1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã ba đồn, tỉnh quảng bình

119 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

7 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ VÀ CHỐNG THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.... Chống thất thoát, lãng phí tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THANH HƯNG

CHỐNG THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGHỆ AN - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THANH HƯNG

CHỐNG THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 60.31.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN ĐĂNG BẰNG

NGHỆ AN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc

rõ ràng, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào trước đó

Tác giả

Tràn Thanh Hưng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô giáo ở Trường Đại học Vinh trong suốt quá trình đào tạo thạc sĩ đã cung cấp kiến thức và các phương pháp để tôi có thể áp dụng trong nghiên cứu và giải quyết các vấn đề trong luận văn của

mình Xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới PGS TS Nguyễn Đăng Bằng, người đã

nhiệt tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn UBND thị xã Ba Đồn, các Phòng, Ban đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi về thời gian và nguồn số liệu để tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả

Tràn Thanh Hưng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN I DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VI DANH MỤC CÁC BẢNG VII

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 7

7 Bố cục của luận văn 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ VÀ CHỐNG THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 8

1.1 Các khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước 8

1.1.1 Các khái niệm liên quan 8

1.1.2 Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản 12

1.1.3 Quan niệm về chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng 14

1.2 Chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước 16

1.2.1 Các dạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước 16

1.2.2 Nguyên nhân thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước 20

1.2.3 Sự cần thiết chông thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước 25

Trang 6

1.2.4 Nội dung chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

từ vốn ngân sách nhà nước 27

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước 32

1.3.1 Nhân tố khách quan 32

1.3.2 Nhân tố chủ quan 32

1.4 Kinh nghiêm chống thất thoát, lảng phí trong xây dựng cơ bản ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm đối với thị xã Ba Đồn 35

1.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Bắc Ninh 35

1.4.2 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng 38

1.4.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho thị xã Ba Đồn 39

Kết luận chương 1 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ VÀ CHỐNG THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH 42

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 42

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 42

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 44

2.2 Phân tích thực trạng về thất thoát, lãng phí và chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Ba Đồn, giai đoạn từ năm 2014 - 2016 49

2.2.1 Thực trạng về đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Ba Đồn giai đoạn từ năm 2014 - 2016 49

2.2.2 Thực trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Ba Đồn 53

2.2.3 Thực trạng về chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Ba Đồn 60

2.3 Đánh giá điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân 63

Trang 7

2.3.1 Đánh giá điểm mạnh 63

2.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân hạn chế 67

Kết luận chương 2 73

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỐNG THẤT THOÁT LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH 75

3.1 Phương hướng chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình 75

3.1.1 Chống thất thoát, lãng phí phải làm triệt để, có hiệu quả và làm thường xuyên, đồng bộ 75

3.1.2 Chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước phải bắt đầu từ việc tuyên truyền, động viên và nâng cao trách nhiệm của người có liên quan đến quản lý đầu tư xây dựng 77

3.2 Giải pháp tăng cường chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình 79

3.2.1 Tăng cường quản lý nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản 79

3.2.2 Xây dựng bộ máy tổ chức và bố trí nguồn lực 88

3.2.3 Nâng cao trách nhiệm và chất lượng trong quá trình thực hiện dự án đầu tư 92

3.2.4 Phát huy vai trò kiểm tra, giám sát 100

3.2.5 Phát huy dân chủ trong giám sát dự án đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước 101

3.2.6 Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa quản lý 102

Kết luận chương 3 104

KẾT LUẬN 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Tổng vốn đầu tư từ NSNN giai đoạn 2014-2016 50

Bảng 2.2 Một số dự án TTLP trong chủ trương đầu tư 54

Bảng 2.3 Số liệu nợ đọng xây dựng cơ bản tính đến 30/6/2016 55

Bảng 2.4 Một số dự án TTLP trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 57

Bảng 2.5 Một số dự án TTLP trong công tác GPMB 58

Bảng 2.6 Bảng tổng hợp số liệu đấu thầu giai đoạn 2014-2016 59

Bảng 2.7 Tổng hợp số liệu quyết toán giai đoạn 2014-2016 60

Bảng 2.8 Tổng hơp số liệu kiểm toán công tác quản lý vốn đầu tư 61

Bảng 2.9 Tổng hơp giá trị tiết kiệm qua đấu thầu, chỉ định thầu 61

Bảng 2.10 Kết quả kiểm toán dự án đầu tư xây dựng năm 2016 62

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hoạt động xây dựng cơ bản có ý nghĩa hết sức quan trọng trong nền kinh

tế, nó vừa là hoạt động để tạo tăng trưởng nói chung, vừa là hoạt động sản xuất vật chất, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu cho nền kinh tế Nhìn chung, hoạt động xây dựng cơ bản, có thể nói chiếm một khâu quan trọng trong số những hoạt động mang tính sản xuất vật chất, hoạt động này tiêu tốn một nguồn lực không nhỏ của xã hội

Trong những năm qua, do tác động của suy giảm kinh tế, huy động vốn các thành phần kinh tế khác gặp nhiều khó khăn, cùng với việc thực hiện các chính sách kiềm chế lạm phát, dẫn đến tổng vốn đầu tư phát triển tăng chậm lại

và thấp hơn so với tốc độ tăng giai đoạn trước Tuy vậy nhiều công trình, dự án quan trọng, thiết yếu vẫn được đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng, qua đó đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng về cơ sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất, cải thiện văn minh đô thị, đóng góp quyết định vào phát triển kinh tế xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, việc quản lý và triển khai thực hiện các

dự án trong những năm quan còn nhiều hạn chế và yếu kém, dẫn đến thất thoát, lãng phí vốn đầu tư, hiệu quả đầu tư kém, làm giảm chất lượng tăng trưởng kinh tế Kết quả, thực trạng thất thoát, lãng phí và tiêu cực trong đầu tư xây dựng cơ bản đã được đăng tải nhiều trên các phương tiện truyền thông và tại nhiều diễn đàn, gây nhức nhối trong toàn xã hội và đã được Đảng, Quốc hội, Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo ngăn ngừa

Thực tế những năm vừa qua đã cho thấy tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng đã xảy ra ở nhiều nơi Nhà nước đã sử dụng nhiều biện pháp ngăn chặn, xử lý, nhiều vụ án đã được đưa ra xét xử nghiêm minh, nhưng vẫn còn nhiều vụ việc, nhiều công trình lãng phí tiền bạc của ngân sách nhà

Trang 11

nước (NSNN) nhiều tỷ đồng chưa được giải quyết một cách kịp thời, đúng pháp luật Vẫn còn một số công trình thiết kế không đảm bảo, thi công chưa xong thì phải sửa đổi thiết kế, đến khi hoàn thành hiệu quả sử dụng thấp hơn thiết kế Có công trình xây dựng chỉ vài năm sau đã không đáp ứng được nhu cầu phải cải tạo, nâng cấp rất tốn kém , lãng phí nguồn lực rất lớn của xã hội

Thị xã Ba Đồn nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng Bình, trong khu vực Bắc Trung Bộ, được thành lập theo Nghị quyết số 125/NQ-CP ngày 20/12/2013 của Chính phủ, do mới thành lập nên chưa đủ thời gian để có thể thay đổi diện mạo, tuy nhiên, với vai trò quan trọng là trung tâm kinh tế, văn hóa phía bắc của tỉnh,

là cửa ngõ kết nối với các đô thị khu vực Bắc Trung bộ, vùng kinh tế Nam Hà Tĩnh - Bắc Quảng Bình trong hành lang kinh tế Đông - Tây đã tiếp thêm niềm tin, nguồn sinh lực cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thị xã Ba Đồn phát triển nhanh và bền vững hơn

Ba Đồn là thị xã mới được thành lập năm 2013, hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản tại thị xã diễn ra tấp nập, sôi động Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước hỗ trợ hàng năm khá lớn Việc sử dụng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách đã mang lại hiệu quả tích cực, tạo động lực cho quá trình xây dựng cơ sở vật chất

kỹ thuật cho thị xã Tuy nhiên, tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản diễn ra nhiều nơi, gây bức xúc trong nhân dân Vì vậy, việc tìm ra một số giải pháp nhằm hạn chế tối đa những thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước hết sức cấp bách Vì lý do đó tôi đã

chọn vấn đề “Chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn

ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình" làm đề tài

luận văn tốt nghiệp

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phòng chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản hiện nay được đông đảo mọi người quan tâm vì nó mang tính thời sự và thực tiễn

Trang 12

- Trên phạm vi cả nước, đã có nhiều bài viết về tình hình và giải pháp chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng được đăng tải trên các Báo và Tạp chí như:

Năm 2009, Trịnh Quang Bắc đăng bài “Tham nhũng và phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng: những vấn đề đặt ra và giải pháp”, báo Nhà nước và Pháp luật số 08/2009 [1] Trong đó tác giả đã khái quát những đặc điểm cơ bản của đầu tư xây dựng liên quan đến công tác đấu tranh chống tham nhũng và một số phương thức, thủ đoạn tham nhũng trong đầu tư xây dựng Sau đó tác giả đưa ra một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tham nhũng

Năm 2011, tác giả Hoàng Văn Lương đăng bài: “Thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước và vấn đề đặt ra đối với Kiểm toán Nhà nước trong việc kiểm toán các dự án đầu tư”, Tạp chí Kiểm toán số 2/2011 [17] Bài viết đã khái quát một số dạng sai phạm dẫn đến tham nhũng lãng phí và tiêu cực và đưa ra một số giải pháp đối với cơ quan Kiểm toán Nhà nước

Năm 2014, TS Trịnh Mai Vân, Nguyễn Văn Đại đăng bài “Thực trạng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính [34] Bài viết đã khái quát được thực trạng, tình hình đầu tư các dự án bằng nguồn vốn Nhà nước

về quy mô, cơ cấu vốn và hiệu quả đầu tư của nước ta giai đoạn 2005-2012, qua

đó đề xuất một số giải pháp trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội trong đầu tư bằng vốn nhà nước

Năm 2015, Trịnh Quang Bắc - Ban Tổ chức Trung ương đăng bài “Nhận diện thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước”, Tạp chí Lý luận chính trị số 09/2015 [2] Bài viết đã khái quát được thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước trong các giai đoạn đầu tư và tìm ra một số nguyên nhân của tình trạng thất thoát, lãng phí’

- Trong các cơ sở đào tạo cũng có một số luận văn nghiên cứu về thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản như:

Trang 13

Năm 2012, Luận văn Thạc sĩ kinh tế đề tài "Hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng", của tác giả Đoàn Kim Khuyên [27] Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn Nhà nước, quản lý vốn đầu

tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn Nhà nước Làm rõ thực trạng công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Kho bạc nhà nước Đà Nẵng trong thời gian qua Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn nhà nước tại Kho bạc nhà nước Đà Nẵng trong thời gian đến

Năm 2012, Luận văn Thạc sĩ ngành Tài chính và Ngân hàng “Chống thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn nhà nước, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước” của tác giả Hoàng Thị Hương Giang [11] Luận văn

đã đi sâu vào phân tích thực trạng thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản qua hoạt động chuyên môn của Kiểm toán Nhà nước để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

Năm 2014, Luận văn thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh “Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh của tác giả Lê Việt Cường [9] Luận văn đã phân tích thực trạng tình hình chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, từ đó

đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Yên Phong, huyện Bắc Ninh

Ngoài ra còn còn có một số công trình khác đã công bố cũng liên quan đến thất thoát, lãng phí, quản lý kiểm tra, kiểm soát hoạt động đầu tư xây dựng Tuy nhiên, chưa có đề tài nào dạng luận văn, luận án khoa học nghiên cứu về chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách

Trang 14

nhà nước trên địa bàn thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế tối đa những thất thoát, lãng phí Thực hiện đề tài, luận văn sẽ tham khảo, lựa chọn, kế thừa những ý tưởng của các công trình đã nghiên cứu và công bố, đồng thời đi sâu nghiên cứu lý luận để đề ra những giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn, thực trạng về thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình từ đó đề xuất các giải pháp chống thất thoát, lãng phí hiệu quả hơn

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Làm rõ cơ sở khoa học, thực tiễn của việc chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước

- Phân tích thực trạng thất thoát, lãng phí và thực trạng chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước ở thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

- Đề xuất các phương hướng và một số giải pháp tăng cường chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn thị

xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tình trạng thất thoát, lãng phí và giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhằ nước ở thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vị về không gian: Trên địa bàn thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

Trang 15

- Phạm vị về thời gian: Luận văn sử dụng các số liệu liên quan đến công tác đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước ở thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình từ năm 2014 đến 2016 và giải pháp đến 2020

- Phạm vị về nội dung: Luận văn chỉ làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về thất thoát, lãng phí và chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản ở thị

xã Ba Đồn Các giải pháp chống thất thoát, lãng phí ở các công trình xây dựng

từ vốn ngân sách nhà nước do Uỷ ban nhân dân (UBND) thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình quản lý, không nghiên cứu các dự án đầu tư xây dựng bằng các nguồn vốn khác

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của

Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, Nhà nước về những vấn đề liên quan đến công tác đầu tư xây dựng, tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng để phân tích thực

trạng thất thoát, lãng phí nhằm đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường chống thất

thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản ở thị xã Ba Đồn hiệu quả hơn

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Để đánh giá tình trạng thất thoát, lãng phí và chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản, luận văn tham khảo các nguồn tài liệu từ: Tạp chí; báo cáo tổng kết; kết quả nghiên cứu; các văn bản hướng dẫn chỉ đạo; kết luận của các ngành liên quan ở cấp tỉnh, thị

xã, Kiểm toán Nhà nước; niên giám thống kê thị xã Ba Đồn

- Phương pháp phân tích số liệu: Phân tích hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản trên cơ sở những lý thuyết về công tác quản lý dự án đầu tư Sử dụng phương pháp mô tả, phân tích thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, sử dụng bảng để trình bày diễn giải các số liệu thu thập, nghiên cứu từ các tài liệu, văn bản, báo cáo, kết luận, trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương, địa phương về thất thoát, lãng phí và chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng trong thời gian qua gắn với thực tiễn ở thị xã Ba Đồn

Trang 16

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Hệ thống hoá cơ sở lý luận về thất thoát, lãng phí và phương thức chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Phân tích thực trạng, nguyên nhân và giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ở thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình từ năm 2014 đến nay

- Đề xuất một số giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ở thị xã Ba Đồn trong thời gian tới Từ

đó có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng liên quan trong việc xây dựng chương trình công tác trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí trên địa bàn thị xã theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) của Đảng

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn được bố cục gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về thất thoát, lãng phí và chống

thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước

Chương 2 Thực trạng thất thoát, lãng phí và chống thất thoát, lãng phí

trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

Chương 3 Phương hướng và giải pháp tăng cường chống thất thoát,

lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ

VÀ CHỐNG THẤT THOÁT, LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 Các khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước

1.1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1.1 Xây dựng cơ bản và đầu tư xây dựng cơ bản

- Xây dựng cơ bản

Xây dựng cơ bản là một khâu trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản Kết quả của hoạt động xây dựng cơ bản là tạo ra các tài sản cố định có năng lực sản xuất và phục vụ nhất định Cũng có thể nói: Xây dựng cơ bản là một quá trình đổi mới và tái sản xuất có kế hoạch các tài sản cố định của nền kinh tế quốc dân trong các ngành sản xuất vật chất cũng như không sản xuất vật chất

Nó là quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật Nó thực hiện phương thức xây dựng mới, xây dựng lại, khôi phục và mở rộng các tài sản cố định

Quá trình xây dựng cơ bản là quá trình hoạt động để chuyển vốn đầu tư dưới dạng tiền tệ sang tài sản phục vụ cho mục đích đầu tư Hoạt động đầu tư nói chung là hoạt động bỏ vốn vào các lĩnh vực kinh tế xã hội để thu được lợi ích dưới các hình thức khác nhau Xét một cách tổng thể thì không một hoạt động đầu tư nào mà không cần phải có các tài sản cố định Để có được tài sản

cố định, chủ đầu tư có thể thực hiện bằng nhiều cách: xây dựng mới, mua sắm,

đi thuê…

- Đầu tư xây dựng cơ bản

Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng mới tài sản cố định, bao gồm các hoạt động đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản (khảo sát, thiết kế, tư vấn xây dựng, thi công xây lắp công

Trang 18

trình, sản xuất và cung ứng thiết bị vật tư xây dựng…) nhằm thực hiện xây dựng các công trình

- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản

Theo Điều 3, Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 khái niệm đầu tư được hiểu như sau: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo

quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan [22, tr.1]

Nhà đầu tư bao gồm:

- Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật Doanh nghiệp

- Hợp tác xã, liên hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Hộ kinh doanh, cá nhân

- Tổ chức, cá nhân nước ngoài

- Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam

Đầu tư có nhiều loại: Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp (cho vay); đầu tư ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Đầu tư dài hạn thường gắn với đầu tư xây dựng tài sản cố định - gắn với đầu tư xây dựng cơ bản Do vậy, có thể hiểu như sau:

Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung,

đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các tài sản cố định

Dưới góc độ vốn, thì đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí đã bỏ ra

để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm: Chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán

1.1.1.2 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước

Trang 19

Từ trước đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về vốn, mỗi quan điểm đều có cách tiếp cận riêng Nhưng có thể nói với thực chất chính là biểu hiện bằng tiền, là giá trị tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ Vốn (C) là biểu hiện bàng tiền của tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư Nguồn lực có thể là của cải vật chất tài nguyên thiên nhiên là sức lao động và tất cả các tài sản vật chất khác Trong nền kinh tế thị trường, vốn được quan niệm là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu trong các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp Như vậy, vốn là yếu tố không thể thiếu của hoạt động sản xuất kinh doanh, là điều kiện đầu tiên để tiến đến hoạt động kinh doanh

Theo lĩnh vực đầu tư, vốn đầu tư có thể được hiểu như sau: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài nhằm để: tái sản xuất các tài sản cố định để duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, để đổi mới và bổ sung các cơ

sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở kinh doanh dịch vụ, cũng như thực hiện các chi phí cần thiết tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạt

động của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới được bổ sung hoặc mới được đổi mới

Trong đầu tư xây dựng cơ bản thì vốn đầu tư xây dựng cơ bản là yếu tố tiền đề quan trọng không thể thiếu được để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội

Song vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần được hình thành bởi nhiều nguồn, trong đó có nguồn vốn đầu tư xây dựng

cơ bản từ nguồn vốn NSNN Bởi vậy, không thể tiếp cận khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN nếu không nghiên cứu vấn đề NSNN

* Ngân sách nhà nước

Theo Điều 1, Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 về ngân sách nhà nước: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản

Trang 20

thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [21, tr.1]

Luật này quy định về lập, chấp hành, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, quyết toán ngân sách nhà nước và về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước các cấp trong lĩnh vực ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế, là một công cụ tài chính quan trọng của Nhà nước thực hiện huy động

và phân phối vốn đầu tư thông qua hoạt động thu, chi NSNN

Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức

và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật [21, tr.1]

Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả

nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật [21, tr.1]

Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất về lập pháp quyết định

dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước

* Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước

Căn cứ theo phân cấp quản lý NSNN, chia nguồn vốn đầu tư từ NSNN thành: Vốn đầu tư từ NSNN Trung ương và vốn đầu tư từ NSNN địa phương

Đối với đầu tư từ ngân sách Trung ương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách Trung ương nhằm để thực hiện đầu tư cho các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia

Đối với đầu tư từ ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu

Trang 21

của ngân sách địa phương nhằm thực hiện đầu tư cho các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địa phương đó Đối với nguồn vốn này thông thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương quản lý, sử dụng

Từ khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản và sự phân tích về NSNN có thể hiểu khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN là:

Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN là một phần của vốn đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước được hình thành từ sự huy động của Nhà nước dùng để chi cho đầu tư xây dựng cơ bản nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân

1.1.2 Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

1.1.2.2 Mối quan hệ giữa thất thoát, lãng phí

Lãng phí và thất thoát là hai căn bệnh trong đầu tư xây dựng cơ bản Trong sự lãng phí có thất thoát vì trong số tiền lãng phí có thể có phần bị thất thoát và thất thoát dẫn đễn lãng phí vì thất thoát làm tăng chi phí không cần thiết hoặc làm giảm chất lượng công trình dẫn đến làm giảm hiệu quả vốn đầu tư

Trang 22

Thất thoát, lãng phí có quan hệ gần gũi, gắn bó với nhau Trong thực tế thì lãng phí, thất thoát không phải lúc nào cũng tách bạch mà nó đan xen lẫn nhau, Trong thất thoát có lãng phí và trong lãng phí có thất thoát, cái này là nguyên nhân, cái kia là hệ quả và ngược lại

Thất thoát, lãng phí thường đồng hành với tham nhũng, tiêu cực và việc tách bạch giữa lãng phí, thất thoát với tham nhũng và tiêu cực là rất khó

1.1.2.3 Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng

Thất thoát trong đầu tư xây dựng thì có thể hiểu là tổn thất, mất vốn đầu

tư do các hành động chủ quan của những người liên quan nhằm chuyển nguồn vốn đó thành tài sản của những người và tổ chức có liên quan mà không phải chủ đầu tư Điểm đặc trưng của thất thoát là nguồn giá trị to lớn lấy ra từ tổng vốn đầu tư, được hạch toán vào chi phí xây dựng công trình, nhưng thực tế không được đưa vào công trình Đó là hành vi của những kẻ xấu lợi dụng công trình xây dựng để rút tiền của Nhà nước biến thành tài sản riêng Hành vi này không những để lại hậu quả chất lượng công trình không đảm bảo, làm giảm hiệu quả đầu tư xây dựng công trình, mà còn gây bất bình trong xã hội

Khác với thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản là việc chi phí tiền vốn, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên cho công trình nhiều hơn mức cần thiết hoặc công trình xây dựng không được sử dụng hiệu quả cho phép do quy hoạch, chất lượng, thời gian xây dựng công trình không hợp lý Đối với lĩnh vực đã có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thì lãng phí là việc quản lý, sử dụng NSNN, tiền, tài sản nhà nước, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc không đạt mục đích đã định

Lãng phí biểu hiện dưới nhiều góc độ khác nhau: lãng phí sức lao động, thời gian, tiền của Song việc đo lường mức độ lãng phí lại rất khó khăn, khó định lượng chính xác Cùng một sự vật, một hiện tượng ở góc độ này là lãng phí, nhưng ở góc độ khác lại không lãng phí Việc sử dụng nguồn lực đúng định

Trang 23

mức, đúng tiêu chuẩn, chế độ và đạt được mục tiêu trước mắt nhưng không đạt được mục tiêu lâu dài, không phù hợp với tổng thể, không sử dụng được phải phá đi, hoặc phải cải tạo, sửa đổi bổ sung mới sử dụng được, thực chất là lãng phí rất lớn, nhưng trong chỉ đạo thực tiễn có khi lại quan niệm rằng không lãng phí Hơn nữa, mức độ lãng phí nhiều khi chỉ thể hiện rõ sau khi công trình đã được xây dựng, thậm chí sau khi đã được sử dụng Chính vì thế xác định xem ai

là người có trách nhiệm trong việc để xảy ra lãng phí khi xây dựng công trình thường là công việc rất khó khăn

Từ phân tích những khái niệm trên cho ta thấy thất thoát, lãng phí đều cùng phản ánh một hiện tượng giống nhau, đó là sự mất mát nguồn lực, mất đi

cơ hội tăng thêm năng lực cơ sở vật chất cho xã hội Thất thoát, lãng phí có quan

hệ gần gũi, gắn bó với nhau Nhiều dự án đầu tư lãng phí là do động cơ thất thoát thúc đẩy Cũng có khi khó phân biệt đâu là thất thoát, đâu là lãng phí, ví dụ như định mức xây dựng quá cao tạo điều kiện cho tổ chức thi công rút ruột công trình… Do vậy trong thời gian qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể

cả trong diễn đàn Quốc hội, diễn đàn hội thảo khoa học và trong các văn bản của chính phủ, của các bộ, ngành và của UBND tỉnh, cụm từ thất thoát luôn đi liền với cụm từ lãng phí Vì thế, trong luận văn này cũng sử dụng cách xem xét chung đó mà không tách bạch rõ ràng đâu là thất thoát, đâu là lãng phí

1.1.3 Quan niệm về chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng

cơ bản

Thực tiễn đã chứng minh quan liêu, tham ô, thất thoát, lãng phí có quan

hệ mật thiết với nhau Quan liêu sẽ dẫn đến tham ô, thất thoát, lãng phí; tham ô, thất thoát, lãng phí càng lan tràn thì mức độ quan liêu càng trầm trọng; người quan liêu, tham ô hưởng thụ tiền, tài sản… không phải bằng công sức lao động của mình thì tất yếu sự dẫn đến thất thoát, lãng phí Có tham ô, thất thoát, lãng phí là vì bệnh quan liêu Do đó, cần gắn kết chặt chẽ đấu tranh phòng chống tham ô, thất thoát, lãng phí với chữa trị bệnh quan liêu

Trang 24

Công tác chống tham ô, thất thoát, lãng phí rất quan trọng, cần phải được tất cả các cấp, các ngành quan tâm và tiến hành thường xuyên Cũng như các mặt trận khác, muốn giành thắng lợi trên mặt trận chống tham ô, thất thoát, lãng phí chúng ta phải nắm được quan điểm chỉ đạo cuộc đấu tranh trên mặt trận đó

Hồ Chí Minh nêu rõ: Phải có chuẩn bị, kế hoạch, tổ chức, ắt phải có lãnh đạo và trung kiên [13, tr.488] Đấu tranh chống tham ô, lãng phí cần phải bằng hệ thống các biện pháp đồng bộ, cả trước mắt và lâu dài, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và

“chống” Cùng với việc xây dựng cơ chế phòng, chống, tấn công tham ô, lãng phí trên tất cả các lĩnh vực, cần xác định và tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm Yếu tố quan trọng, quyết định hiệu lực, hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tham ô, lãng phí chính là công tác lãnh đạo Sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng, thông qua các chủ trương, chính sách mang tính chỉ đạo, thông qua các cấp uỷ đảng quyết định sự thành bại của cuộc đấu tranh chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu

Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh phải kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục và cưỡng chế, trong đó lấy tuyên truyền, giáo dục là nền tảng, cơ sở Người nói: Trong phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu, giáo dục là chính, trừng phạt là phụ [13, tr.497] Việc tuyên truyền, giáo dục cần được đặc biệt coi trọng, làm sao để cán bộ hiểu được sự nguy hại, xấu xa của tham ô, lãng phí, từ đó có các hành động tích cực nhằm phòng, chống Đồng thời, công tác tuyên truyền, giáo dục sẽ giúp nêu gương tốt, lên án các hành vi tham ô, lãng phí, góp phần tích cực vào việc ngăn chặn nạn tham ô, lãng phí Nhưng khi cần thiết, đối với những người đã suy thoái về đạo đức, không chịu rèn luyện, cố tình tư lợi, chiếm đoạt tài sản của nhà nước, của nhân dân, phá hoại sự nghiệp cách mạng, phải bị xử lý nghiêm khắc để bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật

và để răn đe, làm gương cho những người khác

Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng luôn được xem là lĩnh vực có nhiều bức xúc nhất và được dư luận xã hội hết sức quan tâm Các văn bản quy

Trang 25

phạm pháp luật hiện hành trong lĩnh vực này đã quy định rất nhiều biện pháp để quản lý chặt chẽ Những quy định liên quan trực tiếp đến thực hành tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí đã được chọn lọc, thể hiện dưới góc độ thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để luật hóa đưa vào Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí số 44/2013/QH13 Theo đó, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư xây dựng quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch và danh mục dự án đầu tư, dự án đầu tư; khảo sát, thiết kế xây dựng công trình; lập, thẩm định, phê duyệt tổng dự toán, dự toán công trình; lựa chọn nhà thầu, tổ chức tư vấn giám sát thực hiện dự án đầu tư; thực hiện dự án đầu tư, thi công công trình; quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng; tổ chức lễ động thổ, lễ khởi công, lễ khánh thành công trình xây dựng [24, tr.17,18,19]

1.2 Chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước

1.2.1 Các dạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước

- Thất thoát, lãng phí trong khâu chủ trương đầu tư, công trình xây dựng không theo quy hoạch:

Đây là khâu quan trọng để đảm bảo đầu tư có hiệu quả và phát triển lâu dài Hiện nay, công tác quy hoạch vẫn tồn tại nhiều bất cập, thiếu tính chiến lược tổng thể giữa các cấp, ngành; thiếu tầm nhìn dài hạn, không sát thực; thiếu

sự kết hợp giữa các loại quy hoạch nên nhiều dự án phải điều chỉnh hoặc di chuyển, kéo dài thời gian xây dựng công trình

Việc lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo nghiên cứu khả thi chưa chú trọng đúng mức khâu điều tra thực tế những ảnh hưởng của công trình đối với môi trường và xã hội; lựa chọn địa điểm xây dựng và phân tích dự án đầu tư không chính xác dẫn đến việc dự án sau khi thực hiện xong nhưng hoạt động kém hiệu quả

Trang 26

Thất thoát trong khâu quyết định đầu tư thường là do chủ đầu tư không tính toán, phân tích kỹ dự án trước khi quyết định đầu tư, dẫn đến việc lựa chọn địa điểm xây dựng công trình không hợp lý; xác định quy mô xây dựng quá lớn

so với nhu cầu thực tế; lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ không phù hợp Việc phân tích hiệu quả đầu tư là một yêu cầu rất quan trọng, nếu không chú trọng khâu này sẽ dẫn đến khi công trình hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng mới bộc lộ những bất cập, như không sử dụng hết công suất thiết kế hoặc không phát huy hiệu quả

- Thất thoát trong khâu khảo sát thiết kế

Thất thoát do công tác khảo sát không đảm bảo chất lượng, chưa sát với thực tế hoặc không đúng với những tiêu chuẩn, quy chuẩn của Nhà nước dẫn đến phải khảo sát lại, việc thi công phải thay đổi, bổ sung, điều chỉnh nhiều lần gây lãng phí thời gian, kinh phí Bên cạnh đó, việc thiết kế không phù hợp với quy hoạch xây dựng, không tuân thủ các quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn xây dựng dẫn đến thiết kế lại cũng gây lãng phí không nhỏ Chất lượng thiết kế không đảm bảo, không đồng bộ, phương án thiết kế không hợp lý, sử dụng vật tư, vật liệu không phù hợp; chọn hệ số an toàn quá cao…dẫn đến lãng phí

- Thất thoát trong khâu đền bù, giải phóng mặt bằng xây dựng:

Tài sản phải đền bù để giải phóng mặt bằng bao gồm nhà cửa, cây cối, hoa màu của dân, việc xác định giá trị đền bù không phải là chuyện đơn giản và rất dễ dẫn đến thất thoát vốn Biểu hiện của thất thoát trong công tác đền bù thường là việc bớt xén tiền đền bù của dân do người dân không nắm rõ khung giá đền bù do Nhà nước quy định, hoặc đền bù không thoả đáng, không đúng đối tượng; không theo định mức, khung giá nhà nước và địa phương ban hành; móc ngoặc, câu kết với người được đền bù để nâng giá trị đền bù, khai khống diện tích, khối lượng tài sản được đền bù; làm giả hồ sơ để rút tiền của nhà nước, từ

đó làm tăng thêm vốn đầu tư xây dựng công trình Việc đền bù không thoả đáng,

Trang 27

không thực hiện đúng quy định, dẫn đến việc bàn giao mặt bằng xây dựng không đúng thời hạn quy định, làm chậm tiến độ thi công công trình, gây lãng phí, thất thoát vốn Trong thực tế, việc chậm tiến độ thi công do không giải phóng được mặt bằng xảy ra ở rất nhiều dự án Tiến độ thi công chậm trong khi công trình xây dựng bằng nguồn vốn đi vay sẽ làm tăng lãi vay, từ đó làm tăng chi phí dự án

- Thất thoát, lãng phí trong công tác triển khai và điều hành kế hoạch đầu

tư hàng năm:

Bố trí danh mục các dự án đầu tư quá phân tán, dàn trải, không sát với tiến độ thi công của dự án đã được phê duyệt, bố trí kế hoạch đầu tư cho dự án không đủ điều kiện dẫn đến kéo dài thời gian thi công, chậm đưa vào sử dụng làm giảm hiệu quả đồng vốn đầu tư; bố trí kế hoạch đầu tư chỉ chú trọng kế hoạch khối lượng, không xây dựng kế hoạch vốn dẫn đến phát sinh mất cân đối giữa kế hoạch khối lượng và kế hoạch vốn dẫn đến hiện tượng thừa thiếu vốn giả tạo cho các dự án; bố trí kế hoạch đầu tư hàng năm cho các dự án không theo sát tiến độ đầu tư thực hiện dự án đã được cấp thẩm quyền phê duyệt trong quyết định đầu tư

- Thất thoát, lãng phí trong khâu lựa chọn nhà thầu:

Thông đồng, dàn xếp trong đấu thầu: chủ đầu tư và một số nhà thầu tham gia đấu thầu thông đồng với nhau để gửi giá, nâng giá để trục lợi Chủ đầu tư tiết

lộ những thông tin về giá, phương án kỹ thuật, phương án giảm giá (nếu có) của các đối thủ khác cho nhà thầu mà họ thông đồng… hiện tượng “quân xanh, quân đỏ” trong đấu thầu

Mua bán thầu: Đơn vị dự thầu xét thấy tự mình không thể trúng thầu nên

đã tiến hành liên danh với đơn vị khác mạnh hơn, khi trúng thầu, đơn vị mạnh hơn bán lại toàn bộ gói thầu cho đơn vị dự thầu, nhưng trên thực tế vẫn lấy danh nghĩa liên danh để thực hiện dự án

Bỏ giá thầu thấp dưới giá thành xây dựng công trình: đây là một hiện

Trang 28

tượng khá phổ biến ở nước ta Khi tiến hành đấu thầu, gần như cứ nhà thầu nào đưa ra giá thầu thấp nhất và có phương án giảm giá là có khả năng trúng thầu cao, chính vì thế, nhà thầu sẽ bỏ giá thấp (khi đã thông đồng với chủ đầu tư) để trúng thầu, sau đó, nhà thầu và chủ đầu tư làm hồ sơ nâng khống khối lượng công việc phát sinh để tăng kinh phí

Vì mục tiêu vụ lợi, chủ đầu tư còn tiến hành chia gói thầu thành nhiều gói nhỏ hơn để cho nhiều nhà thầu cùng tham gia và cùng trúng thầu Từ thực tế cho thấy, việc lựa chọn nhà thầu xây dựng, xác định giá gói thầu, giá trúng thầu, thẩm định kết quả đấu thầu ở nhiều dự án thiếu sự minh bạch; phương thức liên danh, liên kết giữa các nhà thầu còn nhiều bất cập, đây chính là những nguyên nhân dẫn đến thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng

- Thất thoát, lãng phí trong khâu thi công xây lắp công trình:

Thất thoát trong khâu thi công xảy ra do nhà thầu thi công không đảm bảo khối lượng xây lắp theo thiết kế được phê duyệt hoặc thi công không đúng thiết kế dẫn đến phải phá đi làm lại Thất thoát từ vật liệu xây dựng cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể Vật liệu xây dựng đi qua nhiều khâu trung gian, nâng giá, gửi giá, tăng khối lượng, dùng vật liệu có giá thấp (chất lượng thấp); ăn bớt vật liệu, nên chất lượng công trình không đảm bảo Việc giám sát thi công không chặt chẽ, cán bộ tư vấn, giám sát làm ngơ trước những vi phạm của nhà thầu thi công

- Thất thoát, lãng phí trong việc bố trí và sử dụng vốn:

Nhiều dự án vi phạm thủ tục đầu tư nhưng vẫn được phê duyệt kế hoạch đầu tư khi chưa có kế hoạch vốn Bố trí kế hoạch đầu tư phân tán, dàn trải, thiếu tập trung khiến nhiều dự án phải chờ vốn, kéo dài tiến độ qua nhiều năm, bên cạnh đó là việc sử dụng vốn sai mục đích, không đúng chế độ Do tiến độ giải ngân vốn chậm nên bên B phải vay vốn, chạy vốn dẫn đến tiêu cực trong cấp phát vốn, làm chậm tiến độ của dự án, kéo dài thời gian xây dựng công trình, tăng chi phí lãi vay và các khoản chi phí không cần thiết khác gây nên thất thoát,

Trang 29

lãng phí vốn Mặt khác, cũng do giải ngân vốn không đúng kế hoạch, nhà thầu phải đi vay vốn chịu lãi suất dẫn đến tình trạng nợ đọng trong đầu tư xây dựng, đẩy các doanh nghiệp xây dựng vào tình trạng khó khăn, phá sản

- Thất thoát, lãng phí trong khâu nghiệm thu, thanh toán khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành:

Thể hiện dưới dạng nghiệm thu sai về khối lượng thực hiện, thực tế thi công ít nhưng nghiệm thu nhiều, quyết toán tăng khống nhiều lần, áp dụng không đúng đơn giá, định mức, chấp nhận cho đơn vị xây dựng thay đổi chủng loại vật tư, dùng các loại vật tư rẻ tiền, chất lượng kém vào công trình, ăn bớt vật tư, rút ruột công trình, cố tình nghiệm thu thanh quyết toán những hệ số ưu đãi ngoài chế độ quy định

- Thất thoát, lãng phí trong khâu thanh, quyết toán vốn đầu tư dự án:

Dạng thất thoát, lãng phí này chủ yếu là thanh toán vốn đầu tư chậm làm chậm tiến độ công trình; tạm ứng vốn vượt định mức quy định, khó thu hồi; ứng khối lượng, thanh toán chưa đủ thủ tục; khi thi công phải thay đổi, bổ sung chi phí phát sinh do thiết kế, dự toán không chính xác nên khi thanh toán chỉ căn cứ vào báo cáo quyết toán của đơn vị thi công, không có giám sát, kiểm tra cụ thể

“thực thanh, thực chi” nên dễ thanh toán khống

Thất thoát, lãng phí do chi tiêu bừa bãi vượt định mức, lập khống chứng

từ để rút tiền nhà nước chia nhau dưới các hình thức phổ biến như chi vượt mức nhưng không báo cáo hoặc không được cấp có thẩm quyền cho phép; lập khống chứng từ để khai khống các chi phí Trúng thầu hoặc được giao thầu công trình, sau đó không thực hiện mà bán thầu hoặc giao cho một số người núp bóng đơn

vị để thực hiện, hợp thức hoá chứng từ rút tiền chênh lệch chia nhau…

1.2.2 Nguyên nhân thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

từ vốn ngân sách nhà nước

1.2.2.1 Nguyên nhân từ cơ chế, chính sách pháp luật quản lý đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước

Trang 30

Hiện nay, trong đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn nhà nước được thực hiện theo cơ chế người quyết định đầu tư là thủ tướng, bộ trưởng, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chủ tịch UBND huyện, thành phố trực thuộc tỉnh…; người quyết định đầu tư chỉ định chủ đầu tư (tổ chức thực hiện đầu tư - các ban quản lý hiện nay); người quyết định đầu tư chỉ định người sử dụng (tiếp nhận khai thác sử dụng) Như vậy, cơ chế quyết định đầu

tư đã trao quá nhiều quyền cho người có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư Việc quyết định đầu tư do cá nhân quyết định nên rất dễ dẫn đến tiêu cực, lợi ích nhóm chi phối Thực tế đã có nhiều công trình đầu tư không hiệu quả, gây lãng phí, làm thất thoát lớn vốn nhà nước nhưng không có cá nhân nào chịu trách nhiệm

Như vậy Nhà nước có hai tư cách trong quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN, đó là tư cách của cơ quan công quyền và tư cách của chủ đầu tư

Tư cách cơ quan công quyền: Những quy định của nhà nước về điều kiện

để đầu tư xây dựng cơ bản cũng có thể gây thất thoát, lãng phí cho các dự án đầu

tư Chẳng hạn, nếu các quy định về quản lý đầu tư và quản lý xây dựng không minh bạch, khó thực hiện, khó tiếp cận cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, thủ tục hành chính quá phức tạp, không công khai thì buộc các chủ đầu tư

và người tham gia xây dựng, thi công dự án phải gian dối hoặc “quan hệ ngầm” với công chức nhà nước nhằm đẩy nhanh tiến độ dự án, thậm chí để có được dự

án theo ý tưởng của họ Tất cả các chi phí không cần thiết cho dự án như chi phí quan hệ, chi phí tạo đối thủ cạnh tranh giả là tiền thân của thất thoát, lãng phí Trong thực tế, nguyên nhân này rất quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong các nguyên nhân dẫn đến sự tham ô, tham nhũng của thất thoát, lãng phí trong đầu

tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN

Tư cách chủ đầu tư: Nhà nước phải quản lý dự án của mình như các chủ đầu tư khác Nhưng do Nhà nước là một bộ máy quyền lực thực thi trách

Trang 31

nhiệm do xã hội giao nên các quyết định của nó phải được quy định thành luật, công chức và các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý dự án đầu tư của nhà nước theo cơ chế đại diện Cách thức quản lý này tiềm ẩn các

cơ hội để công chức và cơ quan nhà nước lợi dụng quyền hạn trục lợi từ vốn đầu tư nhà nước Trong những năm qua Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các Luật, Nghị định quy định về quản lý liên quan đến đầu tư nói chung, đầu

tư xây dựng cơ bản nói riêng, tuy nhiên vẫn chưa thực sự có hệ thống và đồng bộ

1.2.2.2 Nguyên nhân từ chất lượng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu

tư từ vốn ngân sách nhà nước

Việc hoạch định, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch ở tầm quốc gia, vùng, địa phương là một công việc khó khăn, khó đảm bảo độ chính xác 100% Tuy nhiên, để có thể sử dụng nguồn vốn NSNN một cách hiệu quả cần phải có chiến lược, quy hoạch và kế hoạch đúng dắn có cơ sở và luận cứ khoa học Nếu chiến lược, quy hoạch, kế hoạch có chất lượng thấp, thông tin không đầy đủ, không dựa trên các quy luật khách quan thì toàn bộ các dự án đầu tư của Nhà nước theo các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đó có nguy cơ gây lãng phí rất lớn

Tuy vậy, khi chuyển sang quản lý theo cơ chế mới, thừa nhận kinh tế thị trường và giao quyền tự chủ, chất lượng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch cả cấp quốc gia lẫn địa phương đều chưa đáp ứng yêu cầu, chiến lược đầu tư của Nhà nước còn tham quá nhiều mục tiêu, đầu tư dàn trải theo địa bàn, theo lĩnh vực và kém hiệu quả Điển hình là chiến lược đầu tư cho ngành giấy, ngành đánh cá xa bờ, ngành đường, ngành xi măng…Các địa phương còn đua nhau kéo vốn nhà nước về địa phương mình càng nhiều càng tốt mà chưa chú trọng đến hiệu quả đầu tư Thực trạng xảy ra ở các cấp, các ngành là kế hoạch vốn từ ngân sách nhà nước thường bị động, kéo dài vì phải qua nhiều cấp, nhiều ngành vì vậy làm chậm triển khai xây dựng công trình Trong quá trình xây

Trang 32

dựng, vì các lý do khác nhau như thủ tục thiết kế, thẩm tra, thẩm định, lựa chọn nhà thầu, đều cần có thời gian nhất định và phải thực hiện đầy đủ theo quy trình, dẫn đến là thời gian thực hiện đầu tư kéo dài, giải ngân chậm, cuối năm

kế hoạch giải ngân không kịp, đơn vị thi công phải biến báo để giữ lại vốn đầu

tư Trên thực tế, cơ quan nhà nước cứ ghi kế hoạch vốn đầu tư hàng năm cho nhiều dự án mà thực tế chưa đủ điều kiện vẫn bố trí kế hoạch Việc giải ngân chậm, kéo dài thời gian thi công, chậm nghiệm thu, chậm thanh quyết toán công trình, gây ra hiện tượng đầu tư dàn trải, khi thì “công trình chờ vốn”, khi lại “vốn chờ công trình” Một vấn đề khác là kế hoạch chưa kiểm soát được rủi

ro, nhất là rủi ro do thời tiết gây ra, nên nhiều khi cấp vốn cho công trình rồi, nhưng công trình không thực hiện thi công được, dẫn đến hiện tượng thừa, thiếu vốn giả tạo ở các dự án

Ngoài ra, chất lượng thấp của quy hoạch ngành, vùng và địa phương là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến lãng phí trong đầu tư xây dựng nói chung, đầu tư xây dựng từ vốn NSNN nói riêng Trong nhiều năm qua quy hoạch ngành, vùng của nước ta vẫn ở trong tình trạng chưa hoàn chỉnh Công tác quy hoạch chưa được Nhà nước chú trọng đầu tư đi trước một bước, tầm nhìn quy hoạch ngắn, thiếu tính chiến lược, chưa đánh giá hết các yếu tố khách quan và chưa phù hợp với quy luật thị trường nên tính định hướng của quy hoạch còn yếu, thiếu tính kế thừa nên quy hoạch phải điều chỉnh thường xuyên, tính thực tế không cao, quy hoạch không mang tính tổng thể, thiếu lộ trình thực hiện… đã dẫn đến hậu quả nhiều công trình đầu tư từ vốn NSNN không vận hành được sau khi hoàn thành buộc phải tháo dỡ hoặc có sử dụng cũng không hiệu quả Đây là khoản lãng phí lớn của nước ta trong những năm qua

1.2.2.3 Do yếu kém trong công tác chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước

Công tác điều tra, khảo sát trong bước lập dự án đầu tư quá sơ sài, không bao quát được tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, không tính được ảnh hưởng

Trang 33

đến môi trường,…sẽ dẫn đến sự lãng phí do phải sửa chữa, thậm chí dỡ bỏ công trình xây dựng, gây tác động bất lợi cho các công trình xung quanh

Chủ trương đầu tư đôi khi xuất phát từ ý muốn áp đặt chủ quan, động cơ

cá nhân, thấy nơi khác làm mình cũng làm cũng rất đến sự lãng phí rất lớn Nhiều chủ đầu tư khi lập dự án đầu tư đã không cân nhắc, tính toán đầy đủ các yếu tố kinh tế, kỹ thuật nên khi triển khai thực hiện phát sinh những yếu tố bất lợi làm chậm tiến độ thi công, làm phát sinh, hoặc phải điều chỉnh dự án đầu tư,

có khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng không phát huy được hiệu quả, đến lúc đó thì chủ đầu tư mới nhận thấy đựơc những hạn chế, thiếu sót trong việc xây dựng dự án của mình, nhưng mọi việc đều đã muộn, không thể khắc phục được

Như vậy, công việc chuẩn bị dự án đầu tư không tôt không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư trước mắt mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ, đời sống kinh tế xã hội của vùng, của khu vực và cả nước Thông thường, những sai lầm trong chuẩn bị đầu tư gây ra 60%-70% tổng số thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ vốn NSNN

1.2.2.4 Do buông lỏng kiểm tra, thanh tra, giám sát thực hiện dự án đầu

tư xây dựng từ vốn ngân sách nhà nước

Quản lý trong đầu tư xây dựng, trách nhiệm lớn nhất thuộc về chủ đầu tư, Ban quản lý dự án Nếu không có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường xuyên của chủ đầu tư, đại diện chủ đầu tư (Ban quản lý dự án) và giám sát của đơn vị thiết kế thì bên thi công dễ vì lợi nhuận mà tìm mọi cách để “rút ruột” công trình như bớt xén vật tư, tráo đổi chủng loại vật tư, thi công không đúng kỹ thuật, khai khống khối lượng hoàn thành

Thanh tra là biện pháp cần thiết để chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng Tuy vậy, nếu không dành đủ thời gian, không bố trí người tài giỏi và không trao cho họ đủ quyền và phương tiện thì số vụ tham nhũng, tiêu cực được các cơ quan thanh tra phát hiện chưa phản ảnh đầy đủ thực trạng tình hình tiêu

Trang 34

cực, tham nhũng hiện nay, do đó kẻ tham nhũng còn chưa sợ Năng lực ngành thanh tra, nhất là thanh tra xây dựng nếu còn hạn chế, cả về mặt thể chế cũng như chất lượng cán bộ, phương tiện, điều kiện làm việc, thì khó phát hiện ra các hành vi làm thất thoát vốn Nhà nước

1.2.3 Sự cần thiết chông thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước

Trong thực tế hiện nay, tình trạng thất thoát, lãng phí trong hoạt động đầu

tư phát triển nói chung và trong đầu tư xây dựng cơ bản cơ bản nói riêng đang là vấn đề cấp bách và nổi cộm Đây là một trong những nguyên nhân làm nghèo đất nước, kìm hãm sự phát triển và làm giảm uy tín quốc gia Sự nguy hại của thất thoát, lãng phí đã được nhiều nước và tổ chức quan tâm nghiên cứu và tìm cách ngăn chặn Hậu quả của tình trạng thất thoát, lãng phí thể hiện ở một số lĩnh vực sau đây:

- Đối với nền kinh tế:

Thất thoát, lãng phí làm chậm quá trình phát triển kinh tế của quốc gia, gây thiệt hại rất lớn về tiền, tài sản của nhà nước, tập thể và công dân Hậu quả không chỉ là việc tài sản, lợi ích của nhà nước, của tập thể hoặc của công dân bị xâm hại, biến thành tài sản riêng của người thực hiện hành vi mà nó còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ Thậm chí còn làm đất nước tụt hậu xa hơn về kinh tế, khoa học, công nghệ và làm thất thoát nguồn lực đầu tư, tiếp nhận những công nghệ lạc hậu…

Thất thoát, lãng phí làm cản trở việc thu hút đầu tư nước ngoài nói chung

và vốn huy động ODA nói riêng Vốn vay đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế xã hội của nước ta chủ yếu dựa vào nguồn vay ưu đãi ODA Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ vốn NSNN làm giảm uy tín của chính phủ khi vay nước ngoài thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường tài chính thế giới do các tổ chức định mức tín nhiệm đánh giá thấp hiệu quả đầu tư của nhà nước, từ đó lo ngại khả năng trả nợ đúng hạn của chính phủ Hơn nữa, mức tín nhiệm thấp do ảnh hưởng của thất thoát, lãng phí trong đầu tư còn buộc chính

Trang 35

phủ phải chấp nhận vay với lãi suất cao làm cho chi phí đầu tư càng tăng cao, dẫn đến mức lãng phí lớn hơn

- Đối với xã hội:

Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN gây bức xúc và bất bình lớn trong xã hội Xét cho cùng, tiền của NSNN là do dân cư đóng góp Việc đầu tư dẫn đến lãng phí làm thu hẹp nguồn lực có thể được sử dụng hiệu quả hơn trong các lĩnh vực có lợi cho dân cư Hơn nữa, thất thoát làm cho một bộ phận có thu nhập không chính đáng, giúp họ giàu lên nhanh chóng, cho phép họ ăn chơi phè phỡn gây phản cảm rất lớn đối với đa số dân cư còn lao động nhọc nhằn kiếm miếng ăn Nếu tình trạng thất thoát vốn nhà nước từ các công trình đầu tư xây dựng có tính phổ biến và kéo dài quá lâu có thể gây nên các bất ổn trong xã hội và trong lòng tin của dân cư vào nhà nước

Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN, nếu không được ngăn chặn hiệu quả, sẽ làm thoái hoá, biến chất đội ngũ công chức nhà nước liên quan đến vốn NSNN và quản lý đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN Như vậy thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ vốn NSNN đã góp phần làm tha hoá đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế của nước ta, đặc biệt là công chức quản lý kinh tế

Thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN để lại hậu quả không dễ khắc phục cho đất nước và cho các thế hệ tương lai Các công trình xây dựng kém chất lượng hoặc có sử dụng không hiệu quả không chỉ làm tiêu tan nguồn của cải mà đất nước mà còn đòi hỏi chi phí lớn để sửa chữa, hoàn thiện, thậm chí tháo dỡ chúng Trong khi đó chúng ta đang phải thắt lưng buộc bụng dồn tiền để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiến kịp các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Sự lãng phí nguồn của cải do thất thoát, lãng phí đem lại không chỉ làm chúng ta khó khăn trong hiện tại, mà còn chồng chất thêm khó khăn cho thế hệ trong tương lai

Chính vì những tác hại kể trên nên việc chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN là vấn đề cấp bách đặt ra cho các cơ quan

Trang 36

chức năng cần giải quyết, đã đến lúc phải được ngăn chặn hiệu quả

1.2.4 Nội dung chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước

- Chống thất thoát, lãng phí trong quyết định chủ trương đầu tư xây dựng

cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước:

Việc xác định đúng chủ trương đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đối với hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội của dự án đầu tư Việc xác định sai chủ trương không những dẫn đến đầu tư không có hiệu quả, hoặc hiệu quả đầu tư kém mà thậm chí còn cản trở đến phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, cần nhận thấy sai lầm về chủ trương đầu tư gây ra lãng phí, thất thoát nghiêm trọng nhất Trong thời gian qua, nhiều chương trình, dự án đã được đầu tư không cân đối đủ vốn

do chủ trương đầu tư phê duyệt ồ ạt; nhiều chương trình, dự án được bố trí đủ vốn khi đưa vào sử dụng không mang lại hiệu quả hoặc hiệu quả rất thấp

Thất thoát, lãng phí trong khâu quyết định đầu tư thường là do chủ đầu tư không tính toán, phân tích kỹ dự án trước khi quyết định đầu tư, dẫn đến việc lựa chọn địa điểm xây dựng công trình không hợp lý; xác định quy mô xây dựng quá lớn so với nhu cầu thực tế; lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ không phù hợp; chưa quan tâm đúng mức đến hiệu quả sử dụng và vận hành công trình khi hoàn thành Việc phân tích hiệu quả đầu tư là một yêu cầu rất quan trọng, nếu không chú trọng khâu này sẽ dẫn đến khi công trình hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng mới bộc lộ những bất cập, như không sử dụng hết công suất thiết kế hoặc không phát huy hiệu quả

Vì vậy, cần nâng cao chất lượng chiến lược, kế hoạch và quy hoạch đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN sẽ hạn chế thất thoát, lãng phí trước khi đầu tư

- Chống thất thoát, lãng phí trong bố trí kế hoạch, cấp vốn đầu tư:

Bố trí kế hoạch không phù hợp với mục tiêu định hướng chung, của kế hoạch đầu tư trung và dài hạn Khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng

sẽ thiếu đồng bộ với các hoạt động khác của các ngành và cả xã hội do đó gián

Trang 37

tiếp làm thất thoát lãng phí vốn đầu tư sau này

Bố trí vốn đầu tư phân tán: Danh mục các dự án đầu tư trong kế hoạch đầu tư quá nhiều dẫn đến vốn đầu tư bị dàn trải làm cho thời gian đầu tư, tiến độ xây dựng bị kéo dài, vốn đầu tư không phát huy được hiệu quả, gây lãng phí thất thoát vốn đầu tư

Vi phạm thủ tục đầu tư: Một số dự án không đủ điều kiện để bố trí kế hoạch (như chưa phê duyệt dự án) vẫn ghi vào kế hoạch đầu tư làm cho việc triển khai kế hoạch gặp khó khăn, phải chờ đợi, hoặc có khi có khối lượng thực hiện vẫn không đủ điều kiện thanh toán

Nợ đọng xây dựng cơ bản: Trong đầu tư xây dựng cơ bản, việc vay tạm hay ứng trước vốn đầu tư để thực hiện công tác giải phóng mặt bằng kịp thời hay đầu tư hạ tầng rồi đấu giá quyền sử dụng đất

Vì vậy, để chống thất thoát, lãng phí trong xây dựng cơ bản từ vốn NSNN cần bố trí kế hoạch đầu tư phù hợp, vốn đầu tư tập trung không phân tán, tăng cường quản lý thủ tục đầu tư

- Chống thất thoát, lãng phí trong giai đoạn chuẩn bị thực hiện đầu tư Giai đoạn chuẩn bị thực hiện đầu tư là giai đoạn quan trọng quyết định thành công, thất bại của các giai đoạn sau Chi phí trong giai đoạn này chiếm tỷ

lệ nhỏ trong tổng vốn đầu tư nhưng lại quyết định rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Giai đoạn này bao gồm khảo sát, đây là khâu quan trọng trong chuẩn

bị đầu tư Trên thực tế, thất thoát, lãng phí do chất lượng hồ sơ khảo sát, thiết kế,

dự toán không đảm bảo theo đúng yêu cầu về quy phạm, quy chuẩn của nhà nước là rất lớn Chính vì vậy, nếu chúng ta phòng ngừa tốt từ khâu này thì kết quả chống thất thoát, lãng phí sẽ rất tốt

Để nâng cao chất lượng và trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức khảo sát, thiết kế, dự toán, thẩm tra, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng từ vốn NSNN thường người ta áp dụng các phương cách sau:

Quy định chặt chẽ về chất lượng hồ sơ dự án đầu tư xây dựng; phải cung

Trang 38

cấp các số liệu khảo sát đúng với tình hình thực tế về địa chất, địa hình tránh tối đa những sai sót gây hậu quả, dẫn đến thất thoát, lãng phí trong quá trình thi công xây dựng công trình

Nâng cao trách nhiệm của đơn vị thẩm định dự án đầu tư xây dựng từ vốn NSNN, buộc họ phải chịu kỷ luật hành chính và đền bù vật chất nếu không phát hiện ra những sai sót Đề cao trách nhiệm của cơ quan phê duyệt dự án đầu tư xây dựng từ vốn NSNN

Nhằm chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN ở giai đoạn này các thông tin cần phải chuẩn xác, các dự đoán cần phải chính xác khoa học Nâng cao chất lượng và trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức khảo sát, thiết kế, dự toán, thẩm tra, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN

- Chống thất thoát, lãng phí trong giai đoạn thực hiện đầu tư:

Chống thất thoát, lãng phí do khâu lập và quản lý dự toán: Lập và quản lý tổng dự toán của dự án thực chất là quản lý giá trong hoạt động đầu tư Đây là khâu không chỉ gây lãng phí, thất thoát về vốn đầu tư mà còn là khâu "nhạy cảm" gây ra sơ hở dẫn đến phát sinh tiêu cực trong hoạt động đầu tư Để chống thất thoát lãng phí ở khâu này cần phân tích xem xét theo các tiêu chí sau:

Việc tính khối lượng từng loại công việc, vật tư theo thiết kế kỹ thuật, thiết kế tổ chức thi công làm cơ sở cho việc lập tổng dự toán, dự toán công trình Nếu khâu này không chính xác sẽ dẫn đến kết quả tổng dự toán, dự toán công trình không chính xác, gây thất thoát, lãng phí VĐT

Sử dụng sai định mức kinh tế - kỹ thuật của Nhà nước ban hành cho từng loại công trình theo quy phạm và quy chuẩn Hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật để lập dự toán, thanh quyết toán không tiên tiến, không phù hợp với thực

tế, không đầy đủ, không cụ thể đều dẫn đến thất thoát lãng phí vốn đầu tư

Áp dụng sai giá chủng loại vật tư, thiết bị đã được cơ quan chức năng thông báo theo thực tế tại thời điểm tính toán, nghiệm thu thanh toán cũng sẽ

Trang 39

gây thất thoát lãng phí

Nhìn chung sau chủ trương đầu tư thất thoát, lãng phí trong quản lý thực hiện đầu tư khá lớn Vì vậy việc xem xét, đánh giá thất thoát lãng phí, tham nhũng trong các khâu lập tổng dự toán, dự toán, quản lý giá và chi phí trong hoạt động đầu tư và xây dựng có vị trí quan trọng trong ngăn ngừa tiêu cực

Chống thất thoát, lãng phí trong khâu đền bù, giải phóng mặt bằng: Đây là lĩnh vực nhạy cảm cả về kinh tế và xã hội và dễ bộc lộ những sơ hở gây ra thất thoát lãng phí Để chống thất thoát, lãng phí trong khâu này cần phải:

Xem xét tính pháp lý và hợp pháp của phương án đền bù giải phóng mặt bằng và phương án tái đinh cư

Xem xét đánh giá việc vận dụng các chính sách, chế độ của Nhà nước đối với công tác giải phóng mặt bằng như: xác định giá nhà, giá đất, hệ số sử dụng đất, hệ số xác định loại và hạng đất áp dụng trong phương án đền bù

Kiểm tra tính chính xác của số hộ dân, số tài sản của dân cư trong phương

án đền bù trong quá trình thực hiện đền bù

Kiểm tra đánh giá những thất thoát, lãng phí vốn và tài sản trong quá trình quản lý, triển khai công tác đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng, tái định cư các hộ dân

Chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ nguồn NSNN trong khâu đấu thầu: Đấu thầu là hoạt động cần thiết nhằm giao công trình xây dựng cho nhà thầu có năng lực, uy tín và chi phí thấp nhất Để chống thất thoát, lãng phí trong đấu thầu công trình xây dựng từ vốn NSNN, cần hoàn thiện quy chế đấu thầu, nhất là các quy định về sự trung thực của hồ sơ, bí mật thông tin, tiêu chí lựa chọn, hình thức đầu thầu… Ngoài ra, cần thiết lập kỷ luật thực thi đấu thầu nghiêm minh bằng cách đưa ra các chế tài đủ mạnh nhằm trừng phạt các cá nhân, tổ chức thông thầu, làm lộ thông tin hoặc cố tình tổ chức đấu thầu giả…

Chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ nguồn NSNN trong khâu thanh tra, giám sát thi công: Cần lựa chọn và đào tạo thanh tra viên trong

Trang 40

lĩnh vực đầu tư xây dựng một cách chuẩn mực sao cho họ thành thạo các kỹ năng kiểm tra, giám sát cả việc thi công lẫn việc sử dụng vốn và đánh giá chất lượng công trình Ngoài ra, cần phải trang bị cho họ các phương tiện đo, đếm, thẩm định chất lượng cần thiết nhằm đưa công việc thanh tra, giám sát đi vào chuẩn tắc Đồng thời, cần đặt ra yêu cầu cao về đạo đức, kỷ luật hành nghề cho các thanh tra viên đi đôi với việc bảo vệ họ một cách hiệu quả trước sự tấn công của các cá nhân tha hoá Một vấn đề quan trọng nữa là phải có chế độ lương bổng thoả đáng để ràng buộc trách nhiệm của thanh tra viên vào quá trình đầu tư xây dựng cũng như thu hút được người tài bổ xung vào đội ngũ của họ Tránh bố trí cán bộ yếu kém, do không làm được ở bộ phận khác vào thanh tra

- Chống thất thoát, lãng phí trong giai đoạn kết thúc đầu tư:

Để chống thất thoát, lãng phí trong khâu nghiệm thu hoàn thành, bàn giao công trình, người ta thường áp dụng các phương thức giám định chất lượng công trình tiên tiến, trong đó công nghệ giám định và phương tiện kỹ thuật phải bảo đảm yêu cầu Tuy nhiên, biện pháp nghiệm thu hiệu quả là sử dụng các phương pháp quản lý chất lượng theo quá trình, ví dụ tiêu chuẩn ISO, và sự trung thực của cán bộ nghiệm thu Để chống hiện tượng thông đồng, móc ngoặc trong nghiệm thu công trình, cần đặt yêu cầu bảo hành chất lượng nghiệm thu theo thời gian và chế độ gắn trách nhiệm của bên thi công với quá trình sử dụng sau này của công trình

Vốn đầu tư xây dựng chỉ được thanh toán cho cho giá trị khối lượng thực hiện hoàn thành, đủ thủ tục pháp lý theo quy định có đủ điều kiện thanh toán như hợp đồng giữa chủ đầu tư (Bên A) và nhà thầu (Bên B), có nghiệm thu khối lượng thực hiện, bên A chấp nhận và đề nghị thanh toán Khi dự án đầu tư đã hoàn thành sẽ được nghiệm thu, quyết toán vốn đầu tư xây dựng dự án hoàn thành để bàn giao lại cho đơn vị sử dụng quản lý và khai thác Toàn bộ vốn đầu

tư xây dựng dự án từ khâu chuẩn bị đầu tư đến khi hoàn thành dự án đều được nghiệm thu đầy đủ và báo cáo quyết toán sẽ được thẩm tra để phê duyệt Khâu

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trịnh Quang Bắc (2009), Tham nhũng và phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng: những vấn đề đặt ra và giải pháp, Báo Nhà nước và Pháp luật số 08/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham nhũng và phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng: những vấn đề đặt ra và giải pháp
Tác giả: Trịnh Quang Bắc
Năm: 2009
2. Trịnh Quang Bắc (2015), Nhận diện thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước, Tạp chí Lý luận chính trị số 09/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước
Tác giả: Trịnh Quang Bắc
Năm: 2015
9. Lê Việt Cường (2014), Luận văn thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh“Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh“Chống thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB từ vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Lê Việt Cường
Năm: 2014
10. Trần Lưu Dung (2004), Thất thoát vốn đầu tư XDCB và giải pháp ngăn chặn, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 8/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thất thoát vốn đầu tư XDCB và giải pháp ngăn chặn
Tác giả: Trần Lưu Dung
Năm: 2004
11. Hoàng Thị Hương Giang (2012), Luận văn ngành Thạc sĩ ngành Tài chính và Ngân hàng “Chống thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn nhà nước, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn ngành Thạc sĩ ngành Tài chính và Ngân hàng “Chống thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn nhà nước, phân tích dưới góc độ kiểm toán nhà nước
Tác giả: Hoàng Thị Hương Giang
Năm: 2012
12. Hoàng Xuân Hoà (2005), Những nguyên nhân chủ yếu và biện pháp nhằm giảm thiểu thất thoát, lãng phí trong đầu tư và xây dựng, Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam số 9/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên nhân chủ yếu và biện pháp nhằm giảm thiểu thất thoát, lãng phí trong đầu tư và xây dựng
Tác giả: Hoàng Xuân Hoà
Năm: 2005
13. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
14. Trần Công Hùng (2005), Tham nhũng, tiêu cực trong đầu tư XDCB, tiền thất thoát đủ trả lương cho bộ máy hành chính, sự nghiệp cả nước, Báo Tiền phong số 225 ngày 11/11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: thất thoát đủ trả lương cho bộ máy hành chính, sự nghiệp cả nước
Tác giả: Trần Công Hùng
Năm: 2005
15. Trương Giang Long (2005), Phát triển kinh tế - xã hội và cuộc đấu tranh chống thất thoát, lãng phí, Tạp chí Cộng sản số 22 tháng 11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế - xã hội và cuộc đấu tranh chống thất thoát, lãng phí
Tác giả: Trương Giang Long
Năm: 2005
16. Phan Xuân Lĩnh (2006), Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý “Một số giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Đak Lak” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý “Một số giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Đak Lak
Tác giả: Phan Xuân Lĩnh
Năm: 2006
17. Hoàng Văn Lương (2011), Thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước và vấn đề đặt ra đối với Kiểm toán Nhà nước trong việc kiểm toán các dự án đầu tư, Tạp chí Kiểm toán số 2/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước và vấn đề đặt ra đối với Kiểm toán Nhà nước trong việc kiểm toán các dự án đầu tư
Tác giả: Hoàng Văn Lương
Năm: 2011
19. Võ Hồng Phúc (2005), Tập trung chỉ đạo tạo sự chuyển biến rõ rệt trong lĩnh vực đầu tư XDCB, Tạp chí Thời báo Kinh tế số 1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập trung chỉ đạo tạo sự chuyển biến rõ rệt trong lĩnh vực đầu tư XDCB
Tác giả: Võ Hồng Phúc
Năm: 2005
20. Trần Thanh Phương (2012), Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý kinh tế “Thực trạng và giải pháp phòng chống thất thoát, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý kinh tế “Thực trạng và giải pháp phòng chống thất thoát, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Trần Thanh Phương
Năm: 2012
34. TS. Trịnh Mai Vân, Nguyễn Văn Đại (2014) Thực trạng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước ở Việt Nam
3. Chính phủ (2003), Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 Khác
4. Chính phủ (2014), Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/06/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu Khác
5. Chính phủ (2015), Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 về Quản lý chi phí đầu tư xây dựng Khác
6. Chính phủ (2015), Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng Khác
7. Chính phủ (2015), Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Khác
8. Chính phủ (2015), Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w