnh Lưu): dài 13 km, bề rộng mặt đường 3,5 m; kết cấu mặt đường láng nhựa

+ Đường giao thông từ khu công nghiệp Hoàng Mai 2 đến NMXM Tân Thắng (Quỳnh Lưu) dài 7,3km hiện đang triển khai thi công với quy mô mặt đường rộng 9m, kết cấu mặt đường bê tông nhựa

- Nội vùng (3):

+ Đường tỉnh ĐT.531B (điểm đầu xã Minh Hợp huyện Quỳ Hợp Điểm cuối xã Minh Hợp huyện Quỳ Hợp): dài 15km, chiều rộng mặt đường 3,50m, kết cấu mặt đường láng nhựa

+ Đường tỉnh ĐT.531C (điểm đầu tại xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp; điểm cuối xã Hạ Sơn, huyện Quỳ Hợp): dài 7,5km, chiều rộng mặt đường rộng 3,50m, kết cấu mặt đường dăm láng nhựa

+ Đường tỉnh ĐT.532 (điểm đầu xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp Điểm cuối xã Châu Hồng, huyện Quỳ Hợp): dài 11km, chiều rộng mặt đường rộng 5,5-6,5m, kết cấu mặt đường dăm láng nhựa

+ Đường vào nhà máy MDF (điểm đầu nối với QL48D, điểm cuối Nhà máy MDF dài 8 km): Chiều rộng mặt đường 7m, kết cấu mặt đường bê tông nhựa

Trang 40

(Nguồn: Cổng thông tin điện tử UBND tỉnh Nghệ An 2017)

2.2 Tổ chức bộ máy và chức năng xử lý vi phạm an toàn giao thông của Cục cảnh sát giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An

2.2.1 Về tổ chức bộ máy của Cục CSGT đường bộ trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Ngày 11/10/1987, Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã ban hành Quyết định số 75/QĐ-BNV thành lập Cục CSGT trên cơ sở hợp nhất 3 Cục (Cục CSGT đường bộ, Cục CSGT đường thuỷ, Cục CSGT đường sắt) gọi chung là Cục CSGT Tiếp đó, năm 1988 Bộ Công an đã ban hành Quyết định số 29/QĐ-BNV chuyển giao nhiệm vụ và tổ chức Cảnh sát hình sự, Cảnh sát kinh tế từ Cục CSGT-TT sang Cục Cảnh sát hình sự và Cảnh sát kinh tế; chuyển giao nhiệm vụ và tổ chức phòng CSTT từ Cục Cảnh sát QLHC về TTXH sang Cục CSGT; đổi tên Cục CSGT thành Cục CSGT - TT Đồng thời, Bộ Công an đã 5 lần kiện toàn tổ chức, cán bộ và chức năng nhiệm vụ của Cục Ngày 12/3/1997,

Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ban hành Quyết định số BNV quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức Cục CSGT đường thuỷ (C25) trên cơ sở tách một bộ phận cán bộ chiến sỹ từ Cục CSGT-TT; Quyết định số 194/QĐ-BNV về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Cục CSGT đường bộ- đường sắt (C26) Ngày 13/9/2005, Bộ Công an ban hành Quyết định số 1293/QĐ-BCA(X13) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Cục CSGT đường bộ-đường sắt thuộc Tổng cục Cảnh sát (thay thế Quyết định số 194/QĐ-BNV ngày 12/3/1997) Ngày 23/02/2010, Bộ Công an ban hành Quyết định số 588/QĐ-BCA quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

193/QĐ-và tổ chức bộ máy của Cục CSGT đường bộ- đường sắt thuộc Tổng cục Cảnh sát QLHC về TTATXH (thay thế Quyết định số 1293/QĐ-BCA(X13) Theo đó,

tổ chức của Cục CSGT gồm 07 phòng Ngày 17/6/2013, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quyết định số 3071/QĐ-BCA quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trung tâm huấn luyện nghiệp vụ, đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe thuộc C67 trên cơ sở tách bộ phận đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe thuộc Phòng 4/C67 Như vậy, tổ chức của Cục CSGT đường bộ- đường sắt gồm 07 phòng và 01 Trung tâm [7, 8].Gần đây nhất, Bộ trưởng

Bộ Công an đã quyết định hợp nhất Cục CSGT đường bộ, đường sắt và Cục

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:05

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w