1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của hội đồng nhân dân thành phố vinh

100 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vấn đề đặt ra từ hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố đối với việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Thành phố Vinh trong giai đoạn hiện nay .... HĐND có

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THANH MAI

HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGHỆ AN - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THANH MAI

HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử về Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 60.38.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TS ĐINH NGỌC THẮNG

NGHỆ AN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Tác giả luận văn

NGUYỄN THANH MAI

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 6

1.1 Vị trí, vai trò và chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 6

1.1.1 Vị trí, vai trò, tính chất pháp lý và chức năng của Hội đồng nhân dân cấp huyện 6

1.1.2 Khái niệm chức năng giám sát và hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 10

1.1.3 Chủ thể, đối tượng và hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 12

1.2 Chính sách an sinh xã hội và hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân 14

1.2.1 Khái niệm, mục tiêu "Chính sách an sinh xã hội" 14

1.2.2 Hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân 16

1.3 Các yếu tố bảo đảm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện đối với việc thực hiện Chính sách An sinh xã hội 18

1.3.1 Tổ chức bộ máy hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện 18

1.3.2 Năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm thực hiện chức năng giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện 19

1.3.3 Kế hoạch và chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân 19

1.3.4 Điều kiện vật chất, chi phí hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 20

Tiểu kết chương 1 22

Trang 5

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN

CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 23

THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 23

2.1 Đặc điểm thành phố Vinh tác động đến thực trạng hoạt động giám sát các chính sách an sinh xã hội của Hội đồng Nhân dân thành phố 23

2.2 Thực tiễn hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân thành phố Vinh 28

2.2.1 Cơ cấu, chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Vinh hiện nay 28

2.2.2 Hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân thành phố Vinh tại kỳ họp 30

2.2.3 Hiệu quả hoạt động giám sát việc thực hiện Chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân thành phố Vinh giữa hai kỳ họp 36

2.2.4 Những vấn đề đặt ra từ hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố đối với việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Thành phố Vinh trong giai đoạn hiện nay 53

2.2.5 Hạn chế và nguyên nhân trong hoạt động giám sát thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng Nhân dân thành phố Vinh 58

Tiểu kết chương 2 62

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ 63

GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 63

CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 63

3.1 Quan điểm đảm bảo hiệu quả giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân thành phố Vinh 63

3.2 Một số giải pháp đảm bảo hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố Vinh đối với thực hiện chính sách an sinh xã hội 71

3.2.1 Nhóm giải pháp chung 71

3.2.2 Nhóm giải pháp riêng cho Hội đồng nhân dân thành phố Vinh 79

Tiểu kết chương 3 89

KẾT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu về KT - XH năm 2016 26 Bảng 2.2 Thống kê kết quả thực hiện hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn

trong giai đoạn 2011 - 2016 39 Bảng 2.3 Thống kê hiệu quả sau học nghề giai đoạn 2011 - 2016 41

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền

Xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân Tất cả quyền lực của Nhà nước đều thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua cơ quan đại diện là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, trong đó HĐND được xác định là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương HĐND có quyền quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương đồng thời thực hiện chức năng giám sát đối với toàn bộ hoạt động của các cơ quan cùng cấp khác; giám sát việc thực hiện Nghị quyết của HĐND và hoạt động của các tổ chức, công dân ở địa phương Qua hoạt động giám sát, HĐND có thể kiểm chứng tính đúng đắn, phù hợp của các quy định pháp luật đang được áp dụng và những chủ trương, biện pháp đã được HĐND quyết định; kịp thời phát hiện những vướng mắc để đề xuất các giải pháp tháo gỡ; góp phần thực hiện tốt hơn công tác điều hành của các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương đáp ứng nhu cầu bức xúc của nhân dân Thực hiện giám sát một cách toàn diện và nghiêm túc cũng là những căn cứ thực tiễn giúp HĐND ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH), quốc phòng - an ninh đảm bảo được tính khả thi và phát huy hiệu quả trong đời sống xã hội

Trong những năm qua, nhiều chính sách an sinh xã hội (ASXH) đã được Đảng và Nhà nước hoạch định triển khai qua đó góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển và từng chính sách phát triển Chính vì nhận thức đúng đắn đó mà đất nước ta đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là trong xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, giáo dục và đào tạo,

y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần của người nghèo, điều này đã được quốc tế ghi nhận và đánh giá cao Để có được những thành công đó thì việc thực hiện và giám sát thực hiện

Trang 9

các chính sách ASXH ở chính quyền địa phương là rất quan trong, đặc biệt là hoạt động giám sát thực hiện các chính sách ASXH của HĐND các cấp Bởi vì, việc thực hiện chức năng giám sát của HĐND đối với việc thực hiện các chính sách ASXH được coi là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội ở địa phương

Thành phố Vinh là đơn vị hành chính trung tâm của tỉnh Nghệ An, so với các huyện của tỉnh số người dân, hộ gia đình có cuộc sống khá, giàu chiếm tỷ lệ cao hơn tuy nhiên vẫn còn đó một bộ phận không nhỏ người dân có cuộc sống còn nhiều khó khăn cần được thụ hưởng nhiều chế độ trợ cấp từ chính sách ASXH của Đảng, Nhà nước nhằm góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống cho nhân dân trên địa bàn thành phố Để đảm bảo các chính sách ASXH được thực hiện một các đồng bộ, thống nhất và không phát sinh tiêu cực thì hàng năm HĐND thành phố Vinh đã tích cực xây dựng các chương trình kế hoạch giám sát; tổ chức các đoàn giám sát khi cần thiết, trong thực hiện giám sát có những hình thức phối hợp với các cấp, các ngành để đảm bào các chính sách ASXH được thực hiện một cách nghiêm túc và phát huy hiệu quả

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND đối với việc thực hiện các chính sách ASXH hiện nay còn bộc lộ nhiều hạn chế Chẳng hạn như việc xây dựng chương trình, cách thức tổ chức giám sát chưa thật sự khoa học; các kết luận sau khi giám sát thường chung chung, thiếu kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kết luận đó nên vẫn còn hiện tượng sau giám sát đâu lại vào đấy… Xuất phát từ những yêu cầu bức xúc về lý luận và thực tiễn nêu

trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân thành phố Vinh” làm luận văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề ASXH và hoạt động giám sát của HĐND nói chung đã có một số công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ và mức độ khác nhau, như:

Trang 10

- Nguyễn Hữu Dũng (2010), “Hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt

Nam: Thực trạng và định hướng phát triển”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN,

yếu nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát của HĐND, Văn phòng Quốc hội

- Trần Đình Huề (2001), Mấy vấn đề về vai trò hoạt động giám sát của HĐND và bước đầu xây dựng quy trình một cuộc giám sát, Kỷ yếu nâng cao

năng lực và hiệu quả giám sát của HĐND, Văn phòng Quốc hội

- Vũ Hùng (2001), Hoạt động giám sát của Ban Văn hóa xã hội, Hội đồng nhân dân Thành phố Đà Nẵng và một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân, Kỷ yếu nâng cao năng

lực và hiệu quả giám sát của HĐND, Văn phòng Quốc hội

- TS Phạm Ngọc Kỳ (2014), Quyền giám sát của Hội đồng nhân dân và kỹ năng giám sát cơ bản”, Nhà xuất bản Tư pháp

Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách trực tiếp, đầy đủ về việc giám sát thực hiện chính sách ASXH của HĐND thành phố

Vinh Chính vì vậy, đề tài “Hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an

sinh xã hội của Hội đồng nhân dân thành phố Vinh” sẽ là đề tài đầu tiên nghiên

cứu vấn đề này dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật Tuy nhiên, những công trình, bài viết nói trên là nguồn tư liệu quý giá, có giá trị tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát, đánh giá hoạt động giám sát, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND thành phố Vinh trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội

Trang 11

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài nghiên cứu có nhiệm vụ:

- Phân tích cơ sở lý luận về hoạt động giám sát quá trình thực hiện chính sách ASXH của HĐND thành phố Vinh

- Thực trạng giám sát và hiệu quả giám sát thực hiện chính sách ASXH của HĐND thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát thực hiện chính sách ASXH của HĐND thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động giám sát

thực hiện chính sách ASXH tại các Kỳ họp của HĐND thành phố, hoạt động giám sát theo Nghị quyết hàng năm, hoạt động giám sát của các Ban của HĐND

và của đại biểu HĐND thành phố

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu sử dụng các số liệu về thực trạng

giám sát của HĐND thành phố Vinh đối với thực hiện các chính sách ASXH trong giai đoạn 2010 - 2016, dự kiến đến năm 2020 và số liệu điều tra hộ gia đình hàng năm

5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước

ta về Nhà nước pháp quyền XHCN, về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò

và hoạt động của chính quyền địa phương

- Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của đề tài

Luận văn, trong quá trình thực hiện luận văn tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu: Phân tích tổng hợp, hệ thống hoá, so sánh; phương pháp quan sát, phương pháp chuyên gia, phương pháp tổng kết thực tiễn

6 Ý nghĩa của luận văn

- Luận văn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về chức năng giám sát và hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện

Trang 12

- Trên cơ sở đánh giá toàn diện thực trạng về chất lượng hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách ASXH của HĐND cấp huyện, luận văn đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát việc thực hiện chính sách ASXH của HĐND cấp huyện trong điều kiện mới

- Luận văn có thể sử dụng làm tư liệu nghiên cứu tham khảo cho công tác nâng cao năng lực, kỹ năng hoạt động HĐND của đại biểu dân cử và cho cơ quan thường trực của HĐND các cấp trong toàn tỉnh Nghệ An

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách

an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh

xã hội của Hội đồng nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo hiệu quả giám sát việc thực

hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI

CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

1.1 Vị trí, vai trò và chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

1.1.1 Vị trí, vai trò, tính chất pháp lý và chức năng của Hội đồng nhân dân cấp huyện

1.1.1.1 Vị trí, vai trò, tính chất pháp lý của Hội đồng nhân dân

Hiến pháp năm 2013 đã có bước kế thừa và mở rộng so với Hiến pháp năm

1992, Hiến pháp khẳng định địa vị pháp lý của chính quyền địa phương là thiết chế không thể thiếu trong tổ chức Bộ máy nhà nước (BMNN), là nơi có tính chất quyết định đối với việc đưa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống HĐND là một thiết chế quan trọng bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân đồng thời khẳng định nguyên tắc, một cấp chính quyền gồm HĐND và Ủy ban nhân dân (UBND): “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng Nhân dân và

Ủy ban Nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt do luật định” (Điều 111) [21] Theo đó việc tổ chức của bộ máy chính quyền địa phương phải phù hợp với nguyên tắc: Ở đâu

có cơ quan hành chính, ở đó có sự giám sát của HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, cơ quan đại diện cho nhân dân địa phương Nguyên tắc này trong Hiến pháp đã bảo đảm được quyền làm chủ đối với mọi quyền lực nhà nước của nhân dân thông qua cơ quan đại diện của mình là HĐND các cấp Đồng thời Hiến pháp cũng khẳng định: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địa phương, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm

Trang 14

trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân” (Điều 113) [21] Và đã được thể hóa tại khoản 1 Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 như sau: "HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước (CQNN) cấp trên" [38] Việc quy định như trên đã khẳng định và bảo đảm quyền làm chủ của người dân trong việc có cơ quan đại diện và giám sát cơ quan hành chính nhà nước, tạo cho nhân dân có kênh giám sát và có nơi để thực hiện quyền lợi dân chủ của mình

Từ những quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền

địa phương 2015, có thể khái quát vị trí, vai trò của HĐND trên các mặt sau đây: Thứ nhất, Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương

Điều 119, Hiến pháp năm 2013 quy định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và nhà nước cấp trên" [21] Như vậy, ở địa phương, HĐND là cơ quan đại điện cho nhân dân ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Điều này được thể hiện thông qua cách thức thành lập của HĐND, HĐND là cơ quan duy nhất ở địa phương được thành lập thông qua một cuộc bầu cử do cử tri địa phương trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, bỏ phiếu kín; hình thức hoạt động của HĐND chủ yếu thông qua kỳ họp toàn thể

Tính chất đại diện của HĐND về mặt hình thức được thể hiện rõ nét nhất ở vấn đề cơ cấu đại biểu trong Hội đồng Mỗi HĐND có một số lượng đại biểu nhất định đại diện cho nữ giới, người dân tộc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị

Trang 15

- xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân và các CQNN khác đóng tại địa phương Điều này có nghĩa, HĐND không đại diện cho một đảng phái, tổ chức nào mà đại diện cho toàn thể nhân dân; thành phần trong HĐND thể hiện khối đại đoàn kết của toàn dân sống trên địa phương HĐND là cầu nối giữa nhân dân và nhà nước, tạo điều kiện cho nhân dân làm chủ, mối quan hệ hai chiều được dung hoà giữa yếu tố quyền lực nhà nước và yếu tố ý chí của nhân dân HĐND là đại diện tiêu biểu nhất cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân trong xã hội, được lựa chọn từ các đại biểu ưu tú của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, nông dân, trí thức, HĐND đại diện cho chí tuệ, tinh thần và sức mạnh tập thể nhân dân địa phương

Nhưng về mặt lý luận cũng như thực tiễn, cách thành lập HĐND, cơ cấu đại biểu, hình thức hoạt động mới chỉ là dấu hiệu về mặt hình thức, còn hiệu quả hoạt động trong thực tế là cơ sở phản ánh đầy đủ nhất tính chất đại diện của HĐND

Thứ hai, HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương

+ Có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan đại diện của nhân dân ở địa phương, HĐND thay mặt cho nhân dân địa phương, cho cử tri đã bầu ra mình để quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát việc thi hành những quyết định đó HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng kinh tế của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về KT - XH, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước;

- Có quyền giám sát thông qua việc xem xét, đánh giá hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, Toà án nhân dân (TAND), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cùng cấp, các cơ quan nhà nước (CQNN), tổ chức kinh tế, tổ chức xã

Trang 16

hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương trong việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND và việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Với mục đích bảo đảm cho mọi hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát phải thực hiện đúng và đầy đủ những quy định của Hiến pháp và pháp luật, Nghị quyết của HĐND

1.1.1.2 Chức năng của Hội đồng nhân dân

Theo khoản 2 Điều 113, Hiến pháp 2013 thì: “Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp

và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân.” [21] Như vậy, xuất phát từ vị trí, vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân thì Quốc hội đã trao cho HĐND thực hiện ba chức năng chính đó là:

- Quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương như quyết định chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng

và phát triển địa phương về KT - XH, củng cố quốc phòng an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước

- Đảm bảo thực hiện các quy định và quyết định của các CQNN cấp trên

- Thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực HĐND, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của CQNN, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân địa phương Thông qua các Nghị quyết tại kỳ họp, HĐND quyết định những nhiệm vụ phát triển KT - XH, an ninh quốc phòng ở địa phương

Trang 17

1.1.2 Khái niệm chức năng giám sát và hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

1.1.2.1 Khái niệm giám sát và hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân

Để nhận thức đúng bản chất, nội dung cũng như hình thức hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện, trước hết cần làm rõ khái niệm “giám sát”

Trong các công trình nghiên cứu một số tài liệu, thuật ngữ "giám sát" được hiểu theo nhiều cách, từ nhiều góc độ khác nhau: Về mặt ngôn ngữ, từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Giám sát” là: “Sự theo dõi, xem xét, làm đúng hoặc sai những điều đã quy định” [19] Với cách tiếp cận mang tính hệ thống, có ý kiến khác cho rằng: “Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc

và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo quy chế nhằm đạt được những mục đích, hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh” [3]

- Theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015 thì khái niệm "giám sát" được giải thích: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý” [22]

Tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ "giám sát" có khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều đề cập đến nội dung cơ bản: Giám sát là việc theo dõi, xem xét và kiểm tra một chủ thể nào đó về một việc làm đã thực hiện đúng hoặc thực hiện chưa đúng những điều đã quy định để từ đó có biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với việc làm sai, nhằm đạt được những mục đích hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho các quyết định thực hiện đúng và đầy đủ

Tóm lại, thuật ngữ "giám sát" nếu hiểu theo nghĩa chung thì phạm vi áp dụng của nó rất rộng, muốn có một khái niệm cụ thể thì hoạt động giám sát bao

Trang 18

giờ cũng gắn với một chủ thể xác định chẳng hạn như giám sát của Quốc hội, giám sát của HĐND, giám sát của nhân dân

Căn cứ vào các yếu tố cấu trúc của khái niệm giám sát, căn cứ vào những quy định của Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

và các văn bản pháp luật khác, hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện được hiểu như sau: Giám sát của HĐND cấp huyện là tổng thể các hoạt động của HĐND, Thường trực HĐND, các ban của HĐND và các đại biểu HĐND nhằm theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bản của CQNN cấp trên cũng như Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh; từ đó đưa ra các kết luận và phương án xử lý phù hợp để khắc phục những tồn tại, hạn chế, phát huy mọi tiềm năng, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước

Như vậy, hoạt động giám sát của HĐND là một bộ phận cấu thành của cơ chế giám sát, kiểm tra Nhà nước Điểm đặc biệt HĐND vừa là chủ thể thực hiện hoạt động giám sát nhưng đồng thời cũng là đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội

1.1.2.2 Chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Chức năng giám sát của HĐND là một trong những phương diện hoạt động chủ yếu của HĐND nhằm thực hiện vai trò, nhiệm vụ của HĐND Điểm a, khoản 1, Điều 5 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND 2015 quy định: "Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện Nghị quyết của HĐND cùng cấp; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Ban của HĐND cấp mình; giám sát quyết định của UBND cùng cấp và Nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp" [22]

Trang 19

Chức năng giám sát của HĐND bao giờ cũng gắn liền với chức năng quyết định những vấn đề cơ bản về KT - XH của HĐND Thực hiện tốt chức năng này không những cho phép HĐND kiểm tra, đánh giá hoạt động của các CQNN trong việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, các Nghị quyết của HĐND mà còn cho phép HĐND phát hiện được sự không phù hợp, thiếu thực tế của các Nghị quyết

do HĐND ban hành để sửa đổi, bổ sung Kết quả giám sát sẽ là căn cứ để HĐND thực hiện quyền bãi miễn, miễn nhiệm các chức vụ chủ chốt (Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên của UBND, Trưởng ban và các thành viên của HĐND) hoặc sẽ là căn cứ để HĐND bãi bỏ những quyết định sai trái của HĐND cùng cấp, những Nghị quyết sai trái của HĐND cấp dưới trực tiếp

Như vậy, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, vị trí, vai trò và chức năng của HĐND rất lớn Vấn đề đặt ra hiện nay chúng ta phải làm thế nào để HĐND thể hiện và phát huy tốt vị trí, vai trò và chức năng của HĐND trên thực tế; đảm bảo sự phối hợp, hợp tác với nhau giữa các CQNN ở địa phương nhằm đưa lại cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc cho người dân

Để đáp ứng được yêu cầu trên cần phải đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của HĐND, trong đó đặc biệt phải chú ý đến chức năng giám sát

1.1.3 Chủ thể, đối tượng và hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

1.1.3.1 Về chủ thể giám sát

Trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, việc giám sát các hoạt động của Nhà nước được thực hiện bởi rất nhiều cơ quan, tổ chức: Giám sát của cơ quan dân cử (Quốc hội và HĐND); giám sát của Chủ tịch nước; kiểm tra, thanh tra của Chính phủ và bộ máy hành chính; kiểm tra giám sát của Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân; giám sát của tổ chức chính trị - xã hội, giám sát của nhân dân Trong đó, giám sát của HĐND có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Trang 20

đối với sự phát triển của địa phương Theo các Mục 1, Mục 2, Mục 3 và Mục 4 của chương III Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND 2015, giám sát của HĐND bao gồm: Giám sát của HĐND tại kỳ họp, giám sát của Thường trực HĐND, giám sát của các Ban của HĐND và giám sát của Đại biểu HĐND, tổ đại biểu HĐND

Như vậy, chủ thể thực hiện quyền giám sát của HĐND bao gồm: HĐND; Thường trực HĐND; Các ban của HĐND; Đại biểu HĐND và Tổ đại biểu HĐND

1.1.3.2 Về đối tượng giám sát

Theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND 2015, đối tượng giám sát của HĐND, bao gồm:

- Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân,

cơ quan Thi hành án cùng cấp

- Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND các thành viên khác của UBND, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp

- Các CQNN, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương

Như vậy, theo pháp luật hiện hành, đối tượng giám sát của HĐND rất phong phú và đa dạng, bao gồm tất cả các CQNN, đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân ở địa phương

Tuy nhiên cần lưu ý, trong luật hiện hành không phân cấp giám sát giữa HĐND các cấp, điều đó không có nghĩa HĐND mỗi cấp thực hiện thẩm quyền giám sát như nhau đối với mọi hoạt động của đối tượng chịu giám sát Đối tượng, phạm vi, mức độ giám sát của HĐND phụ thuộc vào vị trí, vai trò và sự phân cấp, tính chất của mối quan hệ giữa HĐND với đối tượng chịu sự giám sát Chẳng hạn với UBND do mối quan hệ chấp hành (trực thuộc) của cơ quan này với HĐND mà phạm vi mức độ giám sát của HĐND rất lớn, bao trùm mọi hoạt

Trang 21

động của UBND và khả năng xử lý lớn đối với quyết định, hành vi và cả nhân

sự của UBND Nhưng với TAND, VKSND thì hoạt động giám sát của HĐND chủ yếu ở việc xem xét tính pháp chế của các bản án đã được giải quyết và sự phối hợp của Toà án, Viện kiểm sát với địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương Kết quả giám sát của HĐND đối với Toà án chỉ có thể là đề nghị Nếu có hậu quả pháp lý nào đó đối với Toà án chỉ là hậu quả gián tiếp không xuất phát từ thẩm quyền của HĐND

1.1.3.3 Về hình thức giám sát

Hình thức giám sát được hiểu là cách thức mà HĐND cấp huyện áp dụng

để giám sát các đối tượng theo quy định của pháp luật

Theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND 2015, HĐND cấp huyện sử dụng các hình thức giám sát sau:

- Xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp

- Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp

- Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp, Nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của CQNN cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp

- Thành lập Đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết

- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu

1.2 Chính sách an sinh xã hội và hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân

1.2.1 Khái niệm, mục tiêu "Chính sách an sinh xã hội"

1.2.1.1 Khái niệm "Chính sách an sinh xã hội"

Hiện nay còn tồn tại nhiều các quan điểm khác nữa về “An sinh xã hội”

Cụ thể:

Trang 22

Theo tác giả Nguyễn Hải Hữu thì "ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp công nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về KT - XH làm cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hoá và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua các

hệ thống chính sách về thị trường lao động, bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm

y tế (BHYT), trợ giúp đặc biệt, trợ giúp xã hội (TGXH) và người nghèo" [17]

Còn theo tác giả Mai Ngọc Cường trong công trình "Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam" lại cho rằng, để thấy hết được bản chất của ASXH cần phải tiếp cận khái niệm này theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Theo nghĩa rộng, "ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội" Còn khi hiểu ASXH nghĩa hẹp thì đó "Là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ

em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ" [4] Nhưng đa số các quan niệm đều nhấn mạnh rằng, ASXH là các biện pháp bảo vệ sự an toàn xã hội cho các thành viên của mình trong trường hợp họ gặp rủi ro dẫn đến bị mất hoặc giảm thu nhập hay tăng chi phí đột ngột, thông qua các tầng lưới khác nhau để duy trì cuộc sống bình thường Các tầng lưới đó bao gồm các chính sách: BHXH, BHYT và TGXH, v.v

Và từ đó ta có thể hiểu khái niệm “Chính sách ASXH” là: Những chính sách bảo vệ của Nhà nước nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân

ốm, đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác thông qua các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, Ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội

Trang 23

1.2.1.2 Mục tiêu chính sách an sinh xã hội

Mục tiêu thứ nhất: Tăng cường tính bình đẳng trong thị trường lao động

thông qua hỗ trợ tốt hơn người nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương tham gia đào tạo, có việc làm, nâng cao điều kiện làm việc và cải thiện cuộc sống, mở rộng tỷ lệ tham gia bảo hiểm tự nguyện

Mục tiêu thứ hai: Phát triển hệ thống BHXH tiên tiến, mở rộng phạm vi,

đối tượng tham gia vào BHXH tự nguyện, quỹ BHXH được bảo đảm an toàn và phát triển, mức hưởng được cải thiện

Mục tiêu thứ ba: Tăng cường hiệu quả chăm sóc y tế công Thực hiện mục

tiêu BHYT toàn dân từ năm 2014, cải thiện hoạt động chăm sóc y tế để mọi người dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng dân tộc, miền núi dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Mục tiêu thứ tư: Phát triển hệ thống trợ giúp xã hội linh hoạt, ứng phó kịp

thời với các biến cố, rủi ro Mở rộng các nhóm đối tượng thụ hưởng đến toàn bộ các nhóm dân cư dễ bị tổn thương

Mục tiêu thứ năm: Thực hiện giảm nghèo bền vững, ngăn chặn gia tăng bất

bình đẳng Kiểm soát bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư, vùng về thu nhập và

cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, hưởng lợi từ các chương trình đầu tư phát triển, giảm nghèo trong từng vùng, từng khu vực Bảo vệ có hiệu quả các trẻ em

và phụ nữ nghèo, dễ bị tổn thương, bị lạm dụng

Mục tiêu thứ sáu: Nâng cao chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ xã hội

tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Tăng cường tiếp cận của người di dân đến dịch vụ xã hội tại các đô thị

1.2.2 Hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân

1.2.2.1 Nội dung hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân

Hội đồng nhân dân giám sát việc thưc hiện chính sách ASXH thông qua hoạt động công tác của các cơ quan do HĐND bầu ra hoặc theo quy định của

Trang 24

pháp luật là đối tượng phải báo cáo công tác trước HĐND, giám sát việc thi hành pháp luật và Nghị quyết của HĐND đối với đối tượng thuộc quyền giám sát của HĐND Cụ thể như sau:

Một là, hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội

đồng nhân dân tại kỳ họp, bao gồm:

- Xem xét báo cáo thực hiện chính sách an sinh xã hội của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và báo cáo công tác kiểm tra giám sát của các Ban HĐND tại kỳ họp;

- Nghe báo cáo về tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và tình hình giải quyết khiếu nại tố cáo của cử tri liên quan đến Chính sách an sinh xã hội trên địa bàn;

- Chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp liên quan đến chính sách an sinh xã hội trên địa bàn;

- Xem xét văn bản qui phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân thành phố, Hội đồng nhân dân xã, phường liên quan tới việc triển khai thực hiện chinh sách

an sinh xã hội trên địa bàn

Hai là, hoạt động giám sát việc thực hiện Chính sách an sinh xã hội của

Hội đồng nhân dân giữa hai kỳ họp Trách nhiệm giám sát thuộc về Thường trực, các ban, tổ đại biểu và đại biểu HĐND

1.2.2.2 Các hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân đối với việc thực hiện Chính sách an sinh xã hội trên địa bàn

Để thực hiện chức năng giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, HĐND sử dụng các hình thức giám sát sau đây:

Thứ nhất, giám sát báo cáo công tác thực hiện Chính sách ASXH của

Thường trực HĐND, UBND, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND

Trang 25

Thứ hai, giám sát việc trả lời chất vấn của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch

UBND, các thành viên khác của UBND, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố về thực hiện Chính sách ASXH

Thứ ba, giám sát văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Chính sách

ASXH của UBND thành phố, Nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của CQNN cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp Thành lập Đoàn giám sát việc thực hiện Chính sách ASXH trên địa bàn thành phố theo kế hoạch hoặc đột xuất theo đơn thư của công dân

1.3 Các yếu tố bảo đảm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện đối với việc thực hiện Chính sách An sinh xã hội

1.3.1 Tổ chức bộ máy hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Yếu tố này đòi hỏi HĐND phải có một bộ máy hoạt động đủ khả năng thực hiện một cách tốt nhất chức năng giám sát trong phạm vi quyền hạn của mình Bất kỳ cơ quan nào, nếu có một tổ chức hợp lý và đồng bộ sẽ tạo nên guồng máy làm việc nhịp nhàng và dễ mang lại hiệu quả

HĐND ở nước ta là cơ quan hoạt động không thường xuyên, cùng với đặc điểm đại biểu HĐND làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của HĐND nói chung và giám sát nói riêng Hơn nữa, HĐND là một cơ quan mang tính chất đại diện ở địa phương, nên về mặt tổ chức lâu nay vẫn chưa được chú ý cả về lý luận và thực tiễn Để thực hiện tốt chức năng giám sát của mình, HĐND ngày càng chú ý hoàn thiện về mặt tổ chức Từ khi HĐND mới chỉ có một ban thư ký đại biểu, không có thường trực, đến nay HĐND đã thành lập các cơ quan của mình: Thường trực HĐND, các ban HĐND, trong đó đã có những đại biểu hoạt động chuyên trách, phần nào đáp ứng được nhu cầu công việc trước mắt Tuy nhiên, với tình hình nhiệm vụ như hiện nay, cần phải tập trung nghiên cứu đổi mới về mặt tổ chức bộ máy của

Trang 26

Hội đồng, trong đó phải chú ý đến bộ phận giúp việc cho thường trực Có như vậy mới đảm đương được công việc giám sát của HĐND

1.3.2 Năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm thực hiện chức năng giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện

Đại biểu HĐND là nguồn gốc của mọi vấn đề liên quan đến chất lượng và hiệu quả giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương Bởi thực tế chứng minh rằng: Một cơ quan tổ chức có cơ cấu hợp lý đầy đủ các phòng ban, nhưng để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, yếu tố con người trong tổ chức đó đóng vai trò vô cùng quan trọng Do vậy, bên cạnh đảm bảo về mặt số lượng, năng lực của các đại biểu HĐND trong khi thực hiện chức năng giám sát

có vai trò rất lớn đến kết quả giám sát cũng như việc thực thi kết quả đó Các đại biểu dân cử phải có đủ tâm, đủ tầm và đủ tài, bởi người làm công tác giám sát, ngoài công nhận cái đúng, còn phải chỉ rõ và đề ra những kiến nghị, những biện pháp hữu hiệu để loại bỏ cho được cái tiêu cực, trái pháp luật Để phát hiện sai trái của người khác của các ngành chức năng, người đại biểu nhân dân phải có quan điểm, trình độ, bản lĩnh vững vàng, có cách nhìn sáng suốt và phương pháp làm việc khoa học, hợp lý, phải có bản lĩnh giám nói thẳng nói thật, không nể nang né tránh, phải vì lợi ích của dân của Nhà nước

Điều này có nghĩa, giám sát là một công việc khó khăn và phức tạp, bên cạnh nắm vững các quy định pháp luật về vấn đề giám sát, người đại biểu còn phải có kỹ năng, trình độ, bản lĩnh và trách nhiệm khi tiến hành các hoạt động giám sát Muốn vậy, các đại biểu dân cử phải luôn ý thức được đây là một trong những điều kiện chủ quan mà bất cứ một người đại biểu nào cũng phải tự trau dồi nâng cao nghiệp vụ

1.3.3 Kế hoạch và chương trình giám sát của Hội đồng nhân dân

Xây dựng chương trình, kế hoạch và lựa chọn hình thức giám sát phù hợp

là điều kiện đảm bảo thế chủ động cho HĐND khi thực hiện chức năng, nhiệm

Trang 27

vụ và cũng là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả giám sát HĐND thành phố cần ra Nghị quyết tổ chức giám sát, các cuộc giám sát đều phải lập kế hoạch, xây dựng chương trình cụ thể, thông báo sớm về nội dung, thời gian và thống nhất cách thức thực hiện, các thành viên của đoàn giám sát phải nắm vững mục đích yêu cầu, phương pháp giám sát

Nói chung, HĐND phải xây dựng chương trình giám sát hàng năm, kế hoạch giám sát hàng quý, hàng tháng của thường trực, các ban, các đại biểu và

kế hoạch giám sát cụ thể bằng nội dung cũng như những cuộc giám sát đột xuất theo yêu cầu của cử tri, dư luận xã hội Trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang thực hiện chương trình hoá hoạt động giám sát, tổ chức giám sát một cách toàn diện, các lĩnh vực giám sát của HĐND thành phố rất rộng, cho nên khi xây dựng chương trình giám sát cần phải có trọng tâm, trọng điểm; nội dung giám sát phải tập trung vào những vấn đề thiết thực, bức xúc và đang được đông đảo cử tri ở địa phương quan tâm

Cũng cần phải thấy rằng mọi cố gắng trong việc xây dựng chương trình, lập

kế hoạch và lựa chọn hình thức giám sát có thể sẽ không đưa lại một kết quả nào nếu HĐND thiếu kiểm tra, đôn đốc các kết luận sau khi giám sát Việc kiểm tra, đôn đốc các kết luận sau khi giám sát buộc đối tượng bị giám sát phải kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh hoạt động của mình theo đúng quy định của pháp luật và Nghị quyết của HĐND, và đó cũng là một trong những điều kiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát hiện nay

1.3.4 Điều kiện vật chất, chi phí hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Muốn nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND thành phố cần phải đầu tư chi phí và điều kiện vật chất cho hoạt động giám sát Trong đánh giá hiệu

Trang 28

quả giám sát của HĐND cần hiểu tính chất hai mặt của đầu tư chi phí cho hoạt động này

Thứ nhất, phải tăng cường đầu tư chi phí cho hoạt động giám sát của

HĐND theo yêu cầu của từng nội dung hoạt động Nếu có đầu tư thoả đáng sẽ góp phần tích cực nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng Chẳng hạn có những địa phương thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng cao rất khó khăn, công việc giám sát chủ yếu lại diễn ra ở cơ sở cho nên cần có chế độ kinh phí bồi dưỡng cho cán bộ trực tiếp xuống giám sát, tạo điều kiện thuận lợi cho đoàn giám sát trong thời gian làm việc tại cơ sở Đối với các chức danh kiêm nhiệm của HĐND nên có quy định được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm để họ nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình Cần phải đầu tư nhiều hơn nữa các trang thiết bị cần thiết, khắc phục tình trạng khó khăn lâu nay trong công việc giám sát là thiếu nguồn thông tin cập nhật

Thứ hai, đầu tư chi phí cho hoạt động giám sát phải tối ưu nghĩa là chỉ đủ

mức cần thiết và triệt để tiết kiệm, chống lãng phí Không bao giờ và ở đâu hễ

cứ tăng đầu tư chi phí thì khi đó và ở đó, công tác giám sát có hiệu quả Ngược lại, nhiều khi chỉ với mức kinh phí hạn hẹp, nhưng nếu tổ chức thực hiện tốt, tìm

ra những hình thức phương pháp thích hợp, cũng có thể đưa lại hiệu qủa cao Tuy nhiên, do tính đặc thù của công tác giám sát, hơn nữa nhiều khi dư luận xã hội cũng đóng vai trò rất lớn trong việc chấn chỉnh các vấn đề chính trị, cho nên trong một số trường hợp không nên căn ke tính toán mức chi phí bỏ ra

là bao nhiêu, vấn đề chúng ta có thực hiện chương trình giám sát đến cùng hay không Nếu cuộc giám sát đưa lại kết quả tốt không những góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế của địa phương mà còn có tác dụng to lớn trong việc chấn chỉnh các vấn đề chính trị - xã hội Như vậy, khi nói tới hiệu quả của bất kỳ hoạt động nào nói chung và giám sát nói riêng đòi hỏi phải tính đến mức đầu tư, chi phí hợp lý, tối ưu

Trang 29

Tiểu kết chương 1

Hoạt động giám sát của HĐND thành phố đã được Luật Hoạt động giám sát của Quốc Hội và Hội đồng nhân dân 2015 quy định rất cụ thể, giám sát tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội

Hoạt động giám sát của HĐND về việc thực hiện chính sách ASXH cấp huyện và điều kiện để HĐND cấp huyện nâng cao hiệu quả giám sát đối với chính sách ASXH và thực hiện chính sách ASXH là một trong những vấn đề cấp thiết trong tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá năng lực, hiệu lực Nhà nước đối với việc thực thi các chính sách phát triển KT - XH ở nước ta hiện nay Trong chương 1 luận văn đã trình bày những vấn đề cơ bản về: Vị trí, vai trò, tính chất pháp lý và chức năng của Hội đồng nhân dân cấp huyện; Khái niệm chức năng giám sát và hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện; Chủ thể, đối tượng và hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện; Chính sách an sinh xã hội và hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân; Khái niệm, mục tiêu "Chính sách an sinh xã hội"; Hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân; Các yếu tố bảo đảm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện đối với việc thực hiện Chính sách An sinh xã hội Từ đó khái quát lên cơ sở lý luận

về hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

2.1 Đặc điểm thành phố Vinh tác động đến thực trạng hoạt động giám sát các chính sách an sinh xã hội của Hội đồng Nhân dân thành phố

Thứ nhất, về đặc điểm tự nhiên ảnh hưởng đến thực trạng hoạt động giám

sát các chính sách an sinh xã hội của Hội đồng Nhân dân thành phố

Thành phố Vinh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Nghệ An,

đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với đề án ''Phát triển thành phố Vinh trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá vùng Bắc Trung Bộ'', đến năm 2020 thành phố Vinh sẽ mở rộng địa giới hành chính để có diện tích 250 km² với dân số dự kiến là 800.000 - 1.000.000 người Sau khi mở rộng, diện tích của thành phố Vinh sẽ bao gồm thành phố Vinh hiện nay và toàn bộ diện tích thị xã Cửa Lò, phần phía Nam huyện Nghi Lộc, phía Bắc huyện Hưng Nguyên Ranh giới thành phố mới sẽ là phía Bắc là đường Nam Cấm, phía Tây là đường tránh Vinh, phía Nam là sông Lam và phía Đông là biển Đông Thành phố Vinh có tọa độ địa lý từ 18°38'50'' đến 18°43’38'' vĩ độ Bắc, từ 105°56’30'' đến 105°49’50'' kinh

độ Đông; nằm bên bờ sông Lam, cách thủ đô Hà Nội 295 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.424 km, cách thủ đô Viên Chăn (Lào) 400 km về phía Tây

Dân số 315.421 người (2015), đa số là dân tộc Kinh Tổng diện tích đất của Vinh là 105 km² với 25 đơn vị hành chính phường, xã (16 phường, 9 xã) Cụ thể, thành phố Vinh có 16 phường là: Bến Thủy, Cửa Nam, Đội Cung, Đông Vĩnh, Hà Huy Tập, Hồng Sơn, Hưng Bình, Hưng Dũng, Hưng Phúc, Lê Lợi, Lê Mao, Quán Bàu, Quang Trung, Trung Đô, Trường Thi, Vinh Tân và 9 xã: Hưng Chính, Hưng Đông, Hưng Hòa, Hưng Lộc, Nghi Ân, Nghi Đức, Nghi Kim, Nghi Liên, Nghi Phú [24]

Trang 31

Thành phố Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và có một

số đặc điểm khác biệt đáng chú ý: Có lượng mưa thuộc loại lớn nhất của Nghệ

An, lượng mưa trung bình năm ở Vinh là 2.374 mm, cao nhất so với các vùng trong tỉnh Nghệ An Vinh nằm trong đới khí hậu nhiệt đới nên có nền nhiệt cao (nhiệt độ trung bình năm 23C - 24C), chịu ảnh hưởng của các loại gió mùa châu Á, hoạt động mạnh mẽ nhất là gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ Gió mùa mùa Đông hoạt động ở Vinh thổi theo các hướng: Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc Gió mùa mùa hạ hoạt động ở Vinh thổi chủ yếu theo các hướng: Tây Nam

và Đông Nam Vinh là vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng; về thổ nhưỡng gồm có: Đất pha cát có diện tích 4.367 ha, chiến 48,50% diện tích đất tự nhiên, được sử dụng vào mục đích phát triển các ngành công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ phục vụ quá trình đô thị hóa (đất phi nông nghiệp - đất chuyên dùng và đất ở) và một phần để phát triển các cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, hoa và cây cảnh (đất nông nghiệp); đất cát biển có diện tích 3.345 ha, chỉ thích hợp để trồng hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày; đất mặn có diện tích khoảng 1.252 ha sau khi cải tạo trồng được 2 vụ lúa, một số ít trong đê trồng cói và nuôi trồng thủy sản (cá và tôm), một số ở ngoài đê trồng bần là loại cây ngập mặn Trên bình diện chung, với điều kiện địa hình và đất đai của thành phố thuận lợi cho việc sản xuất lẫn cư trú [24]

Thứ hai, về đặc điểm kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến thực trạng hoạt động

giám sát các chính sách an sinh xã hội của Hội đồng Nhân dân thành phố

Trong những năm trở lại đây Vinh có những bước đổi mới và phát triển toàn diện đi lên cùng với sự phát triển của đất nước Xác định phát triển kinh tế

là nhiệm vụ trọng tâm, thành phố đã xây dựng và lãnh đạo triển khai thực hiện chương trình phát triển KT - XH, thực hiện tốt và kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo ASXH

Trang 32

Hội đồng nhân dân thành phố Vinh đã triển khai tích cực đồng bộ, có trọng điểm các giải pháp thực hiện nhiệm vụ KT - XH, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng nhịp độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 đạt 8,8%; Giá trị gia tăng bình quân đầu người/năm tăng từ 36,47 triệu đồng năm 2010 lên 68,3 triệu đồng năm 2016; Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp vị thế của đô thị: Tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 58,66% năm 2010 lên 66,72% năm 2016, công nghiệp - xây dựng giảm từ 39,39% xuống còn 31,59%, nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 1,96% xuống còn 1,69% [13]

Thành phố Vinh là đầu mối về giao thông, có nhiều tuyến giao thông chính của quốc gia và quốc tế đi qua, bao gồm: Đường bộ, đường sắt, đường biển, đường hàng không và các cửa khẩu Đường quốc lộ 1A xuyên việt, đường sắt Bắc - Nam, đường quốc lộ 7, quốc lộ 8 nối với nước bạn Lào và Đông Bắc Thái Lan trong hệ thống đường xuyên á, đường biển thông thương với cảng biển quốc gia và quốc tế Đường hàng không với sân bay Vinh đã được nâng cấp và mở rộng thành cảng hàng không quốc tế Với lợi thế lớn về giao thông đã làm cho khoảng cách giữa thành phố Vinh với các khu vực khác trong nước và các quốc gia khác trở nên gần gũi hơn, rất thuận tiện cho du khách và các nhà đầu tư trong

và ngoài nước đến hợp tác, đầu tư tại thành phố Vinh [13]

Thành phố Vinh có 01 Khu công nghiệp 70 ha thuộc Tỉnh quản lý nằm trên địa bàn, 04 cụm công nghiệp nhỏ do Thành phố Vinh quản lý; có 29 chợ phục vụ buôn bán giao thương hàng hóa, 57 hợp tác xã; 07 làng nghề; hơn 3.200 doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động và nhiều loại hình kinh doanh dịch vụ thương mại giải quyết việc làm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố

Trang 33

3 Giá trị gia tăng bình quân đầu người Trđ/người 68,3

4 Thu ngân sách trên địa bàn Tỷ đồng 2.225,9

II Chỉ tiêu về xã hội

1 Giải quyết việc làm hàng năm Người/năm 4.348

5 Số phường, xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế Phường/xã 25

8 Số thuê bao Interner/100 dân Thuê bao 25

III Chỉ tiêu về Quốc phòng - An ninh

Trang 34

Chính nhờ sự phát triển về KT - XH phát triển nên nguồn kinh phí từ ngân sách Thành phố đầu tư cho hoạt động thực hiện chính sách ASXH cũng được nâng lên rất nhiều

Tuy nhiên bên cạnh những thành tích đã đạt được, đến nay tình hình KT -

XH của nhiều phường, xã trên địa bàn còn chậm phát triển, nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập quán canh tác chậm đổi mới, đầu tư thâm canh chưa cao Tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn cao so với bình quân chung của các thành phố khác, khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các xã, phường và các đối tượng yếu thế ngày càng tăng; chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân còn nhiều khó khăn Một số tệ nạn xã hội như ma túy, rượu chè, cờ bạc tuy đã có nhiều biện pháp ngăn chặn song vẫn còn nhiều tiềm ẩn

Hệ thống chính trị cơ sở chưa mạnh, trình độ của đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu; cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở một số xã, phường hoạt động chưa hiệu quả, không sát dân, chưa phát huy tốt sức mạnh của khối đại đoàn kết trên điạ bàn thành phố Công tác thực hiện các chính sách ASXH tuy đã được chăm lo nhưng vẫn còn một số hạn chế, công tác quản lý các đối tượng thuộc nhóm hưởng BTXH, TGXH chưa sâu sát, một bộ phận cán bộ làm công tác chính sách xã hội chưa đầu tàu, gương mẫu trong đạo đức lối sống, còn lợi dụng chức vụ quyền hạn quản lý sử dụng sai mục đích chế độ của người dân Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên đang là lực cản đối với sự phát triển, làm ảnh hưởng đến việc khai thác, phát huy tiềm năng, thế mạnh của thành phố

Vì vậy, để phát huy tối đa các chính sách ASXH trên địa bàn thành phố, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, HĐND thành phố Vinh cần nâng cao chất lượng giám sát việc thực hiện các chính sách ASXH và định hướng những giải pháp đồng bộ để khắc phục những hạn chế, khuyết điểm ở trên

Trang 35

2.2 Thực tiễn hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân thành phố Vinh

2.2.1 Cơ cấu, chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Vinh hiện nay

* Trong nhiệm kỳ XX, khóa 2011 - 2016 về tổ chức của HĐND thành phố,

số lượng đại biểu được bầu là 40 trong đó cơ cấu thành phần các đại biểu như sau (Nữ: 10 đại biểu chiếm 25%; Nam 30 đại biểu chiếm 75%):

- Về số lượng, chất lượng:

+ Đại biểu là công chức Nhà nước : 34 người

+ Đại biểu không phải công chức Nhà nước : 06 người

+ Đại biểu hoạt động chuyê n trách : 3 người

+ Đại biểu hoạt động kiêm nhiệm : 37 người

- Về trình độ văn hoá:

- Về chuyên môn nghiệp vụ:

* Trong nhiệm kỳ XXI, khóa 2016 - 2021 tính đến tháng 11/ 2017 về tổ chức của HĐND thành phố, số lượng đại biểu được bầu là 40 trong đó cơ cấu thành phần các đại biểu như sau (Nữ: 11 đại biểu chiếm 27,5%; Nam 39 đại biểu chiếm 72,5%):

- Về số lượng, chất lượng

+ Đại biểu là công chức nhà nước : 34 người

+ Đại biểu không phải công chức nhà nước : 06 người

Trang 36

+ Đại biểu hoạt động chuyên trách : 03 người

+ Đại biểu hoạt động kiêm nhiệm : 37 người

- Trình độ văn hoá:

- Về chuyên môn nghiệp vụ:

+ Trung cấp, Cao đẳng : 01 người, chiếm 2,5%

Qua kết quả bầu cử ở 2 nhiệm kỳ (2011 - 2016 và 2016 - 2021) cho thấy số lượng, chất lượng của đại biểu HĐND thành phố ngày càng được củng cố, nâng cao tạo ra nhiều thuận lợi cho các đại biểu HĐND thành phố hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần nâng cao vị thế của HĐND ở chính quyền địa phương

* Về tổ chức bộ máy của HĐND trong nhiệm kỳ 2016 - 2021, khóa XXI bao gồm:

Trang 37

2.2.2 Hoạt động giám sát việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của Hội đồng nhân dân thành phố Vinh tại kỳ họp

2.2.2.1 Xem xét báo cáo thực hiện chính sách an sinh xã hội của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và báo cáo công tác kiểm tra giám sát của các Ban Hội đồng nhân dân thành phố tại kỳ họp

Trong hoạt động của HĐND, kỳ họp HĐND là một hoạt động cơ bản, chủ yếu Chất lượng, hiệu quả kỳ họp HĐND có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Quy chế hoạt động của HĐND

đã quy định rõ quy trình, thủ tục, cách thức tiến hành kỳ họp, có thể coi các quy định đó như là "Cẩm nang" để HĐND các cấp căn cứ và tổ chức kỳ họp

Đặc điểm lớn nhất trong hoạt động giám sát tại kỳ họp là có sự tham gia của tất cả các đại biểu HĐND, đồng thời là môi trường để phát huy tính dân chủ

và trí tuệ tập thể Do đó, xác định đúng tầm quan trọng của kỳ họp, trong những năm qua hoạt động giám sát của HĐND thành phố tại các kỳ họp đã có bước chuyển biến tích cực

Để hoạt động của các kỳ họp đạt kết quả cao, ngay từ tháng 10 năm trước, Thường trực HĐND thành phố đã đề nghị UBND thành phố chuẩn bị chương trình xây dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND thành phố; đại biểu, các Ban HĐND thành phố đóng góp ý kiến về xây dựng chương trình giám trong năm Trước các kỳ họp, Thường trực HĐND thành phố đã đề nghị UBND thành phố rà soát các nội dung để điều chỉnh, bổ sung kịp thời vào nội dung kỳ họp, đồng thời tổ chức hội nghị với UBND, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các Ban của HĐND, các phòng, ban của UBND thành phố có liên quan để thống nhất nội dung, chương trình kỳ họp, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong công tác chuẩn bị kỳ họp; quy định cụ thể thời gian hoàn thành các văn bản trình kỳ họp và gửi về Thường trực HĐND thành phố để gửi tới đại biểu HĐND thành

Trang 38

phố nghiên cứu phục vụ công tác thẩm tra, họp tổ và tiếp xúc cử tri, trong đó có nội dung liên quan đến ASXH trên địa bàn thành phố

Tại kỳ họp, HĐND thành phố xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND thành phố, UBND cùng cấp Để có căn cứ xem xét các loại báo cáo ngoài thông tin trong báo cáo, các đại biểu còn kết hợp với các nguồn thông tin khác như thông tin qua nghiên cứu báo cáo thẩm tra của các ban, thông tin qua việc giám sát ở cơ sở, tiếp xúc cử tri cũng như qua đơn thư khiếu nại của công dân và phản ánh của dư luận xã hội Sau khi người đứng đầu cơ quan trình bày báo cáo, các đại biểu HĐND thành phố Vinh đã thảo luận, góp ý kiến khá sôi nổi, số đại biểu tham gia đóng góp ý kiến, thảo luận, tranh luận ngày càng nhiều

và thiết thực hơn, bước đầu khắc phục được tính qua loa, đại khái, hình thức Nhiệm kỳ 2011 - 2016, HĐND thành phố Vinh đã tổ chức được 11 kỳ họp thường kỳ và 01 kỳ họp bất thường Tại các kỳ họp, các đại biểu HĐND đã xem xét các báo cáo do Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và UBND báo cáo

và báo cáo công tác kiểm tra giám sát của các Ban HĐND thành phố tại các kỳ họp Đặc biệt là báo cáo tình hình phát triển KT - XH của thành phố 6 tháng đầu năm và 12 tháng cuối năm Thông qua kỳ họp, HĐND đã tập trung vào các vấn

đề liên quan đến đời sống ASXH của thành phố như: Tình hình xóa đói giảm nghèo (XĐGN), tình hình thực hiện khám chữa bệnh cho người nghèo trên địa bàn thành phố, tình hình giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn thành phố Trong giai đoạn 2011 - 2016, HĐND thành phố xem xét, quyết định thông qua 87 Nghị quyết (trong đó có 37 Nghị quyết có nội dung quy phạm pháp luật, 15 Nghị quyết có liên quan đến vấn đề ASXH), đồng thời đã thẩm tra được 52 báo cáo, trong đó có 30 báo cáo liên quan đến tình hình ASXH của thành phố [15]

Để bảo đảm tính dân chủ, đúng quy định của pháp luật, trước kỳ họp, Thường trực HĐND thành phố chỉ đạo Văn phòng HĐND và UBND thành phố phối hợp với các ban, ngành có liên quan để chuẩn bị nội dung và phân công

Trang 39

nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng cùng với những yêu cầu đổi mới kỳ họp Ra soát các công văn, tờ trình liên quan đến các vấn đề ASXH của địa bàn trên cơ sở đó xem xét, ban hành các Nghị quyết cho phù hợp với thực tế góp phần phát triển và

đảm bảo ASXH của thành phố

2.2.2.2 Nghe báo cáo về tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và tình hình giải quyết khiếu nại tố cáo của cử tri liên quan đến chính sách an sinh xã hội trên địa bàn thành phố

Tại kỳ họp HĐND, Hội đồng đã nghe tổng hợp các ý kiến của cử tri liên quan đến công tác ASXH, các kiến nghị của cử tri thông qua các vị đại biểu HĐND, nhiệm kỳ 2011 - 2016, HĐND thành phố đã tiếp nhận được 1388 ý kiến, kiến nghị của cử tri, trong đó có 234 ý kiến, kiến nghị liên quan đến vấn đề ASXH trên địa bàn thành phố Tính đến nay đã nghiên cứu, giải quyết được 943/1388 (đạt 68%) lượt ý kiến, kiến nghị của cử tri trên địa bàn

Bên cạnh đó, HĐND cũng đã nhận được 84 đơn, thư khiếu nại tố cáo của nhân dân trong đó có 28 đơn, thư liên quan đến tình hình thực hiện công tác ASXH trên địa bàn thành phố Kết quả trong thời gian qua đã phối hợp trả lời giải quyết được 28/28 đơn, thư, khiếu nại, tố cáo [15]

Những kết quả đạt được trong việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại tố cáo của nhân dân trong thời gian qua đạt kết quả tốt Cử tri và nhân dân thành phố rất phấn khởi trước sự nỗ lực của các ngành, các cấp chung tay XĐGN, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, phường

Tuy nhiên, cử tri và nhân dân cũng còn băn khoăn về quy định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo hiện nay là thấp, không còn phù hợp với nhu cầu đảm bảo cuộc sống tối thiểu trên thực tế Đề nghị các cấp xem xét, rà soát và điều chỉnh lại chuẩn hộ nghèo sát thực tế hơn; xây dựng chính sách hỗ trợ đối với hộ nghèo,

hộ cận nghèo phù hợp với thực tế từng xã, phường giúp người dân ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo bền vững

Trang 40

Luật BHXH sửa đổi năm 2014 đã đáp ứng được mục tiêu đảm bảo ASXH, tạo điều kiện để người lao động được hưởng lương hưu hàng tháng, đảm bảo tốt hơn cuộc sống khi về già Song do nhu cầu cuộc sống trước mắt mà một bộ phận người lao động có nhu cầu nhận BHXH một lần Do vậy, thời gian vừa qua ở thành phố, có tình trạng một bộ phận người lao động ngừng việc tập thể để phản đối quy định về giải quyết BHXH một lần theo Điều 60 Luật BHXH sửa đổi

năm 2014 Đề nghị các ngành, các cấp quan tâm nghiên cứu, xem xét để có các

giải pháp đáp ứng các nguyện vọng, nhu cầu đa dạng trong việc lựa chọn hình thức trợ cấp BHXH, phù hợp với quyền và lợi ích chính đáng của người lao động và điều kiện thực tế

Trong giai đoạn 2011 - 2016, HĐND thành phố đã tổ chức 10 kỳ họp, trả lời 234 ý kiến cử tri, chuyển 23 đơn thư, khiếu nại của nhân dân đến cấp có thẩm quyền liên quan đến vấn đề ASXH [15, tr.6-7]

2.2.2.3 Chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp liên quan đến chính sách an sinh xã hội trên địa bàn thành phố

Chất vấn là hình thức giám sát trực tiếp và quan trọng của HĐND, đồng thời là quyền quan trọng của đại biểu HĐND được Hiến pháp quy định Chất vấn là quyền của đại biểu HĐND được qui định rõ trong trong Điều 96, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2014 Kỳ họp HĐND các cấp đều dành một khoản thời gian nhất định để các đại biểu thực hiện quyền này Đây là nội dung thu hút

sự quan tâm của đông đảo cử tri tại các kỳ họp của HĐND Thông qua hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, nhân dân có thể đánh giá được những người

mà cử tri đã tin tưởng bầu ra có làm tròn trách nhiệm là đại biểu của dân hay không? Đánh giá được trách nhiệm của thủ trưởng các cấp, các ngành trong việc hoàn thành nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó

Qua nghiên cứu báo cáo hoạt động của HĐND thành phố Vinh và qua trực tiếp theo dõi các kỳ họp của HĐND cho thấy: Việc chất vấn và trả lời chất vấn

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w