Để có một hệ thống câu hỏi lý thuyết và bài tập phù hợp với đối tượng học sinh trung bình – yếu cho HS bổ túc ở các Trung tâm GDTX, giúp giáo viên tham khảo nhằm giúp nâng cao hiệu quả g
Trang 1PHAN THỊ TRANG
BỔ TRỢ TRI THỨC DẠY HỌC TOÁN 10 CHO HỌC SINH
BỔ TÚC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN – 2017
Trang 2PHAN THỊ TRANG
BỔ TRỢ TRI THỨC DẠY HỌC TOÁN 10 CHO HỌC SINH
BỔ TÚC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Thuận
NGHỆ AN – 2017
Trang 3Luận văn được hoàn thành bởi sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè, anh chị em đồng nghiệp, các em học sinh
và những người thân trong gia đình Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
TS Nguyễn Văn Thuận, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương và hoàn thành luận văn
Các thầy cô khoa sư phạm Toán học – Trường Đại học Vinh đã giảng dạy tôi trong quá trình học tập, đã cung cấp kiến thức và tư liệu để tôi có thể hoàn thành luận văn
Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi để luận văn được hoàn thành đúng tiến độ
Các thầy cô giáo và các em học sinh ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra và thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng là gia đình tôi, những người luôn tạo điều kiện tốt nhất về tinh thần, vật chất luôn bên cạnh tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Một lần nữa, tôi xin gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn chân thành
và sâu sắc nhất
Xin trân trọng cảm ơn!
Vinh, tháng 8 năm 2017
Phan Thị Trang
Trang 4DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SGK Sách giáo khoa THPT Trung học phổ thông
TN Thực nghiệm TNSP Thực nghiệm sư phạm
Trang 5LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Đặc điểm, tình hình chung của Trung tâm GDTX 5
1.1.1 Khái niệm “Giáo dục thường xuyên” 5
1.1.2 Đặc điểm của Trung tâm GDTX 7
1.1.3 Đối tượng học sinh và thái độ học tập của học sinh 8
1.2 Một số vấn đề về dạy và học môn Toán ở Trung tâm GDTX 9
1.2.1 Những khó khăn khi giảng dạy ở Trung tâm GDTX 9
1.2.2 Những biểu hiện về học tập của học sinh 9
1.2.3 Nguyên nhân học sinh học yếu 10
1.3 Thực trạng bổ trợ tri thức dạy học Toán 10 cho học sinh bổ túc THPT học ở các Trung tâm GDTX 13
1.3.1 Thực trạng HS bổ túc THPT học môn Toán lớp 10 ở trung tâm GDTX ……….13
1.3.2 Thực trạng dạy học môn Toán cho học sinh bổ túc THPT ở trung tâm GDTX 14
1.3.3 Mục đích và phương pháp điều tra 15
1.3.4 Kết quả điều tra 16
1.4 Kết luận chương 1 23
Trang 6TOÁN 10 CHO HỌC SINH BỔ TÚC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở
TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 24
2.1 Khái quát về chương trình môn Toán 10 cho học sinh bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX 24
2.2 Căn cứ để xây dựng những biện pháp bổ trợ tri thức dạy học Toán 10 cho học sinh bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX 30
2.2.1 Căn cứ vào mục tiêu và nội dung dạy học Toán 10 (Cơ bản) 30
2.2.2 Căn cứ vào đối tượng dạy học 30
2.2.3 Căn cứ vào định hướng đổi mới PPDH 31
2.3 Yêu cầu của việc bổ trợ tri thức dạy học Toán 10 cho HS bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX 32
2.3.1 Đối với GV 32
2.3.2 Đối với HS 33
2.3.3 Đối với các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục 33
2.4 Một số biện pháp bổ trợ tri thức dạy học Toán 10 cho HS bổ túc THPT ở trung tâm GDTX 33
2.4.1 Biện pháp 1: Phối hợp giữa dạy học phân hóa với dạy học hợp tác theo nhóm… ……34
2.4.2 Biện pháp 2: Chú trọng khâu gợi động cơ, hứng thú nhận thức trong tổ chức hoạt động toán học cho HS 41
2.4.3 Biện pháp 3: Quan tâm củng cố kiến thức cốt lõi, trang bị tri thức phương pháp, xác định các quy tắc thuật giải, tựa thuật giải cho HS trong giải toán…… ……… 51
2.4.4 Biện pháp 4: Tăng cường sử dụng các yếu tố thực tiễn, trực quan và hoạt động chuyển đổi ngôn ngữ trong dạy học toán 58
Trang 7gian học tập cho HS bổ túc THPT 65
2.4.6 Biện pháp 6: Quan tâm phát hiện và sửa chữa những sai lầm thường gặp của HS bổ túc trong giải Toán lớp 10 70
2.4.7 Biện pháp 7: Xây dựng hệ thống bài tập để nâng cao kỹ năng giải bài tập của HS 81
2.5 Kết luận chương 2 86
Chương 3:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 88
3.1 Mục đích thực nghiệm 88
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm 88
3.3 Phương pháp và nội dung thực nghiệm 88
3.3.1 Chọn đối tượng, địa bàn thực nghiệm và thời gian thực nghiệm 88
3.3.2 Nội dung thực nghiệm 89
3.3.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 94
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 95
3.4.1 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm 95
3.4.2 Kết quả thực nghiệm 96
3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 102
3.5 Kết luận chương 3 103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 8Bảng 1.1: Ý kiến của GV về nguyên nhân HS học yếu môn Toán 16
Bảng 1.2: Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy bài truyền thụ kiến thức mới 17
Bảng 1.3: Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy ở Trung tâm GDTX 18 Bảng 1.4: Ý kiến của GV về biện pháp bổ trợ kiến thức cho HS bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX 19
Bảng 1.5: Ý kiến của GV về bài tập dành cho HS trung bình - yếu trong SGK và SBT hiện nay 20
Bảng 1.6: Ý kiến của HS về hứng thú học tập khi học lý thuyết mới 21
Bảng 1.7: Ý kiến của HS về bài tập trong SGK và SBT 22
Bảng 1.8: Ý kiến của HS về nguyên nhân không giải được bài tập Toán 22
Bảng 3.1: Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm 88
Bảng 3.2: Kết quả bài kiểm tra số 1 96
Bảng 3.3: Phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm tra số 1 97
Bảng 3.4: Kết quả bài kiểm tra số 2 97
Bảng 3.5: Phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm tra số 2 98
Bảng 3.6: Kết quả bài kiểm tra số 3 98
Bảng 3.7: Phân phối tần số, tần suất và tần suất luỹ tích bài kiểm tra số 3 99
Bảng 3.8: Tổng hợp phân loại kết quả học tập của học sinh qua 3 bài kiểm tra 101
Trang 9
Hình 3.1: Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 1 100
Hình 3.2: Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 2 100
Hình 3.3: Đồ thị đường luỹ tích bài kiểm tra số 3 101
Trang 10MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài
Căn cứ vào tình hình quốc tế, trong nước, yêu cầu phát triển giáo dục, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng
định:“Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”
Quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo về đổi
mới phương pháp dạy và học: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp
dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”
Đối với bộ môn Toán có vai trò, vị trí và ý nghĩ hết sức quan trọng trong việc thực hiện giáo dục Ngoài việc cho HS những kiến thức, kĩ năng, phương pháp toán học cơ bản, môn Toán góp phần quan trọng vào việc phát triển năng lực tự học, giải quyết vấn đề sáng tạo
Dạy học là một nghệ thuật Nếu đối tượng của quá trình dạy học là học sinh khá, giỏi thì việc dạy học yêu cầu người giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng Nhưng, nếu đối tượng là học sinh trung bình – yếu thì việc dạy học lại đặt ra cho người giáo viên nhiều thách thức hơn, đặc biệt là về năng lực sư phạm Đó là sự khéo léo trong việc lôi cuốn học sinh vào bài học, giúp học sinh nắm được cốt lõi của bài học, có được hệ thống
lý thuyết và bài tập phù hợp, hiểu biết về tâm lý, hoàn cảnh của từng học sinh, sự kiên nhẫn, lòng yêu nghề làm cho học sinh yêu thích và tích cực học tốt môn học
Trang 11Xuất phát từ việc dạy học môn Toán cho HS bổ túc ở Trung tâm GDTX – nơi tôi đang công tác – có tỉ lệ học sinh trung bình và yếu rất cao, những GV như tôi gặp rất nhiều khó khăn GV gặp khó khăn trong việc xác định nội dung cần giảng dạy khi lỗ hổng kiến thức của học sinh ở lớp trước quá nhiều, khả năng tư duy hạn chế dẫn đến tâm lý chán nản, lười học cộng với sự thiếu quan tâm động viên của gia đình và xã hội Điều đó càng khó khăn và lúng túng hơn đối với các giáo viên trẻ khi mà kinh nghiệm dạy học còn hạn chế
Để có một hệ thống câu hỏi lý thuyết và bài tập phù hợp với đối tượng học sinh trung bình – yếu cho HS bổ túc ở các Trung tâm GDTX, giúp giáo viên tham khảo nhằm giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy, thiết
nghĩ là việc làm cần thiết Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Bổ trợ tri thức
dạy học Toán 10 cho học sinh bổ túc THPT ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích và nhiệm nghiên cứu
- Mục đích: Đề xuất một số biện pháp sư phạm giúp đỡ học sinh bổ
túc THPT ở Trung tâm GDTX đạt yêu cầu và có kết quả học tập môn Toán cao hơn
- Nhiệm vụ: Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc khắc phục tình trạng
học môn Toán 10 của HS bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX
Khảo sát việc học môn Toán 10 của HS bổ túc ở Trung tâm GDTX, đặc điểm của việc học yếu kém môn Toán, các nguyên nhân học yếu kém Toán của HS và thực trạng giúp học sinh yếu kém môn Toán, tìm hiểu những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân các hạn chế đó
Đề xuất một số biện pháp sư phạm giúp đỡ HS học môn Toán 10 ở trung tâm GDTX
Trang 12Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng và đánh giá tính khả thi của các biện pháp đề xuất
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Các biện pháp bổ trợ tri thức dạy học Toán 10 giúp đỡ
HS bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX
- Phạm vi: Học sinh lớp 10 ở trung tâm GDTX
4 Giả thuyết nghiên cứu
Trong dạy học Toán đối với HS bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX nếu xác định đúng nguyên nhân và áp dụng những biện pháp dạy học tích cực thì GV có thể giúp đỡ các em HS vươn lên đạt được yêu cầu và có kết quả cao hơn trong học tập góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán
ở Trung tâm GDTX
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá lý thuyết và xây dựng hệ thống bài
tập
+ Nghiên cứu các tài liệu lí luận (triết học, tâm lí học, giáo dục học,
lí luận dạy học bộ môn Toán) có liên quan đến đề tài
+ Nghiên cứu SGK, phân phối chương trình, sách tham khảo, các tài liệu có liên quan đến môn Toán 10
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Điều tra cơ bản để tìm hiểu thực trạng việc dạy và học môn Toán ở các Trung tâm GDTX có tỉ lệ học sinh trung bình - yếu cao, khả năng lĩnh hội kiến thức để xây dựng và tuyển chọn bài tập phối hợp với các phương pháp dạy học phù hợp
5.2.1 Phương pháp điều tra – quan sát
Dự giờ, quan sát việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh trong
Trang 13quá trình dạy học môn Toán 10
5.2.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức thực nghiệm sư phạm để xem xét tính khả thi và hiệu quả của các tình huống thiết kế
6 Đóng góp của luận văn
- Xác định đặc điểm của học sinh bổ túc THPT, các nguyên nhân học yếu Toán, thực trạng giúp đỡ học sinh học yếu môn Toán ở Trung tâm GDTX, đề xuất một số biện pháp nhằm giúp đỡ học sinh đạt yêu cầu trong học tập môn Toán ở trung tâm GDTX
- Các biện pháp này có thể giúp GV trong thực tiễn giảng dạy môn Toán nhằm giúp đỡ các em học yếu môn Toán tiến bộ
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên Toán góp phần giảm tỉ lệ học sinh yếu, kém môn Toán ở Trung tâm GDTX
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp bổ trợ tri thức dạy học Toán 10 cho học sinh
bổ túc THPT ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Đặc điểm, tình hình chung của trung tâm GDTX
1.1.1 Khái niệm “Giáo dục thường xuyên”
Thuật ngữ “giáo dục thường xuyên” được nhiều người nói tới hằng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng Người đọc và nghe dường như không còn xa lạ với thuật ngữ này Song, nếu đi sâu vào nội hàm và ngoại diên của nó - tức là xem xét nó như một khái niệm - thì mới vỡ lẽ ra rằng, trong quan niệm của con người, cho đến nay người ta vẫn không thống nhất về định nghĩa thế nào là giáo dục thường xuyên
Ở nhiều quốc gia, người ta hiểu rằng, công việc giáo dục phải được tiến hành đối với mọi lứa tuổi, từ lúc lọt lòng cho đến lúc kết thúc cuộc sống Cái quá trình giáo dục đó, không phân biệt học trong nhà trường hay học ngoài xã hội hoặc tại gia đình, học có mục đích hay học ngẫu nhiên, học theo hệ thống tri thức và kỹ năng hoặc cần gì học nấy - đều phải được quan tâm và phải có sự quản lý từ phía Nhà nước được hiểu là giáo dục
thường xuyên Với cách hiểu này, giáo dục thường xuyên là một chính sách
xã hội của một xã hội hiện đại, trong đó học tập là quyền của con người Như vậy, nếu phân chia hệ thống giáo dục ra làm 2 hệ nhỏ thành
phần là hệ thống giáo dục ban đầu và hệ thống giáo dục tiếp tục, thì sự liên kết, liên thông, kết nối và được tiến hành không đứt đoạn nhờ sự đan xen
và liên tục của sự học ở mỗi con người được gọi là giáo dục thường xuyên
Ở một số nước, trong đó có Việt Nam, lại gộp các loại hình học tập không chính quy vào khái niệm giáo dục thường xuyên Từ cách hiểu này, chúng ta sẽ thấy lôgíc hình thức trong nhận thức về nền giáo dục thường xuyên ở nước ta như sau:
Trang 15- Giáo dục thường xuyên là một hệ thống gồm các loại hình học tập
thuộc phạm vi giáo dục tiếp tục Do vậy, giáo dục thường xuyên không bao hàm các hình thức giáo dục chính quy trong hệ giáo dục ban đầu Nói
đến giáo dục thường xuyên, người ta hiểu rằng đó là giáo dục tiếp tục
- Việc phổ cập giáo dục cho thế hệ trẻ được đẩy mạnh để đến năm
2010, về cơ bản, nước ta sẽ phổ cập giáo dục trung học cơ sở đúng độ tuổi
và việc học cưỡng bức này sẽ áp dụng cho cấp trung học (hoàn chỉnh) vào khoảng 2020 Còn giáo dục thường xuyên chủ yếu dành cho người lớn
Trong trường hợp này, giáo dục thường xuyên trùng khớp với giáo dục người lớn
- Theo quy định của luật giáo dục 2005, giáo dục tiếp tục bao gồm mọi loại hình giáo dục không chính quy Do tính chất bắc cầu trong quan niệm nói trên nên nói đến giáo dục thường xuyên là ai cũng hiểu rằng đó là giáo dục không chính quy
Cách biểu hiện trên được quy định trong Luật Giáo dục 2005 của nước
ta
Điều 44: Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa học vừa làm,
học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập
Điều 45: Yêu cầu về chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục
Trang 16b) Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học: cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ;
c) Chương trình đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ;
d) Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân
2 Các hình thức thực hiện giáo dục thường xuyên để lấy văn bằng của
hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
“Xây dựng cả nước trở thành xã hội học tập được dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết, liên thông của hai bộ phận cấu thành: Giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên của hệ thống giáo dục quốc dân, trong
đó giáo dục thường xuyên thực hiện các chương trình học tập nhằm tạo các điều kiện tốt nhất đáp ứng mọi yêu cầu học tập suốt đời, học tập liên tục của mọi người công dân sẽ là một bộ phận có chức năng quan trọng, làm tiền đề để xây dựng xã hội học tập”
1.1.2 Đặc điểm của trung tâm GDTX
Trung tâm HN - DN&GDTX là một đơn vị giáo dục có nhiều chức năng và đang thực hiện nhiều chức năng đào tạo Hiện tại Trung tâm đang
có nhiều loại hình đào tạo như: Dạy Bổ túc văn hóa THPT, dạy nghề, dạy Tin học – Ngoại ngữ, liên kết đào tạo Đại học tại chức và ĐH từ xa cho
Trang 17một số ngành, bồi dưỡng cập nhật kiến thức…Trong đó loại hình dạy BTVH được coi là một hoạt động quan trọng của đơn vị, là cơ sở để phát triển một số loại hình đào tạo khác Nếu như loại hình BTVH hoạt động tốt
sẽ là cơ sở thúc đẩy và hỗ trợ các loại hình đào tạo khác phát triển tốt hơn Ngược lại các loại hình đào tạo khác phát triển mạnh sẽ hỗ trợ tạo điều kiện cho hoạt động khối BTVH phát triển
Hoạt động khối BTVH là hoạt động đặc thù như một trường THPT
Số lượng học viên trong những năm gần đây đều tăng lên đáng kể Tương đương với số học sinh của một trường THPT trung bình trong tỉnh
1.1.3 Đối tượng học sinh và thái độ học tập của học sinh
1.1.3.1 Đối tượng học sinh
Về tâm lý lứa tuổi: Lứa tuổi học sinh vào học bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX hiện nay chủ yếu có độ tuổi từ 16 đến 18, thuộc lứa tuổi vị thành niên Ở lứa tuổi đang có sự chuyển hoá từ trẻ con trở thành người lớn Giai đoạn này các em đều có sự phát triển mạnh về thể chất và có sự thay đổi rõ rệt về tâm sinh lý Nhiều em rất hăng hái tích cực trong mọi hoạt động, nhiều em lại có tính tự ti, dễ nổi cáu, dễ mất bình tĩnh thiếu tự tin trong xử lý tình huống, dễ bị kích động dẫn đến có những hành vi không kiểm soát được bản thân… Ở lứa tuổi này các em đều muốn tự khẳng định mình, đều muốn mọi người coi mình đã là người lớn Vì vậy nếu không hiểu được tâm lý lứa tuổi thì việc giáo dục sẽ có kết quả không theo mong đợi, nếu coi các em vẫn còn là trẻ con quá hoặc lại coi các em hoàn toàn như người lớn rồi đều có những thiếu xót trong tác dụng giáo dục
Về góc độ xã hội: Ở lứa tuổi này các em có nhu cầu giao tiếp với bạn
bè rất lớn Muốn thể hiện mình qua nhiều hoạt động, muốn thoát khỏi sự quản lý của bố mẹ… Vì vậy nếu gia đình và thầy cô không hiểu được tâm
lý lứa tuổi, không quan tâm tác động đúng mức thì dễ bị các em chống đối,
Trang 18khó giáo dục Để thể hiện mình các em thích tụ tập chơi đùa hoặc làm những việc gì đó cùng nhau và dễ bị rủ rê lôi kéo vào những hoạt động không lành mạnh như nghiện chơi điện tử, ma tuý, những trò nghịch ngợm nguy hiểm mà chúng ta không kiểm soát được
1.2 Một số vấn đề về dạy và học môn Toán ở Trung tâm GDTX
1.2.1 Những khó khăn khi giảng dạy ở Trung tâm GDTX
Việc dạy học ở Trung tâm GDTX là việc làm đòi hỏi nhiều công sức,
sự yêu thương, tận tụy và cố gắng của GV Công tác này thường gặp một số khó khăn sau:
- Về chương trình: không có chương trình dành riêng cho đối tượng
này, các em sử dụng chung SGK với HS THPT Đặc biệt, với HS lớp 10,
GV phải bù đắp thật đầy đủ không chỉ về kiến thức hổng mà còn phương pháp, các dạng toán cơ bản để không bị mất kiến thức ngay từ đầu
- Về phía lãnh đạo nhà trường: rất khó khăn để phối hợp với cha mẹ
HS, phần lớn phụ huynh ít quan tâm đến việc học của con cái, phó mặc cho
GV và nhà trường
- Về phía giáo viên: Hầu hết GV đều phải mất rất nhiều công sức, tâm
huyết, thời gian, rất khó khăn để tìm ra phương pháp dạy học phù hợp
- Về phía HS: Chậm hiểu, dễ nản lòng, không hợp tác, khó tập trung,
1.2.2 Những biểu hiện về học tập của học sinh
Về kiến thức: HS mất căn bản về các kiến thức về các phép toán đơn
giản như giải phương trình bậc nhất, bậc hai một ẩn, cộng, trừ, nhân, chia
các số hữu tỉ, số thực,…
Về kỹ năng: HS gặp nhiều khó khăn về tính toán cơ bản, phương pháp
giải một số dạng toán cơ bản (giải bài toán bằng cách lập phương trình, hệ phương trình, giải phương trình bậc nhất, bậc hai một ẩn,…) Diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, lúng túng trong việc sử dụng ngôn ngữ toán học
Trang 19bằng các kí hiệu
Về phương pháp học tập: HS bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX chưa tìm được phương pháp học tập phù hợp và hiệu quả, thể hiện:
- Cầm vở học thuộc lòng từng câu, từng chữ
- Chưa nắm vững lý thuyết đã vội làm bài tập
- Chưa có sự liên kết các kiến thức đã học thành một thể thống nhất
- Sự chú ý, óc quan sát, trí tưởng tượng còn yếu; khả năng phân tích, tổng hợp hạn chế
Biểu hiện bên ngoài:
- Thái độ thờ ơ với việc học, chán nản: trong lớp hay nói chuyện riêng, làm việc riêng, không làm bài tập về nhà, không học lý thuyết, ghi chép cẩu thả, thậm chí không ghi chép bài
- Khả năng tiếp thu bài chậm so với HS bình thường
- Đi học không chuyên cần: nghỉ học không phép, bỏ tiết
- Làm bài không cẩn thận, sai nhiều lỗi
- Có hành vi vô lễ với thầy cô
Điểm số:
- Kết quả các bài kiểm tra thường không cao
- Điểm trung bình các môn tự nhiên Toán, Lý, Hoá không cao
- Kết quả môn Toán học ở các năm học trước thấp
1.2.3 Nguyên nhân học sinh học yếu
1.2.3.1 Từ phía giáo viên và nhà trường
Về phía giáo viên:
- Một số GV còn yếu kém về năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, việc đổi mới PPDH còn mờ nhạt, chất lượng bài lên lớp chưa tốt
- Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, SGK, còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của đồ dùng dạy học
Trang 20- Có những GV chưa nắm chắc yêu cầu kiến thức của từng bài Dạy học còn dàn trải, nâng cao kiến thức một cách tùy tiện
- Tốc độ giảng dạy kiến thức mới và luyện tập còn nhanh kiến cho HS không theo kịp
- Một số GV chưa thật sự toàn tâm, toàn ý với nghề còn bị chi phối bởi nhiều vấn đề của cuộc sống, chưa thật sự giúp đỡ HS thoát khỏi yếu kém
- Chưa động viên tuyên dương kịp thời khi HS có một biểu hiện tích cực Chưa quan tâm đến tất cả HS trong lớp, GV chỉ chú trọng vào các em
HS khá và coi đây là chất lượng chung của lớp
- Một số GV còn thiếu nghệ thuật cảm hóa HS, không gây được hứng thú để HS thích học môn Toán
- Một số GV chưa coi trọng việc đánh giá chất lượng thực của HS, còn hiện tượng chạy theo thành tích
- Còn có GV đối xử không công bằng, trù dập HS để lại những dấu ấn không tốt trong lòng HS, khiến HS không có hứng thú học tập
Về phía nhà trường
- Tác dụng không mong muốn của công tác thi đua: căn cứ đánh giá thi đua trong giáo dục là dựa vào chất lượng dạy học, nhưng hiện chưa có phương pháp để đánh giá một cách khách quan
- Đặc trưng của môn Toán là có cả lí thuyết và bài tập mà chủ yếu là bài tập, một số bài tập đang còn mang tính trừu tượng cần sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học Nhưng điều kiện cơ sở vật chất của các nhà trường còn hạn chế
- Đa số các lớp học đều có số lượng lớn HS 40 đến 55 HS
- Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường còn thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ Kênh cung cấp thông tin cung cấp dữ liệu từ nhà trường đến phụ
Trang 21huynh HS và ngược lại còn hạn chế
1.2.3.2 Từ phía gia đình
- Trong hoàn cảnh hiện nay, nhiều phụ huynh bận rộn với cuộc sống mưu sinh, chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập cũng như sự phát triển về thể chất và tinh thần của con em mình, phó mặc cho nhà trường
- Nhiều gia đình còn gặp khó khăn về kinh tế hoặc đời sống tình cảm khiến HS không chú tâm vào việc học tập
- Một số cha mẹ quá nuông chiều con cái, khi học sinh lười học, xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi, đi du lịch ) cha mẹ dễ dàng đồng ý, lâu dần HS mất kiến thức cơ bản, không theo kịp bạn bè, dẫn đến chán học
- Một số phụ huynh rất quan tâm đến việc giúp đỡ con cái học tập nhưng lại lúng túng trong việc đưa ra phương pháp phù hợp
1.2.3.3 Từ phía xã hội
- Tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế, ảnh hưởng của một bộ phận thanh niên bỏ học, tác động của game online, những tác động xấu của internet do không có định hướng đúng đắn
1.2.3.4 Từ phía bạn bè
Bước vào tuổi vị thành niên, bạn bè có một vai trò quan trọng HS dễ
bị tác động từ bạn bè, từ cái tốt (cố gắng học tập, chơi thể thao, hoạt động Đoàn ), đến cái xấu (sự đua đòi, hút thuốc, đua xe, bỏ học, chơi điện tử, bạo lực học đường ) HS rất sợ bị bạn bè “tẩy chay” khỏi nhóm nếu không hoà nhập theo
Trang 22việc tiếp thu kiến thức mới Từ nguyên nhân bị hổng kiến thức dẫn tới HS không dám trình bày quan điểm của mình, ngại hỏi GV và ngay cả bạn bè nên kiến thức không được hoàn thiện và cũng không được củng cố, không dám khẳng định mình khi làm bài
- Toán học là môn khoa học tự nhiên rất quan trọng Nếu HS học yếu môn này thì ít nhiều cũng ảnh hưởng đến kết quả học tập của các môn khoa học tự nhiên khác như Vật lí, Hoá học, Sinh học
- HS mất dần khả năng tự học, tự sáng tạo, tự đào sâu kiến thức Thực
tế cho thấy, hầu hết HS bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX không hề biết tự học và chưa bao giờ tự học được
- Năng lực trí tuệ của một số HS còn hạn chế nên tiếp thu bài còn chậm, một số học sinh còn bị khuyết tật (khiếm thính, sức khoẻ yếu )
1.3 Thực trạng bổ trợ tri thức dạy học Toán 10 cho học sinh bổ túc THPT học ở các trung tâm GDTX
1.3.1 Thực trạng HS bổ túc THPT học môn Toán lớp 10 ở trung tâm GDTX
Các trung tâm GDTX thường đóng ở các trung tâm hành chính của tỉnh, thành phố, huyện thị Nhưng học sinh ở đây thường tập trung là ở các vùng khác nhau, có nhiều loại HS với nhiều lí do khác nhau mà đến dây học: có thể là do không đậu vào các trường THPT công lập trên địa bàn hoặc là đăng kí vào trực tiếp ở đây
Với điều kiện kinh tế cũng khác nhau, tình hình học tập cũng khác nhau Đa số ở các trung tâm GDTX có cơ sở vật chất và số lượng GV tương đối đầy đủ Do đầu vào còn thấp (chỉ cần đậu tốt nghiệp THCS) nên chất lượng HS chưa được cao
Bên cạnh đó một bộ phận GV còn chưa cố gắng đổi mới phương pháp, chưa thực sự yêu nghề và tâm huyết với nghề Chưa xây dựng được hứng
Trang 23thú học tập cho HS, chưa biết cách tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp với các đối tượng HS
1.3.2 Thực trạng dạy học môn Toán cho học sinh bổ túc THPT ở trung tâm GDTX
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng giảng dạy bộ môn Toán và hoạt động giúp đỡ HS bổ túc THPT học môn Toán của GV các trung tâm GDTX, kết quả cho thấy:
- Việc sử dụng tài liệu phục vụ chuyên môn: Nhìn chung các GV ở những trung tâm GDTX chúng tôi điều tra đã có đủ SGK, sách GV và một
số sách tham khảo phục vụ cho việc dạy học bộ môn Toán, các tài liệu này chủ yếu mượn của thư viện nhà trường và GV tự sắm riêng cho mình Nhìn chung sách tham khảo còn ít, nếu có chỉ là những sách cũ không phù hợp với xu hướng đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy toán hiện nay Việc sử dụng thiết bị dạy học chưa thường xuyên, nhiều trường không
có đủ thiết bị phục vụ dạy học
- Cách soạn giáo án: Nhìn chung trong bài soạn, GV thực hiện đủ các
bước lên lớp theo quy định, song một số bài soạn chưa xác định đúng trọng tâm kiến thức bài học, soạn theo kiểu diễn giảng là chính Phần lớn các GV chưa đầu tư vào việc thiết kế các hoạt động tương thích với nội dung dạy học và chưa xây dựng được hệ thống câu hỏi phát vấn đòi hỏi phát triển tư
duy ở HS, ít xây dựng tình huống có vấn đề trong học tập
- Phương pháp giảng dạy: Phần lớn GV không biết dạy thế nào cho
phù hợp với mục tiêu đã đề ra, thế nào là có chất lượng và có hiệu quả cao, không biết cải tiến việc giảng dạy của mình như thế nào Đa số GV sắp xếp, phân bố thời gian chưa hợp lí, nhất là dành quá nhiều thời gian cho việc trình bày bảng của GV và việc ghi chép bài của HS Chẳng hạn, GV
để rất nhiều thời gian cho việc ghi các tiêu đề, chép lại các định nghĩa, định
Trang 24lí, lên bảng và nhiều GV không quan tâm lúc đó HS làm gì miễn là lớp học vẫn trật tự Nội dung SGK có gì là GV cố gắng dạy bằng hết, vì thế để
có đủ thời gian thì GV phải thuyết trình nhiều mà ít tổ chức các tình huống cho HS hoạt động dẫn đến truyền thụ kiến thức một chiều Khi giảng bài
GV cũng có có đặt câu hỏi cho HS nhưng chất lượng câu hỏi chưa cao, còn vụn vặt, một số câu hỏi lại quá khó do đó không tạo được cơ hội cho HS tích cực suy nghĩ và giải quyết vấn đề cơ bản trong bài học Hình thức dạy học chưa đa dạng, phong phú, cách thức truyền đạt chưa sinh động, chưa gây hứng thú cho HS Một số GV có cố gắng đổi mới PPDH thì khá lúng túng, mất nhiều thời gian để xử lí tình huống, nhất là: khi HS không thực hiện được yêu cầu như mong muốn, HS giải sai, HS không trả lời được câu hỏi, HS trả lời không theo dự kiến Vì vậy việc hướng dẫn và giúp đỡ HS trung bình – yếu Toán không được thực hiện thường xuyên, đa số GV chỉ vận dụng một số biện pháp sư phạm chung cho nhiều đối tượng HS nên chưa khuyến khích và động viên được đối tượng HS trung bình – yếu tham gia vào qua trình nhận thức
1.3.3 Mục đích và phương pháp điều tra
Để có căn cứ đánh giá thực trạng sử dụng bài tập nâng cao hứng thú
và kết quả học tập cho HS bổ túc THPT ở các Trung tâm GDTX, đồng thời nhằm khẳng định tính quan trọng, cấp thiết và tính thực tế của đề tài, chúng tôi đã tiến hành:
+ Phát phiếu điều tra đến 11 giáo viên hiện đang giảng dạy ở 3 Trung tâm GDTX tại tỉnh Hà Tĩnh là Trung tâm GDTX Lộc Hà, Trung tâm GDTX Can Lộc, Trung tâm GDTX Thành phố Hà Tĩnh
+ Phát phiếu điều tra cho 150 học viên ở 3 Trung tâm GDTX (Trung tâm GDTX Lộc Hà, Trung tâm GDTX Can Lộc, Trung tâm GDTX Thành phố Hà Tĩnh) để tìm hiểu việc học môn Toán của các em và nguyên nhân
Trang 25dẫn đến học yếu môn Toán của các em, từ đó để xây dựng hệ thống bài tập cho HS ở Trung tâm GDTX
+ Trò chuyện, đàm thoại với các GV và HS đang giảng dạy và học tập ở các Trung tâm GDTX để biết cụ thể hơn về nguyên nhân học yếu môn Toán và những khó khăn các em gặp phải khi giải bài tập
+ Trò chuyện, đàm thoại với các GV tìm hiểu tình hình xây dựng hệ thống bài tập, cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của bài tập toán trong dạy học, biện pháp xây dựng, biện pháp dạy học tích cực, tuyển chọn và sử dụng bài tập vào dạy học góp phần nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho HS
1.3.4 Kết quả điều tra
1.3.4.1 Kết quả điều tra tham khảo ý kiến GV
Câu 1: Theo GV, nguyên nhân nào khiến HS học yếu môn Toán?
Bảng 1.1: Ý kiến của GV về nguyên nhân HS học yếu môn Toán
Thiếu thốn điều kiện học tập (sách, vở ) 5 45,5
Có nhiều loại hình vui chơi, giải trí 7 63,6 Tinh thần trách nhiệm của GV dạy trước đó 6 54,5
Kết quả cho thấy:
- Có 11 GV (100%) cho rằng ý thức học tập của HS chưa tốt là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến HS học yếu môn Toán
Trang 26- Có 10 GV (90,9%) đồng ý việc HS mất kiến thức căn bản là trở ngại lớn cho việc tiếp thu bài
- Các nguyên nhân khác như: khả năng tư duy hạn chế, gia đình chưa quan tâm đúng mực, thói quen ỷ lại cũng tác động khá nhiều đến kết quả học tập của HS
Câu 2: Những khó khăn của GV thường gặp khi dạy bài truyền thụ kiến thức mới?
Bảng 1.2: Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy bài truyền thụ
kiến thức mới
Những khó khăn thường gặp Số lượng Phần trăm (%)
Không có nhiều thời gian chuẩn bị bài 4 36,4
Chưa xây dựng được hệ thống bài tập từ
Kết quả cho thấy:
- Khó khăn lớn nhất GV gặp phải khi dạy bài truyền thụ kiến thức mới
là có nhiều nội dung khó đối với HS (81,8%), tiếp đó là chưa xây dựng được hệ thống bài tập từ dễ đến khó phù hợp với HS (72,7%) và thiếu đồ dùng dạy học (72,7%)
- Việc thiếu đồ dùng dạy học, thiết bị nghe nhìn là yếu tố khách quan, phụ thuộc vào cơ sở vật chất của nhà trường; còn việc xây dựng hệ thống bài tập từ dễ đến khó, GV có thể cải thiện sớm, nhằm tăng hiệu quả dạy học GV cần tìm phương pháp thích hợp để truyền thụ kiến thức mới
dễ dàng hơn
Trang 27Câu 3: Những khó khăn thầy/cô gặp phải khi dạy ở Trung tâm GDTX?
Bảng 1.3: Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy ở Trung tâm GDTX
Kết quả cho thấy:
- GV gặp nhiều khó khăn khi dạy ở Trung tâm GDTX, trong đó khó khăn lớn nhất là HS mất căn bản từ lớp trước, không có nền tảng để tiếp thu kiến thức mới Khó khăn tiếp theo là lớp ồn ào, sĩ số đông, học sinh quậy phá, không hợp tác Đây thực sự là một thách thức lớn đối với GV, đặc biệt là GV trẻ hoặc thiếu kinh nghiệm cảm hoá HS
- Một số vấn đề như: Chương trình quá tải, khả năng ghi nhớ của HS còn hạn chế, chưa xây dựng được hệ thống bài tập phù hợp trình độ HS cũng là những thách thức lớn đối với GV
Câu 4: Ý kiến của thầy/cô về giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán ở Trung tâm GDTX?
Trang 28Bảng 1.4: Ý kiến của GV về biện pháp bổ trợ kiến thức cho HS bổ túc
Cần thiết
Bình thường
1 Kiểm tra lý thuyết, công thức
2 Nhấn mạnh phần trọng tâm dựa
3 Xây dựng hệ thống bài tập theo
từng dạng, từ dễ đến khó, có bài
mẫu
63,6 27,3 9,1 0
4 Tạo hứng thú cho tiết học 45,4 27,3 18,2 9,1
5 Thường xuyên hệ thống, liên hệ
Kết quả cho thấy:
- Biện pháp được nhiều GV tán thành nhất là nhấn mạnh phần trọng tâm dựa vào chuẩn kiến thức (81,8%), tiếp đến là kiểm tra thường xuyên (72,7%), bổ sung kịp thời kiến thức nền tảng mà HS đã lãng quên (72,7%)
và xây dựng hệ thống bài tập theo từng dạng, từ dễ đến khó, có bài làm mẫu (63,6%)
- Đối với các lớp học ở Trung tâm GDTX hầu hết HS đều có sức học trung bình - yếu, một nhiệm vụ đặt ra cho GV đứng lớp là phải bổ sung kịp
Trang 29thời những kiến thức nền tảng HS đã lãng quên, đồng thời phải hoàn thành
chương trình học trong thời gian có hạn Đây là một nhiệm vụ không đơn giản, GV cần những tài liệu tham khảo phù hợp với nhiệm vụ giảng dạy đặt
ra
Câu 5: Ý kiến của GV về bài tập dành cho HS trung bình - yếu trong
SGK và SBT hiện nay?
Bảng 1.5: Ý kiến của GV về bài tập dành cho HS trung bình - yếu
trong SGK và SBT hiện nay Đánh giá % Đánh giá % Đánh giá % Đánh giá %
Số lượng Thừa 9,1 Nhiều 18,2 Vừa 27,3 Ít 45,4
Mức độ Quá khó 27,3 Khó 36,4 Bình thường 27,3 Dễ 9,0
Kiến thức Đầy đủ 27,3 Khá đủ 45,4 Bình thường 18,2 Chưa đa dạng 9,1 Kết quả cho thấy:
- Có 45,4% GV đồng ý rằng số lượng bài tập trong SGK và SBT dành
cho HS trung bình - yếu ít Như vậy, với các lớp học ở Trung tâm GDTX,
GV cần phải soạn thêm bài tập có nội dung thích hợp cho đối tượng HS này
- Có 36,4% GV cho rằng bài tập trong SGK và SBT đối với HS ở
Trung tâm GDTX là khó Nên GV cần giảng giải từng bước, hình thành
phương pháp giải đối với mỗi dạng, có bài tập để HS áp dụng
- Có 45,4% GV đồng ý kiến thức của bài tập trong SGK và SBT đối với HS trung bình - yếu là khá đầy đủ Đây là một ưu thế của SGK mới
hiện hành
1.3.4.2 Kết quả điều tra tham khảo ý kiến HS
Câu 1: Khi học lý thuyết mới, HS thích GV sử dụng những hình thức dạy học nào?
Trang 30Bảng 1.6: Ý kiến của HS về hứng thú học tập khi học lý thuyết mới
Hình thức tổ chức
Tỉ lệ (%) HS Thích
nhất
Khá thích
Bình thường
Không thích
Các nhóm nhận nhiệm vụ học tập, nghiên
Các nhóm thảo luận, chia sẻ kiến thức 32,7 14,7 31,3 21,3 Các nhóm tự làm ví dụ nghiên cứu bài
mới
62,0 27,3 8,7 2,0
Kết quả cho thấy:
- HS hứng thú khi GV sử dụng PPDH nêu và giải quyết vấn đề (63,9%)
- HS rất muốn GV sử dụng các kiến thức thực tiễn vào trong Toán học Những kiến thức thực tiễn của GV được nhiều HS tại các Trung tâm GDTX yêu thích nhất (87,1%) Nhiều HS muốn được tự mình đưa ra ví dụ thực tiển để nghiên cứu bài mới (62%)
- HS hài lòng với phương pháp học nhóm, thảo luận và chia sẻ kiến thức (32,7%), nhưng nhiều HS còn rụt rè khi nhận nhiệm vụ và làm báo cáo (11,3 %)
Câu 2: Ý kiến của em về bài tập cho HS trung bình và yếu trong SGK
và SBT?
Trang 31Bảng 1.7: Ý kiến của HS về bài tập trong SGK và SBT
Đánh giá % Đánh giá % Đánh giá %
Số lượng Nhiều 18,0 Bình thường 26,7 Ít 55,3
Mức độ Khó 75,3 Bình thường 14,0 Dễ 10,7
Kiến thức Đầy đủ 78,7 Bình thường 15,3 Nghèo nàn 6,0
Kết quả cho thấy:
- Về số lượng: 55,3 % HS đồng ý số lượng bài tập trong SGK và SBT dành cho HS trung bình - yếu khá ít
- Về mức độ: có 75,3 % HS đồng ý cho rằng bài tập SGK và SBT đối với HS trung bình yếu là khó
- Về lượng kiến thức: có 78,7% HS cho rằng kiến thức từ bài tập trong SGK và SBT đối với HS trung bình - yếu là đầy đủ
Câu 3: Những nguyên nhân khiến HS gặp khó khăn khi giải bài tập Toán? (1 là ít khó khăn, 4 rất khó khăn)
Bảng 1.8: Ý kiến của HS về nguyên nhân không giải được bài tập Toán
Không nắm được lý thuyết 1,8 12,7 56 29,5 Không định được hướng giải 6,7 23,3 46,7 23,3 Không liên hệ được giữ kiện và yêu
GV giảng bài khó hiểu nên em không
Kết quả cho thấy:
- Nguyên nhân lớn nhất khiến HS không giải được bài tập Toán là do không nắm được lý thuyết (56%), tiếp đó là không liên hệ được giữ kiện và yêu cầu của đề (48,7%) và không định được hướng giải (46,7%)
Trang 32- Một số HS không hiểu bài vì mất kiến thức cơ bản
Kết luận quá trình điều tra
Việc dạy và học môn Toán 10 cơ bản của HS bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX với chủ yếu là các HS trung bình - yếu đang gặp rất nhiều khó khăn HS mất kiến thức cơ bản nên việc tiếp thu kiến thức mới rất hạn chế
GV ngoài việc đảm bảo dạy đủ và đúng chương trình còn phải nhanh chóng
bổ sung những kiến thức nền tảng cho HS với thời gian có hạn Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống bài tập nhằm khắc sâu kiến thức và hoàn thiện
kĩ năng cho HS là hết sức cần thiết
1.4 Kết luận chương 1
Trong chương này đã trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài, bao gồm các nội dung chính như sau:
- Tìm hiểu về khái niệm “giáo dục thường xuyên”
- Tìm hiểu về kết quả học tập: Khái niệm, mục đích đánh giá kết quả học tập, các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của HS
- Một vài vấn đề về dạy và học ở Trung tâm GDTX: Những khó khăn khi giảng dạy ở Trung tâm GDTX, những biểu hiện về học tập của HS bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX, nguyên nhân HS học yếu kém môn Toán
- Phương pháp giảng dạy và kết quả học tập cho HS Trung tâm GDTX
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng bài tập Toán kết quả học tập của HS ở một số Trung tâm GDTX của tỉnh Hà Tĩnh Chúng tôi đề cập đến mục đích, phương pháp, kết quả điều tra và rút ra nhận xét
Tất cả những nội dung trên là cơ sở nêu lên sự cần thiết phải thực hiện đề tài nghiên cứu nhằm phục vụ tốt cho thực tế giảng dạy góp phần nâng cao hứng thú và kết quả học tập cho HS ở Trung tâm GDTX
Trang 33Chương 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỔ TRỢ TRI THỨC DẠY HỌC TOÁN 10 CHO HỌC SINH BỔ TÚC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
2.1 Khái quát về chương trình môn Toán 10 cho học sinh bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX
Chương trình Toán 10 (Cơ bản) cho HS bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX cũng giống với chương trình của HS ở các trường THPT công lập được quy định theo khung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nội dung giảng dạy chi tiết như sau:
PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH GDTX CẤP THPT
1 tuần cuối x 1 tiết = 1 tiết
17 tuần đầu x 1 tiết = 17
số
Lý thuyết
Bài tập
Ôn tập
Kiểm tra
Chương I Mệnh đề - Tập hợp 8 4 3 1
Trang 34Chương III Phương trình Hệ
Chương IV Bất đẳng thức.Bất
Trang 35§4 Phương sai và độ lệch chuẩn 2 1 1
Chương VI Cung và góc lượng
giác Công thức lượng giác 16 6 7 2 1
§1 Cung và góc lượng giác 3 2 1
§2 Giá trị lượng giác của một cung 5 2 3
§3 Công thức lượng giác 5 2 3
Trang 36Bài tập
Ôn tập
Kiểm tra
§2 Tổng và hiệu của hai véc tơ 3 2 1
§3 Tích của véc tơ với một số 4 2 2
§2 Tích vô hướng của hai véc tơ 4 2 2
§3 Các hệ thức lượng trong tam giác
Chương III Phương pháp tọa độ
Trang 37§1 Phương trình đường thẳng 6 3 3
§2 Phương trình đường tròn 3 1 2
§3 Phương trình đường elíp 2 1 1
+ Góp phần hình thành và phát triển cho HS các phẩm chất, phong cách lao động khoa học, biết hợp tác lao động, có ý chí và thói quen tự học thường xuyên
+Tạo cơ sở để HS tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
- Mục tiêu cụ thể:
+ Hoàn thiện việc mở rộng hệ thống số từ tự nhiên đến số phức + Cung cấp kiến thức và phương pháp nghiên cứu một số hàm số sơ cấp và ứng dụng của chúng, giải các phương trình, bất phương trình liên quan đến các hàm sơ cấp
+ Cung cấp một số kiến thức ban đầu của đại số tổ hợp, lượng giác
Trang 38+ Cung cấp một số kiến thức liên quan đến véc tơ, tích vô hướng của hai véc tơ và ứng dụng, phương pháp tọa độ trong phẳng
+ Vận dụng được các kiến thức đã học vào việc giải các bài toán đơn giản và một số bài toán thực tiễn
+ Có khả năng suy luận hợp lí, hợp lôgic trong những tình huống cụ thể, có khả năng tiếp nhận và biểu đạt các vấn đề một cách chính xác
+ Rèn luyện đức tính ham hiểu biết, yêu khoa học (đặc biệt là toán học), rèn luyện sự cẩn thận, chính xác, nghiêm túc, năng động sáng tạo, cần
cù vượt khó trong lao động
SGK có đưa ra các hoạt động như: Ôn lại kiến thức cũ, đặt vấn đề cho kiến thức mới, xem xét các trường hợp riêng, áp dụng trực tiếp các công thức đã tìm ra trong phần lí thuyết Tuy nhiên khi dạy học cho đối tượng HS bổ túc GV có thể thay đổi nội dung và mức độ yêu cầu cho phù hợp với từng tình huống học tập
Cách thức thực hiện các hoạt động trong SGK cũng hết sức phong phú như: HS tự đọc và học trước ở nhà, GV hướng dẫn cho HS làm tại lớp, đặt vấn đề cho cả lớp cùng nghiên cứu, chia ra các đề tài nhỏ cho các nhóm tìm hiểu và giải quyết Nhưng đối với HS bổ túc thì các em không có kỹ năng tự học và tự đọc, kỹ năng làm việc theo nhóm cũng yếu, sức ì trong tư duy lớnvc Vì vậy mỗi GV phải suy nghĩ, tìm tòi nhiều hơn để tập cho HS hoạt động và sáng tạo nhiều hơn
Trong quá trình giảng dạy GV cần giúp các em HS có được niềm tin, biết tự đánh giá năng lực của bản thân, luôn động viên và khích lệ những tiến bộ của HS cho dù nhỏ nhất Khuyến khích HS đọc những mẩu chuyện
về lịch sử toán học, những nội dung trong tiêu đề “Bạn có biết” hoặc tiểu
sử các nhà toán học thế giới làm cho nội dung toán học gắn với thực tế nhiều hơn, tăng cường hứng thú học toán của các em
Trang 392.2 Căn cứ để xây dựng những biện pháp bổ trợ tri thức dạy học Toán
10 cho học sinh bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX
Chúng tôi sẽ đề xuất một số biện pháp bổ trợ kiến thức môn Toán 10 cho HS bổ túc THPT ở Trung tâm GDTX dựa vào các căn cứ sau đây:
2.2.1 Căn cứ vào mục tiêu và nội dung dạy học Toán 10 (Cơ bản)
Các biện pháp đưa ra phải phù hợp và bám sát nội dung chương trình dạy học Đại số và Hình học lớp 10 (Cơ bản) và phù hợp với những lưu ý khi dạy học với đối tượng HS bổ túc Việc tập trung vào một số mục tiêu nào đó căn cứ vào tầm quan trọng của các mục đích này đối với việc thực hiện những mục tiêu còn lại
Chẳng hạn, khi dạy định lí về dấu của tam thức bậc hai Những hoạt động tiềm tàng ở nội dung dạy học này cần được cân nhắc, sàng lọc, tập trung vào những mục đích sau: Hiểu được định lí và có kĩ năng sơ bộ về xét dấu các tam thức bậc hai Việc tập trung vào những mục đích này dựa vào căn cứ sau đây: Việc hiểu định lí và có kĩ năng xét dấu các tam thức bậc hai làm cơ sở cho việc học nội dung về bất phương trình bậc hai, một nội dung khá quan trọng của chương trình toán học THPT nói chung và chương trình Đại số 10 nói riêng
Còn khi dạy về hệ phương trình bậc nhất hai ẩn cho HS lớp 10 thì mục đích là rèn cho HS kĩ năng giải và biện luận hệ phương trình chứ không phải là rèn cho HS kĩ năng giải hệ phương trình bậc nhất hai ẩn với
hệ số hằng số, bởi việc này đã làm ở lớp 9 Vì vậy việc thiết kế các hoạt động về giải và biện luận hệ phương trình nhằm làm rõ vai trò của tham số, các căn cứ để phân chia trường hợp khi biện luận là thích hợp hơn hoạt động giải các hệ phương trình
2.2.2 Căn cứ vào đối tượng dạy học
Trang 40Với đối tượng là các HS bổ túc THPT học môn Toán lớp 10 tại các trung tâm GDTX, việc xây dựng các biện pháp sư phạm phải phù hợp với đặc điểm tâm lý và nhận thức của các em HS Khi thiết kế và sử dụng các hoạt động GV phải hiểu rõ việc dùng hoạt động này có phù hợp với đối tượng HS hay không? Nó giúp HS nhớ lại kiến thức cũ hay là gợi vấn đề mới? Nó giúp HS giải quyết vấn đề hay là để kết thúc vấn đề?
Chẳng hạn, đối với bài dạy khái niệm hay định lí, sau khi dạy khái niệm hoặc định lí cho HS thì chúng ta thường giúp HS củng cố định nghĩa
và tính chất nhờ các hoạt động ngôn ngữ, hoạt động nhận dạng và thể hiện Còn đối với tiết dạy bài tập thì lại rất thích hợp với các hoạt động mà HS phải thực hiện các thao tác như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa,
2.2.3 Căn cứ vào định hướng đổi mới PPDH
Một PPDH nếu biết sử dụng đúng lúc, đúng cách đều có thể phát huy tính tích cực học tập của HS Dấu hiệu của tính tích cực rất đa dạng và việc tích cực hoá hoạt động nhận thức rất phức tạp Việc tích cực hoá phải đem lại kết quả được nhận thấy ở sự tăng cường độ, tốc độ, nhịp độ của hoạt động cũng như tính bền vững của quá trình nhận thức Điều này giải thích quan niệm coi tính tích cực như là mức độ cao của hoạt động nhận thức Nó đem lại hiệu quả và có ý nghĩa cải tạo đối tượng nhận thức Làm cho HS từ chỗ lơ là, lười biếng đến chỗ tích cực, say mê học tập là cả một công việc khó khăn Nhưng đây là công việc rất quan trọng, vì nếu HS không tích cực, nỗ lực học tập thì GV dẫu có giỏi đến đâu, có cố gắng bao nhiêu cũng không mang lại hiệu quả Vì vậy tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS
là trung tâm chú ý của các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạt động thực tiễn Đặc biệt dạy học phân hoá lôi cuốn được đông đảo HS có trình
độ khác nhau vào quá trình dạy học bằng cách giao nhiệm vụ phù hợp với