Lý do chọn đề tài Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đặt quyết tâm phát triển hệ thống An sinh Xã hội ASXH bảo đảm thực hiện ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN QUANG THẢO
AN SINH XÃ HỘI CHO NHÂN DÂN VÙNG VEN BIỂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Nghệ An, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN QUANG THẢO
AN SINH XÃ HỘI CHO NHÂN DÂN VÙNG VEN BIỂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể thầy cô giáo trường Đại học Vinh trong thời gian qua đã giảng dạy, trang bị cho tôi những kiến thức và các phương pháp luận để có thể áp dụng trong nghiên cứu cũng như giải quyết các vấn đề trong
luận văn của mình Xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Vũ Thanh Sơn,
người đã nhiệt tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Quang Thảo
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Quang Thảo
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 12
7 Bố cục luận văn 13
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI CHO NHÂN DÂN VÙNG VEN BIỂN 14
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của an sinh xã hội 14
1.1.1.Khái niệm về an sinh xã hội 14
1.1.2 Đặc điểm của an sinh xã hội 16
1.1.3 Vai trò của an sinh xã hội 19
1.2 Nội dung chính sách, nhân tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá an sinh xã hội cho nhân dân vùng ven biển 23
1.2.1 Nội dung chính sách an sinh xã hội cho nhân dân vùng ven biển2Error! Bookmark not defined. 1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách an sinh xã hội 24
1.2.3 Tiêu chí đánh giá về an sinh xã hội 27
1.3 Lý luận của Đảng, chính sách Nhà nước về an sinh xã hội 27
Trang 61.4 Kinh nghiệm của một số tỉnh về giải quyết an sinh xã hội và bài học rút
ra 30
1.4.1 Kinh nghiệm của một số tỉnh về giải quyết an sinh xã hội 30
1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra 35
Kết luận chương 1 36
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI CHO NHÂN DÂN VÙNG VEN BIỂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH 37
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên tỉnh Hà Tĩnh 37
2.1.2 Tình hình Kinh tế - Xã hội tỉnh Hà Tĩnh 40
2.1.3 Tình hình xã hội liên quan đến thực hiện chính sách an sinh xã hội cho người dân ven biển Hà Tĩnh 46
2.2 Thực trạng an sinh xã hội cho người dân vùng ven biển trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 49
2.2.1 Tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội cho người dân ven biển tỉnh Hà Tĩnh 49
2.2.2 Tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại các khu vực điều tra khảo sát 53
2.3 Đánh giá tình hình thực hiện an sinh xã hội tại khu vực ven biển 54
2.3.1 Những kết quả đạt được trong thực hiện an sinh xã hội cho người dân ven biển Hà Tĩnh 54
2.3.2 Những hạn chế trong thực hiện an sinh xã hội cho người dân ven biển Hà Tĩnh 57
2.3.3 Nguyên nhân hạn chế 59
Kết luận chương 2 67
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI CHO NHÂN DÂN VÙNG VEN BIỂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH 69
Trang 73.1 Phương hướng giải quyết vấn đề an sinh xã hội cho Nhân dân vùng ven biển
trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 69
3.1.1 Bối cảnh phát triển kinh tế xã hội trong và ngoài nước 69
3.1.2 Phương hướng của tỉnh Hà Tĩnh về an sinh xã hội cho vùng ven biển 70
3.2 Giải pháp giải quyết vấn đề an sinh xã hội cho Nhân dân ven vùng biển Hà Tĩnh 73
3.2.1 Tuyên truyền truyền thông về pháp luật, các chính sách an sinh xã hội cho nhân dân 73
3.2.2 Khôi phục và phát triển sản xuất trên các lĩnh vực 74
3.2.3 Chuyển đổi ngành nghề sản xuất cho vùng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển 82
3.2.4 Hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp, giải quyết việc làm 82
3.3 Kiến nghị 84
3.3.1 Kiến nghị với ủy bản nhân dân tỉnh Hà Tĩnh 84
3.3.2 Kiến nghị với cấp trên 85
Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 95
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
Trang
Sơ đồ 1: Hệ thống An sinh xã hội Việt Nam 7Bảng 2.1: Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Hà Tĩnh 39Bảng 2.2 Tình hình thực hiện chính sách ASXH tại khu vực điều tra khảo sát 54Bảng 2.3 Đánh giá nhận thức sự tham gia vào các chính sách ASXH 61Bảng 2.4: Đánh giá về công tác tổ chức, quản lý nhà nước, năng lực đội ngũ cán
bộ và sự phối hợp thực hiện các chính sách hợp phần củachính sách ASXH 64Bảng 2.5 Đánh giá ảnh hưởng của môi trường thể chế luật pháp và cơ chế chính sách đến việc thực hiện chính sách ASXH 67
Trang 10
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945), Đảng và Nhà nước ta đặt quyết tâm phát triển hệ thống An sinh Xã hội (ASXH) bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của người dân, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tiếp cận dần với chuẩn mức quốc tế Đặc biệt là từ khi thực hiện đường lối đổi mới (năm 1986) đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách ASXH, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để ổn định chính trị
- xã hội, phát triển bền vững ASXH được xác định là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bảo đảm ASXH là điều kiện để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa cho
sự phát triển của nền kinh tế thị trường, phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ ta Tiếp tục phát triển quan điểm, chủ trương đó của Đảng, ta có thể thấy trong
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm
1991 và bổ sung, phát triển năm 2011) và nghị quyết của các kỳ đại hội, đặc biệt Nghị Quyết số 15-NQ/TW, ngày 01-6-2012, của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa XI, về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020”
đã thể hiện rõ tính cấp thiết của vấn đề ASXH
Việt Nam hiện nay với xu thế phát triển mới, việc phát triển phải đi sâu vào thực chất và mang tính chất bền vững, phải đảm bảo được sự hài hoà giữa tăng trưởng Kinh tế, bảo vệ Môi trường, và ASXH Việc này đặt ra một thách thức vô cùng to lớn cho đảng, nhà nước trong thời gian tới
Từ sau đổi mới về Kinh tế (năm 1986) Việt nam đã có bước chuyển mình lớn lao, nền Kinh tế đã khoác lên mình một diện mạo mới, từ một đất nước có thu nhập thấp đã vươn lên trở thành một nước có thu nhập trung bình Song bên cạnh những thành quả đạt được về kinh tế đó thì những hệ luỵ mới về xã hội là
Trang 11không thể chối cãi được Hàng loạt khu công nghiệp gây ô nhiễm tạo nên các sự
cố về môi trường mà chưa từng có trong tiền lệ, hàng loạt dòng sông chết hình thành, hàng loạt làng ung thư phát sinh.v.v… Xã hội nảy sinh nhiều mâu thuẫn, sinh kế của người dân trong khu vực ảnh hưởng bị đe doạ nghiêm trọng, vấn đề ASXH không được bảo đảm, dẫn tới các thể lực phản động trong nước lợi dụng tình hình phức tạp tuyên truyền chống phá nhà nước, các thế lực thù địch bên ngoài tăng cường hoạt động làm tình hình chính trị thêm phần bất ổn
Là một tỉnh nằm ven biển của Bắc Trung Bộ Hà Tĩnh có 137 km bờ biển kéo dài từ Cửa Hội đến Đèo Ngang, dọc bờ biển của Hà Tĩnh ngoại trừ tại các cửa sông lớn như: Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu được thiên nhiên
ưu đãi nên đời sống dân cư tại đây khá giả hơn Còn những khu vực còn lại là biển ngang và cồn cát nên đời sống của nhân dân ở đây rất khó khăn, mặc dù đã được sự hỗ trợ từ các chương trình của Nhà nước, sự vào cuộc của chính quyền các cấp, song nhìn chung đời sống của nhân dân vùng ven biển Hà Tĩnh chưa được cải thiện so với mặt bằng chung của cả nước Đặc biệt từ sau sự cố môi trường biển tại 4 tỉnh miền trung (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên
- Huế) (Việc công ty TNHH Hưng nghiệp Fomosa Hà Tĩnh, tại khu công nghiệp Vũng áng thị xã Kỳ Anh - Hà Tĩnh cho chạy thử các lò luyện cốc của mình đã xả thải ra môi trường biển những chất thải nguy hại gây ra hiện tượng Hải sản chết hàng loạt) dẫn tới việc ảnh hướng đến hoạt động ngư nghiệp, diêm nghiệp,
du lịch - dịch vụ của nhân dân 4 tỉnh miền trung Tại khu vực ven biển trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, sự cố môi trường vừa qua đã ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới việc làm của hàng vạn lao động thuộc 56 xã, phường, thị trấn của 6 huyện, thị xã Trong đó có 34 xã, phường nằm ở vùng ven biển Các nhóm lao động bị ảnh hưởng tập trung chủ yếu trong lĩnh vực khai thác thuỷ hải sản, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá, nghề muối và nhà hàng, khách sạn Điều này làm ảnh hưởng sâu sắc tới ASXH cho nhân dân vùng ven biển của Hà Tĩnh
Trang 12Với những lý do trên tôi đã chọn đề tài “An sinh xã hội cho nhân dân
vùng ven biển trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” làm luận văn thạc sỹ Kinh tế chính
trị của mình, bởi đây là một vấn đề mang tính thời sự và có ý nghĩa cấp bách về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tổng quan nghiên cứu
Nhà nước Việt nam với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Việt Nam đặt quyết tâm phát triển hệ thống ASXH phù hợp
với một quốc gia có thu nhập trung bình, tại nghị quyết số 15-NQ/TW ngày
01/6/2012 của ban chấp hành trung ương đảng về “Một số vấn đề về chính sách
xã hội giai đoạn 2012-2020” khẳng định: Đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống ASXH bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm để người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu thập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo…); bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin), góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân Chính sách
xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ ; đồng thời thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn; coi bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội
Trong thời gian qua với các công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu
và phương pháp tiếp cận khoa học mới đã gợi mở các hướng mới trong vấn đề ASXH
Mai Ngọc Cường (2009), trong đề tài khoa học “Xây dựng và hoàn thiện
Trang 13hệ thống chính sách an sinh xã hội” đã coi tăng cường vai trò của Nhà nước về
ASXH nói chung như là một biện pháp để đảm bảo phát triển ASXH ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Theo đó Nhà nước sớm tổ chức xây dựng hoàn chỉnh các luật về ASXH, tiến tới xây dựng bộ luật hoàn chỉnh về ASXH ở nước ta; hoàn thiện tổ chức quản lý và cơ chế tài chính cho hoạt động hệ thống ASXH được vận hành; tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý việc vi phạm thực hiện quy định pháp luật về ASXH; đảm bảo tài chính cho trợ cấp xã hội thường xuyên, ưu đãi xã hội; đảm bảo tài chính cho những đối tượng theo luật quy định
để tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT); đồng thời có chính sách hỗ trợ các đối tượng khác tham gia vào các chương trình ASXH, đặc biệt trong giai đoạn suy thoái kinh tế Điểm mới của đề tài là:
Làm sáng tỏ nội hàm của phạm trù ASXH và hệ thống chính sách ASXH, những vấn đề then chốt của ASXH được đặt ra để xem xét và đánh giá Từ đó chỉ ra những thách thức mà hệ thống chính sách ASXH ở nước ta phái đối mặt
Đề xuất hệ thống quan điểm và phương hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổng thể quốc gia về ASXH và chính sách ASXH ở nước ta giai đoạn
2006 - 2015, làm căn cứ khoa học vững chắc giúp Đảng và Nhà nước ta hoạch định chính sách ASXH phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
và luật pháp nước ta, với phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Đề xuất hệ thống giải pháp xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở nước ta, trên cơ sở quán triệt xu hướng phát triển kinh tế thị trường, tăng cường xã hội hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Trong một nghiên cứu khác của Mai Ngọc Cường (2012) hệ thống ASXH, tác giả đề cập đến hệ thống ASXH ở phạm vi khác hơn Theo tác giả hệ thống ASXH bao gồm ba trụ cột là:
ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng: bao gồm BHXH, BHYT và bảo
hiểm tự nguyện (BHTN)
Trang 14ASXH không dựa vào đóng góp: mà dựa vào sự trợ giúp của Nhà nước và
cộng đồng bao gồm trợ giúp xã hội thường xuyên (TGXHTX), trợ giúp xã hội đột xuất (TGXHĐX);
ASXH cộng đồng: bao gồm các khoản TGXH tự nguyện của các tổ chức
xã hội, doanh nghiệp, cá nhân trong xã hội giúp người dân gặp rủi ro và ASXH
tự nguyện của người dân khu vực phi chính thức, trước hết là do nông dân tự nguyện tổ chức, tham gia và quản lý, có sự hướng dẫn của Nhà nước và được pháp luật bảo vệ theo mô hình BHXH nông dân Nghệ An [36.tr42]
Như vậy, quan niệm của Mai Ngọc Cường về hệ thống ASXH nói chung, đối với người dân nói riêng có điểm hẹp hơn lại có điểm rộng hơn so với nhiều nghiên cứu hiện nay Hẹp hơn là ở chỗ coi ASXH chỉ bao gồm các hình thức BHXH, BHYT, BHTN và các hình thức TGXH, chứ không đi rộng ra các chính sách xã hội khác Nhưng rộng hơn là ở chỗ đưa ASXH cộng đồng bao gồm các hình thức TGXH từ cộng đồng trong và ngoài nước
Mai Ngọc Anh (2010) phân tích trong các công trình nghiên cứu của mình
như: An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam (2010)[2], Đảm bảo tài chính thực hiện ASXH đối với người cao tuổi khu vực nông thôn Việt Nam hiện nay (2011)[3] Trong các công trình này, tác
giả đã chỉ ra các hợp phần của hệ thống ASXH bao gồm: BHXH (bắt buộc và tự nguyện), BHYT (bắt buộc, tự nguyện và BHYT cho người nghèo), chính sách phát triển thị trường lao động, ƯĐXH và TGXH
Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2013) trong công trình: Phát triển
hệ thống An sinh xã hội Việt Nam đến năm 2020 Nhóm tác giả đã chỉ ra hệ
thống ASXH của Việt Nam được xây dựng trên nguyên lý quản lý rủi ro[6], đồng thời nhấn mạnh đến vai trò cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, gồm 4 nhóm chính sách cơ bản sau đây:
Nhóm chính sách việc làm đảm bảo thu nhập tối thiểu và giảm nghèo
Trang 15[tr37]: nhằm hỗ trợ người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro thông qua tham gia thị trường lao động để có được việc làm tốt, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững
Nhóm chính sách BHXH [tr48]: nhằm hỗ trợ người dân giảm thiểu rủi ro khi bị ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già…thông qua tham gia vào hệ thống BHXH để chủ động bù đắp phần thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi ro trên
Nhóm chính sách trợ giúp (TGXH) [tr56]: bao gồm chính sách thường xuyên và đột xuất nhằm hỗ trợ người dân khắc phục các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, đói, nghèo kinh niên)
Nhóm chính sách dịch vụ xã hội cơ bản [tr76]: nhằm tăng cường cho người dân tiếp cận hệ thống dịch vụ cơ bản ở mức tối thiểu, bao gồm giáo dục tối thiểu, y tế tối thiểu, nhà ở tối thiểu, nước sạch và thông tin truyền thông
Ta có thể thấy rõ được các hợp phần của hệ thống ASXH của Việt Nam
[tr53] trong công trình nghiên cứu Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020 theo các tiếp cận của nhóm tác giả theo sơ đồ sau:
Trang 16Sơ đồ 1: Hệ thống An sinh xã hội Việt Nam
HỆ THỐNG AN SINH
XÃ HỘI VIỆT NAM
Việc làm đảm bảo thu
nhập và giảm nghèo BHXH TGXH cho các nhóm đặc thù
Ốm đau
TN lao động
Hưu trí
Tử tuất
Thai sản
BHXH tự nguyện
Hưu trí
Tử tuất
BH thất nghiệp
cộng đồng
Hỗ trợ tiền mặt
Giáo dục
Y tế (gồm BHYT) Nhà ở
Nước sạch Thông tin
Trang 17Phan Thị Kim Oanh (2013), trong luận án tiến sĩ kinh tế “Vai trò của Nhà
các nước và Việt Nam hiện nay, Luận án đã đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân ở Việt Nam những năm tới Luận án đã xây dựng khung lý thuyết vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân thông qua tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, kinh nghiệm thực tiễn của một số nước Thông qua hệ thống tài liệu thứ cấp từ các
bộ, ngành có liên quan và số liệu điều tra, khảo sát phỏng vấn tại ba tỉnh Bắc Trung Bộ là Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa, Luận án đã phân tích đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân ở Việt Nam, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế Khuyến nghị các phương hướng và giải pháp tăng cường vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân
ở Việt Nam những năm tới
Nhìn chung, các nghiên cứu trên mới đề cập đến ASXH nói chung và trên phạm vi cả nước Việc phân tích ASXH trên địa bàn ven biển Hà Tĩnh hầu như chưa được đề cập trong các công trình nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu nhằm luận giải một số giải pháp phù hợp bảo đảm ASXH góp phần ổn định tình hình đời sống cho nhân dân vùng ven biển trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về ASXH
- Đánh giá thực trạng giải quyết vấn đề ASXH cho nhân dân ven biển trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Phân tích, đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề ASXH cho nhân dân vùng ven biển trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
Trang 184 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nội dung ASXH và các ảnh hưởng của ASXH tới nhân dân vùng ven biển
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi về không gian
Nghiên cứu trên địa bàn các xã ven biển trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh gồm các vùng: Thị xã Kỳ Anh, huyện Kỳ Anh, huyện Cẩm xuyên, huyện Thạch Hà, huyện Lộc Hà, huyện Nghi Xuân Song số liệu minh chứng điều tra khảo sát ở các xã bãi ngang khó khăn theo Quyết định 539/QĐ-TTg ngày 01/4/2013 của Thủ tướng chính phủ
4.2.2 Phạm vi về thời gian
Sử dụng các thông tin, tư liệu thứ cấp được thu thập từ 2014 - 2016; thông tin sơ cấp được thực hiện thông qua điều tra khảo sát năm 2017 đề xuất giải pháp đến những năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận: Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Mác - Lênin
Nhiều phương pháp phổ biến được sử dụng trong nghiên cứu đề tài như phân tích tổng hợp, thống kê mô tả…
Bên cạnh đó, phương pháp điều tra được sử dụng là bằng bảng hỏi, phiếu hỏi và phiếu lấy ý kiến Số liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra khảo sát phỏng vấn tại địa bàn các xã ven biển tỉnh Hà Tĩnh và các cấp quản lý có liên quan, dự kiến sẽ thiết kế ba mẫu điều tra, phỏng vấn, khảo sát cho ba nhóm đối tượng đó là:
(1) Phiếu lấy ý kiến cán bộ về thực hiện chính sách ASXH;
Trang 19(2) Phiếu phỏng vấn đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp từ sự cố môi trường biển;
(3) Phiếu phỏng vấn đối tượng bị ảnh hưởng gián tiếp từ sự cố môi trường biển
Thu thập số liệu từ các báo cáo tổng hợp, tổng kết của các cơ quan, ban nghành có liên quan của tỉnh Hà Tĩnh như: sở Nông nghiệp và Phát triển và Nông thôn, sở Lao động thương binh và Xã hội, cục thống kê Hà Tĩnh, UBND huyện, thị xã nằm trên địa bàn ven biển của tỉnh Hà Tĩnh
Số liệu sơ cấp được thu thập từ các công trình nghiên cứu có liên quan đã được công bố, từ các báo cáo về chính sách ASXH của tỉnh Hà Tĩnh và các xã ven biển của tỉnh Hà Tĩnh, từ các tài liệu thống kê có liên quan đến tình hình thực hiện và kết quả của chính sách ASXH, sau đó được xử lý bằng phần mềm Excel
Khung phân tích luận văn
Nhân tố ảnh
hưởng
Nội dung chính sách
Tiêu chí đánh giá
Đánh giá thực trạng
- Tổ chức thực hiện
Trang 20Từ mô hình nghiên trên ta thấy được xây dựng trên cơ sở giả thuyết vai trò của Nhà nước được thể hiện trong việc xây dựng môi trường luật pháp, cơ chế, chính sách, tổ chức kiểm tra, giám sát để phát triển hệ thống ASXH cho người dân ven biển Muốn thực hiện được những nội dung này, cần phải có các điều kiện, hay các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò của Nhà nước Kết quả của việc thực hiện vai trò của Nhà nước là việc đảm bảo cho người dân
tham gia vào các hình thức ASXH
Với các nhân tố ảnh hưởng tới ASXH cho người dân ven biển; Thứ nhất,
Nhà nước xây dựng hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách về ASXH đối với người dân Luận văn sẽ phân tích quá trình phát triển hệ thống các văn bản pháp luật và các chính sách liên quan đến ASXH nói chung, đối với nhân dân vùng
ven biển nói riêng.Thứ hai, Nhà nước xây dựng và phối hợp chính sách ASXH
với các chính sách kinh tế - xã hội khác như: ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp, việc làm, thu nhập, xoá đói giảm nghèo (XĐGN)
Thứ ba, Nhà nước kiểm tra giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước về ASXH đối với nhân dân ven biển
Để đánh giá việc đảm bảo ASXH đối với nhân dân vùng ven biển, chúng tôi sử dụng hai nhóm tiêu chí:
Nhóm thứ nhất: là các tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện các nội dung của
vai trò nhà nước, cụ thể là: Mức độ đầy đủ, đồng bộ và phù hợp của hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách, việc đảm bảo và hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước (NSNN) về ASXH đối với nhân dân ven biển Tính hiệu quả của việc phối hợp chính sách ASXH với chính sách kinh tế - xã hội Tính nghiêm túc, hiệu lực và hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách ASXH đối với nhân dân ven biển
Nhóm thứ hai: là đánh giá sự tham gia của nhân dân ven biển vào các hợp
phần ASXH như thế nào Bởi lẽ xét đến cùng, thì việc tham gia của nhân dân
Trang 21ven biển vào ASXH là tiêu chí đo lường tính hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện các chính sách ASXH đối với nhân dân ven biển
Như trình bày ở phần trên, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về các hợp phần của hệ thống ASXH nói chung, đối với nhân dân ven biển nói riêng Trong Luận văn này tôi tiếp cận việc phân tích vai trò của nhà nước trong việc ban hành các chính sách thể chế về nhóm chính sách hỗ trợ tạo việc làm và giảm nghèo cho nhân dân vùng ven biển của tỉnh Hà Tĩnh Và mức độ tham gia và thủ hưởng các chính sách ASXH, đặc biệt là các đối tưởng bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển vừa qua Theo đó, tôi sử dụng hai nhóm tiêu chí để đánh giá là mức độ bao phủ và mức độ tác động của ASXH đối với nhân dân ven biển tỉnh
Thấy rõ được bản chất của ASXH là công cụ và cơ chế để:
Phòng ngừa rủi ro: hỗ trợ người dân chủ động ngăn ngừa rủi ro về đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và biến động của môi trường tự nhiên;
Giảm thiểu rủi ro: giúp cho người dân có đủ nguồn lực để bù đắp những thiếu hụt về thu nhập do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên;
Trang 22Khắc phục rủi ro: hỗ trợ kịp thời cho người dân để hạn chế tối đa các tác động không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên, bảo đảm điều kiện sống tối thiểu của người dân
Trang 23CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
AN SINH XÃ HỘI CHO NHÂN DÂN VÙNG VEN BIỂN
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của an sinh xã hội
1.1.1.Khái niệm về an sinh xã hội
Vấn đề ASXH cho đến nay với các công trình nghiên cứu ở trong nước và quốc tế vẫn còn có nhiều các tiếp cận khác nhau, với nội dung rất rộng tuy nhiên ngày càng được hoàn thiện về mặt nhận thức và thực tiễn Tổng hợp các nghiên cứu khác nhau ta có thể nhận thấy mức độ rộng, hẹp và đối tượng hướng tới khác nhau
Theo Liên hiệp quốc (UN), ASXH tiếp cận trên quyền của người dân (Điều 25, Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1948): Mọi người dân và hộ gia đình đều có quyền có một mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội bao gồm ăn, mặc, chăm sóc y tế (bao gồm cả thai sản), dịch vụ xã hội thiết yếu và có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, góa phụ, tuổi già… hoặc các trường hợp bất khả kháng khác
Theo Ngân hàng thế giới(WB), ASXH là những biện pháp của chính phủ nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO), ASXH là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật
Trang 24do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em
Theo ngân hàng phát triển châu á (ADB), ASXH là các chính sách, chương trình giảm nghèo và giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả thị trường lao động giảm thiểu rủi ro của người dân và nâng cao năng lực của họ
để đối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập
Theo ADB thì ASXH gồm có 5 hợp phần: (i) các chính sách và chương trình thị trường lao động; (ii) BHXH; (iii) TGXH; (iv) quỹ hỗ trợ phát triển cộng đồng và (v) bảo vệ trẻ em
Năm 2009, Liên hợp quốc phát triển sáng kiến “Sàn ASXH” với mục đích đảm bảo cho mọi người dân có mức thu nhập tối thiểu và tiếp cận được các dịch vụ xã hội thiết yếu, nhằm bảo đảm các quyền cơ bản của con người được quốc tế và quốc gia thừa nhận, vì mục tiêu giảm nghèo và đảm bảo ASXH Các cấu phần chính của “Sàn ASXH” bao gồm: (i) chăm sóc sức khỏe
cơ bản; (ii) thu nhập tối thiểu cho người trong tuổi lao động nhưng không có khả năng tạo thu nhập vĩnh viễn (người khuyết tật), hoặc mất việc làm tạm thời (người bị thất nghiệp), hoặc thu nhập thấp hơn mức đủ sống (người nghèo); (iii) thu nhập tối thiểu đối với người trên tuổi lao động (người cao tuổi) và dưới tuổi lao động (trẻ em) Bên cạnh đó, sàn ASXH cũng nhấn mạnh đến các dịch
vụ xã hội thiết yếu cho con người, bao gồm: (i) Chăm sóc y tế cơ bản; (ii) nước sinh hoạt hợp vệ sinh; (iii) nhà ở; (iv) giáo dục; và (v) Các dịch vụ khác tùy theo ưu tiên của từng quốc gia
Mặc dù, với những diễn đạt khác nhau, các quan niệm về ASXH đều có những điểm chung sau đây:
Là sự bảo đảm an toàn thu nhập ở mức tối thiểu thông qua hệ thống các chính sách can thiệp nhằm quản lý rủi ro tốt hơn, bao gồm các rủi ro liên quan
đến nhu cầu cơ bản nhất của con người: rủi ro về sức khỏe, thiếu hoặc mất việc
Trang 25làm, tuổi già, trẻ em, tàn tật…dẫn đến không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh
viễn so với mức tối thiểu đủ sống (được luật hóa hoặc qui định)
Là các chính sách do nhà nước tổ chức thực hiện là chính, ngoài ra còn có
sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng và thị trường trong việc tổ chức thực hiện và cung cấp dịch vụ ASXH Các chính sách này hướng đến mọi thành viên trong xã hội, bảo đảm cho mọi thành viên được bình đẳng về tiếp cận và chất lượng dịch vụ, tuy nhiên, nhấn mạnh đến nhóm đối tượng yếu thế (lý do chính để có sự tham gia của nhà nước)
Từ các khái niệm đã nêu trên ta có thể nhận thấy vấn đề ASXH được hiểu theo nhiều cách khác nhau Song hướng tiếp cận vấn đề nghiên cứu của tôi trong luận văn này là theo hướng tiếp cận của WB: ASXH là những biện pháp của chính phủ nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu kiềm chế được các nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và bấp bênh trong thu nhập
1.1.2 Đặc điểm của an sinh xã hội
ASXH đối với người dân ven biển có những đặc điểm riêng, nhưng trong
đó cũng có những điểm chung với ASXH nói chung:
ASXH đối với người dân là sự gắn bó chặt chẽ giữa hai hình thức đóng - hưởng và hình thức không dựa trên nguyên tắc đóng góp
Cũng như mô hình tổ chức ASXH cho mọi đối tượng người dân, mô hình
tổ chức ASXH cho ngươi dân ven biển cũng được hình thành từ hai nguyên tắc
cơ bản là ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng và ASXH không dựa vào sự đóng góp của người dân mà dựa vào sự trợ giúp của Nhà nước và của cộng đồng ở Việt Nam nói chung và ở khu vực ven biển Hà Tĩnh nói riêng hai bộ phận hợp thành của mô hình tổ chức ASXH đối với người dân có những đặc điểm như sau:
Theo nguyên tắc đóng - hưởng, ASXH đối với người dân bao gồm
Trang 26nông dân Theo quy định của Luật BHXH người tham gia vào loại hình
BHXHTN phải hoàn toàn chịu về phí đóng góp tham gia mà không có sự hỗ trợ tài chính từ bất kỳ cá nhân và tổ chức nào khác, quyền lợi của người tham gia hệ thống BHXHTN lại thấp hơn so với quyền lợi của những đối tượng của bảo hiểm xã hội bắt buộc thuộc khu vực chính thức Hiện nay ở nước ta quy định người tham gia BHXHTN sẽ chỉ được hưởng hai chế độ là hưu trí và tử tuất
+ BHYTTN là một trong những cơ chế đảm bảo xã hội ra đời sớm nhất ở các nước có nền kinh tế công nghiệp hóa Cũng như BHXHTN, nếu như ở các nước phát triển BHYTTN là bảo hiểm bổ sung để được hưởng mức an sinh cao hơn Ở nước ta từ năm 1992, Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghi định 299-HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng và được bổ sung bằng Nghị
định số 47-CP ngày 6/6/1994 Cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ hưu trí, mất sức lao động ở các khu vực hành chính sự nghiệp, người lao động khu vực sản xuất kinh doanh của Nhà nước và tư nhân có từ 10 lao động trở lên tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc; các đối tượng khác tham gia BHYT theo khả năng và nhu cầu, trên cơ sở tự nguyện Vào ngày 20/11/2014 Luật BHXH sửa đổi được
Quốc hội khoá XIII tại kỳ họp thứ 8 thông qua, gồm 09 Chương, 125 Điều có hiệu lực thi hành từ 01/01/2016, trừ quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này có hiệu lực từ 01/01/2018, đã mở rộng đối tương tham gia,
bổ sung thêm qui định về quyền lợi của người lao động Do vậy, nông dân tham
Trang 27gia BHYTTN Hình thức này được cụ thể hóa trong Luật BHYT Ở nước ta, người nghèo nói chung, nông dân nghèo nói riêng được Nhà nước mua BHYT Tuy nhiên, xuất phát từ tình hình thu nhập của khu vực phi chính thức còn thấp, gần đây, Nhà nước ta đã có chủ trương hỗ trợ kinh phí để đối tượng cận nghèo mua BHYT Đặc biệt là những đối tượng người dân vùng ven biển bị ảnh hưởng
từ sự cố môi trường biển năm 2016
Theo nguyên tắc không dựa vào đóng góp, ASXH đối với nông dân bao gồm các hình thức trợ giúp Ở mỗi nước khác nhau có các hình thức trợ giúp
cũng khác nhau, nhưng đều có điểm chung là nguồn tài chính cho TGXH đều được thực hiện từ NSNN Ở nước ta các hình thức trợ giúp chủ yếu là TGXHTX
và TGXHĐX từ Nhà nước và từ cộng đồng xã hội, hình thức này được tổ chức theo thể chế chính sách chung của các chương trình trợ giúp
Như vậy, ASXH cho người dân ở nước ta được thực hiện thông qua việc
tự nguyện tham gia đóng góp của người người dân, sự giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng ASXH là biện pháp đảm bảo để phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế rủi ro Đó là trách nhiệm của mỗi người dân, của xã hội và cộng đồng trong việc xây dựng hệ thống ASXH Trước hết, mọi người dân phải tự nguyện và chủ động tham gia vào hệ thống ASXH, tự nguyện tích lũy đóng góp vào quỹ an sinh để được thụ hưởng khi cần thiết Tuy nhiên, với tư cách là biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế những rủi ro do biến động kinh tế - xã hội xảy ra nên Nhà nước và cộng đồng phải có sự trợ giúp cần thiết Thêm nữa, đối với người dân hiện nay thu nhập thấp, nên khả năng chủ động tham gia ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng là không cao Vì thế sự trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng lại càng có ý nghĩa quan trọng Nhà nước không những đảm bảo tài chính cho các chương trình an sinh không đóng góp, mà còn cần có sự trợ giúp nhất định để người dân tham gia ASXH theo nguyên tắc đóng - hưởng Đồng thời sự giúp đỡ cộng đồng cũng rất cần thiết, nhất là trong các trường hợp nông dân gặp
Trang 28thiên tai, lụt bão, mất mùa, hoặc những người do bệnh tật, đau yếu mất sức lao động, cô đơn không nơi nương tựa,… Điều này thể hiện tính nhân đạo xã hội
ASXH đối với nông dân thuộc lĩnh vực ASXH cho khu vực phi chính thức (phi kết cấu) Hệ thống luật pháp cho việc thực thi ASXH đối với nông dân cần
có những quy định có tính đặc thù cho khu vực này Hiện nay, trong phân tổ thống kê còn có sự khác nhau về tên gọi các khu vực kinh tế Nhìn chung, khu vực nhà nước, khu vực doanh nghiệp được gọi chung tên là khu vực chính thức; những người tự làm, nông dân,… được gọi với các tên là khu vực phi kết cấu, hoặc khu vực phi chính thức Khu vực phi kết cấu hay phi chính thức chủ yếu ở những hoạt động thủ công nghiệp truyền thống, quy mô nhỏ, hoạt động mang tính chất kinh tế gia đình như trồng trọt, chăn nuôi, làm gia công cho các hợp tác
xã hoặc xí nghiệp quốc doanh, kinh doanh cá thể… Như vậy ASXH đối với nông dân thuộc lĩnh vực ASXH cho khu vực phi chính thức Hoạt động của khu vực này rất đa dạng, phong phú, nhưng quy mô nhỏ, rất khó đo đếm và kiểm soát như khu vực chính thức Vì thế, việc xây dựng hệ thống luật pháp về ASXH đối với khu vực này phải tính đến những đặc thù về quy mô, phạm vi, khả năng kiểm soát để thực hiện chính sách ASXH
Người nông dân là những người có thu nhập thấp và không ổn định, vì vậy tính bền vững và ổn định về tài chính cho việc thực hiện ASXH là không cao Đặc điểm này cũng dẫn đến trong quản lý nhà nước phải tính đến những
quy định về mức đóng, mức hưởng như thế nào để phù hợp với khả năng thu nhập của nông dân Có như thế mới đảm bảo tính khả thi của chính sách ASXH
1.1.3 Vai trò của an sinh xã hội
Mặc dù còn có các quan điểm, định nghĩa và vai trò khác nhau về ASXH nhưng đều thống nhất hệ thống ASXH có các chức năng cơ bản sau đây
1.1.3.1 Bảo đảm thu nhập ở mức tối thiểu
Đây là chức năng cơ bản nhất của ASXH ASXH có vai trò cung cấp (có
Trang 29điều kiện hoặc không có điều kiện) mức tối thiểu thu nhập (mức sàn) bảo đảm quyền sống tối thiểu của con người, bao gồm các quyền về ăn, sức khỏe, giáo dục, nhà ở và một số dịch vụ xã hội cơ bản nhằm bảo vệ con người khỏi bị đói nghèo do không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn
1.1.3.2.Nâng cao năng lực quản lý rủi ro
Nền tảng của đảm bảo ASXH là quản lý rủi ro, bao gồm (i) Phòng ngừa rủi ro: hỗ trợ người dân chủ động ngăn ngừa rủi ro trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và biến động của môi trường tự nhiên; (ii) Giảm thiểu rủi ro: giúp cho người dân có đủ nguồn lực để bù đắp những thiếu hụt về thu nhập do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên và (iii) Khắc phục rủi ro: hỗ trợ kịp thời cho người dân để hạn chế tối đa các tác động không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát do các biến
cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh, và môi trường tự nhiên và bảo đảm điều kiện sống tối thiểu của người dân
1.1.3.3.Phân phối thu nhập
Một trong những chức năng quan trọng của ASXH là bảo đảm thu nhập cho những người/nhóm đối tượng khi không có khả năng tạo thu nhập Các chính sách giảm nghèo, các hình thức TGXHTX và TGXHĐX cho các nhóm
đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương và phương châm “người trẻ đóng - người già hưởng” trong BHXH, hay “người khỏe đóng - người ốm hưởng” trong
BHYT thể hiện rõ chức năng chia sẻ rủi ro, phân phối lại thu nhập của ASXH, ngay cả khi phân phối không dựa trên sự đóng góp, mà dựa vào nhu cầu của cá nhân cũng như khả năng bảo đảm của NSNN
1.1.3.4 Thúc đẩy việc làm bền vững và phát triển thị trường lao động
Hệ thống ASXH thúc đẩy việc làm bền vững, tăng cường kỹ năng và các
cơ hội tham gia thị trường lao động cho người lao động thông qua việc: (i) hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động (đặc biệt người nghèo, người nông thôn ),
Trang 30(ii) phát triển thông tin thị trường lao động và dịch vụ việc làm để kết nối cung cầu lao động, giảm thiểu mất cân bằng cung cầu lao động; (iii) hỗ trợ tạo việc làm trực tiếp cho một bộ phận người lao động thông qua các chương trình cho vay vốn tín dụng ưu đãi, chương trình việc làm công và các chương trình thị trường lao động khác; (iv) hỗ trợ chuyển đổi việc làm cho lao động mất đất, lao động di cư, lao động bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế
1.1.3.5 Nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, thúc đẩy gắn kết xã hội và phát triển xã hội
Một hệ thống ASXH được xây dựng và thực thi có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển của mỗi quốc gia, cụ thể như sau:
Nâng cao hiệu quả quản lý xã hội: Như trên đã nêu, ASXH là một trong
ba cấu phần của chính sách xã hội, là một trong những hệ thống chương trình, chính sách quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Do vậy, ASXH là công cụ quản lý của nhà nước trong lĩnh vực phân phối và điều tiết phân phối Thông qua chính sách thuế và các chính sách chuyển nhượng xã hội, nhà nước thực hiện vai trò điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa các khu vực kinh tế, các vùng kinh tế, các nhóm dân cư và các thế hệ
Xóa đói giảm nghèo, giảm bất bình đẳng, thu hẹp chênh lệch về điều kiện sống theo vùng, các nhóm dân cư: Mục tiêu đầu tiên của ASXH là giảm nghèo,
giảm bất bình đẳng và phân hoá giàu nghèo Nhà nước thông qua chính sách hỗ trợ người nghèo, các đối tượng yếu thế, điều chỉnh nguồn lực cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hoà, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng, hạn chế bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư, tạo nên sự đồng thuận giữa các giai tầng, các nhóm xã hội trong quá trình phát triển và duy trì sự ổn định xã hội
Trang 31Góp phần tăng trưởng kinh tế và gắn kết xã hội: Thông qua hỗ trợ người
nghèo, người yếu thế tham gia thị trường lao động, giảm nghèo, giảm bất bình đẳng ASXH nâng cao nguồn vốn con người, tăng cường cơ hội và phát triển con người và tăng cường sự hòa nhập , là tiền đề cho tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và tăng cường gắn kết xã hội
Hướng tới tương lai tốt đẹp hơn: Một hệ thống ASXH được thiết kế hiệu
quả có thể tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được phát triển độc lập, chủ động và nhiều cơ hội đầu tư tốt hơn cho tương lai Ngày nay, trong hầu hết các nước, các chỉ số ASXH đều là những chỉ số rất quan trọng gắn với phát triển con người và
xã hội như: tình trạng sức khỏe, giáo dục, thu nhập, nhà ở, tuổi thọ, tầm vóc ASXH được coi là công cụ để đầu tư cho tương lai, giảm rủi ro trong tương lai
1.1.3.6 Hỗ trợ người dân vượt qua khủng hoảng
Các nước đang phát triển như Việt Nam chúng ta ngày càng có nhu cầu thiết kế và phát triển hệ thống ASXH nhằm hỗ trợ người nghèo và người yếu thế trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và các biến động có phạm vi người dân bị ảnh hưởng mạnh do: số lượng các chương trình ASXH hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu về an sinh của người dân Phạm vi bao phủ của chính sách ASXH bị hạn chế, chỉ phục vụ cho một nhóm dân cư, thông thường là nhóm dân cư “khỏe hơn, tốt hơn” trong xã hội Thiếu tài chính và sự phân bố tài chính hợp lý giữa các chương trình
Tóm lại Hệ thống ASXH của Việt Nam được thể hiển rõ ở các khía
cạnh vai trò và chức năng chính như sau đây: Quản lý rủi ro: Hệ thống
ASXH nhằm hỗ trợ người dân quản lý rủi ro tốt hơn thông qua 3 nhóm công
cụ cơ bản: (i)Phòng ngừa rủi ro: hỗ trợ người dân chủ động ngăn ngừa rủi ro về
đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và biến động của môi trường tự nhiên
(ii) Giảm thiểu rủi ro: giúp cho người dân có đủ nguồn lực để bù đắp những
thiếu hụt về thu nhập do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh
Trang 32doanh và môi trường tự nhiên (iii) Khắc phục rủi ro: hỗ trợ kịp thời cho người
dân để hạn chế tối đa các tác động không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi
trường tự nhiên, bảo đảm điều kiện sống tối thiểu của người dân Phân phối
lại thu nhập: Các chính sách giảm nghèo, các hình thức TGXHTX và
TGXHĐX cho các nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương và phương châm
“người trẻ đóng-người già hưởng” trong BHXH, hay “người khỏe đóng - người ốm hưởng” trong BHYT nhằm phân phối lại thu nhập của dân cư, tạo
cơ chế chia sẻ khi gặp các rủi ro về sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi
trường tự nhiên Gắn kết xã hội: Trong điều kiện kinh tế thị trường thì phân
tầng xã hội ngày càng có xu hướng gia tăng, việc làm tốt chức năng quản lý rủi ro, phân phối lại thu nhập sẽ giúp tăng cường sự gắn kết xã hội, bảo đảm thành tựu phát triển được bền vững và chia sẻ giữa các thành viên trong xã hội
1.2 Nội dung chính sách, nhân tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh gía an sinh xã hội cho nhân dân vùng ven biển
1.21 Nội dung chính sách an sinh xã hội cho nhân dân vùng ven biển
Xuất phát từ tính xã hội của Nhà nước, nội dung về chính sách đảm bảo ASXH đối với người dân ven biển bao gồm việc tạo lập môi trường thể chế, chính sách, tổ chức quản lý và kiểm tra, giám sát việc thực thi hệ thống ASXH
đó đối với người dân
Một là, tăng cường cơ hội có việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu và
giảm nghèo bền vững cho người lao động yếu thế thông qua hỗ trợ cá nhân và
hộ gia đình phát triển sản xuất, hỗ trợ tín dụng, giải quyết việc làm và kết nối thông tin thị trường lao động, thể hiện qua một số chính sách như sau: Nghị định
số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản; Quyết định số 12/QĐ-TTg ngày 06/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Xác định thiệt hại, thực hiện bồi thường, hỗ trợ; khôi
Trang 33phục sản xuất và đảm bảo ASXH cho người dân bị ảnh hưởng do sự cố môi trường biển tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế”; Quyết định số 772/QĐ-TTg ngày 09/5/2016 của Thủ tưởng Chính phủ về hỗ trợ khẩn cấp người dân các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế bị ảnh hưởng do sự cố môi trường; Quyết định số 1138/QĐ-TTg ngày 25/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi bổ sung Điều 1 của Quyết định số 772/QĐ-TTg; Quyết định số 1880/QĐ-TTg ngày 29/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành định mức bồi thường thiệt hại cho các đối tượng tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế bị ảnh hưởng do sự cố môi trường biển;
Hai là, mở rộng cơ hội cho người lao động tham gia hệ thống chính sách
BHXH, BHTN để chủ động đối phó khi thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già
Ba là, đối với người có hoàn cảnh đặc thù và hỗ trợ đột xuất cho người
dân khi gặp các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, thiên tai, động đất, chiến tranh, đói nghèo, ) thông qua các khoản tiền mặt và hiện vật do NSNN bảo đảm
Bốn là, tăng cường tiếp cận của người dân đến hệ thống dịch vụ xã hội cơ
bản, như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, thông tin
1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách an sinh xã hội
- Thể chế chính sách về an sinh xã hội
+ Thể chế chính sách đóng vai trò quan trọng trong hệ thống ASXH Nội dung cơ bản của các thể chế này là xác định khuôn khổ pháp lý (luật, các văn bản dưới luật), phạm vi các chính sách chế độ, đối tượng tham gia, tiêu chí, điều kiện tham gia, cơ chế đóng góp (tuỳ từng hình thức, chế độ), quyền lợi hưởng thụ và những điều kiện ràng buộc Thể chế chính sách còn xác định trách nhiệm của bộ, ngành địa phương trong việc thực hiện chính
Trang 34- Thể chế tài chính
+ Thể chế tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách ASXH Thể chế tài chính xác định cơ chế đối với từng loại chính sách, từng nhóm đối tượng (tỷ lệ đóng góp của người dân, người sử dụng lao động, của Nhà nước); cơ chế cân đối thu - chi, đầu tư phát triển quỹ; giá cả, cơ chế và chất lượng cung cấp dịch vụ ASXH + Cơ chế tài chính của các hợp phần của ASXH không hoàn toàn giống nhau Các loại hình bảo hiểm có thể áp dụng cơ chế có đóng có hưởng, còn
đa số hợp phần TGXH thì nguồn tài chính lại chủ yếu do NSNN cung cấp + Thể chế tài chính của hệ thống ASXH có mối quan hệ chặt chẽ với chính sách thuế và tài chính và phụ thuộc vào mô hình hệ thống ASXH Ví
dụ, các nước theo mô hình Nhà nước phúc lợi thường thu thuế cao (kể cả thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập gia tăng hoặc thuế xuất nhập khẩu cũng như các khoản lệ phí khác) để có nguồn thực hiện các chính sách ASXH tốt hơn cho mọi người dân Ngược lại, các nước theo mô hình Nhà nước xã hội khuyến khích tăng trưởng nhanh hơn nên thu thuế thấp hơn và chỉ thực hiện các chính sách ASXH ở mức thấp, với phạm vi chính sách và
Trang 35đối tượng bao phủ hạn chế
+ Trong thể chế tài chính, vấn đề hỗ trợ của nhà nước cho người tham gia hệ thống ASXH có ý nghĩa rất quan trọng Người nghèo, người lao động khu vực phi chính thức thường có thu nhập thấp và không ổn định, do vậy nếu không có sự tài trợ của Nhà nước thì khó tham gia vào hệ thống ASXH + Việc bố trí nguồn tài chính cho các chính sách ASXH tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội của từng quốc gia Một số nước phát triển, ngân sách nhà nước dành cho các chính sách ASXH có thể lên tới 30% tổng ngân sách nhà nước, hay khoảng 15% GDP, trong khi đối với các nước đang phát triển (trong đó có Việt nam), chỉ khoảng dưới 5% GDP
- Các đối tượng tham gia
+ Các đối tác tham gia có vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện
các chính sách ASXH, bao gồm: các đối tác khu vực nhà nước, khu vực tư nhân, các tổ chức chính trị-xã hội Mỗi nhân tố nêu trên đều có vai trò quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nhau, phụ thuộc và chi phối lẫn nhau, góp phần phát triển hệ thống ASXH ổn định và bền vững
+ Các đối tác khu vực nhà nước gồm: các cơ quan lập pháp - Quốc hội thông qua các luật về ASXH hoặc các luật riêng (luật bảo BHYT, luật BHXH…) và giám sát việc thực hiện; các cơ quan hành pháp bao gồm các
Bộ, ngành của Chính phủ quản lý hoạt động của từng chính sách theo các cấp (trung ương, tỉnh, huyện, xã); các cơ quan tư pháp như tòa xã hội
+ Các đối tác tư nhân gồm: các công ty cung cấp dịch vụ ASXH (công
ty bảo hiểm, bệnh viện, trường học…); các nhóm tương trợ; gia đình, họ hàng, bạn bè, cá nhân
+ Các hiệp hội, tổ chức từ thiện gồm: công đoàn; các nghiệp đoàn, các
tổ chức khác của người lao động; các tổ chức phi chính phủ; hội chức thập
đỏ, nhà thờ
Trang 361.2.3 Tiêu chí đánh giá về an sinh xã hội
ASXH với nhiều tiêu chí đáng giá khác nhau nhưng trong nội dung của Luận văn này tôi nêu ra các tiêu chí đáng giá như sau:
- Mức độ bao phủ của ASXH: Mức độ bao phủ của ASXH hay độ bao phủ ASXH thể hiện ở tỷ lệ người dân được thụ hưởng các chính sách ASXH Tỷ
lệ này càng cao thể hiện mức bao phủ ASXH tốt và ngược lại
- Mức độ tác động: Mức độ tác động của các chính sách ASXH thể hiện ở góc độ các chương trình mà người dân được thụ hưởng so các tác động tiêu cực của yếu tố khách quan mang lại đối tượng hưởng ASXH Trong những năm gần đây, các quy định liên quan đến ASXH liên tục được bổ sung, hoàn thiện nhằm tiếp cận đến các nhóm xã hội yếu thế cần được trợ giúp Mức trợ giúp cho hoạt động ASXH được thay đổi nhằm đáp ứng cuộc sống của các nhóm thụ hưởng
- Mức độ kịp thời: Đối tượng được hưởng ASXH thường là các đối tượng yếu thế trong xã hội, già cả cô đơn, ốm đau bệnh tật hoặc là do gặp phải thiên tai lụt bão,…nhìn chung đời sống tinh thần cũng như vật chất của họ rất khó khăn Vì thế, tính kịp thời trong việc thực hiện chính sách ASXH có ý nghĩa rất quan trọng đối với người được hưởng chính sách nhằm đáp ứng nhu cầu bức xúc của thành viên trong xã hội khi họ gặp rủi ro không lường trước được
- Bên cạnh đó, chính sách ASXH là sử dụng nguồn lực tài chính từ nhà nước và huy động từ cộng đồng, nên việc thực hiện chính sách ASXH cũng cần phải đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch và có sự tham gia của người dân
1.3 Lý luận của Đảng, chính sách Nhà nước về an sinh xã hội
Từ thực tiễn của đất nước và kinh nghiệm trên thế giới, nhận thức về chính sách ASXH trong hệ thống chính sách xã hội ngày càng được hoàn thiện, thể hiện rất rõ trong các văn kiện của Đảng
Trang 37Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (năm 1991) khẳng định: “Chính sách xã hội bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất Có chính sách bảo trợ và điều tiết hợp lý thu nhập giữa các bộ phận dân cư, các ngành và các vùng” Đặc biệt
lần đầu tiên, Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (được bổ sung, phát triển năm 2011) đã tuyên bố cần phải:
“Hoàn thiện hệ thống ASXH”
Cụm từ “An sinh xã hội” được chính thức sử dụng trong văn kiện Đại
hội IX của Đảng (4/2001): “Khẩn trương mở rộng hệ thống BHXH và ASXH Sớm xây dựng và thực hiện chính sách BHTN”
Đại hội X đã đưa ra tư tưởng chỉ đạo có tính chất định hướng chiến lược
là: “Thực hiện tốt chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ hơn cho phát triển kinh tế - xã hội” Đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện các chính sách xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, giải quyết tốt các vấn đề xã hội có
ý nghĩa chiến lược, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường, nhất là vấn đề việc làm, giảm thất nghiệp, ưu đãi người có công, xoá đói giảm nghèo, bảo trợ xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội Nghị quyết Đại
hội X của Đảng chủ trương: “Xây dựng hệ thống ASXH đa dạng, phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn dân…; đa dạng hoá các loại hình cứu trợ xã hội” Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (Khóa X) một lần nữa nhấn mạnh: “Từng bước mở rộng và cải thiện
hệ thống ASXH để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu đa dạng của mọi tầng lớp
Trang 38nhân dân trong xã hội, nhất là của nhóm đối tượng chính sách, đối tượng nghèo”
Đến Đại hội XI, nhận thức về hệ thống chính sách ASXH tiếp tục được hoàn thiện và nâng lên tầm chiến lược về phát triển hệ thống chính sách ASXH trong giai đoạn mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Nghị quyết Đại hội XI của Đảng
chỉ rõ: “Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ASXH, giảm tỷ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe nhân dân”
Đại hội XI tiếp tục làm rõ những quan điểm, định hướng, nội dung cụ thể cho
từng chính sách ASXH: “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống BHXH, BHYT, BHTN, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp
đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống Tăng tỷ lệ người lao động tham gia các hình thức bảo hiểm Đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ BHXH, chuyển các loại hình trợ giúp, cứu trợ sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng Bảo đảm cho các đối tượng bảo trợ xã hội có cuộc sống ổn định, hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng, có cơ hội tiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu Thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật BHXH, bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ chế độ quy định đối với mọi đối tượng”
Tại văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), Đảng và nhà nước lại
tiếp tục khẳng định: “Chính sách ASXH được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện trên các lĩnh vực lao động, việc làm, BHXH, BHYT, người có công và bảo trợ xã hội ASXH cơ bản được bảo đảm, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện Nhận thức của người dân về tự bảo đảm ASXH có tiến bộ, huy động nguồn lực xã hội cho chính sách xã hội tốt hơn Đã hoàn thành trước thời hạn các mục tiêu thiên niên kỷ… Mở rộng đối đối tượng thụ hưởng, nâng mức hỗ trợ
và thực hiện đồng bộ nhiều chính sách đối với người có công, giảm nghèo,
Trang 39TGXH, hỗ trợ nhà ở, tạo viêc làm, đào tạo nghề, hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ tín dụng cho học sinh, sinh viên nghèo
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 nhấn mạnh: “Phát triển
hệ thống ASXH đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả Phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi và không ngừng nâng cao mức sống đối với người có công Mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội, nhất
là đối với các đối tượng khó khăn”
Nghị Quyết số 15-NQ/TW của Ban chấp hành TW Đảng ngày 01/6/2012 đặt ra yêu cầu “Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh
tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ ”, đồng thời thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn
1.4 Kinh nghiệm của một số tỉnh về giải quyết an sinh xã hội và bài học rút ra
1.4.1 Kinh nghiệm của một số tỉnh về giải quyết an sinh xã hội
1.4.1.1 Kinh nghiệm về vấn đề an sinh xã hội tại Vĩnh Phúc
Sau hơn 20 năm tái lập tỉnh, công tác ASXH tại Vĩnh phúc đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần hình thành xã hội công bằng và bảo đảm định hướng ASXH bền vững Các chính sách và giải pháp ASXH được triển khai đồng bộ trên cả 3 mặt:
+ Giúp các đối tượng thụ hưởng tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở;
Trang 40+ Hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách về vay vốn ưu đãi,
hỗ trợ lãi suất, bảo đảm việc làm;
+ Kết cấu hạ tầng thiết yếu cho các địa phương như: Hệ thống đường giao thông, điện, cơ sở trường học… được quan tâm đầu tư, phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân
Nhờ vậy đến nay, công tác bảo đảm ASXH đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, được các tầng lớp nhân dân đồng tình, ủng hộ và Trung ương đánh giá cao Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học được đầu tư ngày càng khang trang; đội ngũ cán bộ, giáo viên ngày càng được chuẩn hoá; chất lượng giáo dục được nâng lên, công tác xã hội hoá giáo dục - đào tạo được thực hiện tích cực Hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em được triển khai rộng khắp, chất lượng dân số được nâng lên; 100% trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được chăm sóc Hệ thống chính sách ưu đãi đối với người có công không ngừng được hoàn thiện Mức trợ cấp ưu đãi năm 2016 tăng 2,8 lần so với năm 2001 Mỗi năm thực hiện chính sách ưu đãi thường xuyên cho hơn 40.000 nghìn người có công Đến nay, 100% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của dân cư cùng địa bàn Công tác giải quyết việc làm luôn được coi trọng; hoạt động đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực được đặc biệt quan tâm và thực hiện bằng nhiều hình thức, nguồn vốn khác nhau, số lượng và chất lượng lao động qua đào tạo được nâng lên, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 9,8% năm
2000 lên gần 66% năm 2016
Chính sách đối với hộ nghèo, người nghèo được thực hiện tốt, tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm trên 2%, đến hết năm 2016 giảm còn 3,93% Đến cuối năm 2011, tỉnh đã cơ bản xoá xong nhà tạm cho hộ nghèo, không có
hộ nghèo chính sách người có công Các chính sách TGXH được thực hiện rộng hơn cả về quy mô và đối tượng thụ hưởng với mức trợ giúp ngày càng tăng