1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch ở huyện vũ quang tỉnh hà tĩnh

79 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 911,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được mục đích trên, đề tài tập trung vào các nhiệm vụ cụ thể sau đây: - Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan, pháp luật thực định của Việt Nam về hộ tịch và áp dụng pháp luậ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH - -

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH - -

NGUYỄN ĐỨC ANH

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG ĐĂNG KÝ QUẢN LÝ HỘ TỊCH Ở

HUYỆN VŨ QUANG TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Nguyễn Thị Thanh Nhàn

NGHỆ AN, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Đức Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời Cam Đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG ĐĂNG KÝ QUẢN LÝ HỘ TỊCH 6

1.1 Hộ tịch 6

1.1.1 Khái niệm Hộ tịch 6

1.1.2 Phân biệt giữa hộ tịch và hộ khẩu 7

1.2 Áp dụng pháp luật về đăng ký quản lý hộ tịch 9

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm 9

1.2.2 Nguyên tắc, chủ thể, đối tượng, phạm vi trong đăng ký, quản lý hộ tịch 11 1.2.3 Vị trí, vai trò của quản lý hộ tịch 14

1.2.4 Nội dung, trình tự, thẩm quyền áp dụng pháp luật về quản lý hộ tịch 16

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch 25

Kết luận Chương 1 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2016 30

2.1 Tình hình, đặc điểm có liên quan đến việc áp dụng pháp luật về hộ tịch ở huyện Vũ Quang, Tỉnh Hà Tĩnh 30

2.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Vũ Quang 30

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế, xã hội huyện Vũ Quang 30

2.1.3 Đội ngũ cán bộ tư pháp - hộ tịch 32

2.2 Kết quả áp dụng pháp luật về hộ tịch trên địa bàn huyện Vũ Quang từ năm 2011 đến năm 2016 33

2.2.2 Những kết quả đạt được 34

2.2.3 Đánh giá việc áp dụng pháp luật về hộ tịch trên địa bàn huyện Vũ Quang 45

Trang 5

2.2.4 Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động Áp dụng pháp luật trong đăng ký

quản lý hộ tịch trên địa bàn huyện Vũ Quang 50

Kết luận Chương 2 51

CHƯƠNG 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH Ở HUYỆN VŨ QUANG TỈNH HÀ TĨNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 52

3.1 Một số yêu cầu cấp bách đối với việc nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về đăng ký quản lý hộ tịch trong giai đoạn mới 52

3.1.1 Yêu cầu về tính kịp thời 52

3.1.2 Yêu cầu về tính đầy đủ 52

3.1.3 Yêu cầu về tính chính xác, khách quan 53

3.1.4 Yêu cầu về tính chủ động của cơ quan quản lý và đăng kí hộ tịch 53

3.1.5 Yêu cầu về tính pháp chế 53

3.1.6 Yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính 54

3.2 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hộ tịch trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh thời gian tới 55

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về hộ tịch 55

3.2.2 Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Tư pháp - Hộ tịch chuyên trách 57

3.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch trong nhân dân 59

3.2.4 Nhóm giải pháp về cải tiến phương thức quản lý hộ tịch, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính 61

Kết luận Chương 3 64

KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xét từ phương diện khoa học quản lý nhà nước, quản lý hộ tịch có vị trí trung tâm của hoạt động quản lý dân cư Quản lý dân cư nói chung và quản lý hộ tịch nói riêng là lĩnh vực trọng yếu của nền hành chính nhà nước, tương tự như quản lý lãnh thổ, đất đai Với phạm vi và đối tượng quản lý rộng lớn, tác động đến mọi tầng lớp dân cư, việc thiết lập hệ thống quản lý dân cư, quản lý hộ tịch luôn là mối quan tâm của mọi quốc gia, từ những đất nước có dân số đứng đầu thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ đến những quốc gia dân số chỉ vài triệu dân như Lào, Brunei Đây là một lĩnh vực quan trọng của nền hành chính mà mọi quốc gia đương đại, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển đều phải quan tâm Có thể khẳng định rằng, các vấn đề pháp lý về quản lý hộ tịch có tầm quan trọng tương tự như các vấn đề pháp lý về quốc tịch, về biên giới quốc gia, về tổ chức bộ máy nhà nước… Trên thế giới, nhiều nước như Pháp, Đức, Nhật Bản… từ rất sớm đều điều chỉnh vấn đề quản lý hộ tịch bằng văn bản pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành

Ở nước ta hiện nay, quản lý hộ tịch được thực hiện theo Luật Hộ tịch

2014 Luật Hộ tịch đã được Quốc hội thông qua ngày 20/11/2014 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016 Trong thời gian qua, các cấp chính quyền đã có nhiều cố gắng, tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý hộ tịch Vì vậy, quản lý hộ tịch đã dần đi vào nề nếp, đạt được những kết quả nhất định: số trẻ em được đăng ký khai sinh đạt tỷ lệ cao, đăng ký kết hôn đúng quy định…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được quản lý hộ tịch còn có nhiều hạn chế như: Thủ tục quản lý hộ tịch chưa khoa học, chưa phù hợp thực tế, trình

độ, năng lực của đội ngũ công chức làm công tác quản lý hộ tịch (nhất là ở cấp

xã chưa đáp ứng được yêu cầu); việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch chưa được quan tâm đúng mức… Những hạn chế này đã tác động làm giảm đi

Trang 7

2

hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hộ tịch Do đó, để giải quyết những khó khăn trong công tác quản lý hộ tịch thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác quản lý hộ tịch trong giai đoạn trước mắt và lâu dài

Là một huyện miền núi phía tây của tỉnh Hà Tĩnh, trong những năm qua, huyện Vũ Quang đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện Với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền (huyện, xã) quản lý về hộ tịch ở Vũ Quang từng bước được thực hiện nghiêm túc đầy đủ, chính xác

Song thực tế trên địa bàn huyện cũng còn nhiều hạn chế bất cập trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch như nêu trên Với mong muốn tìm hiểu các quy định của pháp luật về hộ tịch và áp dụng vào thực tiễn để hoàn thiện các quy định pháp luật hộ tịch trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh tôi chọn đề tài

“Áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch ở huyện Vũ Quang tỉnh Hà Tĩnh” để làm luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu

Có thể khẳng định rằng quản lý hộ tịch là hoạt động khó khăn và phức tạp đòi hỏi nhà quản lý phải có tầm hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chuyên môn và cần thiết hơn đó là sự thông thạo về đặc điểm dân cư, tập quán, truyền thống, văn hóa, trình độ phát triển của địa phương Có như vậy nhà quản lý mới có thể

áp dụng một cách linh hoạt pháp luật của nhà nước, từ đó đưa ra các quyết định quản lý phù hợp, mang lại hiệu quả cao

Vấn đề quản lý hộ tịch không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà lãnh đạo mà còn là vấn đề quan tâm của cả những nhà khoa học và các nhà quản lý Một số công trình khoa học tiêu biểu về quản lý hộ tịch đã được công bố trong thời gian qua như:

Trang 8

3

- Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 2000;

- Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp: Chuyên đề thông tin khoa học pháp lý về hộ tịch, 1995;

- Tổng cục Thống kê: Một số kết quả về dự án cải tiến đăng ký hộ tịch và thống kê dân số, Nxb Thống kê, 1989;

- Vũ Đình Tuấn Phương: Cơ quan nhà nước cần tôn trọng quyền yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của công dân, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2005;

- Phạm Trọng Cường: Kỳ vọng về một nề nếp mới trong công tác hộ tịch, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2006;

- Bộ Tư pháp: Số chuyên đề về Công chứng, hộ tịch và quốc tịch, phần 2

- Phạm Trọng Cường: Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch, Nxb Tư pháp, 2007;

- Phạm Trọng Cường: Về quản lý hộ tịch, Nxb Chính trị quốc gia, 2004;

- Quy định mới về đăng ký và quản lý hộ tịch, Nxb Chính trị quốc gia,

2006

Ngoài ra còn rất nhiều các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các đề tài đã được nghiệm thu về vấn đề hộ tịch và đăng ký hộ tịch Các công trình khoa học kể trên đã nghiên cứu về nhiều khía cạnh: khái niệm, lịch sử quản

lý hộ tịch, các sự kiện, phương thức quản lý và đăng ký hộ tịch… Tuy nhiên,

Trang 9

4

chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào đề cập đến việc áp dụng pháp luật về hộ tịch, đặc biệt là nghiên cứu tại một địa bàn cụ thể

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là: thông qua việc nghiên cứu, làm rõ các vấn

đề lý luận có liên quan, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về hộ tịch trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2011 đến năm 2016 để

đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này trên địa bàn huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới

Để đạt được mục đích trên, đề tài tập trung vào các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan, pháp luật thực định của Việt Nam về hộ tịch và áp dụng pháp luật về hộ tịch;

- Nghiên cứu, phân tích làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật về quản lý hộ tịch ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2011 đến năm 2016; đánh giá ưu, nhược điểm và nguyên nhân của công tác này;

- Nghiên cứu, làm rõ yêu cầu và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý hộ tịch ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2011 đến năm 2016 trong thời gian tới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Các quy định của pháp luật về hộ tịch và các văn bản của UBND huyện

Trang 10

5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quản lý nhà nước, về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân…; đồng thời, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp hệ thống, logic và lịch sử, phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh, điều tra xã hội học, phỏng vấn… trong đó chú trọng phương pháp thu thập thông tin trực tiếp: quan sát, phỏng vấn, điều tra mẫu; phương pháp thu thập thông tin gián tiếp: phân tích và tổng hợp số liệu thông tin

từ sách, báo, từ mạng Internet, từ báo cáo định kỳ của Uỷ ban nhân dân các xã trên địa bàn huyện huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

6 Đóng góp của luận văn

- Là một công trình có sự gắn kết giữa phân tích lý luận với tổng kết thực tiễn địa phương, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc hoạch định, thực hiện các chủ trương, chính sách về quản lý hộ tịch ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh trong những năm tới;

- Với nội dung khoa học, phong phú, chuyên sâu, luận văn cũng có thể dùng làm tư liệu trong giảng dạy, học tập của sinh viên các trường khoa luật; đồng thời, là tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu các đề tài liên quan đến hộ tịch

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ

tịch

Chương 2 Thực trạng áp dụng pháp luật về hộ tịch trên địa bàn huyện Vũ

Quang, tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2011 đến năm 2016

Chương 3 Yêu cầu và Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng

pháp luật về hộ tịch ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay

Trang 11

6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG

ĐĂNG KÝ QUẢN LÝ HỘ TỊCH 1.1 Hộ tịch

1.1.1 Khái niệm Hộ tịch

“Hộ tịch” là một từ ngoại lai (gốc Hán) được du nhập vào Việt Nam từ rất lâu, được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập (hộ, tịch), trong đó “tịch” là thành tố chính Các từ điển tiếng Việt hiện nay khá thống nhất trong cách hiểu

về từng từ đơn này Theo đó, từ “hộ” - khi sử dụng là danh từ có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong đó có một nghĩa trực tiếp là “dân sự” hoặc “nhà ở”, hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những người cùng ăn ở với nhau” Tương tự, từ “tịch” có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc” Tuy nhiên, việc tổ hợp hai từ đơn này thành danh từ “hộ tịch” lại là một trường hợp rất đặc biệt về mặt ngôn ngữ, và được sử dụng với thuộc tính kết hợp hạn chế (hạn chế về việc sử dụng và khả năng tổ hợp của từ ngữ) Chính do tính chất đặc biệt ấy nên khảo cứu qua các từ điển tiếng Việt thì thấy có nhiều cách giải nghĩa từ “hộ tịch” rất khác nhau Các Từ điển Hán - Việt của nhiều tác giả khác nhau (Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Hoàng Thúc Trâm, Nguyễn Lân, Bửu Kế) đều có sự tương đồng và những khía cạnh khác biệt trong cách giải

nghĩa từ “hộ tịch” Theo đó: “Hộ tịch: Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức vụ và tịch quán của từng người”[2]; “Hộ tịch: Sổ biên dân số có ghi rõ họ, quê quán và chức vụ của từng người”[19]; “Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương[20]

Một số từ điển xuất bản gần đây lại giải nghĩa từ “hộ tịch” ở những khía

cạnh khác; theo đó, “Hộ tịch: Sổ của cơ quan dân chính đăng ký cư dân trong địa phương mình theo từng hộ” [47]; “Hộ tịch: Các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật” [48] Như vậy, nghĩa của từ “hộ

tịch” xét về góc độ ngôn ngữ còn nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí có cuốn

Trang 12

7

từ điển giải nghĩa còn thể hiện sự nhầm lẫn cơ bản giữa hai khái niệm “hộ tịch”

và “hộ khẩu” Điều này phản ánh một thực tế là sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này trong nhận thức xã hội là khá phổ biến

Khái niệm “hộ tịch” cũng là một trường hợp đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ định nghĩa một cách minh bạch, điều đó cũng có nghĩa là việc sử dụng nó không thuận tiện theo nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Trên thực tế, đã từng có những cuộc thảo luận trong giới chuyên môn về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng hơn, dễ hiểu hơn Tuy nhiên, do khái niệm này, trải qua một quá trình lịch sử đã dần trở thành ngôn ngữ phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân nên giải pháp đi tìm khái niệm Việt hoá thay thế không được lựa chọn, thay vào đó, các nhà xây dựng pháp luật đã dung hoà bằng giải pháp mà Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho phép, đó là sử dụng khái niệm này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản

Theo đó, định nghĩa về “hộ tịch” theo quy định của pháp luật hiện nay

được hiểu là: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết” [10]

1.1.2 Phân biệt giữa hộ tịch và hộ khẩu

Việc làm rõ các dấu hiệu phân biệt giữa quản lý hộ tịch và quản lý hộ khẩu là rất quan trọng và cần thiết, có ý nghĩa thiết thực Thực tế cho thấy, hiện nay có sự nhầm lẫn trong tư duy của nhiều người giữa khái niệm “hộ tịch” và hộ khẩu, cũng như sự nhầm lẫn về hoạt động quản lý hộ tịch và hoạt động quản lý

hộ khẩu trong nhận thức xã hội còn khá phổ biến Điều này có căn nguyên từ chính mô hình quản lý hộ tịch, hộ khẩu của nước ta trong suốt một thời gian dài trước năm 1987, khi cả hoạt động quản lý hộ tịch và hộ khẩu đều do ngành Nội

vụ (ngành Công an hiện nay) thực hiện Chính vì vậy, cũng cần khẳng định sự phân biệt này chỉ có nghĩa tương đối và là sự phân biệt trên quan điểm lịch sử cụ

Trang 13

8

thể theo mô hình quản lý của Nhà nước ta trong điều kiện pháp luật thực định hiện nay Điều đó cũng có nghĩa là, có những điểm phân biệt giữa hai hoạt động này sẽ không được chấp nhận nếu đặt chúng trong bối cảnh pháp luật thực định của quốc gia khác hoặc của chính pháp luật về quản lý hộ tịch, hộ khẩu tại Việt

Nam trong thời kỳ trước đây Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì “Đăng

ký và quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của Nhà nước nhằm xác định việc cư trú của công dân”.Như vậy, hoạt động quản lý hộ tịch và quản lý

hộ khẩu đều nằm trong phạm trù quản lý dân cư Tuy nhiên, hai khái niệm này được phân biệt ở những điểm cơ bản sau:

Xét về chủ thể quản lý: Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, thì quản

lý hộ tịch là hoạt động chuyên môn của ngành Tư pháp, còn quản lý hộ khẩu là hoạt động chuyên môn của ngành Công an Điểm phân biệt này chỉ đúng với pháp luật thực định của Việt Nam hiện nay, còn trước năm 1987, ngành Nội vụ (Công an hiện nay) thống nhất quản lý cả hai nhiệm vụ Mô hình này hiện vẫn được duy trì trong hoạt động quản lý dân cư của một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Đài Loan

Về đối tượng quản lý: Đối tượng của quản lý hộ khẩu chỉ là đặc điểm về

nơi cư trú của cá nhân, trong khi đó đối tượng quản lý của quản lý hộ tịch bao gồm tổng thể rất nhiều đặc điểm nhân thân của cá nhân: ngày, tháng, năm sinh, dân tộc, quốc tịch, nới sinh, quê quán, quan hệ hôn nhân

Xét về tính chất: Có thể thấy quản lý hộ tịch quan tâm đến các đặc điểm

nhân thân có tính bền vững của cá nhân, những đặc điểm này chỉ có thể được thay đổi trong những trường hợp đặc biệt, theo một thủ tục pháp lý chặt chẽ Trong khi đó, đặc điểm về nơi cư trú của cá nhân - đối tượng quản lý của hộ khẩu - là đặc điểm nhân thân có tính “động”, dễ thay đổi

Xét từ phương diện bảo vệ quyền nhân thân: Quản lý hộ khẩu chỉ là biện

pháp bảo vệ quyền tự do cư trú hợp pháp của cá nhân, còn quản lý hộ tịch là phương tiện để mỗi cá nhân thực hiện rất nhiều quyền nhân thân cơ bản của

Trang 14

9

mình Đơn vị “hộ” được dùng làm đơn vị quản lý dân cư của cả quản lý hộ tịch

và quản lý hộ khẩu nhưng trong quản lý hộ tịch, mối quan hệ giữa các thành viên trong hộ chỉ có thể là mối quan hệ gia đình hình thành trên cơ sở hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng; còn trong quản lý hộ khẩu, không nhất thiết các thành viên trong một đơn vị hộ khẩu phải có quan hệ gia đình với nhau mà chỉ cần ở chung một nhà cũng có thể cùng đăng ký theo một đơn vị hộ khẩu Mặc

dù có sự phân biệt khá rõ ràng như trên, nhưng trong thực tế đời sống của mỗi cá nhân, các vấn đề về hộ tịch và hộ khẩu có mối quan hệ hết sức mật thiết, trong

đó hoạt động đăng ký hộ tịch luôn là cơ sở, căn cứ làm phát sinh hoạt động đăng

ký hộ khẩu Ví dụ: Một đứa trẻ chỉ có thể được đăng ký tên vào sổ hộ khẩu gia

đình sau khi đã được cha mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh

Ngược lại, trong thủ tục đăng ký hộ tịch (khai sinh, khai tử, kết hôn) các giấy tờ về hộ khẩu (Sổ hộ khẩu hoặc Giấy xác nhận tạm trú có thời hạn) luôn là loại giấy tờ quan trọng cần có trong hồ sơ đăng ký hộ tịch Vai trò quan trọng của các giấy tờ hộ khẩu trong hoạt động đăng ký hộ tịch thể hiện ở chỗ nó là căn

cứ để xác định cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật

1.2 Áp dụng pháp luật về đăng ký quản lý hộ tịch

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm Áp dụng pháp luật

1.2.1.1 Khái niệm

Áp dụng pháp luật là một trong các hình thức thực hiện pháp luật, do vậy, việc xem xét khái niệm áp dụng pháp luật phải được bắt đầu từ việc xem xét khái niệm thực hiện pháp luật Theo Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội và giáo trình Lý luận chung về nhà nước và

pháp luật của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội thì “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [38] Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật là tuân theo, thi hành, sử

dụng và áp dụng pháp luật thì áp dụng pháp luật là hình thức cơ bản, chủ yếu và

Trang 15

10

quan trọng nhất Phần lớn các quy định của pháp luật chỉ có thể được thực hiện trong thực tế thông qua hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền Trong sách báo pháp lý Việt Nam, khái niệm áp dụng pháp luật được đề cập đến trong nhiều tác phẩm với nội dung có những điểm khác nhau nhất định Đa số các nhà nghiên cứu coi áp dụng pháp luật chỉ là một trong các hình thức thực hiện pháp luật

Theo đó, “áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức quyền lực nhà nước, do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân tổ chức, cụ thể” [40]

1.2.1.2 Đặc điểm

Áp dụng pháp luật nói chung là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước

Áp dụng pháp luật về hộ tịch có những đặc điểm chung của áp dụng pháp luật, ngoài ra do đặc thù về đối tượng áp dụng là quan hệ nhân thân nên có những đặc điểm riêng sau:

- Áp dụng pháp luật về hộ tịch là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước và chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành, đó chính là hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước Cụ thể ở cấp cơ sở là cán bộ tư pháp hộ tịch được nhà nước giao nhiệm vụ giải quyết đăng ký các hoạt động hộ tịch

- Áp dụng pháp luật về hộ tịch là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết

- Hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ Từ giai đoạn nhận hồ sơ, thụ lý hồ

sơ, ra quyết định giải quyết việc đăng ký hộ tịch đều phải theo đúng quy định của Luật Hộ tịch và văn bản hướng dẫn thi hành Đặc biệt áp dụng pháp luật trong đăng ký hộ tịch phải là một hoạt động mang tính khoa học và sáng tạo do cán bộ tư pháp hộ tịch thực hiện Bởi vì các quy định của pháp luật trong giải

Trang 16

11

quyết đăng ký hộ tịch mang tính chất chung chung, khái quát, song các trường hợp cụ thể trên thực tế lại rất đa dạng, phong phú, muôn hình vạn trạng Thêm vào đó, có những mối quan hệ xã hội mà khi xây dựng luật các nhà làm luật không thể dự liệu hết được nên đòi hỏi mỗi cán bộ tư pháp hộ tịch khi giải quyết từng việc đăng ký hộ tịch phải nhìn nhận, xem xét đánh giá để có thể áp dụng pháp luật đúng đắn, đảm bảo quyền lợi của công dân

1.2.2 Nguyên tắc, chủ thể, đối tượng, phạm vi trong đăng ký quản lý

hộ tịch

1.2.2.1 Nguyên tắc đăng ký quản lý hộ tịch

- Mọi sự kiện hộ tịch phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, chính xác; Mỗi

sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một nơi theo đúng thẩm quyền;

- Cơ quan quản lý hộ tịch cấp trên phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, chỉ đạo đối với cơ quan quản lý hộ tịch cấp dưới; trường hợp phát hiện thấy sai phạm phải chấn chỉnh, xử lý kịp thời; Cơ quan đăng ký hộ tịch phải niêm yết công khai, chính xác các quy định về giấy tờ mà người yêu cầu đăng

ký hộ tịch phải xuất trình hoặc nộp khi đăng ký hộ tịch, thời hạn giải quyết và lệ phí đăng ký hộ tịch

1.2.2.2 Chủ thể thực hiện quản lý đăng ký hộ tịch

* Chủ thể thực hiện quản lý hộ tịch ở nước ta hiện nay gồm:

- Chính phủ;

- Bộ, cơ quang ngang Bộ (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an)

- Ủy ban nhân dân (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã)

* Chủ thể thực hiện đăng ký hộ tịch gồm:

- Ủy ban nhân dân (cấp huyện, cấp xã) và cơ quan chuyên môn giúp việc cho Ủy ban nhân dân về vấn đề này (Phòng Tư pháp);

- Công chức trực tiếp làm công tác hộ tịch Ở cấp xã, chủ thể thực hiện việc đăng ký hộ tịch có:

Trang 17

12

- Công chức Tư pháp- hộ tịch là công chức cấp xã giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong đăng ký và quản lý hộ tịch Đối với những xã, thị trấn có đông dân cư, số lượng công việc hộ tịch nhiều, thì phải

có công chức chuyên trách làm công tác hộ tịch, không kiêm nhiệm các công tác

tư pháp khác

- Chủ tịch UBND cấp xã (hoặc Phó chủ tịch được phân công) cấp xã thực hiện việc ký các giấy tờ hộ tịch mà công chức hộ tịch đã tổ chức thực hiện

1.2.2.3 Đối tượng quản lý hộ tịch

Là một hoạt động quản lý con người, hoạt động quản lý hộ tịch hướng đến các đối tượng quản lý là các đặc điểm nhân thân làm nên căn cước của mỗi cá nhân Tuy nhiên, các yếu tố thuộc về căn cước của mỗi người rất phong phú và

là đối tượng quản lý của nhiều hoạt động khác nhau Do vậy, để phân biệt đối tượng của quản lý hộ tịch với đối tượng quản lý của một số hoạt động quản lý thuộc phạm trù quản lý căn cước con người như: quản lý hộ khẩu, quản lý lý lịch tư pháp, quản lý chứng minh nhân dân cần phải xem xét, xác định phạm vi của quản lý hộ tịch

Căn cước của mỗi cá nhân được hình thành từ rất nhiều đặc điểm nhân thân gắn liền cá nhân đó như: họ tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, nghề nghiệp, quê quán, nơi sinh, nơi cư trú, các mối quan hệ gia đình, quan hệ hôn nhân, năng lực hành vi dân sự, tình trạng tiền án, tiền sự Tất cả những dấu hiệu đặc trưng đó bảo đảm cho việc phân biệt chính xác một cá nhân này với một cá nhân khác Nghiên cứu về vấn đề này, tác giả căn cứ vào mức độ

ổn định của các dấu hiệu nhân thân để phân loại chúng thành các nhóm cơ bản sau:

- Nhóm dấu hiệu nhân thân không bao giờ thay đổi gồm: ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; quan hệ gia đình (cha - mẹ - con, anh chị - em); ngày, tháng, năm chết;

Trang 18

13

- Nhóm dấu hiệu nhân thân có thể thay đổi nhưng chỉ hạn chế trong một

số trường hợp nhất định và việc thay đổi phải được tiến hành theo thủ tục rất chặt chẽ gồm: họ tên, dân tộc, giới tính, quan hệ hôn nhân;

- Nhóm dấu hiệu dễ thay đổi bao gồm: nghề nghiệp, nơi cư trú, tình trạng tiền án…

Tuy nhiên, có thể nói rằng ngoài tiêu chí là mức độ ổn định của các dấu hiệu nhân thân, các đặc điểm nhân thân của mỗi cá nhân có thể phân loại theo tiêu chí mức độ công khai hoặc tiêu chí khả năng thu thập, công bố thông tin về các đặc điểm nhân thân Theo các tiêu chí này, có thể thấy một số đặc điểm nhân thân như: tình trạng tiền án, tiền sự thuộc loại đặc điểm nhân thân có sự hạn chế tính công khai cũng như khả năng thu thập, công bố thông tin về các đặc điểm nhân thân này Việc phân loại đặc điểm nhân thân theo các tiêu chí này có ý nghĩa rất quan trọng vì nó liên quan đến vấn đề xác định giới hạn của những thông tin thuộc về bí mật đời tư của mỗi cá nhân, đồng thời, nó cũng quyết định tính chất, phương thức quản lý nhà nước đối với các nhóm thông tin về đặc điểm nhân thân khác nhau

Tất cả các đặc điểm nhân thân của cá nhân nói trên đều là đối tượng quản

lý của hoạt động quản lý nhà nước về căn cước của cá nhân

1.2.2.4 Phạm vi quản lý về hộ tịch

Nhìn từ góc độ đối tượng quản lý thì phạm vi quản lý hộ tịch không chỉ giới hạn trong đối tượng công dân Việt Nam mà còn bao gồm cả người nước ngoài, người không quốc tịch

Phạm vi quản lý đó được thể hiện thông qua các nội dung quản lý đã được nêu trong Luật Hộ tịch bao gồm: Quản lý các sự kiện sinh, tử, kết hôn, nuôi con nuôi, nhận cha, mẹ, con, giám hộ; Quản lý việc thay đổi hộ tịch; cải chính hộ tịch; bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc; Quản lý sự thay đổi các đặc điểm nhân thân do các sự kiện ly hôn; xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; chấm dứt nuôi con nuôi

Trang 19

14

1.2.3 Vị trí, vai trò của quản lý hộ tịch

Trong xã hội hiện đại, khi mà khái niệm quyền con người đã được nhận thức như một giá trị chung của nhân loại thì cùng với nó, hầu như tất cả các quốc gia đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc quản lý hộ tịch Nếu như hoạt động quản lý dân cư được coi là nội dung quan trọng hàng đầu trong tổng thể hoạt động quản lý xã hội thì quản lý hộ tịch, với các lợi ích, giá trị tiềm tàng của nó, được coi là mắt khâu của hoạt động quản lý dân cư Việc quản

lý nhà nước về hộ tịch và đăng ký hộ tịch có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ với công tác quản lý nhà nước mà còn cả đối với việc bảo hộ các quyền dân sự của công dân

Thứ nhất, đối với công tác quản lý nhà nước: quản lý hộ tịch là công việc

thường xuyên của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện để theo dõi thực trạng và sự thay đổi về hộ tịch, là phương tiện hữu hiệu để Nhà nước quản

lý dân cư Thông qua việc đăng ký các thông tin cơ bản của từng cá nhân công dân, Nhà nước sẽ xác định được các mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ của từng công dân đồng thời theo dõi được những thay đổi trong dân cư như: tình trạng sinh, tử, kết hôn để phục vụ cho việc hoạch định các chính sách về kinh tế - xã hội, xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và chính sách dân

số, kế hoạch hoá gia đình Một hệ thống quản lý dữ liệu hộ tịch đầy đủ, chính xác được cập nhật kịp thời, thường xuyên sẽ là nguồn tài sản thông tin hết sức quý giá luôn sẵn sàng hỗ trợ một cách đắc lực cho việc hoạch định các chính sách xã hội một cách chính xác, có tính khả thi, tiết kiệm chi phí xã hội Đối với quốc gia có kết cấu dân cư đa dạng về thành phần dân tộc như Việt Nam, quản

lý hộ tịch còn góp phần rất quan trọng vào việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách phát triển kinh tế, xã hội các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa Những thông tin định lượng chính xác về tình hình dân cư có được qua quản lý

hộ tịch rất cần thiết đối với việc xây dựng chiến lược con người, bảo vệ và phát

Trang 20

15

triển cộng đồng dân tộc ít người, tổ chức thực hiện tốt chính sách định canh, định cư, hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế, xã hội có hiệu quả

Thứ hai, hoạt động quản lý và đăng ký hộ tịch thể hiện tập trung nhất,

sinh động nhất sự tôn trọng của Nhà nước đối với việc thực hiện một số quyền nhân thân cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và trong Mục 2, Chương III của Bộ luật Dân sự như: quyền đối với họ tên; quyền xác định, xác định lại dân tộc; quyền được khai sinh, khai tử; quyền đối với quốc tịch; quyền của cá nhân đối với hình ảnh; quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền được bảo vệ danh sự, nhân phẩm, uy tín; quyền xác định lại giới tính; chuyển đổi giới tính; quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; quyền nhân thân trong hôn nhân

và gia đình Ở phương diện này, đăng ký hộ tịch chính là phương tiện để người dân thực hiện, hưởng thụ các quyền nhân thân đó Với các nội dung nói trên, việc đăng ký hộ tịch sẽ tạo điều kiện để Nhà nước thừa nhận và bảo hộ các quyền dân sự của công dân và chỉ khi được Nhà nước thừa nhận, những sự kiện

“cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người” mới có giá trị pháp lý và được Nhà nước bảo hộ Các dữ liệu về căn cước của mỗi cá nhân thể hiện trên chứng thư hộ tịch (giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn) là sự khẳng định có giá trị pháp lý về đặc điểm nhân thân của mỗi người, mà qua đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thể đánh giá người đó có khả năng, điều kiện để tham gia vào các quan hệ pháp luật nhất định hay không Hành vi đăng ký khai sinh của

cơ quan hộ tịch đánh dấu điểm khởi đầu của hoạt động quản lý nhà nước đối với từng người dân, đồng thời cũng là điểm khởi đầu cho mọi mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước Từ góc độ lý luận về Nhà nước và pháp luật, ở phương diện này có thể khẳng định, quản lý hộ tịch là một lĩnh vực hoạt động thể hiện sâu sắc chức năng xã hội của Nhà nước Với ý nghĩa quan trọng như vậy, việc Nhà nước tổ chức quản lý, đăng ký hộ tịch chính là sự bảo hộ đối với việc thực hiện các quyền con người Điều này chỉ có trong các xã hội mà nền dân chủ

Trang 21

16

được mở rộng và phát huy, khi mà các giá trị quyền con người được Nhà nước tôn trọng và có trách nhiệm bảo hộ

Thứ ba, quản lý hộ tịch có vai trò to lớn đối với việc bảo đảm trật tự xã

hội Hệ thống sổ bộ hộ tịch có thể giúp việc truy nguyên nguồn gốc của cá nhân một cách dễ dàng Các chứng thư hộ tịch do người có thẩm quyền lập theo thủ tục chặt chẽ có giá trị là sự khẳng định chính thức của Nhà nước về vị thế của một cá nhân trong gia đình và xã hội

Trong lĩnh vực hoạt động tư pháp, khi cần đánh giá năng lực chủ thể của

cá nhân, các cơ quan tiến hành tố tụng luôn cần đến Giấy khai sinh của cá nhân

đó Khi sử dụng với tính cách là chứng cứ, các thông tin thể hiện trên giấy khai sinh có thể giúp cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá nhiều vấn đề trong các vụ án hình sự, dân sự, lao động

1.2.4 Nội dung, trình tự, thẩm quyền áp dụng pháp luật về quản lý

hộ tịch

1.2.4.1 Đăng ký khai sinh

Đăng ký khai sinh là biện pháp đầu tiên của quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch Thông qua quản lý hành chính trong lĩnh vực đăng ký khai sinh đã giúp cho Nhà nước theo dõi được sự biến động tự nhiên của dân số, từ đó, đề ra các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước cũng như trong từng địa phương; mặt khác đăng ký khai sinh một cách đầy

đủ, chính xác là bảo vệ quyền của trẻ em được đăng ký khai sinh ngay từ khi sinh ra theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế

* Thẩm quyền đăng ký khai sinh

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã), nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh

Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ

sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó

* Thời hạn đi khai sinh và trách nhiệm khai sinh

Trang 22

17

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông, bà hoặc những người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em

* Thủ tục đăng ký khai sinh

Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em

bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy địnhpháp luật

Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, công chức Tư pháp hộ tịch ghi nội dung khai sinh vào Sổ đăng ký khai sinh, cập nhật vào cơ sỡ dữ liệu hộ tịch điện

tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy số định danh cá nhân

Công chức tư pháp- hộ tịch và người đăng ký khai sinh cùng ký tên vào

Sổ hộ tịch Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh Bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh

* Thẩm quyền, thủ tục đăng ký lại khai sinh

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh, kết hôn trước đây hoặc

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện việc đăng ký lại Khi đăng ký lại việc sinh nếu người đi đăng ký lại xuất trình bản sao giấy tờ

đã cấp hợp lệ trước đây, thì nội dung khai sinh được ghi theo nội dung của bản sao giấy tờ hộ tịch đó Trường hợp đăng ký lại việc sinh cho người không có bản sao Giấy khai sinh đã cấp trước đây, nhưng đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ

hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ

Trang 23

18

đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên

1.2.4.2 Đăng ký kết hôn

Quyền kết hôn là một trong những quyền đầu tiên trong lĩnh vực hôn nhân

và gia đình của mỗi con người Từ đó phát sinh ra những quan hệ pháp lý giữa

vợ, chồng, cha, mẹ, con, giữa ông bà nội, ngoại và cháu

* Thẩm quyền đăng ký kết hôn

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn

* Thủ tục đăng ký kết hôn

Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân; Sổ hộ khẩu của một trong hai bên nam nữ - nơi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn

Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì UBND cấp xã nơi đơn vị đó làm việc, đóng quân xác nhận tình trạng hôn nhân (trừ trường hợp cán bộ, chiến sĩ có chổ

ở hợp pháp khác mà người đó thường xuyên sinh sống); Việc xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận

Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày

Trang 24

* Cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Người có yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải nộp tờ khai Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (theo mẫu); Giấy cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về cam đoan của mình (Áp dụng cho những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau và UBND cấp xã nơi xác nhận không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở nơi đó) UBND cấp xã giải quyết ngay sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, nếu phải xác minh thì thời hạn không quá 03 ngày

1.2.4.3 Đăng ký khai tử

Đăng ký khai tử là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện chết của một người và ghi vào Sổ đăng ký khai tử Trên cơ sở đó, chấm dứt quan hệ của người đó đối với gia đình, xã hội đồng thời phát sinh quyền và nghĩa vụ của thân nhân người chết

* Thẩm quyền đăng ký khai tử

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử

Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử

* Thời hạn đi khai tử và trách nhiệm khai tử

Trang 25

20

Thời hạn đi khai tử là 15 ngày, kể từ ngày chết Thân nhân của người chết

có trách nhiệm đi khai tử; nếu người chết không có thân nhân, thì chủ nhà hoặc người có trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, nơi người đó cư trú hoặc công tác trước khi chết đi khai tử

1.2.4.4 Đăng ký nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi là một việc làm nhân đạo mang tính xã hội cao, mục đích của việc đăng ký nhận nuôi con nuôi là nhằm đem lại lợi ích tốt nhất, tìm mái

ấm gia đình cho trẻ em khi trẻ em đó không nhận được sự chăm sóc nuôi dưỡng

từ cha mẹ, họ hàng hay người thân thích Việc nuôi con nuôi chỉ có giá trị pháp

lý khi đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mọi hình thức nuôi con nuôi trên thực tế không được pháp luật công nhận

* Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi:

UBND cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi hoặc của người

được nhận làm con nuôi

* Trình tự đăng ký việc nuôi con nuôi

Người nhận con nuôi phải trực tiếp nộp hồ sơ nhận con nuôi (hồ sơ được quy định cụ thể trong Luật nuôi con nuôi 2010) cho Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi

đăng ký việc nuôi con nuôi Trước khi đăng ký việc nuôi con nuôi, cán bộ Tư pháp hộ tịch phải kiểm tra, xác minh kỹ các nội dung sau đây:

+ Tính tự nguyện của việc cho và nhận con nuôi;

+ Tư cách của người nhận con nuôi;

Trang 26

xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Giấy chứng nhận nuôi con nuôi Bản sao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi được cấp theo yêu cầu của các bên cho và nhận con nuôi Bên cho con nuôi có trách nhiệm giao cho cha, mẹ nuôi bản chính Giấy khai sinh của con nuôi

1.2.4.5 Đăng ký giám hộ

Giám hộ là việc cá nhân hoặc cơ quan nhà nước được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ (người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự) Giám hộ là một chế định thể hiện tính nhân văn của pháp luật xã hội chủ nghĩa nhằm bảo vệ các quyền của công dân

* Thẩm quyền đăng ký việc giám hộ

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người được giám hộ hoặc người dám hộ thực hiện đăng ký giám hộ

* Thủ tục đăng ký việc giám hộ

Người được cử làm giám hộ phải nộp Giấy cử giám hộ Giấy cử giám hộ

do người cử giám hộ lập; nếu có nhiều người cùng cử một người làm giám hộ, thì tất cả phải cùng ký vào Giấy cử giám hộ Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc giám hộ đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã đăng ký việc giám hộ Khi đăng ký việc giám hộ, người cử giám hộ và người được cử làm giám hộ phải có mặt Cán bộ

Trang 27

22

Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch và cùng người đi đăng ký giám hộ ký vào sổ

hộ tịch Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp trích lục cho người yêu cầu Bản sao trích lục công nhận việc giám hộ được cấp theo yêu cầu của người giám

hộ và người cử giám hộ Trong trường hợp người được giám hộ có tài sản riêng, thì người cử giám hộ phải lập danh mục tài sản và ghi rõ tình trạng của tài sản

đó, có chữ ký của người cử giám hộ và người được cử làm giám hộ Danh mục

tài sản được lập thành 3 bản, một bản lưu tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đăng

ký việc giám hộ, một bản giao cho người giám hộ, một bản giao cho người cử giám hộ

1.2.4.6 Đăng ký việc nhận cha, mẹ, con

Đăng ký việc nhận cha, mẹ, con là cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ cụ thể giữa cha, mẹ, con, quyền thừa kế Pháp luật về hộ tịch quy định việc đăng ký nhận cha, mẹ, con trên nguyên tắc việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không

có tranh chấp Đăng ký nhận cha, mẹ, con chỉ được thực hiện trong trường hợp người xin nhận và người được nhận là cha, mẹ, con phải còn sống vào thời điểm đăng ký

* Điều kiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con

Việc nhận cha, mẹ, con theo quy định tại Mục này được thực hiện, nếu bên nhận, bên được nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con và việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp Người con đã thành niên hoặc người giám hộ của người con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự cũng được làm thủ tục nhận cha, mẹ theo quy định tại Mục này, trong trường hợp cha, mẹ đã chết; nếu việc nhận cha, mẹ là tự nguyện và không có tranh chấp

* Thẩm quyền đăng ký việc nhận cha, mẹ, con

Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận

là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con

* Thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ, con

Trang 28

23

Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định

và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định

ở trên, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con

ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá

có sự sai sót do ghi chép của cán bộ Tư pháp hộ tịch hoặc do sự khai báo nhầm lẫn Trường hợp yêu cầu cải chính hộ tịch trong Giấy khai sinh do đương sự cố tình sửa chữa sai sự thật đã đăng ký trước đây để hợp thức hoá các hồ sơ, giấy tờ

cá nhân hiện tại thì không được giải quyết Việc xác định lại dân tộc cho mỗi cá nhân là thể hiện việc tôn trọng quyền nhân thân của mỗi cá nhân đối với thành phần dân tộc và là sự tôn trọng quyền bình đẳng dân tộc, bản sắc văn hoá, truyền thống của dân tộc với tư cách là cộng đồng

* Phạm vi thay đổi hộ tịch

Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự Thay đổi thông tin về

Trang 29

24

cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi

theo quy định của Luật nuôi con nuôi

* Thẩm quyền đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước

* Thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch

- Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức

tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu

- Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn

- Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc

- Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng

ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch

- Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch

* Thủ tục bổ sung hộ tịch

Trang 30

bổ sung vào mục tương ứng trong Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu ký tên vào Sổ

hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu

Trường hợp bổ sung hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung bổ sung vào mục tương ứng và đóng dấu vào nội dung bổ sung

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch ở cơ sở

Hệ thống pháp luật về hộ tịch, Hiện nay, cơ sở pháp lý về đăng ký, quản

lý hộ tịch được quy định cụ thể trong Luật Hộ tịch 2014, Nghị định 123/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều

và biện pháp thi hành Luật hộ tịch Đó là các quy định về hộ tịch, quyền, nghĩa

vụ, nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ

tịch

Ngoài ra, cơ sở pháp lý về đăng ký và quản lý hộ tịch còn được quy định tại các văn bản liên quan đến hộ tịch và đăng ký hộ tịch trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (quy định về quyền nhân thân), Luật Trẻ em 2016 (quy định về quyền được đăng ký khai sinh và có quốc tịch), Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (quyền kết hôn, nhận cha mẹ con…), Luật Nuôi con nuôi năm 2010 (những quy định chung về nuôi con nuôi, quy định về nuôi con nuôi trong nước và nuôi con

Trang 31

- Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch;

- Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi;

- Thông tư số 20/2015/TT-BTP ngày 29/12/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP;

- Thông tư số 04/2016/TT-BTP ngày 03/03/2016 của Bộ tư pháp quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp;

- Thông tư số 24/2014/TT-BTP ngày 29/12/2014 của Bộ Tư pháp sửa đổi,

bổ sung một số điều của Thông tư 12/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi;

- Thông tư số 12/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi

1.2.6 Tiêu chí đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch

1.2.6.1 Khái niệm

Theo Từ điển tiếng Việt, tiêu chí là “tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại một sự vật, một khái niệm” 42

Trang 32

27

Như vậy, có thể hiểu, tiêu chí để đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch là những tính chất, dấu hiệu để đo mức độ đạt được của mục đích của hoạt động đăng ký, quản lý hộ tịch, hay nói cách khác, là tập hợp những căn cứ để nhìn nhận, đánh giá kết quả, tác dụng (tác động) của áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch

* Chất lượng áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch

Hiệu quả áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch thể hiện rõ nét nhất, cơ bản nhất qua chất lượng áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch Chất lượng, theo Từ điển tiếng Việt, là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” 42 Như vậy, có thể hiểu, chất lượng áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch là những phương thức, những công việc mà cơ quan nhà nước đã thực hiện một cách đúng đắn nhất, phù hợp nhất, đạt kết quả cao nhất để đem lại hiệu quả của việc áp dụng pháp luật

* Chủ thể Áp dụng pháp luật thực hiện chức năng, nhiệm vụ hợp lý trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định

Chủ thể áp dụng pháp luật là người được Nhà nước giao trách nhiệm tổ chức thi hành nhiệm vụ Khi áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch, cán

bộ tư pháp - hộ tịch có tư cách là người thực hiện công vụ, nhân danh công quyền đồng thời phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về các quyết định của mình

* Đảm bảo sự công bằng, bình đẳng, dân chủ và tiết kiệm nhất trong khi áp dụng pháp luật

Trang 33

28

Hiệu quả áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch còn thể hiện ở việc đảm bảo được sự công bằng, bình đẳng và dân chủ trong đăng ký quản lý hộ tịch Sự công bằng, bình đẳng trong thi hành nhiệm vụ thể hiện ở chỗ mọi đối tượng đều phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật, không phân biệt đối xử giữa người dân với cán bộ, công chức nhà nước hoặc với người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan công quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội; giữa người dân với cơ quan công quyền;

* Sự thay đổi theo hướng tích cực trong nhận thức và hành vi của các tổ chức, cá nhân đối với công tác đăng ký quản lý hộ tịch

Sự thay đổi theo hướng tích cực trong nhận thức và hành vi của các tổ chức, cá nhân đối với công tác đăng ký quản lý hộ tịch là một biểu hiện để đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch theo cách tiếp cận đưa pháp luật vào cuộc sống Bởi vì, áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch có hiệu quả, đảm bảo công bằng, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân sẽ có những tác động rất lớn đến đời sống xã hội

* Các chi phí cho áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch

Khi đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch, cũng cần thiết phải xem xét đến các yếu tố sau:

Thứ nhất, các nguồn lực cho hoạt động đăng ký quản lý hộ tịch , bao gồm:

nhân lực (đội ngũ công chức Tư pháp), vật lực (trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc, văn phòng phẩm, các loại tài liệu)

Thứ hai, tất cả các khoản chi phí chi cho việc tổ chức đăng ký quản lý hộ

tịch như thời gian vật chất làm việc của công chức Tư pháp hộ tịch; trả thù lao, bồi dưỡng cho những người tham gia vào việc đăng ký quản lý hộ tịch; khấu hao tài sản, các chi phí vô hình và hữu hình;

Như vậy, đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật trong đăng ký quản lý hộ tịch chính là việc xem xét, nhìn nhận công tác đăng ký quản lý hộ tịch có thực hiện được những vấn đề đặt ra như trên hay không

Trang 34

29

Kết luận Chương 1

Quyền nhân thân có nguồn gốc lịch sử lâu dài và phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử nhân loại Trong Chương 1, chúng tôi phân tích một cách khái quát quá trình phát triển của pháp luật về hộ tịch đồng thời đưa ra những khái niệm khái quát nhất về hộ tịch, áp dụng pháp luật về hộ tịch Quản lý hộ tịch là công việc thường xuyên của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện để theo dõi thực trạng và sự thay đổi về hộ tịch, là phương tiện hữu hiệu để Nhà nước quản lý dân cư Thông qua việc đăng ký các thông tin cơ bản của từng

cá nhân công dân, Nhà nước sẽ xác định được các mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ của từng công dân đồng thời theo dõi được những thay đổi trong dân

cư Khi nghiên cứu pháp luật về hộ tịch cần phải xác định rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền này, đây chính là lý do mà một phần trong nội dung Chương

1 chúng tôi đã phân tích làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc quy

định đăng ký hộ tịch

Trang 35

30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH

TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2016

2.1 Tình hình, đặc điểm có liên quan đến việc áp dụng pháp luật về

hộ tịch ở huyện Vũ Quang, Tỉnh Hà Tĩnh

2.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Vũ Quang

Huyện Vũ Quang được thành lập theo Nghị định số 27/2000/NĐ-CP ngày 04-08-2000 của Chính phủ, là huyện miền núi biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hà Tĩnh Phía Đông của huyện Vũ Quang giáp huyện Đức Thọ, phía Nam giáp huyện Hương Khê, phía Bắc giáp huyện Hương Sơn và phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Với diện tích tự nhiên 64.615 km2, có 43 km đường biên giới chung với nước bạn Lào, 22 km đường Hồ Chí Minh đi qua địa bàn, có 12 xã, thị trấn gồm 79 thôn xóm, 80.152 nhân khẩu, dân cư sống không tập trung Nguồn thu nhập chính của người dân địa phương chủ yếu là sản xuất

nông nghiệp [43]

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế, xã hội huyện Vũ Quang

Sau hơn 15 năm thành lập (2000- 2016), Vũ Quang đã phát triển toàn diện

về mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Kinh tế đã liên tục phát triển, tăng trưởng luôn ở mức cao

Cơ cấu kinh tế phát triển mạnh theo hướng đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch, chất lượng, và phát triển thương mại dịch vụ Cơ sở hạ tầng được chú ý đầu tư; văn hóa - xã hội có nhiều thay đổi khả quan An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững Công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị đạt được những thành tựu đáng tự hào

2.1.2.1 Về kinh tế

Là huyện sản xuất nông nghiệp chủ yếu phát triển theo hướng chăn nuôi

và trồng cây ăn quả có múi… Về công nghiệp có nhà máy chế biến gỗ ván ép Thanh Thành Đạt, nhà máy Sắt Vũ Quang

Trang 36

31

Từ năm 2011, huyện đã quan tâm đầu tư, hỗ trợ chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, nâng cao hiệu quả kinh tế trên đất canh tác Hình thành các vùng chăn nuôi lợn tập trung như ở các xã: Đức Lĩnh, Đức Hương, Hương Minh Mô hình trồng cam đã được thực hiện ở các xã Đức Bồng, Đức Lĩnh, Hương Thọ, Sơn Thọ Trong những năm qua, huyện gặp phải nhiều khó khăn do lạm phát, khủng hoảng kinh tế và thiên tai, đặc biệt là những hậu quả của việc mưa lũ, úng lụt; nhưng nhìn tổng thể, Vũ Quang đã có những bước phát triển khá vững chắc cả về kinh tế, quốc phòng và an ninh Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế đến năm 2016 đạt 1.969.774 triệu đồng; cơ cấu kinh

tế dịch chuyển theo hướng giảmcông nghiệp, tăng nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ Thống kê số liệu năm 2016 cho thấy: chỉ tiêu về công nghiệp, xây dựng cơ bản đạt 24,9%, thương mại và dịch vụ đạt 31,2%, nông nghiệp đạt 43,9% Thu nhập bình quân đầu người của Vũ Quang là 28,95 triệu đồng/người/năm Trước những diễn biến phức tạp của thời tiết và những khó khăn chung của nền kinh tế, Ủy ban nhân dân huyện đã tập trung chỉ đạo, triển khai, thực hiện những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội; năm 2015 giành 10 tỷ đồng để hỗ trợ phát triển kinh tế, khuyến khích nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên kinh tế của huyện được duy trì và tăng trưởng

Hướng phát triển trong những năm tới của huyện tập trung vào việc đẩy mạnh phát triển sản xuất, hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2017 và những năm tiếp theo Trong đó, chú trọng sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa giá trị cao; xây dựng nông thôn mới hiện đại, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh thương mại, dịch vụ, nâng cao đời sống, dân trí, môi trường sinh thái, tăng cường xây dựng khối liên minh công nông trí thức, đặc biệt, quan tâm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn Khắc phục những khó khăn do đặc thù khách quan, như quy hoạch, ô nhiễm môi trường ; phát huy truyền thống cách mạng, năng động, tiếp tục chủ động khai thác nguồn

Trang 37

32

lực, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nông nghiệp sạch, tạo ra hàng hóa có sức cạnh tranh, phát triển bền vững, xây dựng Vũ Quang thành điểm sáng về phát triển kinh tế

2.1.2.2 Về y tế, văn hóa - xã hội

- Về y tế: Mạng lưới y tế trong toàn huyện gồm có 12 trạm y tế xã, thị trấn

đạt 100% số xã, thị trấn trên toàn huyện có trạm y tế Các trạm y tế đều đảm bảo

về cơ sở vật chất và có bác sĩ Hàng năm đã tổ chức khám chữa bệnh cho hơn 15.000 lượt người, chủ động phòng chống dịch bệnh, tổ chức các hoạt động truyền thông dân số, kế hoạch hóa gia đình, góp phần giảm tỷ lệ tăng dân số

- Về văn hóa - xã hội: Trình độ dân trí tại huyện không đồng đều, khu vực

thị trấn và các xã trung tâm có trình độ dân trí cao hơn khu vực nông thôn; chất lượng lao động của huyện nhìn chung còn chưa đáp ứng được yêu Sự nghiệp giáo dục - đào tạo tiếp tục được giữ vững ổn định và có bước phát triển đáp ứng được yêu cầu của nhân dân …

2.1.3 Đội ngũ cán bộ tư pháp - hộ tịch

Trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay, yêu cầu của công tác xây dựng pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền chủ nghĩa Việt Nam trong xu hướng hội nhập quốc tế đã, đang và sẽ tác động mạnh tới toàn bộ tổ chức và hoạt động của ngành Tư pháp, đặc biệt là tư pháp xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là tư pháp cấp xã) Bởi cơ sở là nơi trực tiếp đưa các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống và kiểm nghiệm tính đúng đắn của các chủ trương, chính sách, pháp luật đó Đối với ngành Tư pháp kết quả thực tiễn hoạt động tư pháp cơ sở của đội ngũ công chức tư pháp hộ tịch không chỉ là thước đo mà còn là động lực phát triển của toàn ngành Tư pháp

Trong cơ cấu tổ chức của Uỷ ban nhân dân cấp xã hiện nay, cán bộ tư pháp hộ tịch là công chức chuyên trách có nhiệm vụ giúp Uỷ ban nhân dân cấp

xã trên địa bàn thực hiện quản lý và đăng ký hộ tịch Theo quy định của pháp luật, cán bộ tư pháp ở cấp xã phải có đầy đủ các tiêu chuẩn của cán bộ tư pháp

Trang 38

bộ tư pháp hộ tịch cấp xã trên địa bàn huyện Vũ Quang hiện nay [xem phụ lục 4]

Về số lượng: Huyện Vũ Quang có 5 xã có 02 cán bộ tư pháp - hộ tịch /1

xã Trong tổng số 17 cán bộ thì nam giới là 13, còn lại 4 cán bộ nữ;

Về chất lượng: Trình độ văn hóa: đã tốt nghiệp trung học phổ thông:

17/17 cán bộ Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ Luật 01/17; Đại học Luật và tương đương 8/17; Trung cấp Luật: 08/17; chưa qua đào tạo 00 Như vậy tỷ lệ cán bộ

tư pháp cấp xã có trình độ văn hóa trung học phổ thông trở lên là 100% Cán bộ

có trình độ chuyên môn Thạc sỹ Luật là 5,8% Cán bộ có trình độ chuyên môn Đại học Luật và tương đương là 47,1% Cán bộ có trình độ chuyên môn Trung cấp Luật là 47,1% Cán bộ chưa được đào tạo chuyên môn là 00%

Về độ tuổi: Cán bộ có độ tuổi dưới 30 là: 03 cán bộ, chiếm tỷ lệ 17,64%;

trong độ tuổi từ 30 - 40 là: 8 cán bộ chiếm tỷ lệ 47,07%; trên 40 tuổi là 06 cán

bộ, tỷ lệ 35,29% Như vậy cán bộ trẻ, được đào tạo chuyên môn hiện nay ngày càng được nâng cao Trong tổng số 17 cán bộ tư pháp hộ tịch xã trên địa bàn huyện Vũ Quang có 03 cán bộ hợp đồng không nằm trong biên chế của Nhà nước, con số này chiếm tỷ lệ 17,64%

2.2 Kết quả áp dụng pháp luật về hộ tịch trên địa bàn huyện Vũ Quang từ năm 2011 đến năm 2016

Qua việc đề cập khái quát về kinh tế - xã hội của huyện Vũ Quang trên đây cho thấy đây là một huyện chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, các vùng nông thôn được hình thành từ lâu đời nay Hiện nay, dân số của huyện tăng nhanh chủ yếu do biến động cơ học, vì vậy việc đăng ký và quản lý hộ tịch

Trang 39

34

trong đó chủ yếu là thực hiện đăng ký khai sinh và khai tử không tránh khỏi những khó khăn, phức tạp Song dưới sự lãnh đạo của huyện Vũ Quang và sự quan tâm chỉ đạo của Sở Tư pháp Hà Tĩnh và tinh thần trách nhiệm của các xã, thị trấn và toàn thể cán bộ, công chức ngành tư pháp từ huyện đến các cơ sở nên công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã đạt được những kết quả tốt, góp phần tích cực xây dựng huyện Vũ Quang an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn được giữ vững và ổn định, kinh tế, văn hóa xã hội luôn được phát triển góp phần xây dựng huyện Vũ Quang vững mạnh, giàu đẹp, văn minh

2.2.2 Những kết quả đạt được

2.2.2.1 Hoạt động ban hành văn bản quản lý nhà nước về hộ tịch và phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch trên địa bàn huyện

a) Ban hành các văn bản quản lý nhà nước đối với hộ tịch

Để việc đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn huyện được thực hiện đúng các quy định của pháp luật, Uỷ ban nhân dân huyện hàng năm đều ban hành kế hoạch trọng tâm công tác tư pháp Chẳng hạn, Kế hoạch số 19/KH-UBND ngày 19-01-2011 của Ủy ban nhân dân huyện về trọng tâm công tác tư pháp trên địa bàn huyện năm 2011, Kế hoạch số 20/KH-UBND ngày 22-01-

2015 về việc Thực hiện nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp năm 2015 trên địa bàn huyện Vũ Quang, nhằm củng cố và năng cao vai trò, trách nhiệm của ngành

tư pháp từ huyện đến cơ sở trong công tác quản lý nhà nước trên địa bàn huyện Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch vững mạnh theo hướng nâng cao đạo đức công vụ, chuyên nghiệp, hiện đại; tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ công tác tư pháp để phục vụ một cách hiệu quả những nhiệm vụ về phát triển kinh tế xã hội của huyện; nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các ngành các cấp về công tác tư pháp; đảm bảo triển khai thực hiện một cách đồng bộ, có hiệu quả công tác tư pháp trên địa bàn huyện trong đó có công tác hộ tịch để Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện, trong đó

có công tác đăng ký và quản lý hộ tịch Uỷ ban nhân dân huyện yêu cầu làm tốt

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bình An (2014), “Bịt kẽ hở trong việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân”, Báo Pháp luật Việt Nam, (151), tr.5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bịt kẽ hở trong việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân”, Báo Pháp luật Việt Nam
Tác giả: Bình An
Năm: 2014
2. Đào Duy Anh (1998), Giản yếu Hán – Việt, quyển thượng, tr.9, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu Hán – Việt, quyển thượng
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1998
3. Bộ Tư pháp (2008), Thông tư số 01/2008/TT- BTP ngày 02/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/52005 về việc đăng ký và quản lý hộ tịch, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 01/2008/TT- BTP ngày 02/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/52005 về việc đăng ký và quản lý hộ tịch
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2008
4. Bộ Tư pháp (2010), Thông tư số 08a/2010/TT-BTP ngày 25/3/2010 của Bộ Tư pháp ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng số, biểu mẫu hộ tịch,Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2010), "Thông tư số 08a/2010/TT-BTP ngày 25/3/2010 của Bộ Tư pháp ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng số, biểu mẫu hộ tịch
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2010
5. Bộ Tư pháp (2011), Thông tư số 12/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 12/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng biểu mẫu nuôi con nuôi
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2011
7. Bộ Tư pháp (2015), Thông tư số 20/2015/TT-BTP ngày 29/12/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 20/2015/TT-BTP ngày 29/12/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2015
8. Bộ Tư pháp (2016), Thông tư số 04/2016/TT-BTP ngày 03/03/2016 của Bộ tư pháp quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 04/2016/TT-BTP ngày 03/03/2016 của Bộ tư pháp quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2016
9. Chính phủ (1998), Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về việc đăng ký hộ tịch, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về việc đăng ký hộ tịch
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
10. Chính phủ (2005), Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/5/2005 về việc đăng ký và quản lý hộ tịch, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/5/2005 về việc đăng ký và quản lý hộ tịch
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
11. Chính phủ (2012), Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
12. Chính phủ (2012), Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 20/02/2012 sửa đổi Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/5/2005 về việc đăng ký và quản lý hộ tịch, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 20/02/2012 sửa đổi Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/5/2005 về việc đăng ký và quản lý hộ tịch
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
14. Chính phủ (2015), Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
15. Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực (2013), Báo cáo kinh nghiệm một số nước về đăng ký và quản lý hộ tịch trong mối liên hệ với pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch tại Việt Nam, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực (2013), "Báo cáo kinh nghiệm một số nước về đăng ký và quản lý hộ tịch trong mối liên hệ với pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch tại Việt Nam
Tác giả: Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực
Năm: 2013
16. Vương Tất Đức, Nguyễn Thanh Xuân (2010), "Quy định về thay đổi họ, tên của một người cần được hướng dẫn cụ thể", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (9), tr.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về thay đổi họ, tên của một người cần được hướng dẫn cụ thể
Tác giả: Vương Tất Đức, Nguyễn Thanh Xuân
Năm: 2010
17. Nguyễn Công Khanh (2013), Giới thiệu một số nội dụng cơ bản của dự án Luật Hộ tịch,Hội thảo Đơn giản hoá thủ tục hành chính giấy tờ công dân trong dự án Luật Hộ tịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu một số nội dụng cơ bản của dự án Luật Hộ tịch
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Năm: 2013
18. Nguyễn Văn Khôn (1960), Hán - Việt từ điển, tr.404, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán - Việt từ điển
Tác giả: Nguyễn Văn Khôn
Năm: 1960
19. Nguyễn Lân (chủ biên) (1989), Từ điển từ và ngữ Hán – Việt, tr.321, NXB TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ và ngữ Hán – Việt
Tác giả: Nguyễn Lân (chủ biên)
Nhà XB: NXB TPHCM
Năm: 1989
20. Thảo Linh (2008), "Cần có hướng dẫn việc đăng ký họ, tên khi đăng ký khai sinh", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (15), tr.13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần có hướng dẫn việc đăng ký họ, tên khi đăng ký khai sinh
Tác giả: Thảo Linh
Năm: 2008
21. Hoàng Long (2008), "Quyền thay đổi họ, tên từ pháp luật đến thực tiễn", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (8), tr.23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền thay đổi họ, tên từ pháp luật đến thực tiễn
Tác giả: Hoàng Long
Năm: 2008
22. Liên hợp quốc (1989), Công ước về quyền trẻ em, NXB TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước về quyền trẻ em
Tác giả: Liên hợp quốc
Nhà XB: NXB TPHCM
Năm: 1989

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w